Trong khi anh đưa xác của Rizine đến đồn cảnh sát gần nhất và làm mọi thủ tục, Stéphane chỉ nghĩ đến Hélène.
"Cô ấy cũng sẽ làm như thế, chắc chắn cô ấy sẽ làm như thế". Anh thầm nhắc đi nhắc lại mãi như vậy. Và anh nghe tiếng nói của Irtych: "Hãy giữ gìn cô ấy trong mọi việc".
Khi các thủ tục đã làm xong và trở lại Pigal, anh không dám về thẳng buồng Hélène. Anh sợ nhìn thấy cô hai mắt khép kín bất động và cái miệng he hé giống như Rizine. Nhưng Fédor đang đợi anh ở quán Yên tâm nói rằng anh ta đã phải khiêng cô ấy về tận giường vì cô ấy say như chết. Fédor cũng cho biết rằng Terhane đã đuổi cô ấy.
Stéphane không sao ngủ được. Khi anh cảm thấy Hélène sắp tỉnh khỏi cơn say như chết, anh run rẩy ghê tởm nghĩ rằng cái cảnh tượng hôm qua có lẽ lại xảy ra. Nhưng Hélène đã nép mình vào anh mà thủ thỉ:
- Ôi! Anh đấy à, em sợ quá.
Rồi cô mấp máy đôi môi rất khó khăn:
- Em khát.
Anh muốn đi kiếm cho cô cốc nước, nhưng cô quặp hai chân mình vào hai chân Stéphane không cho anh cựa quậy và cứ giữ thế một lúc lâu. Cuối cùng cô kêu:
- Em nhức đầu quá, hôm qua đã có chuyện gì vậy? Sao ai lại băng bàn tay em thế này?
Cô vội vàng tháo băng ra: bàn tay bị cắt ngang cắt dọc bởi những vết thương chưa kín miệng.
- A! Phải rồi, em đã bóp cái cốc quá mạnh. Nhưng tại sao nhỉ?
Khi tỉnh lại, cô ngạc nhiên thấy mình nhớ rõ từng cử chỉ, nhưng đó chỉ là sự nhớ lại những động thái hoàn toàn cơ bắp mà không nhớ chút gì về động cơ của việc làm. Đó là lần đầu tiên cơn say để lại trong đầu cô một vùng tối và cũng là lần đầu tiên nó để lại những vết sẹo như thế. Điều đó làm cô hoảng sợ cứ như là đột nhiên mình tách ra khỏi bản thân để quan sát một cách khách quan mức độ sa sút của mình. Cô van vỉ:
- Stéphane, tình yêu của em, cái gì đã xảy ra vậy, anh phải cho em biết với.
Anh thận trọng kể lại cho cô những sự việc đêm qua nhưng không nói đến nguyên nhân cuộc cãi lộn giữa hai người, anh cũng không dám nói gì về Rizine. Hélène cúi đầu nghe, hai bàn tay lạnh toát. Khi cô biết rằng Terhane đã đuổi việc mình, cô khe khẽ rùng mình giận dữ:
- Nó đuổi mình như đuổi một con đầy tớ. - Cô nói.
Nhưng, thấy Stéphane dịu hiền và chăm chú hơn hẳn mọi khi, lòng cô cảm thấy tràn đầy một niềm biết ơn thất vọng đối với người đàn ông đã không bỏ rơi mình sau tất cả bao chuyện xảy ra. Hélène cúi xuống nhìn vào mắt anh và kêu:
- Em thề rằng em sẽ phải lang thang suốt đời trên hè phố cho người ta ném đá đuổi như con chó, nếu có lúc nào đó em còn dám đối xử với anh như thế, anh nghe không?
Bàn tay của Stéphane vuốt ve bờ vai trần của cô làm cô bình tĩnh lại, cô tiếp: .
- Em không thể trở lại cái hộp đêm đáng nguyền rủa của Terhane, như thế lại hay. Em không buộc phải uống rượu nữa, cũng không phải mặc mấy thứ đồ rẻ rách khiến em phát rồ cả người.
Cô giận dữ chỉ bộ quần áo di-gan vứt cạnh giường. Cô bất giác giật mình xấu hổ nghĩ rằng chính Fédor là kẻ đã bỏ rơi cô thế này sau khi đã lột trần cô ra. "Một người khác có thể sẽ chấp nhận mình chứ không phải hắn, mà mình cũng chẳng hề nhớ đến hắn nữa." - cô nghĩ thầm.
Cô rền rĩ ngả mình trên ngực Stéphane:
- Đừng bao giờ bỏ em, anh không thể hiểu đâu.
Bị ám ảnh bởi cái chết của Rizine, Stéphane tưởng cô nghĩ đến việc tự tử, run lên lẩy bẩy:
- Anh van em, anh van em.
- Vâng vâng, anh nói đúng, hãy tha thứ cho em, em không làm như thế nữa. Anh thân yêu khốn khổ của em, những cơn điên loạn của em đã làm đời anh buồn chán. Nhưng chuyện đã xong rồi, đã xong rồi. Rồi anh sẽ thấy em sẽ bình tĩnh và dịu hiền, và chỉ nghĩ đến anh thôi.
Cô đã giữ lời hứa. Nhìn cô mặc những bộ váy áo trơn như trước đây ở nhà trọ Mesureux, người ta thấy sống lại cô gái bình thản và thẳng thắn đã trìu mến điều khiển cuộc sống của Nathalie Borissovna một cách đầy uy tín. Cô đã bảo Stéphane đếm số tiền cô còn lại, tính toán là hai người có thể sống được mươi ngày nữa, và anh đã nghe lời cô chi tiêu có mức độ trong khi chờ đợi cô kiếm được việc gì đó không phải ở Samovar.
Stéphane vui vẻ tuân theo ý muốn của Hélène, việc này chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống bên ngoài của anh thôi. Không còn những đêm thức trắng nữa, không còn những cuộc bốc đồng căng thẳng thần kinh nữa. Bây giờ hai người đi ngủ sớm, hai cơ thể gặp nhau trong một niềm vui lành mạnh và một sự thuận hòa mà họ chưa từng biết. Điều đó làm cho ngày tháng của họ đượm một vị đậm đà tha thiết. Đang mùa hội chợ, họ cùng nhau đi chơi. Từ quảng trường Barbès đến quảng trường Clichy, nối dài một dãy nhà gỗ kỳ lạ khiến Stéphane rất mê. Anh hào hứng theo dõi tất cả các cuộc biểu diễn. Những chiếc mặt nạ dùng để thi bắn rất hấp dẫn anh. Anh kính cẩn nghe những khẩu lệnh của những người dạy thú.
Họ sống với nhau một tuần không hề va chạm, như những người tình nhân bình dị và thận trọng. Nhưng cả hai đều không có ý tưởng rời bỏ Pigal. Stéphane vẫn còn cần đến những ánh đèn tàn nhẫn và không vui, những nhịp điệu dâm dật, những gương mặt bi kịch mà bóng tối của mỗi buổi chiều làm nổi bật lên trong hoàng hôn của mùa hạ đang tàn – những cái ấy anh vẫn còn cần đến như một thứ ma túy uống vào chưa đã. Còn Hélène, cô chưa hề nghĩ đến việc xuất hiện ở một khu phố khác với gương mặt mà mỗi giờ phút ban đêm còn ghi dấu vết lên đó.
Tuy nhiên, vốn liếng của họ cạn dần và Hélène bắt đầu tìm một công việc không bắt buộc cô phải uống rượu. Người ta đề nghị cô đến làm cho nhà hàng Cá Tầm. Cái nhà hàng nhỏ ấy đắt khách đến mức người chủ đã thuê gian phòng bên cạnh, dỡ bỏ vách ngăn và đáng lẽ chỉ mở cửa vào sáng sớm cho các khách di-gan như trước, còn muốn mở cửa suốt đêm cho các khách nước ngoài.
Người chủ trân trọng đề nghị Hélène đến hát cho nhà hàng. Chỉ có mình cô hát nên ông ta có thể trả lương khá. Cũng không có tiền phần trăm mời rượu, cũng không phải mặc áo váy di-gan. Hélène vui lòng nhận chỗ làm khá tốt mà người chủ tháo vát và lao động lương thiện cùng với gia đình đã mời cô. Ở cửa hàng này, tất cả những người Nga ở Pigal đều được đón tiếp tử tế và tin cậy. Những ngày yên ấm tiếp tục trôi qua. Hélène dễ dàng được phép rời Cá Tầm vào giờ những người di-gan đến (lúc ấy thì có quá nhiều tiếng hát) và cô âu yếm đưa Stéphane về phòng.
Một buổi sáng, ông hoàng Héridzé đến thăm họ. Hai bên mép ông hoàng già luôn luôn có hai nếp răn có vẻ trơ tráo, nhưng một vẻ mặt đặc biệt đã làm dịu bớt đôi mắt khắc nghiệt và lạnh lùng như mắt chim ưng tưởng có thể nhìn chằm chằm vào mặt trời mà không chớp.
- Các bạn thân, hôm nay cần phải dậy sớm hơn. Đó là ngày hội của Jacquot, mời các bạn đến ăn cơm với cháu. Đó là một vinh dự lớn đối với các bạn. Sẽ có Olga, Vera và Fédor – ông làu bàu nguyền rủa – thật không may, tên ngu xuẩn đó đã quá say mê con ngựa cái Tây Ban Nha đến nỗi tôi cũng phải mời mụ ta. Thôi mặc hắn, hắn sẽ lo việc ấy.
Héridzé ở một căn buồng của một khách sạn thuộc phố Pigal, căn buồng kích thước cũng suýt soát với buồng của Hélène nhưng cô trông nó có vẻ rộng hơn. Bởi vì trong phòng chỉ có một chiếc giường trẻ con và những bàn ghế cỡ nhỏ. Tấm thảm mà Héridzé dùng để ngủ đêm được cuộn lại để ở một góc và được phủ bằng một tấm vải Ba Tư. Trong phòng không nhận thấy dấu vết gì về sự có mặt của ông cả, chỉ trừ một khẩu súng lục to đùng treo ở cửa. Căn phòng cũng đầy những đồ chơi rẻ tiền, những quyển sách tranh và được giữ sạch từng li, từng tí. Thấy Hélène ngạc nhiên, ông già Héridzé quen mạo hiểm cười hạnh phúc. Ông nói:
- Đây là nhà của Jacquot, không phải nhà tôi. Tôi là người hầu cận của cô bé. Những bộ váy áo mới của cô ấy, đó là bà chủ khách sạn vừa mặc cho cô ấy.
- Càng hay - Hélène nói - tôi sẽ có thể đặt các món quà của tôi yên ổn trên giường.
Olga và Vera cùng nhau đến. Người nào cũng mang những món quà đáng giá nhiều ngày làm việc của họ. Họ trân trọng ôm hôn Héridzé và chúc mừng ông. Ông vui vẻ và nghiêm trang nhận những lời chúc tụng của mọi người.
Fédor bắt mọi người phải chờ khá lâu. Cuối cùng anh cũng đến, ôm đầy các thức ăn, rượu vang và đồ chơi. Anh ôm ông hoàng già rất thắm thiết khiến ông bỏ qua cho anh về chuyện cô tình nhân của anh. Fédor rất yêu cô gái nhảy cao lớn, có eo lưng rộng này. Cô ta đối xử rất riết róng với anh và chỉ thích anh ở sức khỏe ghê gớm.
Người phục vụ của khách sạn đẩy vào một chiếc bàn với bảy suất ăn và đầy những hoa. Thấy Stéphane muốn ngồi, Héridzé nửa đùa nửa thật bảo anh:
- Anh thật là người của cung trăng, nhà văn khốn khổ ơi, anh lại muốn ngồi vào bàn trước cả nữ chủ nhân. Mẹ anh là...
Ông không nói hết câu rủa độc quen mồm, xấu hổ quay ra phía cửa. Một bé gái chừng sáu tuổi đứng ở ngưỡng cửa, dáng người cao và khỏe mạnh. Đôi mắt to, ham hiểu biết và hăng hái, lướt nhìn các khách và nhìn chằm chằm vào những đồ chơi để đầy trên giường. Cô chạy đến ôm hôn Vera và Olga mà cô quen biết, rồi khẽ nghiêng mình chào vội những người khác và đến nhận lấy những đồ chơi.
- Cô bé xinh quá, - Stéphane chân thành khen.
- Anh biết không, cháu nhảy và hát thật tuyệt mà chẳng cần ai bày cho cả, - Héridzé vừa lẩm bẩm vừa nhìn cô bé trìu mến. - Tôi cũng phải sợ. Chính vì mẹ cháu là di-gan mà! - Khi cô bé đã xem hết một lượt các đồ chơi, ông tiếp - Nào cô bạn nhỏ Jacquot, cô chưa thấy đã đến giờ ngồi vào bàn rồi ư?
Lúc nói với cô bé, trong ngữ điệu của ông có một vẻ lễ phép và lịch sự tưởng như không sao hợp được với cái giọng gầm gào và khàn khàn của ông. Và ông già hoang dã đã trải cả cuộc đời trong chiến trận, cướp bóc, trong những cuộc hoan lạc dữ dội và trong cờ bạc, cứ mỗi sáng lại trở về dở say dở tỉnh, đã có cách dạy cho con gái mình một tư thế ngay thẳng nhất và cao quý nhất.
Có lần Héridzé đã nói với Vera:
- Cha tôi mà còn sống có lẽ cũng không phải hổ thẹn về cháu. Cha tôi, ngày ông hấp hối, khi bà quản gia người Pháp quàng cho ông một chiếc khăn len thảm hại màu đỏ thẫm, ông đã nói những lời cuối cùng như sau: "Màu đỏ rất hợp với cô, cô Plantin ạ!".
Jacquot ngồi lên chiếc ghế được kê cao bằng mây chiếc gối và nói:
- Ba hãy ngồi trước mặt con, giữa Olga và Vera. Còn chú ấy, con muốn chú ngồi đây, cạnh con.
Cô chỉ Stéphane. Trong suốt bữa ăn vui giản dị và đầy tình cảm, hai chú cháu chỉ trò chuyện với nhau.
Cũng ngày hôm ấy, vào lúc mười giờ đêm, khi Stéphane và Hélène cùng đến quán cà phê Yên tâm, gần đến nơi thì nghe tiếng lục lạc rung lên nhịp nhàng. Họ đi vội và chen vào được giữa đám người đông đặc đứng bên trong quán. Họ thấy một người đàn ông mặc chiếc vét-tông đã sờn, có một chân gỗ, đang vỗ một chiếc trống lục lạc. Stéphane nói:
- A! Đó là anh chàng Cô-dắc vùng Uran. Anh ta thuộc hết các chuyện kể của xứ Turkestan.
- Em chưa từng thấy ông ta, - Hélène nói.
- Bởi vì anh ta thường đến muộn và mới chỉ mấy ngày nay thôi. Và những hôm ấy, anh ta cũng không mang trống.
Có tiếng kêu sốt ruột lao xao xung quanh:
- Hãy im đi nào!
Ở đây, chỉ toàn người Cô dắc và di-gan, những tấm vai vuông, những khuôn mặt nâu dữ dội, tất cả như treo lơ lửng vào những tiếng rung lanh lảnh của chiếc nhạc cụ cổ sơ kia. Ngươi đàn ông đang vỗ mặt trống bằng những ngón tay dài và nhanh nhẹn kia gầy như một con chó hoang, nhưng thân hình ông ta đặt trên đôi háng xương xảu như đặt trên cái bệ của một bức tượng, lại chuyển động mềm mại lạ kỳ. Có thể nói tâm hồn ông đang sống cuộc sống của chiếc mặt trông âm vang giữa cái vòng lục lạc. Cái đầu ông bất động, ông có cái miệng của người Slave và đôi mắt hẹp, long lanh, bí ẩn của châu Á.
Giai điệu của mặt trống mà ông Cô-dắc chân gỗ kia vỗ lên cũng là giai điệu châu Á, nó được tạo ra để dụ dỗ các loài rắn và cho những thầy pháp nhảy múa. Vì thế mà tất cả những con người dữ dội kia nghe giai điệu ấy với một nỗi lo sợ huyền bí.
Và cũng tiếng gọi ấy – tiếng gọi của những không gian rộng lớn hơn và trơ trụi hơn so với những không gian nơi họ lớn lên – làm cho họ rùng mình khi người vỗ trống cất tiếng hát. Đó không phải là một bài hát, mà đúng hơn, là một khúc ngâm đơn điệu cao vút chỉ có hai nốt giống nhau mà đường nét và độ dài không rõ, một thứ tiếng rên rỉ sinh ra từ cát, từ cỏ cháy và từ mặt trời tàn nhẫn.
Bản thân Hélène cảm thấy xúc động trong lòng một cái gì đó đau nhói, mơ hồ và cay đắng như một ký ức từ hàng trăm năm khi nghe rung lên lời than vãn không linh hồn, không tình thương, lại mang một vẻ trong trẻo muông thú không rõ hình thù ấy.
Người cô-dắc ấy hát rất lâu. Có lẽ ông ta có thể hát tiếp suốt đêm nếu một người đàn bà bé nhỏ mặc bộ quần áo công nhân giản dị – Stéphane và Hélène đã không nhận thấy bà ta trong đám người nghe đông nghịt – không đến và rụt rè nói với ông ấy bằng tiếng Pháp:
- Chúng mình phải ngồi xuống thôi, em không chịu được nữa.
Ông cười với bà, xoay cái mặt trống một vồng và gõ một nhịp cuối cùng bằng cái chân gỗ. Mọi người lặng lẽ tản ra, cảm thấy cái đầu dường như nằng nặng.
- Gricha, tôi mời anh một cốc nhé. - Stéphane nói.
Ông kia nhận lời vui vẻ và nói:
- Đây là vợ tôi, một người vợ hiền. Tên cô ấy là Elisa, cô ấy không nói tiếng Nga, cô là người Pháp chính cống.
Người đàn bà nhỏ bé vụng về chào anh và ngồi xuống cạnh Hélène. Stéphane hỏi:
- Nhưng ai đã dạy anh hát thế?
Ông Cô-dắc bật cười:
- Tôi cũng không biết nữa; những điệu hát ấy, chúng ở trong gió. Vả lại, cha tôi lấy mẹ tôi là người xứ Bachkir, thế đấy.
Trong khi ấy, Elisa nói chuyện rất nhỏ với Hélène, bà rất sung sướng phát hiện thấy trong cái xã hội Nga này lại có người rất hiểu tiếng mẹ đẻ của bà. Bà nói:
- Chúng tôi biết nhau một buổi tan tầm nhà máy, khi anh ấy còn chưa bị tai nạn. Chúng tôi thuận nhau và cưới nhau. Rồi thì anh ấy mất một chân. Anh ấy rất khéo tay nên đã làm những đôi giày khiêu vũ bán cho những người đi nhảy ở đây, được khá tiền. Chỉ có điều là từ khi anh giao du với họ, anh thay đổi hẳn. Ôi, không phải chuyện chim chuột, chuyện đàn bà đâu, anh ấy rất đứng đắn. Anh ấy không uống rượu, còn chuyện yêu tôi thì các bạn gái của tôi chưa ai từng được như tôi. Và chân thành, và chung thủy. Nhưng anh ấy buồn. Nhiều lúc, đang làm việc, anh ngừng lại và nhìn đi đâu, tôi không biết vào đâu nữa, cứ như trước mặt anh không có gì nữa, chẳng có tôi mà cũng chẳng có ai. Từ bấy giờ, anh ấy đến chỗ này. Anh ấy thích lắm, nhưng với tôi, tất cả những người đàn ông với những con dao nhọn và những băng đạn của họ làm tôi sợ.
Hélène vẻ nghĩ ngợi nói:
- Vâng, anh chị cần có một căn nhà nhỏ có trần thấp, có cửa nả chắc chắn và nhìn ra một cái sân, thế thì tốt.
- Nhưng, ở chỗ chúng tôi rất thích, - bà vợ ông Cô-dắc mau mắn đáp, - nhà cũng gọn ghẽ lắm, tôi đoan chắc như vậy.
- Một căn nhà nhìn ra một cái sân thì hay lắm, - Hélène vừa nhắc lại vừa nhìn đôi mắt ti hí của người đàn ông vỗ trống mà Stéphane đang khao khát hỏi chuyện về những tay phù thủy Bachkir.
Rồi chính Hélène cũng bị hút vào câu chuyện cho đến lúc một người đàn ông đến ngồi cạnh cô. Đó là bác sĩ kiêm lái xe Chouvaloff, người quen cũ của cô. Thấy Chouvaloff mặc bộ quần áo đẹp nhất bên trong chiếc áo khoác đầy dầu mỡ, cô nhẹ nhàng hỏi:
- Sao hôm nay bác đẹp thế, bác Maxime... Có việc gì long trọng vậy?
- Một chuyện khá lạ lùng. Cô hãy tưởng tượng xem sáng hôm kia tôi chở một người khách vừa từ cửa hàng Palermo ra, cách đây vài bước thôi, mà tôi cứ ngờ ngợ là đã gặp người ấy ở đâu rồi. Lúc ấy, giữa ban ngày, cho nên lúc người ấy trả tiền, chúng tôi đã nhận ra nhau. Đó là một nhà phẫu thuật Pháp khá nổi tiếng đã ở Nga trong thời kỳ chiến tranh mà tôi đã chở trong những chiếc xe cứu thương của mặt trận. Chiều nay, tôi đã ăn cơm ở nhà ông ấy. Toàn là bạn đồng nghiệp cả. Tôi rất sung sướng được nói chuyện y học cả buổi.
Ông nghĩ một lúc như để điểm lại rõ ràng những cảm tưởng của mình.
- Nhưng cũng thật kỳ, - ông tiếp, - ở quán rượu này, tôi thấy dễ chịu hơn ở chỗ ấy, và khi tôi vừa cho chiếc taxi cũ kỹ lăn bánh, tôi cất tiếng hát... Tôi sẽ nói với cô...
Chouvaloff chợt im lặng và nắm bàn tay Hélène.
- Trông kìa, cô trông kìa... tôi không nhầm đâu.
Ông chỉ cho cô một bóng người khốn khổ bước đi không vững, đi ra từ góc phố Pigal và ôm một gói báo.
Hélène giật mình run lẩy bẩy.
- Bố của Vassia! - Cô thốt lên.
- Ông ấy đã đi khỏi nhà trọ cách đây gần hai tháng, - Chouvaloff nói. - Những thời gian sau này, ông ấy ở lì trên gác không xuống, nhưng đôi lúc người ta nghe thấy ông ấy khóc váng cả nhà. Tôi nghĩ ông ấy uống nhiều rượu lắm.
Hai người vào quán cà phê. Chouvaloff nói nhỏ với Hélène:
- Đừng gọi, cầu trời phù hộ cho ông ấy.
Ông Alexeï Dmitritch không đeo cổ cồn. Chiếc áo sơ mi tàu tàu để lộ cái cổ chằng chịt những mạch máu xam xám. Hai con mắt rỉ nước. Ông đến bên quầy, gọi một cốc vại vang đỏ, nhưng bàn tay run run không cầm nổi cái cốc.
Rồi ông đi một vòng trong quán mời mọi người mua những tờ báo tiếng Nga của ông. Đó là số báo ngày hôm trước. Ông xin lỗi khách với một vẻ rất trẻ thơ cứ như là cả đời ông bây giờ chỉ còn lại cái tính chu đáo của nhà báo đó mà thôi.
Ông đi qua trước mặt Chouvaloff và Hélène mà không nhận ra hai người. Hélène nhìn theo ông như bị thôi miên, mãi cho đến khi ồng đi khuất. Chính cô đã gây ra chuyện ấy. Và để đạt được cái gì? Cô đưa mắt về phía Stéphane. Anh đang nghĩ về nơi xa xôi ngàn dặm nào đó anh nghe kể về những phép thuật của những phù thủy Bachkir.
- "Ấy thế mà - cô nghĩ thầm với một niềm tin chắc chắn khiến cô phát hoảng - nếu phải bắt đầu làm lại, mình vẫn không làm khác trước".
Đến lượt Fédor tới cùng với cô nhân tình Tây Ban Nha:
- Sống vào tháng này thật thích - anh vừa nói vừa vươn các cơ bắp dữ tợn của anh. - Đúng là cái nóng của xứ Kavkaz.
Hélène nhìn anh mà thèm. Chắc chắn anh ta đã khổ sở trong những thời gian đầu của cuộc sống mới của anh, nhưng bây giờ anh đã hoàn toàn thích nghi. Anh nhảy múa, anh uống rượu, anh làm tình, anh nổi tiếng là khỏe ở Pigal, anh sống không khúm núm, không vụ lợi, bộ quần áo của anh chỉ thế là đủ – bao nhiêu thế hệ người của xứ sở anh đã mặc nó; những đêm ấm nóng như da thịt người tình của anh, anh còn cần gì hơn nữa.
Bỗng chốc Fédor nói:
- Này, đây là lần đầu tiên, tôi thấy ông hoàng già ở với cô con gái bé của ông vào giờ này.
Thật vậy, Héridzé đang đi về phía sân thượng của quán Yên tâm, tay dắt Jacquot. Thấy Stéphane, ông kêu lên:
- Cậu đáng để tôi đập vỡ đầu ra, anh chàng phù phép khốn kiếp kia. Cậu làm tôi không ru được con bé ngủ chiều nay. Nó bảo bữa sáng cậu đã kể cho nó nghe một câu chuyện dở dang làm nó không ngủ được vì chưa biết đoạn kết. Hôm nay là ngày hội của nó, tôi phải chiều nó. Thôi nào, cái kho chuyện thần kỳ, hãy kể đi, đừng lề mề nữa, tôi không tính dòng trả tiền cho cậu đâu.
Stéphane đặt bé gái Jacquot lên hai đầu gối mình rồi khe khẽ kể. Xung quanh hai chú cháu cuộc chuyện trò lại bắt đầu, hòa nhịp với tiếng ồn ào của xe cộ và người qua lại đầy ắp cả phố Pigal. Bỗng chốc người ta nghe tiếng cô bé và nhà văn cãi nhau rất hăng.
- Thằng bé chăn cừu đã đến cánh rừng của người đàn ông khỏe nhất trên đời, - Stéphane nói.
- Khỏe hơn cả ba cháu ư? - Jacquot hỏi.
- Trăm lần, nghìn lần hơn.
- Không thể được, - Jacquot kêu lên, - sao chú lại nói dối?
Tất cả những người Nga đều cười ồ lên.
- Cháu bé nói gì thế? - Cô tình nhân của Fédor hỏi anh.
Fédor dịch cho cô nghe. Thế là người đàn bà Tây Ban Nha vốn đã ghét Héridzé, hỏi:
- Anh cũng nghĩ như Jacquot ư?
- Không phải chuyện ấy, - Fédor vừa nói vừa nhún vai. - Điều rất đẹp là niềm tin của cô bé đối với cha mình.
- Em có thể tin vào anh như vậy không? - Cô gái nhảy dịu dàng hỏi Fédor.
Héridzé đã nghe rõ câu chuyện của hai người và đôi lông mày của ông vừa đốm bạc vừa xoắn lại như những sợi lông của chiếc mũ da thú của ông, nhíu lại.
- Đưa bàn tay cậu đây. - Ông chợt bảo Fédor. - Để xem ai trong hai chúng ta khuỵu cổ tay trước.
Fédor ngần ngừ. Anh quá yêu mến và kính trọng ông già nên không muốn chơi trò thi tài ấy. Nhưng con mắt của cô tình nhân cứ dán vào anh.
- Vậy thì nào, thưa Điện hạ, - anh nói khẽ.
Đến lượt ông, Héridzé cũng chần chừ một giây. Trong giọng nói của Fédor, đặc biệt có trộn lẫn cả lòng trìu mến lẫn lời cảnh cáo. Nhưng con mắt của ông già dầy dạn mạo hiểm gặp cái nhìn của cô gái nhỏ chăm chú và nghiêm túc lạ lùng.
- Thế nào, cậu còn đợi Thánh thần ư? - Ông già kêu to với Fédor. Fédor thở dài nắm lấy bàn tay Héridzé. Chạm vào tay nhau, cả hai đều cảm thấy người nọ xứng đáng với người kia, và một lúc lâu cả hai cánh tay không hề nghiêng chếch một ly.
Một lát sau, Fédor biết mình sẽ thắng. Anh không hiểu từ đầu mà anh có niềm tin như vậy, nhưng nó đang ở trong tất cả đường gân mạch máu của anh. Cùng một lúc, anh thoáng thấy hiện lên, rõ và rất nhanh một lời cầu khẩn vô thức trên gương mặt của ông hoàng già. Và một niềm thương lớn lao bóp chặt trái tim anh. Anh biết rằng suốt cuộc đời dài của ông, con người phiêu lưu mà ông từng tôn vinh vì nòi giống của ông, vì tuổi tác và lòng dũng cảm ghê gớm của ông, con người ấy chưa từng biết thế nào là thất bại trong cuộc chiến tay đôi. Vậy mà anh sắp đem đến cho ông một vết nhục, anh, một thằng trai chưa bằng nửa số tuổi của ông?
Fédor khẽ quay đầu về phía cô tình nhân, nhưng cô ta mỉm cười nhạt nhẽo và anh hiểu rằng cô ta đang khinh bỉ thấy anh quá chậm chạp trong cuộc đấu. Anh nhắm mắt lại và như một tên đao phủ hành hình, anh đè ngửa bàn tay Héridzé xuống.
Hai má ông già đỏ sậm lại. Ông nói trầm trầm:
- Trong cổ tay này vẫn cồn hai viên đạn.
Rồi, không dám nhìn con gái mình, ông kêu:
- Ta muốn phục thù. Lại đây ta sẽ vật ngã ngươi xuống đất.
Ông đẩy chiếc bàn ra một bên và đứng giữa quán cà phê.
- Thưa Điện hạ, người chẳng có lý do gì để làm thế. Đây, đâu phải chỗ, - Fédor nói.
- Ngươi sợ đánh vật ư? Hỡi chiếc giày rách Tây Ban Nha, - Héridzé cười khẩy.
Tức thì Fédor đã áp sát vào ông.
Cả hai quấn lấy nhau giữa vòng người chen chật, háo hức mà yên lặng. Sức khỏe của hai người đã khét tiếng ở Pigal.
Với một chiếc áo dài tía và một chiếc áo dài đen, hai người vận động rất nhanh và quấn vào nhau đến mức người xem chỉ có thể phân biệt hai màu áo. Héridzé cao hơn Fédor nửa cái đầu, ông to vai hơn, nặng cân hơn và khéo léo hơn, nhưng Achkeliani, ngoài tuổi trẻ lại hơn ông ở chỗ trong người anh như có một con quỷ. Con quỷ ấy có mặt mỗi khi anh cưỡi ngựa hoặc nhảy Lesghinka và bây giờ lại là nó. Cứ như có một Fédor thứ hai nâng bổng anh lên mà anh không biết và không kiềm chế được. Khi anh cảm thấy sức mạnh của kẻ đồng lõa ấy đang ủng hộ anh, anh cong người trên hai gót chân, vòng hai tay quanh thắt lưng Héridzé và vừa bốc ông lên vừa rên rỉ.
Ông Cô-dắc chân gỗ thấy thế rướn lên như một người lên đồng và cái mặt trống lục lạc rung lên giữa những ngón tay ông một nhịp điệu man rợ. Nhưng cao vút lên trên cả những tiếng hát Bachkir là tiếng thét vang thất vọng, tiếng kêu ngơ ngác không hiểu gì của Jacquot.
- Ba ơi, đánh chết nó đi! Ba ơi, đánh chết nó đi.
Thế là Héridzé tóm lấy yết hầu Fédor và bóp chặt. Ông có bộ mặt sát nhân kinh khủng đến mức ông Cô-dắc què bước cái chân gỗ lên, rú lên bảo Fédor:
- Anh có con dao nhọn kia mà, đồ ngu!
Ông ta chưa nói hết câu, tiếng ồn ào đã vang khắp quán cà phê. Bản năng mù quáng vô trách nhiệm đã khiến Fédor làm theo lời khuyên. Lưỡi dao nhọn đã rút ra khỏi thắt lưng và cắm ngập vai Héridzé.
Cú sốc bạo liệt đã tách rời hai người ra. Vài giầy ưôi qua, Fédor sững sờ nhìn lưỡi dao đẫm máu, không ai dám cựa quậy.
Héridzé khẽ lảo đảo, đầu tựa vào một cái bàn và huơ tay ngăn không cho ai giúp:
- Tôi thật đáng đời - ông nói, như nói với mình. - Cũng may, thằng nhãi ranh không biết cách đâm.
Ông đứng thẳng người, nhăn mặt và muốn cởi khuy cổ áo dài, nhưng cánh tay phải của ông cựa mãi không được. Ông kêu:
- Hộ tôi một tí nào, lũ gà nhúng nước!
Người ta cởi áo, ông ở trần không có áo lót, ngực vá đầy sẹo dẹt và rắn trên những chiếc xương to.
- Mau lên! Nhét cái khăn vào vết thương, - ông quát. - Đừng sợ, cứ ấn mạnh vào... Được rồi!
Rồi bỗng chốc nổi giận, ông bảo Fédor:
- Mày vừa ngu vừa vụng. Cút đi! Muốn vào tù hay sao? Hoàng tử Kavkaz!
Fédor rùng mình, đánh rơi con dao, chạy lao ra cửa.
Không kịp nữa rồi, bốn, năm người cảnh sát chạy đến, những tiếng còi làm mọi người xúm xít lại.
- Họ đông quá, - Héridzé vừa nói vừa ngồi xuống. - Tôi muốn xem sao. Thằng trai ấy cùng dòng máu với tôi.
Fédor đã bị dồn vào chân tường và chưa bao giờ những người quen anh thấy anh đẹp thế. Thu mình lại trong bộ quần áo đỏ, thân hình anh căng lên làm những đường nét nổi lên như chạm khắc, anh như con thú hoang vừa từ rừng ra. Bất chợt, anh nhảy chồm vào giữa tốp người mặc đồng phục đang tiến về phía anh. Hai nắm tay, đầu anh, đầu gối, mọi thứ anh đều có thể dùng làm vũ khí. Ba lần, những thân người đổ xuống, ba lần, anh thoát khỏi đám người bám vào anh.
- Thằng đểu, thằng đểu, tại sao mày đâm thủng vai tao, - Héridzé gầm lên. - Nếu không, với hai đứa chúng mình, thoát ra dễ như chơi.
Cuối cùng, Fédor gục xuống. Trong khi người ta mang những viên cảnh sát bị thương đi thì họ còng hai tay anh lại, anh gồng hai cánh tay lên và Héridzé thấy ánh lên một tia đắc thắng trong đôi mắt long lanh của anh.
Ông già mạo hiểm, quá thành thạo với các cuộc vượt ngục và chiến đấu, muốn tránh cho Fédor phải cố gắng quá sức mà không lợi lúc này, quay về phía Fédor nhưng lại kêu to với Chouvaloff, mà ồng chắc là chỉ những người Nga mới hiểu được:
- Maxime ơi, mở máy và cho cái xe của anh đỗ sang bên kia đường, ở đấy vắng người hơn, đi.
Fédor bỏ thõng hai tay xuống và đi ra không chống cự, theo sau có một lũ tò mò. Mấy viên cảnh sát chỉ giữ anh hờ hờ, yên chí là anh bất lực rồi. Anh bước đi, càng chậm càng hay, một quãng độ năm mươi mét. Thế rồi anh lấy hết sức lực trong một động tác mạnh và gọn, dang hai cánh tay ra, sợi dây xích đứt toang, mấy viên cảnh sát bị hai nắm tay trong còng sắt quật vào ngã lăn xuống đất, Fédor hú lên tiếng hú kiểu djiguite rồi nhảy lên chiếc taxi của Chouvaloff. Chiếc xe lao đi biến mất trong các phố tối om.
Trong lúc ấy, Héridzé vuốt mái tóc Jacquot và nói:
- Thế đấy, câu chuyện của chú nhà văn đeo kính của con đã gây ra lôi thôi thế đấy.