Mùa Gió Chướng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5

❊ ❊ ❊

Đêm sau, không đợi đến chuyến đi của giao liên, Bé Ba đưa chúng tôi đến Tỉnh ủy. Cô nghỉ lại chỗ thường trực “nằm vạ”, để chờ xem chúng tôi được Tỉnh ủy phân công về đâu.

– Chắc mẻm là Tỉnh ủy phân công ảnh về chỗ em, rồi anh xem! - Cô lại tiếp: - Bây giờ ảnh là cán bộ Rờ, chớ hồi ở tỉnh, ảnh là tỉnh ủy viên dự khuyết, trẻ nhất, bộ giỡn sao?

Tôi cũng nghỉ ở thường trực, có cô cũng đỡ buồn, lại biết thêm nhiều chuyện lý thú. Phòng thường trực của tỉnh gồm có ba cái chòi gần nhau nhưng tươm tất hơn cái chòi của trạm giao liên, ở cùng một cánh đồng với dân, có hầm hố, có người lo cho cơm nước, có giường có chiếu, có cả bình trà.

Muốn vào chỗ làm việc phải có giao liên dẫn đường, phòng giặc đổ quân, theo những con đường mòn có rất nhiều bãi lựu đạn gài. Tôi được Tỉnh ủy mời cho nghe thông báo tình hình chung của tỉnh. Cả tôi và Bé Ba được giao liên đưa vào dự bữa cơm của Tỉnh ủy mừng Năm Bờ trở về. Năm Bờ thì ăn ở và làm việc ngay trong cơ quan.

Tôi ở một chòi, Bé Ba ở một chòi, nhưng thường qua lại chuyện trò.

– Nghe nói chị Sáu có nhiều người thương lắm phải không?

– Thiếu gì!

– Bây giờ chị ưng ai?

– Ưng ai, anh hỏi làm gì?

Cô trả lời giọng một như vậy, nhưng không cộc cằn mà nghe dịu dàng, thế mới chết! Trong mấy ngày thảnh thơi này, cô thay cái áo màu cỏ úa giặt sạch, phơi khô, xếp lại dưới đáy bồng, mặc cái áo màu hột é; cái áo khéo may theo thời trang, bó sát lấy thân người, trông khỏe và tươi mát hơn. Và cũng cổ trái tim, cái cổ áo không muốn giấu nốt ruồi son ấy. Tự nhiên tôi lại nghĩ, nếu một cái nốt ruồi son ấy mất đi, thì vẻ mặt của cô không được sáng sủa như vậy.

– Được nhiều người thương chắc chỉ đẹp lắm?

– Tôi là con gái mà tôi còn thương chỉ nữa kia.

– Dữ vậy? Bây giờ chắc chỉ chê anh Năm?

– Chỉ mà chê thì tôi từ chỉ ngay.

– Sao lại từ?

– Ảnh đánh Mỹ, ảnh bị thương chớ làm sao mà chỉ chê.

– Mình là người ngoài cuộc, mình nghĩ vậy, còn chỉ, chỉ là người trong cuộc, chỉ nghĩ khác chớ!

– Trong ngoài gì cũng vậy, chỉ mà chê thì tôi từ - Cô nói, bàn tay xòe ra, phạt ngang dứt khoát như một nhát dao.

– Bây giờ cô là người ngoài cuộc, cô mới đơn giản vậy, đến lúc, phức tạp lắm.

Cô mở tròn mắt nhìn tôi, nhìn với vẻ lạ lùng, giọng cô gắt lên:

– Sao anh lại nghĩ là chưa đến lúc? Em nói là nói chuyện của em, người của em bị thương còn nặng hơn ảnh nữa kia?

Tôi giật mình:

– Thiệt à?

– Tôi nói dóc anh làm gì!

Đôi mắt của cô vẫn mở tròn đó nhưng trông đã thấy lông mày ửng đỏ. Hóa ra tôi chẳng hiểu gì về cô.

– Người của em bị thương mất một chân. Sau khi bị cưa chân, ảnh viết cho em lá thư cắt đứt. Đọc thư ảnh, em giận quá. Em viết thư lại cho ảnh, em phê cho một trận, em biểu ảnh, chừng nào ra viện thì về làm đám cưới, em nuôi.

Vậy là con mắt của tôi không phân biệt một cô con gái còn son với người con gái đã lấy chồng.

– Bây giờ ảnh ở đâu? - Tôi hỏi, nghiêm chỉnh hơn.

Đôi mắt của cô chớp chớp:

– Ảnh hy sinh rồi. Hôm đó, bệnh viện có lệnh di chuyển thương binh nặng đi bằng xuồng máy đuôi tôm. Trực thăng rà thấp dưới mặt ruộng tới lúc nào không nghe...

Sau đó không bao lâu, có một anh bộ đội hỏi em. Ảnh cũng đàng hoàng đứng đắn lắm, nhưng khi nghe ảnh hỏi, thì em giận quá, sao ảnh không để cho em nguôi ngoai một chút?

– Bây giờ anh ấy ở đâu?

– Ảnh lấy vợ rồi, năm ngoái, cũng mừng cho ảnh.

Sau lần nói chuyện ấy, tôi không sang cái chòi của cô nhiều như hai ngày trước nữa. Qua ngày thứ ba, tôi thấy buồn vì phải nằm chờ, cũng vừa dịp Năm Bờ đã xong việc, anh ra thăm chúng tôi vào buổi tối đầy mây, sắp sửa mưa to. Bé Ba, kể cả tôi chưa hết vui vì được biết Tỉnh ủy phân công anh trở về chiến trường cũ, thì anh đã nói với Bé Ba về tin làng, anh mới nhận được cách đây hơn tuần. Thằng đại úy Nguyễn Vân Long lại mở trận càn. Trận càn không vấp phải một sự chống trả nào của du kích, một tiếng súng không có, cả lựu đạn gài cũng không nổ. Đó là điều chưa bao giờ xảy ra ở chiến trường này. Du kích còn lại ở xã không phải là ít; súng, lựu đạn gài, mìn, đạp lôi không thiếu một thứ gì! Cánh quân của thằng Long như vào chỗ không người và nó trở về với ngày ăn đầy tháng của thằng con đầu lòng tại nhà nó, thật tưng bừng. Không ai hiểu được vì sao du kích không nổ súng! Từ đó đã có tiếng xì xào “bể rồi”; tiếng xì xào cứ gom dần vào cho người đứng đầu: Sáu Linh. Bể, có nghĩa là không còn nguyên nữa, theo nghĩa đen; là mất tinh thần, theo nghĩa bóng. Bể! Bể chiến trường. Anh thấy mình bị xúc phạm, Bé Ba cũng thấy mình bị xúc phạm, tôi chưa dính dáng gì cũng thấy bị xúc phạm lây.

– Tỉnh ủy nhận định hay là ai, anh Năm? - Bé Ba hỏi.

– Tỉnh ủy không ai kết luận vội vàng như vậy.

– Vậy chớ ai?

– Một số anh em.

– Người nào nói như vậy thì bảo họ về dưới, biết đá biết vàng. - Bé Ba tức giận ra mặt.

– Tình hình này khó hiểu quá, ông Thắng! Tôi muốn về ngay đêm nay, nhưng tôi còn một cuộc họp nữa. Đêm mai mới đi được.

Anh bực bội ra mặt, nói vậy rồi trở vào cuộc họp.

Trong chòi chỉ còn tôi với Bé Ba. Cô ngồi làm thinh, mặt buồn hiu, như xấu hổ với cả tôi.

Năm Bờ đánh thức tôi lúc 5 giờ sáng, trời đang mưa, mưa đầu mùa như trút nước, bầu trời trên cánh đồng Tháp Mười đen nghịt.

– Chuẩn bị đi ông! - Anh bảo tôi.

– Đi bây giờ?

– Trời mưa này, máy bay ướt cánh hết, xế chiều là mình tới nhà. - Bé Ba đáp lại tôi. Cô mặc lại cái áo màu cỏ úa, cả hai người, bồng đang mang vai, súng khoác vai, tay cầm vải che mưa, sẵn sàng.

Tôi xếp võng, mùng, dồn vào bồng, định buộc dây thì Bé Ba dúi vào bồng tôi một đòn bánh tét.

– Ở đâu vậy? - Tôi hỏi.

– Em đi mua, mỗi người một đòn, mưa gió vầy, cơm nước gì được!

– Cô mua hồi nào vậy?

– Hồi nãy.

– Sao cô không gọi tôi sớm.

– Muốn để anh ngủ. Đi được chưa, anh Năm?

– Đi!

Cô giũ vải ni lông, choàng qua người, đầu súng chúc xuống đất, bước ra.

Chúng tôi đi dưới cơn mưa, đường trơn trượt, nhưng lại yên ổn. Theo cách nói của Bé Ba thì máy bay bị ướt cánh, nó nằm gí ở tận đâu, không thấy một bóng nào lai vãng, cũng không nghe thấy tiếng động cơ nào từ xa vẳng tới. Chỉ có những tiếng pháo nổ chìm mất trong mưa gió. Không chỉ có ba chúng tôi mà hầu như người nào có việc đi đều chờ lúc này, nào bộ đội, nào khách của tất cả các trạm trên đường dây, nào vải ni lông đủ màu: màu xanh, màu đen, màu xám, màu nước mắm; tất cả đều đổ lên mặt đường, kẻ ngược người xuôi. Đường trơn trợt, đáng lẽ phải bám đầu ngón chân xuống mặt đường thì người mới vững, nhưng không ai dám bỏ đôi dép vì vỏ ốc dưới mặt đường bén như dao cạo. Người phía trước trợt, người phía sau té, ạch đụi, tiếng cười đùa lại vang lên trong cơn mưa, thiệt vui.

Mưa đầu mùa nặng hột, mịt mù. Cây cỏ trên cánh đồng tha hồ được tắm gội. Những con cá chờ nước: cá rô, cá lóc cá trê lóc lên mặt đường.

Mấy anh bộ đội ngược đường chúng tôi, vốn là người ở xứ ít cá, cứ reo lên chụp bắt, rồi lại té, lăn quay, lại cười vui.

Con đường xuyên qua rừng đế, rồi xuyên qua đưng, qua lác, vắt theo bờ ruộng, rồi lại dẫn qua đồng cỏ hoang. Chúng tôi đi, đi mãi đến lúc dứt cơn mưa. Mưa như cũng xối ngược lên, rửa sạch nền trời. Trời không một gợn mây, vòm trời xanh trong, cao khum khum. Nắng rực rỡ, đã xế chiều.

Chúng tôi đến cánh đồng mới bỏ hoang khi dân làng bị giặc xúc ra ấp chiến lược, đã hai năm. Cánh đồng của những cây lúa họ “nàng”: nàng tiên, nàng rừng, nàng tây.

Và bây giờ những chiếc máy bay vừa rồi phải nằm gí dưới cơn mưa, đang cất cánh, nhìn đâu cũng thấy chúng. Những chiếc F gầm rú lao như ánh chớp, những chiếc T28 đen sì chầm chậm bay lừng lừng giữa trời, đầm già đen, đầm già trắng bay lè tè, quần xoáy theo các con đường, và trực thăng như chuồn chuồn, ầm ì. Cái nguy hiểm nhất của chiến trường đồng lầy, chính là nó: trực thăng.

Nếu cơn mưa kéo dài thêm một tiếng nữa thì chúng tôi đã đến nơi rồi.

Rặng cây xanh um dài dọc theo bờ sông Cửu Long - mà ở xa nhìn về thì như đường chân trời, đó là những làng còn đang trong tay giặc, cách chúng tôi một cánh đồng. Và vườn cây chạy dài theo con kinh bắt nguồn từ chỗ con kinh đổ vào cánh đồng, đó là làng du kích: chỗ của Sáu Linh, cách chúng tôi chừng hơn cây số. Vàm Kinh, ngã ba ấy là chi khu quân sự. Sắp đến nơi, mưa lại tạnh, chúng tôi phải dừng lại trên cánh đồng chỉ còn những ngôi nhà nát, hoặc cháy rụi, hoặc dỡ ủi, hầm hố đã sụp lở, sậy đế um tùm.

Bé Ba đưa chúng tôi đến một ngôi nhà đổ, nhưng hầm vẫn còn tốt, đủ sức chống đạn trực thăng.

– Anh Năm còn nhớ nhà này là nhà của ai không?

Năm Bờ nhìn cái mái lá đẫm ướt, treo dính trên đầu cây cột cháy, rồi nhìn lại cái hầm, cái hầm nổi vững chắc, vách bằng thân dừa với một lớp đất sét trộn trấu, trong hầm có thể trải qua một chiếc chiếu đôi, một cái mùng lớn cho cả gia đình, trên mặt hầm cỏ xanh um.

– Sao lại không nhớ? - Anh đáp.

– Tội nghiệp chỉ quá! Bây giờ hai anh nghỉ ở đây, em đi vào trước em báo cho chị Sáu.

– Tụi tôi đi luôn không được sao?

– Em đi vắng lâu, không biết mấy anh mấy chị gài lựu đạn ở đâu, lớ quớ vướng dây chết oan mạng.

Bé Ba xếp vải đi mưa cho vào bồng, lấy con dao găm, chặt một bó sậy, đứng bên miệng hầm nhờ tôi ngụy trang.

Anh ngụy trang làm sao cho trực thăng với đầm già đừng thấy em thì anh làm.

Tôi vừa vắt lá, vắt sậy, vắt đế theo những cái túi nhỏ quanh cái bồng của cô, vừa sung sướng như được chăm sóc cho cô. Trong lúc đó, cô nói với Năm Bờ:

– Anh có nhớ anh Bảy Thá không?

– Sao lại không nhớ?

– Mấy ngày nay, nhiều chuyện quá, em quên kể cho anh, bây giờ nói tới lựu đạn gài em nhớ. Anh Bảy Thá bị lựu đạn gài của mình.

– Vậy à?

– Nhưng không chết, chỉ có tật ở chân trái thôi, ảnh đi cà thọt. Ai hỏi ảnh, ảnh cũng nói là mìn “playmo” của nó. Ảnh nói với chị Sáu: “Lựa đạn gài với mìn “playmo” của nó lẫn sao được. Nhưng nghĩ cho cùng, nếu không vì chúng nó thì anh em mình gài lựu đạn làm gì?”.

Thật chí lý. Tôi hỏi:

– Anh Bảy Thá đó bây giờ ở đâu?

– Cũng bị nó xúc ra ngoài rồi! Xong chưa anh?

– Xong! - Tôi thấy thú vị như vừa trang điểm cho cô.

– Thôi, hai anh ở đây, nếu nghe nổ là em vướng lựu đạn gài đó, nhưng em không sao đâu, em học tập chị Hồng Gấm rồi.

Bé Ba đi. Hai chúng tôi ngồi bên miệng hầm, mở bánh tét ra ăn. Năm Bờ ngồi dựa vách hầm, nhìn vào rặng cây làng Mỹ Hương, sau khi ăn xong một khoanh bánh, anh nói:

– Địa hình địa vật như vầy mà đánh không được, kỳ quá!

Không muốn để anh buồn bực, tôi hỏi lảng sang chuyện khác:

– Hầm này là hầm của ai vậy anh Năm?

– Hầm của chị Nở. Hồi trước khi Mỹ mới đổ quân, nó định xúc dân ra bờ sông, viện cớ là dân ở trong vườn dễ chứa Việt cộng. Dân không đi, nó cho trực thăng bay dọc theo kinh, bắn ngày bắn đêm. Cả làng mới dời nhà ra đồng, rồi kéo biểu tình, cho người nói với nó là: dân bỏ làng thì ruộng bỏ hoang, dân dời nhà ra đồng ở “lộ thiên” cho nó thấy. Cho nên mấy năm nay, tất cả các làng ở dọc theo bờ kinh trên đồng Tháp Mười đều dời ra đồng là vậy. Bay trên trời, nhìn xuống thấy nhà, thấy người, nó mới chịu. Nó nghi nhà nào thì trực thăng nó dừng lại trước cửa nhà đó, thò đầu ra nói chuyện. Có lúc, nó cho trực thăng đứng ngay trên nóc nhà người ta, đưa bồ cào cào mái nhà người ta để dòm xuống kiểm soát. Dân phải sống nửa hợp pháp, nửa bất hợp pháp. Còn bộ đội, du kích, cán bộ thì bám lấy địa hình, vậy mà, đêm vui lắm. Ngoài đồng, nhà đỏ đèn như sao sa. Nhà nào cũng mở ra-đi-ô nghe đài Hà Nội, đài Giải phóng. Hồi tôi còn ở đây, tôi thường hay về nhà này. Chị là bà con bên dì tôi.

Tôi vừa nghe anh nói vừa nhìn theo Bé Ba, không quên để ý đến tiếng bay của đầm già đang văng vẳng từ xa, cũng không rời mắt khỏi một bầy trực thăng đang chúi mũi xuống cánh đồng ở tận trong sâu, nhỏ như ba cái cán gáo.

– Mùa nước ở đồng Tháp Mười, người cực khổ nhứt ở cái chiến trường này là ai anh có biết không? Cực khổ nhứt là phụ nữ có con nhỏ. Anh dòm cái chớn nước ở vách hầm này thì biết: cao hơn thước rưỡi. Hầm hố ngập hết. Ngồi trên sàn, sống trên xuồng, muốn tránh bom hoặc trực thăng, chỉ có lặn thôi, trẻ con làm sao lặn được. Mùa nước năm đó tôi về đây, nước ngập hầm, hễ nó bắn thì lặn xuống nước, hầm nào chưa ngập lút thì cũng ngập hết nửa hầm.

Bé Ba đã qua khỏi đám đế, đang đi theo bờ ruộng. Một đường khói đen từ “con cá lẹp” ở xa kia đang cắm xuống. Nó bắn hỏa tiễn.

– Muốn vào hầm, cũng phải lặn. Chị Ba Nở tôi, con còn nhỏ quá, không thể ôm con mà lặn vô cửa hầm được. Mỗi lần nó bắn, chỉ phải để thằng nhỏ ngồi trên cái thau, đẩy nó vô hầm, thấy đứt ruột đứt gan.

Bé Ba lại khuất vào một đám cỏ tây tươi xanh, thấy rõ những cọng đế quanh người cô đang chuyển động.

– Đến lúc trong hầm không còn không khí để thở nữa, chỉ còn có một cách là lặn thôi. Trong xóm, trong làng, chị nào có con nhỏ cũng phải thủ ở bên mình một cái bọc ni lông, hễ nó tới bắn thì để con vào bọc ni lông, túm miệng lại, ôm con lặn xuống rồi trồi lên, mở miệng ni lông cho con thở, rồi lại lặn xuống. Cứ ôm con trong bọc ni lông trồi lên hụp xuống cho đến khi nó bay đi. Năm đó, năm sáu mươi sáu, nhằm năm bão lụt, nước cao quá, mấy cái gò cao ở đồng cũng bị ngập, không có đất để chôn người chết nữa. Người chết được liệm trong một cái bọc ni lông, hàn kín để trong hòm rồi gác lên ngọn cây, chờ đến mùa khô mới đem xuống chôn cất.

Bé Ba đi đã xa, không nhìn thấy được nữa, chắc là vừa đến rặng cây.

Ba chiếc trực thăng bay về hướng chúng tôi. Tiếng “con đầm già” đã tới.

Ba chiếc trực thăng bay qua đầu chúng tôi, con đầm già đen thì xoáy tròn trên cụm vườn. Chúng nó, bay hai tầng, con cá lẹp, dài ốm nhom ốm nhách và đen sì bay trên cao, một chiếc hình cá rô, một chiếc hình con cá nóc rà thấp. Nó rà một vòng, rồi lại đảo qua một vòng nữa, một vòng nữa, lại một vòng nữa, nhưng chưa bắn. Chiếc “cá rô” dừng lại trên những cụm đế, con đường của Bé Ba vừa đi qua, quạt cho đế ngã rạp xuống, vẹt ra, rồi lại cất lên, lại dúi mũi ngửi một chỗ khác.

– Kiểu này nó có thể nhảy cóc lắm đó, ông Thắng! - Năm Bờ nói với tôi: - ông cứ ở trong hầm đi, chừng nào tôi kêu thì chạy ra nghen.

Mỗi lần nó rà tới, Năm Bờ lại lách ra cửa hầm, cây AK đã lên đạn, ghé con mắt nhìn theo. Nó bay khỏi, anh bước ra, dõi theo nó. Chiếc hình cá lẹp bay tận trên cao, cánh nó quạt lạch xạch, yểm trợ cho chiếc dưới.

Tôi đứng mấp mé bên cửa hầm, nhìn theo nó, rồi nhìn Năm Bờ đang đứng cạnh bên tôi, giấu mình trong vạt đế lưa thưa, tay cầm AK. Cây súng ngắn bên hông tôi lúc này quả là chẳng có tác dụng gì, chả đủ bảo vệ mình.

– Chia cho tôi một trái lựu đạn, anh Năm!

Năm Bờ đưa tay vào dây lưng, đứt ra một trái da láng đưa cho tôi. Tôi cầm lấy trái lựu đạn, không ẩn vào cửa hầm nữa.

Con đầm già đen tè tè bay dọc theo kinh. Chiếc trực thăng hình cá lẹp bay trên tầng cao, nó bay xấp xải vội vàng, trông nó tung hoành, khát máu đến muốn chửi.

Chiếc trực thăng bụng tròn như con cá nóc, cái bụng chở quân, rà xuống cánh đồng. Nó bắn.

– Nó sắp đổ giò đó, ông Thắng!

Đường bay của nó sà xuống thì tiếng súng từ trong rặng vườn nổ ra. Như một con chim nghe đường đạn, nó vụt cất lên, cánh quay tròn. Tiếng súng trong rặng vườn du kích lại nổ tiếp.

Một trận đánh bắt đầu. Con đầm già đang tè tè bay thẳng ra sông lớn, nó vòng lại, ba chiếc trực thăng cất cao, rồi chúi mũi về phía súng của du kích, bắn xả xuống. Chiếc hình cá lẹp đen sì xấp xải bay tới, bắn hỏa tiễn, khói bựng lên.

Tiếng súng của du kích bắn lên như ném theo dây thòng lọng vào đầu nó ghì nó xuống.

Du kích đang kéo lửa về phía mình cho chúng tôi thoát khỏi vòng vây...

– Hai anh mới về?

Sáu Linh, cô gái mà tôi nghe nhắc đến, mà tôi mong mỏi, bây giờ đang đứng trước mặt tôi. Đêm đã xâm xẩm tối, nhưng tôi vẫn nhìn rõ. Một cô gái người thon thả, gọn gàng, đầu bới tóc, nước da ngăm đen, một cô gái bình thường, cái đặc biệt ở cô là đôi mắt, đôi mắt thăm thẳm lung linh. Cô hỏi giọng nhỏ nhẹ, hơi run, ngón tay cái tỳ vào dây súng đeo qua vai.

– Anh em mình có ai làm sao không? - Năm Bờ đứng đó, trước mặt cô, không đeo kiếng mát, hỏi lại Sáu.

Tôi bỗng cảm thấy sự có mặt của tôi và những chị em du kích đang đứng chung quanh trong lúc này, thật vô lý. Bé Ba cũng đứng đó. Sau trận đánh, mà tôi tưởng như tôi đã xa cô lâu lắm. Hai cô du kích kia thì chào mừng rối rít với bao nhiêu câu hỏi.

– Anh đi đâu mà biệt tăm biệt tích vậy?

– Tụi em chờ anh muốn chết!

– Anh bạc quá. Không gởi cho tụi em một chữ làm thuốc nữa.

– Người ta ở Rờ, người ta nhớ làm gì cái dân ở xã của mình.

– Nói vậy chớ, mấy em biết trước sau gì anh cũng về thôi.

– Bỏ cái đất này đâu có dễ, hở anh Năm!

Tôi hiểu rồi, những lời trách móc, hờn dỗi, cũng như sự vồn vã rối rít của các cô, chính là của Sáu, mà các cô đã mang đến cho anh. Sáu đứng lùi lại phía sau, nhưng đôi mắt của cô khiến tôi thấy cô đứng gần với Năm Bờ hơn mọi người, đôi mắt cô bật lên trong cái nhìn thăm thẳm mênh mông. Khi cô nhìn Năm Bờ, đôi mắt cô chợt sáng như ánh sáng của một vầng trăng. Một đôi mắt có ánh trăng! Tôi thầm nghĩ. Năm Bờ! Anh có thấy ánh trăng trong đôi mắt ấy không?

Lúc đó, Năm Bờ lại nói:

– Hôm nay về Tỉnh ủy, anh nghe nói, trận càn vừa rồi, du kích mình không nổ được một tiếng súng, một trái lựu đạn gài cũng không nổ, anh nghe kỳ quá, không hiểu sao?

– Em nói với chị Sáu hết rồi, chị Sáu nói cho anh Năm nghe đi chị Sáu.

Bé Ba vẫn bộ quần áo đi đường, vai mang CKC, đứng gần bên Sáu, nói và nhìn chúng tôi.

– Nó càn nhưng nó không vô định hình, làm sao đánh được anh? - Sáu vẫn đứng xa hơn các cô, nói với chúng tôi - Nó sắp càn, tụi em biết, tụi em bố trí đâu đó sẵn sang. Nhưng nó cứ dẫn quân đi lơi khơi ngoài đường; ngay chỗ mình đang đứng đây, nó cũng không dám tới. Nó cứ quần tới quần lui ở ngoài kia kìa. Lúc đầu, em tưởng là nó phát hiện được cánh quân nào của mình mới chuyển về, đang ém quân. Té ra là nó không dám đụng đầu với du kích, nó càn cho có chừng, không dè nó bể đến như vậy. Quân của nó cứ lặn ngụp trong sậy trong đế cách mình hàng ba bốn cây số, nếu có bắn, đạn cũng không bay tới! Nổ súng làm gì?

Năm Bờ đứng nghe, vừa ư hừ vừa gật gù. Té ra là như vậy, có đến tận nơi mới biết, sự thật hết sức giản đơn. Du kích không nổ súng, chính vì nó không dám đương đầu.

– Em phải báo cáo cho rõ để các đồng chí ấy biết!

– Em làm rồi, nhưng chữ nghĩa của em, em viết cụt ngủn cụt ngẳn thôi…

– Nếu vậy thì phải làm lại, anh Thắng sẽ giúp em. - Anh nói và nhìn sang tôi.

Sáu Linh vẫn đứng đó với đôi mắt lung linh, cô nói:

– Cần gì anh, thì giờ để làm việc khác, trước sau gì rồi các ảnh cũng biết thôi, lo gì! - Cô nói với giọng nhẹ nhõm, bình thản, không vướng bận gì đến những dư luận oan ức đó đối với cô. Người ở chiến trường xử sự có khác, hành động và ý chí đều hướng vào kẻ giặc, một mất một còn, ngoài ra, những điều phiền toái và rắc rối khác là những điều nhỏ mọn không đáng kể. Sáu vẫn đứng đó, sau mọi người; tôi thấy cô rõ hơn, nhưng không phải nhờ ánh sao vừa mới bật sáng mà chính vì câu nói của cô. Không hiểu Năm Bờ nghĩ gì mà làm thinh, một hồi lâu mới nói:

– Cũng nên nói rõ để cấp trên hiểu rõ tình hình.

– Dà! Thôi về đi hai anh, đi được rồi. Đi đi mấy em, đi dang ra xa, coi chừng pháo - Cô nói.

Bé Ba vụt đi trước rồi đến ba cô du kích, tôi vọt chân lên trước đe cho hai người đi sau cùng. Năm Bờ hỏi Sáu:

– Bà Chín còn không, Sáu?

– Còn chớ anh, Bé Ba không nói gì với anh à?

– Không biết tình hình ở xã ra sao, anh không muốn hỏi. Anh cứ lo là bà Chín không còn.

– Nè anh, vừa rồi, bà Chín đã đỡ đẻ cho vợ thằng Long đó.

– Vậy hả?

Tôi không biết bà Chín ấy là ai mà mãi đến lúc này Năm Bờ mới hỏi, rõ ràng là anh vui mừng trong tiếng “vậy hả!” của anh.

– Để em kể cho anh nghe...

Giọng của cô gái nghe dễ thương lạ, hèn chi!

Nguyễn Quang Sáng Tiểu Thuyết MÙA GIÓ CHƯỚNG Thực hiện ebook : hoi_ls Rút trong tập “NGUYỄN QUANG SÁNG Tác phẩm văn học được giải thưởng Hồ Chí MinhNhà xuất bản Văn học 2007
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.