Đêm Của Những Ông Hoàng

Lượt đọc: 30 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Iv

❊ ❊ ❊

Trong công viên Montsouris, buổi sáng rất đẹp trời. Màu sắc rất mạnh mẽ của mùa hè tràn trề khắp vùng đất đầy cây và cỏ này. Trong không khí người ta cảm thấy hơi ấm thanh bình của đất đang độ cực kỳ cường tráng và nẩy nở.

Vì đang là ngày làm việc nên ít có khách đi dạo trong khu công viên ngoại ô, vậy mà những con đường lại đông nghịt những trẻ con. Những đứa trẻ khốn khổ được nuôi ăn, nuôi mặc hết sức tằn tiện, đầu gối thì như những cái bướu trên cẳng chân khẳng khiu, nhưng chúng vẫn say sưa với chất men của mùa hè. Chúng hét vang, ném sỏi vào nhau, chạy nhảy, cứ như là sức nóng của mặt trời đang chảy trong huyết quản chúng.

Mười một giờ vừa điểm, một nhóm năm sáu chú bé tách khỏi đám đông, tiến về phía chiếc ghế dài đầy những tranh vẽ nguệch ngoạc. Mấy chú bé này có một vẻ nghiêm trang và bí mật gì đó. Đứa lớn nhất độ mười hai tuổi. Nó không mặc chiếc tạp dề đen mà mặc một chiếc áo vét rộng bằng nhung kẻ với vẻ phô trương.

- Émile ơi, chú ấy sắp đến hả? Chắc chứ? – Một cậu bé đầu to và môi tái hỏi bạn.

- Mày đừng ám chúng tao, – thằng lớn đáp. – Chúng tao cho mày đi theo không phải để mày vặn hỏi như ông tướng, mày chỉ là một thằng mới đến.

Thấy không đứa nào phản đối quyền đàn anh của mình, Émile tiếp:

- Biết ngay là mày chưa gặp chú ấy bao giờ. Những đứa khác đều biết chú Stéphane, chú ấy không bao giờ lên lớp tao mặc dầu chính tao đã giới thiệu chú ấy với chúng nó. Không đúng ư? Được, rồi mày xem, Julien ạ. Chủ nhật trước, chú ấy đã bảo: đến thứ tư, vào mười giờ, chú sẽ viết xong quyển sách của chú.

- Ôi! Chú ấy đã bảo cậu thế ư?

- Chuyện ấy và nhiều chuyện khác nữa! Chú ấy nói đủ mọi chuyện – Émile trả lời có vẻ khinh miệt.

Nhưng mặt nó bỗng nhiên nhăn nhó vì thấy có hai đứa bắt đầu chạy.

- Đồ ngu! Mày làm tao đón hụt chú ấy bây giờ – nó hét lên và cũng chạy lao theo.

Thằng Julien chưa chi đã thở hổn hển và phải dừng lại. Nó chợt thấy từ đầu đường một người cao lớn, nhưng gầy nhom, đang đi lại, hai cánh tay rất dài đang ra hiệu cho các bạn nó. Thấy hai điểm lấp lánh ở mắt ông, nó biết là ông đeo kính. Rồi những đứa trẻ đuổi kịp ông và vây quanh ông. Ông đặt tay lên vai hai đứa và cùng cả lũ đến chỗ thằng Julien. Julien thấy có hai người đàn bà đang đi nhanh, tay cầm túi, bỗng dừng lại ngạc nhiên nhìn theo người khách lạ.

Nhóm người càng đến gần thì trái tim của Julien càng đập mạnh. Cái chú Stéphane này biết kể những chuyện ly kỳ thế, biết tất cả tên các loài cây, các con sâu bọ, những chú lùn và những người khổng lồ, thế là cuối cùng nó cũng gặp được. Thằng Émile thật can đảm, nó đã được gặp chú ấy đầu tiên.

Julien rất khó hình dung gương mặt của chú ấy. Gương mặt mới kỳ cục làm sao! Mặt tròn, không đội mũ, mái tóc đen dựng đứng, như kiểu tóc của người lùn mà nó đã được xem ở rạp xiếc, mũi hếch lên, môi dày, trán đầy những vết nhăn luôn luôn chuyển động. "Chú ấy xấu quá!" Nó nghĩ thế. Nó sợ những nét mặt dị dạng trên cái thân hình lều nghều ấy đến nỗi nó không dám cựa quậy khi chú ấy đến gần nó.

- Cháu mới đến phải không? Ra đây xem nào! – Stéphane hỏi.

Nó chưa kịp động đậy gì thì hai cánh tay dài kia đã tóm lấy nó và nâng lên ngang tầm gương mặt đáng sợ kia. Nhưng khi nó vừa sát với hai con mắt lồi và trong trẻo kia sau đôi kính dày cộp thì Julien cảm thấy yên tâm. Trong đôi mắt ấy, có cái gì thân thiết mà nó chưa từng được biết.

- Có phải cháu rất thích đọc sách không? – Stéphane chưa buông nó ra và hỏi tiếp. – Cháu đọc những gì rồi?

- Thưa chú, cháu đọc Jules Verne, mẹ cháu mượn sách ở thư viện: Những cuộc phiêu lưu của thuyền trưởng Corcoran ạ!

Những đứa trẻ nhìn Stéphane, sẵn sàng đón nhận ở anh một phần lời khen của anh cho bạn chúng.

- Thế không đọc những truyện phù thủy, truyện loài vật ư? - Stéphane hỏi, có vẻ như không vừa ý.

- Cháu lớn rồi, không đọc những chuyện ấy, – Julien đáp.

- À, phải rồi. – Stéphane cười.

Anh đặt Julien xuống, thằng bé đứng chưa đến thắt lưng anh.

- Này cậu người lớn của tôi, – Stéphane nói có vẻ hơi buồn, – khi nào mà họ dịch truyện của chú ra tiếng Pháp, chắc cháu sẽ lớn hơn nhiều. Lúc bấy giờ cháu sẽ thấy một người già như chú vẫn có thể nghe các bà tiên và các con quỷ chuyện trò. Nhưng chú thì từ nước Nga đến, thật đấy. Và tất nhiên là cháu chưa biết. Cháu hãy tưởng tượng xem nước ấy rộng lớn như thế nào, nó lớn gấp nghìn lần cái công viên này, nó phẳng phiu và đầy cỏ; cỏ về mùa hè cao hơn cả cháu, và về mùa đông đầy tuyết trắng như một tấm thảm giặt sạch, và những cánh rừng mà mỗi cành cây đều có những con họa mi, và có những con sông mà sông Seine đặt cạnh chúng chỉ nhỏ bằng một con suối, ở những con sông ấy đều có những nàng thủy tiên.

Vừa nói, anh vừa dẫn lũ trẻ đến gần cái ghế dài đầy những tranh ngộ nghĩnh, vẽ bằng bút chì đậm những hình kỳ lạ: những con rồng, những con cá ngựa, những con kỳ nhông và những người đàn bà tóc dài phủ kín người...

- Cơn mưa không xóa chúng đi, đó là điềm tốt, – anh nói.

Anh ngồi bắt chéo hai chân dài ngoẵng, tì cằm vào giữa hai bàn tay và nghĩ ngợi vài phút. Những đứa trẻ nhìn anh im lặng. Cuối cùng anh nói:

- Nào! Các bạn nhỏ. Tôi đã viết xong quyển sách của tôi. Tôi sẽ kể các bạn nghe tôi đã viết những gì, và cũng như mọi lần, các bạn sẽ nói cho tôi biết ý nghĩ của các bạn. Hãy nghe kỹ, bởi vì đoạn cuối bao giờ cũng khó nhất Tôi nói đến đâu rồi?

- Đến chỗ: Khi những bông hoa huệ chuông trở thành những con cừu nhỏ... – tất cả bọn trẻ đồng thanh đáp.

- Ừ, ừ... Này nhé...

Thế rồi, anh khe khẽ kể lại kho báu huyền thoại của mình. Anh bắt đầu kể một câu chuyện đầy hoa, đầy các vị thần, các vì tinh tú, những chuyện thần kỳ, với những lời nói và những hình ảnh dường như rời rạc, nhưng lũ trẻ con theo dõi dễ dàng. Mắt chúng mở to vì chú ý, vì sợ hãi và thích thú. Chúng chưa bao giờ được nghe những câu chuyện giống như vậy và được kể một cách sâu thẳm như thế, với một niềm tin dễ lây lan như thế. Thêm nữa, giọng nói của Stéphane không giống giọng của bất cứ ai, một giọng nói uyển chuyển, du dương, gần giống giọng ông già nuôi chim thỉnh thoảng đến cho bọn chim sẻ của công viên ăn, nhưng còn dịu dàng hơn nữa.

Nói xong, anh hỏi ý kiến bọn trẻ. Anh lo lắng nghe chúng nói như nghe những người thầy giáo của mình. Bọn trẻ trả lời anh mạnh dạn và nghiêm trang.

- Tốt lắm, chú thấy rằng câu chuyện đã làm các cháu thích thú – anh thở dài nhẹ nhõm.

Rồi anh im lặng và vạch một cách ngẫu nhiên những đường nét thành những hình ảnh bí hiểm. Đột nhiên, anh đứng lên và nói:

- Nào các cháu, chú cho các cháu đứng trước ba trăm mét. Chúng ta thi xem ai đến bể nước trước.

Những người nữ lao công đến tìm con vào giờ buổi trưa nóng bức ngỡ ngàng nhìn người đàn ông kỳ quái đeo đôi kính dày cộp, có bộ tóc dựng lên như bộ tóc giả trong rạp xiếc, đang chạy đằng sau một lũ trẻ đang reo hò vui vẻ.

Khi lũ trẻ đã đi rồi, Stéphane Morski đi lang thang qua công viên hầu như vắng ngắt. Anh cảm thấy trống rỗng và buồn như mỗi lần xong một cuốn sách. Anh như đã cố gắng quá lớn đến mức dường như không bao giờ lại có thể bắt đầu như trước được. Mỗi ngày anh sẽ làm gì bây giờ? Anh cũng không cần phải quan tâm đến sô phận tác phẩm của mình mà một tờ tạp chí ở Praha và một nhà xuất bản Nga ở Berlin đã mua. Những mơ ước huyễn tưởng của anh, những chú lùn, những cô bé, tất cả những nhân vật anh sáng tạo ra đã đi vào sự mua bán. Vì mình, anh đã giết chúng khi trao tay chúng cho người khác.

Anh vừa ngồi xuống thì một con bọ rùa đến đậu trên gối anh. Nó có bộ cánh màu son lấm tấm những chấm đen. Nhà văn nín hơi quan sát nó, và lập tức dưới đôi kính, những con mắt màu lam hắt lên ánh sáng của một huyền thoại trẻ thơ nào đó. Rồi anh nghĩ rằng tiếng Pháp gọi con bọ này là "con vật nhà trời" thì tiếng Nga gọi nó là "con bò tí hon nhà trời". Sự giống nhau đó làm anh thích thú, vì nếu anh viết một thiên truyện về nó và người ta dịch sang tiếng Pháp thì từ đó cùng có một âm trong cả hai thứ tiếng. Con bọ rùa chợt cất cánh bay. Morski lao theo như định đuổi bắt nhưng đôi mắt cận thị của anh đã chẳng thấy gì trong làn hơi nắng rung rung.

- Nó bay đi kiếm mồi rồi, anh nghĩ thầm.

Anh quyết định trở về ăn sáng.

Căn hộ của anh (gồm hai gian có kê đồ đạc ở tận tầng năm) đổ bóng xuống những lối đi và những ki-ốt nhỏ của công viên Montsouris. Mặc dầu anh rất thích trò chuyện với những bạn của mình ở các khu phố không quá xa (anh rất vụng về trong việc đi tìm những tuyến xe buýt và xe điện để đến gặp họ), anh thường quen chân đến một nơi gần những công sự, trên những lối đi của vườn hoa, trong ánh mắt của những đứa trẻ nghèo, và trong tiếng thở dốc của đoàn tàu ngoại ô, để tìm bầu không khí thần tiên mà anh không thể thiếu.

Bà già gác cổng đang chuẩn bị bữa ăn cho anh nói:

- Nếu ông về sớm khoảng một giờ, ông sẽ gặp một người bạn.

- Người bạn nào?

- Tôi không biết, một ông khỏe, đậm người, có bộ râu ngắn. Ông ấy bảo là đến từ phương Bắc, ông ấy không ăn cơm với ông được vì mắc một bữa ăn bàn công việc. Ông ấy có vẻ đứng đắn.

Nghe bà tả, Stéphane nhận ra đó là Anton Irtych.

Anh hỏi một cách ngây thơ khiến cho gương mặt dị dạng và đầy nhục cảm của anh tươi lên:

- Và ông ấy đã nói bằng tiếng Pháp ư?

- Có lẽ thế, – bà già khẽ nhún vai làu bàu.

- Bà Couvrard ạ, ông ấy đã tiến bộ lắm đấy. Cách đây vài tháng, ông ấy chưa biết một tiếng nào đâu nhé. Thế ông ấy có quay lại không?

- Có, ba giờ ông ấy sẽ đến, ông ấy còn bảo ông nhất định phải chờ.

- Ông ấy thích cà phê đặc lắm, – Stéphane vừa nói vừa có vẻ nghĩ ngợi.

- Như thế có nghĩa là tôi lại phải leo lên để làm cho ông, vì ông không hề biết làm. Có thể nói là ông cứ bắt tôi quay như chong chóng, chẳng hiểu tại sao. Thôi mời ông ngồi vào bàn, nhanh lên.

- Bà Couvrard ạ, hôm nay, có một con bọ nhà Trời đã đậu lên gối tôi, bây giờ lại có ông bạn không hẹn mà đến, bà nghĩ thế nào? Nếu bà bói bài cho tôi, chắc hôm nay, những quân bài sẽ cho ta biết nhiều điều hay đấy.

Bà Cũvơra khẽ gật đầu: bà rất thích được người ta tin cậy như vậy.

- Thế ông không ăn sao?

- Tôi sẽ ăn nguội. Không sao cả.

- Tôi đã bảo ông cứ làm tôi quay như chong chóng mà.

Hai người bói bài ở gian bên. Đây là nơi diễn ra những việc quan trọng trong đời sống của Stéphane. Anh viết và ngủ ở đây, bởi vì ngủ là mơ, mà mơ cũng là sông. Mặc dầu Stéphane đã bảo bà đừng ngại, bao giờ vào căn phòng này, bà Couvrard cũng không giấu nổi nỗi sợ sệt. Bà không thể nào quen được với những đồ dùng và các thứ bùa ngải mà nhà văn đã tích cóp lại ở đấy: những lọ mực đủ các màu, những chiếc bút lông Trung Quốc, những bút chì giấy, những chiếc đũa ngà và nhất là sợi dây căng chéo ngang đầu chạy suốt gian phòng ở đó treo lủng lẳng những vật kỳ lạ: những mảnh quả óc chó, một cái nắp hộp thuốc lá có vẽ hình người Cô-dắc, một bộ xương cá, những mảnh vải, một cái vé xe buýt, một đồng tiền vàng, một chiếc tàu gấp bằng giấy báo. Tất cả những thứ ấy chỉ gặp một hơi gió là rung lên, đu đưa một cách sông động lạ lùng. Bà Couvrard cảm thấy không khí bao quanh những thứ đó kỳ quái như nhiễm điện, đến nỗi bà phải cúi rạp xuống để tránh xa khu vực bí hiểm đó.

Nhưng, để bói bài, bà Couvrard cho rằng không có nơi nào khác linh ứng bằng. Bà bói rồi nói ra những câu mà Morski ghi ngay vào cuốn sổ tay trong đó anh vẫn chép những giấc mơ của mình. Anh không tìm hiểu nội dung những điều ấy. Chính nhịp điệu của thuật bói bài, ngôn ngữ đầy hình ảnh và mơ hồ của nó, những lời nói chỉ cất lên khi quân bài ngửa ra đã hấp dẫn anh. Những điều tiên đoán, anh không quan tâm lắm, mà những dòng hình ảnh tuôn ra như suối, cái chất liệu ngôn từ, những tín hiệu bằng lời pha trộn với những tín hiệu màu sắc, đó mới là cái chính.

Hai người ngồi cạnh nhau rất lâu, trong khi trên đầu họ, treo lủng lẳng ở sợi dây linh thiêng, những vị thần quen thuộc của nhà văn đang rung lên khe khẽ.

Cuối cùng, bà gác cửa đứng lên, ngỡ ngàng nói:

- Đã hai giờ rồi. Đúng là chúng ta chẳng biết điều chút nào. Tôi còn một mớ quần áo phải giặt đây.

Morski trở lại bàn làm việc, mở cuốn sổ tay dầy cộm những tờ giấy chép tay xếp ngay ngắn. Anh vừa mới viết xong quyển sách sáng nay, mà anh cứ tưởng như nó đã chết, chết hơn cả bộ xương cá hoặc chiếc vé xe buýt kia.

Tuy nhiên, chỉ riêng những dòng chữ viết cong queo, vừa vặn vẹo, vừa hồn nhiên kia đủ đem lại cho những trang giấy ấy một cuộc sống lạ kỳ. Những chữ hoa viết bằng sơn màu tía, những chữ cổ nhất, Nga nhất, viết bằng mực màu lam quý. Ở chỗ nào cũng có hình những cánh cò, những ngọn lửa vẽ bằng những nét nắn nót. Có thể nói đó là một bảng mật mã đầy phép thiêng, một bản công thức luyện đan bí hiểm mà đẹp đẽ.

Mắt vẫn nhìn đăm đắm vào cuốn sách nhưng Stéphane chợt quên bẵng nó đi.

"Thoắt cái đã mười năm rồi, Stéphane thầm nghĩ. Những nhà phê bình công tâm nhất ở nước mình đã cho mình là một nhà văn lớn, vậy mà mình viết không sao hay bằng bà Couvrard nói khi bà ấy bói bài, cũng không hay bằng anh chàng mu-gích người cùng tỉnh với mình khi anh ta kể một câu chuyện. Những người ấy, họ có cái giọng riêng của họ. Đó là điều mình cần phải tìm thấy, cái giọng riêng của mỗi người, cái dấu hiệu riêng của mỗi người, giọng hát riêng của một hòn đá, một luống cày, một người trẻ tuổi. Những từ, những từ đẹp đẽ, những từ đích thực, những từ có phép lạ, những câu thần..."

Một tiếng chuông reo cắt đứt dồng mơ mộng của anh và anh rất thích thú được thấy Anton Irtych – người mà anh quen biết và yêu mến từ lâu vì cái sức mạnh lặng lẽ của anh ta.

Hai người ôm hôn nhau trên ngưỡng cửa.

- Stéphane Matveïtch, hãy để mình nhìn rõ cậu, Anton vừa nói vừa kéo nhà văn ra chỗ cửa sổ. Thật thế, tôi phải nhìn rõ cậu. Thế là đã gần nửa năm nay, tôi sống như một kẻ hoang dã, mà tôi chỉ nhớ có mỗi gương mặt cậu, và có lẽ...

Anh ta ngừng lại, Morski khẩn khoản:

- Hãy kể đi, kể đi, Anton, ở đây không có ai nói được tiếng Nga như cậu.

- Còn cậu, bao giờ cậu cũng nghe mình với cái kiểu như thế, chẳng hề quan tâm xem mình nói cái gì – Anton cất tiếng cười mạnh mẽ và trìu mến. – Cậu chỉ chú ý đến những câu chữ, không đúng ư, những câu thần? Nhưng không sao, mình thích nghĩ thành tiếng, nói to lên trước mặt cậu. Thật đáng tiếc là cậu chỉ như con sâu trong cái kén và không ai có thể làm cậu nhúc nhích. Lẽ ra cách đây hai tháng, cậu phải đến chỗ mình, xem công việc của mình. Cậu phải biết khi đất bắt đầu cựa mình dưới tuyết mùa xuân ở chỗ chúng mình đẹp biết bao! Này, Stéphane Matveïtch, mình nói với cậu điều này, mình càng yêu hơn mùa xuân đang nảy chồi ở khu vực ấy, bỡi vì ở đó, trong cái địa ngục trần trụi mà chiến tranh đã để lại, thực sự là sức mạnh của đất đai đã phơi bày ra và ngọn cỏ mong manh nhất cũng làm cho tâm hồn ta bàng hoàng.

- Hẳn là cậu đã làm ra nhiều tiền bạc, – Morski chợt hỏi. – Mình thấy cậu có vẻ trẻ hơn, gần với ý Trời hơn, thế là mình biết. Cậu là con người duy nhất mà tiền bạc làm cho đẹp ra. Cậu như một cái mỏ. Cậu phải làm cho nó sinh sôi của cải.

- Cậu, Stéphane Morski, cậu có vẻ chẳng hiểu cái gì ra cái gì, thế mà bỗng dưng cậu lại nhìn thấu suốt chúng tôi hơn cả mỗi người chúng tôi. Đúng, tôi đã kiếm được nhiều tiền và tôi sẽ còn kiếm được nhiều nữa. Hiện nay tôi đã có ba trăm công nhân, thành một làng Nga rồi. Họ là những người của tôi, họ yêu tôi như tôi yêu họ, rất gắn bó với nhau. Cậu hãy thử tưởng tượng chiều hôm qua tôi vào trong một căn nhà gỗ để thăm một người thợ bị thương. Người ấy đang đọc một quyển sách, chính là quyển sách của cậu. Khi người ấy biết rằng tôi quen cậu, anh ta nói thao thao không dứt. Mình không hiểu rõ lắm, chỉ có điều là hình như con cháu chúng ta sau này sẽ còn nói về cậu. Anh ta đã gửi mình cầm tặng cậu một cái gì đó để cậu treo vào sợi dây của cậu.

Anton Ivanitch rút trong túi áo ra một mảnh đạn đầy răng cưa có hình dáng như một con nhện. Morski xúc động ngắm mảnh đạn, khẽ đưa ngón tay lên những cạnh sắc rồi treo nó lên giữa các vị thần thân thiết của mình.

- Vậy thì còn cậu, Stéphane, trong những tháng ấy, cậu làm gì?

- Đây – nhà văn chìa ra tập bản thảo của mình – cái này đây.

- Hoàn thành rồi?

- Vừa sáng nay.

- Hài lòng chứ?

Morski đưa tay ra hiệu mơ hồ.

- Dù sao thì tôi cũng đến đúng lúc để ăn mừng sự việc nóng hổi này. Sáng mai, mình phải đi gặp mấy người vì công việc, nhưng chín giờ mình mới đi. Vậy thì đêm nay là của hai chúng ta. Rồi thế này nữa, hãy nghe đây: cứ như ngày xưa, mình sẽ mua bản thảo của cậu.

- Vậy là cậu đã giàu rồi hả? - Stéphane mỉm cười.

- Đủ giàu để làm việc này, nhưng chưa đủ để...

- Để làm gì?

- Thôi, lúc ăn mình sẽ nói, nếu chúng ta đều thấy hứng thú.

Họ lại ôm chầm lấy nhau và trong khi Anton bước xuống cái thang dốc thì Morski đến ngắm mảnh đạn mà người công nhân Nga không quen biết đã nhặt tặng anh từ những cánh đồng đầy thương tích của nước Pháp mà hiện nay anh chàng Anton Ivanitch, người mu-gích xứ Sibérie đang khai thác.

thời gian đã mất được chính A. Makin, nhà văn Nga lưu vong sưu tầm và trích dẫn trở lại). Rồi sự thích ứng. Một điều bất cứ ai, dù chưa dấn thân vào kiếp sống nơi đất khách quê người, cũng có thể dự đoán được, ấy là sự mưu sinh ở đây cực k
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 10 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Joseph Kessel

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.