T
ừ sau Trân Châu Cảng, những người chỉ huy các phương tiện bạo lực được mở rộng của Mỹ bắt đầu có quyền tự quyết đáng kể, cũng như có ảnh hưởng hơn trong giới đồng nghiệp chính trị và kinh tế. Một số quân nhân chuyên nghiệp đã từ bỏ vai trò quân sự của mình để bước vào các lĩnh vực cao cấp khác ở Mỹ. Những người khác, trong khi vẫn là quân nhân, thông qua việc tư vấn, thông tin và nhận xét để tác động đến những quyết định của giới quyền lực trong các vấn đề kinh tế và chính trị, cũng như các cố gắng về giáo dục và khoa học. Dù còn mặc hay đã cởi bỏ quân phục, các tướng lĩnh và đô đốc vẫn tìm cách tác động đến quan điểm của công chúng bên dưới, sử dụng sức mạnh quyền lực của họ, công khai cũng như bí mật, nhúng tay vào những chính sách gây tranh cãi.
Nhiều trong những tranh cãi này, giới quân phiệt làm theo ý mình; trong các vấn đề khác, họ ngăn cản những hành động và quyết định mà họ không ủng hộ. Trong một số quyết định, họ đồng tình mạnh mẽ; trong một số quyết định khác, họ tham gia chất vấn và thua. Nhưng hiện nay họ có nhiều quyền lực hơn bất kỳ giai đoạn nào trong lịch sử giới tinh hoa Mỹ; họ có nhiều phương tiện hơn để thực thi quyền lực trong nhiều lĩnh vực đời sống Mỹ mà trước đây là những lĩnh vực dân sự; giờ đây họ có nhiều mối liên hệ hơn, và họ đang hoạt động trong một đất nước mà giới tinh hoa và cư dân bên dưới của nó chấp nhận điều mà chỉ có thể gọi là định nghĩa của giới quân sự về hiện trạng. Trong lịch sử, giới quân phiệt chỉ có các mối quan hệ nghèo nàn và khó chịu trong giới tinh hoa Mỹ; bây giờ họ là anh em con chú con bác, và nhanh chóng trở thành những người anh.
1.
Mặc dù giới tướng lĩnh và đô đốc tham gia nhiều vào các quyết định chính trị và kinh tế, nhưng việc huấn luyện quân sự vốn hình thành tính cách và nhãn quan của họ vẫn không phát huy được ảnh hưởng. Song ở mức độ cao hơn trong nghề nghiệp mới của họ, các điều kiện để thành công đã thay đổi. Ngày nay, khi xem xét họ một cách cẩn thận, bắt đầu thấy một số không khác lắm so với các giám đốc điều hành công ty như lúc đầu đã nghĩ thế, và những người khác hình như giống kiểu chính trị gia kỳ quặc hơn là hình ảnh truyền thống về giới quân sự.
Nghe nói một người giới quân sự, như Bộ trưởng Quốc phòng chẳng hạn, có thể còn dân sự hơn cả một người giới dân sự, ít biết về công việc và nhân sự của giới quân sự nên dễ bị các tướng lĩnh và đô đốc xung quanh mình lừa bịp. Cũng có thể cho là người giới quân sự trong chính trị không có đường lối chính sách mới, mạnh mẽ và quyết đoán, và thậm chí là trong thế giới chính trị dân sự, các tướng lĩnh trở nên vô mục đích, thậm chí còn yếu kém vì thiếu phương pháp và mục tiêu.1
Mặt khác, chúng ta không được quên sự tự tin mà việc huấn luyện quân sự và nghề nghiệp đã thấm nhuần trong họ: những người thành công trong binh nghiệp vì vậy thường có lòng tin mà họ sẵn sàng mang sang các lĩnh vực kinh tế và chính trị. Giống như những người khác, tất nhiên họ cởi mở với lời khuyên và sự hỗ trợ tinh thần của bạn bè cũ, mà do sự biệt lập lịch sử của binh nghiệp nên chỉ biết việc nhà binh. Với từng cá nhân thì không biết thế nào, nhưng là một nhóm gắn kết, giới quân sự có lẽ có năng lực nhất hiện nay trong chính sách quốc gia; không có nhóm nào được đào tạo về việc phối hợp giữa kinh tế, chính trị, và quân sự; không có nhóm nào luôn có kinh nghiệm trong việc ra quyết định; không có nhóm nào lại sẵn sàng “tiếp thu” những kỹ năng của các nhóm khác hoặc sẵn sàng sử dụng các kỹ năng nhân danh mình; không có nhóm nào có cách tiếp cận chắc chắn với thông tin trên khắp thế giới. Hơn nữa, định nghĩa của giới quân sự về thực trạng kinh tế và chính trị hiện đang chiếm ưu thế trong hầu hết chính trị gia dân sự cũng không thể nói là đã làm suy yếu sự tin tưởng của giới quân phiệt, ý chí hoạch định chính sách của họ, hoặc khả năng làm điều đó của họ ở những giới cao hơn.
Việc “chính trị hóa” giới quân sự cao cấp diễn ra suốt 15 năm qua là một quá trình khá phức tạp. Là thành viên của đội ngũ sĩ quan chuyên nghiệp, một số người phe quân sự phát triển một thứ quyền lợi được bảo đảm – cá nhân, thiết chế, ý thức hệ – khi mở rộng tất cả những gì dính đến quân sự. Là quan chức, một số sốt sắng mở rộng các lĩnh vực cụ thể của mình. Là người có quyền lực, một số tỏ ra rất ngạo mạn, số khác lại rất ranh ma, tận hưởng việc thực thi quyền lực như một thứ có giá trị cao. Nhưng giới quân sự không hề bị những động cơ như vậy thôi thúc.i Vì giới quân sự chuyên nghiệp không phải kiểu người tranh giành quyền lực chính trị, hoặc chí ít trong trường hợp này không bị bắt lỗi về động cơ. Vì kể cả nếu họ không khao khát quyền lực chính trị, quyền lực về cơ bản là chính trị có thể và từng được đặt vào tay họ do thiếu giới dân sự; dù muốn hay không muốn, họ đã bị giới dân sự sử dụng nhiều để phục vụ cho các mục đích chính trị.
i. Nhà quản lý quân sự, trong khi được hưởng một nền giáo dục đáng kể, từ khi bước chân vào West Point cho đến khi cái chết làm ông ta đủ tiêu chuẩn vinh dự được chôn ở Arlington, luôn được nhắc đi nhắc lại rằng ông ta phải tránh xa bất kỳ thứ gì có vẻ như một quyết định chính trị, và rằng luôn phải bám sát bất kỳ thứ gì giống như một đường kẻ phân định trách nhiệm của ông ta với nhà cầm quyền dân sự. Đô đốc Leahy đã viết: “Tôi hoàn toàn thiếu kinh nghiệm vận động chính trị tới mức không thể trình bày được một ý kiến. Chính vì thế mà Tổng thống (FDR) trêu tôi, ‘Bill! Về chính trị anh thuộc thời Trung Cổ’”.2
Theo quan điểm của một chính trị gia đảng phái, một vị tướng hay đô đốc được đào tạo tốt là người làm chính sách chân chính tuyệt vời, vì việc ông ta cẩn thận sử dụng nó thường có thể nâng chính trị lên “trên tầm chính trị”, tức là trên các cuộc bàn thảo chính trị và đưa vào trong lĩnh vực quản lý, nơi mà những quan chức nhà nước như Dulles đã nói khi ủng hộ Tướng Eisenhower vào chức Tổng thống, là cần có những người có khả năng “ra những quyết định quan trọng”.3
Theo quan điểm của nhà quản lý chính trị, người ta thường tin là giới quân sự có ích vì họ tạo nên một nhóm người được đào tạo về các kỹ năng điều hành nhưng không dính đến bất kỳ lợi ích cá nhân nào. Việc không có một Lực lượng Dân sự chân chínhi để lựa chọn, đào tạo và khuyến khích người chuyên nghiệp, khiến việc phải dựa vào giới quân sự càng trở nên hấp dẫn.
i. Xem Chương 10: Giới lãnh đạo chính trị.
Các chính trị gia vì thế vắng mặt trong chính nhiệm vụ của họ là thảo luận chính sách, náu mình sau cái được cho là ý kiến của giới chuyên môn quân sự; và các nhà quản lý chính trị cũng lại vắng mặt trong chính công việc của họ là tạo ra một sự phục vụ dân sự chuyên nghiệp. Trong cả hai sự vắng mặt này của giới dân sự, giới quân sự chuyên nghiệp giành được uy thế. Hơn bất kỳ lý do nào khác, đó chính là những lý do khiến giới tinh hoa quân sự – mà thành viên của nó có thể không phải là do được bổ nhiệm về chính trị hoặc có trách nhiệm chính trị – đã bị cuốn vào những quyết định chính trị cao hơn.
Một khi đã bước vào chính trường – sẵn sàng, miễn cưỡng, hoặc thậm chí vô tình – tất nhiên họ bị chỉ trích; họ trở thành những nhân vật gây tranh cãi về chính trị, và giống như các nhà hoạt động chính trị khác, họ dễ bị tấn công. Kể cả khi họ không công khai tham gia chính trị, giới quân sự vẫn cứ bị tấn công chính trị. Trong bối cảnh thiếu tin tưởng vào giới dân sự ở Mỹ, giới quân sự luôn là mục tiêu thuận tiện cho việc lạm dụng chính trị. Nhưng bây giờ vấn đề còn đi xa hơn thế. Năm 1953, như Hanson Baldwin từng viết, Thượng nghị sĩ McCarthy “đã cố gắng nắm quyền chỉ huy quân đội và quát mắng các sĩ quan phục vụ trung thành và lâu dài, vì họ… tuân lệnh của cấp trên trực tiếp của họ”.4 Thế là họ bước vào hệ thống chỉ huy mà chẳng cần phải bổ nhiệm. Giới quân phiệt thấy những cuộc tấn công như thế thực tế đã phá hoại đáng kể sự tôn trọng của công chúng và tinh thần nội bộ của Bộ Ngoại giao như thế nào, và ông ta e ngại rằng tổ chức của mình cũng bị mục ruỗng. Hơn nữa, vì ông ta nắm quyền tác động tới các vấn đề kinh tế, cắt giảm được phần lớn ngân sách, nên ông ta dễ bị tấn công bởi giới dân sự đứng đầu việc quản lý, những người dựa vào ông ta nhưng cũng thường đá hậu ông ta, cũng như bởi những chính trị gia đạo đức giả xông ra khai thác “các sai lầm” của ông ta hoặc tạo ra “sai lầm” để ông ta mắc vào.
Khi chính trị thâm nhập quân đội, quân đội cũng thâm nhập chính trị. Giới quân sự đã và đang tham gia chính trị, một mặt vì sự vắng bóng của giới dân sự, và mặt khác vì sự chỉ trích của giới dân sự đối với những quyết định của giới quân sự.
Không phải lúc nào cũng biết được về điều gì đang xảy ra, tin vào tấm mặt nạ “chuyên gia quân sự” của họ được dùng để chỉ huy, giới quân sự thường phản ứng trước những lời chỉ trích theo một cách khá cứng rắn. Trong sách vở quân sự, không có Các thủ tục hành động tiêu chuẩn để chống lại một Thượng Nghị sĩ. Hình như chỉ có hai cách: Cách một, đặc biệt nếu là trong chiến tranh, giống như người chỉ huy ngoài mặt trận chỉ tuân thủ mệnh lệnh mà không cần biết đến vấn đề chính trị. Nói cách khác, hành động như một người lính, lui lại, tránh xa và giữ đúng thân phận. Cách kia hoàn toàn theo lối chính trị kiểu kinh điển là liên minh với các nhân vật chính trị, và do vị trí điều hành của họ mà có thể cũng sẽ có một vài cách mới. Vì chừng nào còn là sĩ quan, họ còn chưa thể ra mặt công khai về mặt chính trị theo ý nghĩa đảng phái, mặc dù một số đã làm vậy. Nhưng nói chung, họ sẽ cần phải hành động cẩn thận và ở hậu trường – tóm lại, họ sẽ sẵn sàng cởi mở với những người khác của giới quân sự, với các giám đốc điều hành công ty, và với thành viên của giới lãnh đạo chính trị và Quốc hội để thành lập hoặc tham gia các nhóm thân quân sự ở những cấp cao hơn.
Cũng phải nhớ rằng, do quá trình huấn luyện và kinh nghiệm của họ, giới quân sự chuyên nghiệp vững tin vào định nghĩa quân sự về hiện trạng thế giới, và theo đó, với các biện pháp bạo lực mới và có sức mạnh khủng khiếp cùng sự thiếu vắng đáng lo ngại của ngoại giao dân sự, họ thực sự lo sợ cho đất nước. Những ai vững tin nhất và cho rằng mình có năng lực nhất sẽ bị thất vọng khi rút về vị trí kỹ thuật gia về bạo lực hoàn toàn phi chính trị. Ngoài ra, nhiều người ở vị trí quá cao và cũng đã dính líu quá sâu vào sự thoái lui của quân đội.
Chính vì tình hình này mà chúng ta phải hiểu con đường chính trị của giới quân phiệt, và ảnh hưởng lớn mà giới quân sự hiện nay bắt đầu thực thi trong giới tinh hoa quyền lực của Mỹ. Giới quân sự được cho rằng chỉ là công cụ của giới chính trị, nhưng các vấn đề họ đối mặt ngày càng đòi hỏi những quyết định chính trị. Tất nhiên, việc coi các quyết định chính trị là “cần thiết về quân sự” đồng nghĩa với việc trao trách nhiệm dân sự, nếu không nói là quyết định, cho giới tinh hoa quân sự. Nhưng nếu học thuyết quân sự mà hiện nay giới tinh hoa dân sự đang bám lấy được chấp nhận, thì theo định nghĩa chiến tranh chỉ là thực tế, tức là cho rằng nó cần thiết với thời đại chúng ta.
2.
Khi Mỹ trở thành một cường quốc lớn trên thế giới, tổ chức quân sự đã mở rộng và các nhân vật trong giới có cấp bậc cao trực tiếp nhúng tay vào ngoại giao và chính trị. Ví dụ, Tướng Mark Clark, có lẽ nhiều kinh nghiệm chính trị khi còn tại ngũ hơn bất kỳ ai trong giới quân phiệt Mỹ, “tin vào những gì ông gọi là ‘chế độ thân hữu’ – một người giới quân sự và một người giới chính trị làm việc cùng nhau”, về việc này ông nói: “Trong quá khứ, nhiều tướng lĩnh Mỹ có xu hướng nói về chính trị: ‘Dẹp nó đi, hãy nói về chính trị sau’. Nhưng bạn không thể làm theo cách này được nữa”.5
Năm 1942, Tướng Clark làm việc với Darlan và Giraud ở Bắc Phi, sau đó ông chỉ huy Đạo quân Thứ năm ở Ý; rồi chỉ huy quân chiếm đóng ở Áo; và năm 1952, ông là Chỉ huy quân đội Mỹ ở Nhật Bản mới có chủ quyền, cũng như đứng đầu Bộ chỉ huy Viễn Đông của Mỹ và Chỉ huy lực lượng Liên Hợp Quốc ở Triều Tiên. Tướng George C. Marshall, sau khi làm đại diện cá nhân của Tổng thống ở Trung Quốc, trở thành Ngoại trưởng (1947–1949), rồi Bộ trưởng Quốc phòng (1950–1951). Phó Đô đốc Alan G. Kirk là Đại sứ tại Bỉ vào cuối những năm 1940 và rồi tại Nga. Năm 1947, Trợ lý Ngoại trưởng phụ trách các vùng bị chiếm đóng là Thiếu tướng John H. Hildring, người “trực tiếp làm việc với các chỉ huy quân sự kiểm soát việc thi hành chính sách ở Đức, Áo, Nhật Bản và Triều Tiên”.6 Chuẩn tướng Frank T. Hines là Đại sứ tại Panama; và Tướng Walter Bedell Smith là Đại sứ tại Nga. Tướng Smith sau này trở thành Giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương (1950–1953), rồi Dưới Thứ trưởng (1953–1954). Chỉ huy lực lượng chiếm đóng ở Đức có Tướng Lucius D. Clay, ở Nhật có Tướng Douglas MacArthur. Và không phải nhà ngoại giao, mà là một cựu Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng J. Lawton Collins đã tới Đông Dương hỗn loạn năm 1954 “để khôi phục trật tự” ở một khu vực mà ông nói “có tầm quan trọng về chính trị và kinh tế đối với Đông Nam Á và thế giới tự do.”7
Hơn nữa, dù còn mặc quân phục hay đã cởi bỏ, giới sĩ quan cao cấp vẫn tham gia vào việc tranh luận chính sách. Tướng Omar Bradley, một trong những người lớn tiếng nhất phủ nhận ảnh hưởng quân sự thái quá đối với các quyết định dân sự, đã ra trước mấy ủy ban Quốc hội cũng như trước công chúng rộng lớn hơn để ủng hộ các chính sách liên quan đến các vấn đề kinh tế và chính trị cũng như chỉ về quân sự. Ví dụ, Tướng Marshall đã đưa ra lập luận chống lại nghị quyết Wagner-Taft ủng hộ việc nhập cư ngày càng tăng vào Palestine và bước phát triển xa hơn để thành lập một nhà nước Do Thái.8 Với các Tướng Bradley, Vandenberg, và Collins, giống như Đô đốc Sherman, Tướng Marshall cũng đã ra trước mấy ủy ban Quốc hội để bảo vệ chính quyền Truman trước cuộc công kích của phe Cộng hòa đối với chính sách Viễn Đông, và việc gạt Tướng MacArthur khỏi Bộ chỉ huy Viễn Đông.
Tướng Bradley đã có nhiều bài phát biểu mà nội dung đã được Thượng Nghị sĩ Taft và Hanson Baldwin cùng một số người khác sẵn lòng giải thích là phù hợp với các vấn đề chính trị của cuộc bầu cử Tổng thống năm 1952. Hanson Baldwin viết: “Bài phát biểu này đã góp phần đưa Tướng Bradley và Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân tham gia các diễn đàn vận động bầu cử chính trị mà họ chẳng có gì dính dáng ở đó”.9 Thượng Nghị sĩ Taft, người cáo buộc Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân đang ở dưới sự kiểm soát của chính quyền và nhắc lại chính sách của họ thay vì chỉ đưa ra lời khuyên chuyên môn, được Tướng Albert Wedemeyer cũng như Tướng MacArthur ủng hộ. Một tướng khác, Bonner Fellers, là thành viên Ủy ban Quốc gia Đảng Cộng hòa.
Trong cuộc bầu cử năm 1952, Tướng MacArthur trong các bài phát biểu trước công chúng đã vi phạm trực tiếp Điều luật 600-[10] Quân đội Mỹ khi công kích các chính sách của chính quyền dân cử; với bài phát biểu quan trọng ở hội nghị Đảng Cộng hòa, ông nói rõ là mình sẵn sàng ra tranh cử Tổng thống. Nhưng một tướng khác, Eisenhower, lúc đó chưa nghỉ hưu, lại thành công khi được đề cử vào vai trò này. Cả hai vị tướng này, cũng như những gì có thể coi là các chính sách chính trị của họ, đều được giới quân sự ủng hộ. Không có gì nghi ngờ về việc đó: giờ thì đã có các tướng lĩnh phe Cộng hòa và Dân chủ. Và như chúng ta biết rõ, còn có các sĩ quan – như McCarthy – ủng hộ hoặc chống lại các Thượng Nghị sĩ, và lập trường quân sự của họ ngả theo hướng này hay hướng khác để công khai hoặc che giấu nó.
Năm 1954, một loạt sĩ quan cao cấp nổi tiếng – do Trung tướng về hưu George E. Stratemeyer cùng Chuẩn Đô đốc Tham mưu trưởng John G. Crommelin đứng đầu – đã đứng tên trong một cố gắng tập hợp đủ 10 triệu chữ ký kiến nghị ủng hộ McCarthy.10 Việc này diễn ra trong bối cảnh thế lực quân sự cùng với những lời của Người lính già MacArthur chưa phai nhạt: “Người lính chúng ta sẽ luôn làm những gì chúng ta được bảo làm. Nhưng nếu đất nước này muốn tồn tại, chúng ta phải tin vào người lính một khi quan chức nhà nước chúng ta không duy trì được hòa bình”. (1953) – “Tôi thấy đang tồn tại một quan niệm nguy hiểm mới trước nay chưa từng biết là thành viên các lực lượng vũ trang của chúng ta chỉ làm tròn bổn phận và trung thành với những người đang tạm thời thực thi quyền hành pháp của chính phủ thay vì trung thành với đất nước và Hiến pháp mà họ thề bảo vệ. Không tuyên bố nào có thể nguy hiểm hơn”. (1951)11
Nhưng có lẽ quan trọng hơn cả giả định thẳng thắn về các vai trò chính trị, tư vấn cá nhân, hay những bài phát biểu công khai, là một loại ảnh hưởng quân sự phức tạp hơn: giới sĩ quan cao cấp ngày càng được các thành viên khác của giới tinh hoa chính trị và kinh tế, cũng như các bộ phận công chúng rộng lớn hơn, thừa nhận là có uy quyền trong các vấn đề vượt xa những gì mà trong lịch sử từng được coi là lĩnh vực riêng của giới quân sự.
Từ đầu những năm 1940, sự thù địch truyền thống của Quốc hội với giới quân sự đã chuyển thành một thứ quan hệ “bạn bè và đáng tin cậy”. Không ai, tất nhiên trừ J. Edgar Hoover, lại được các Thượng Nghị sĩ đối xử với sự tôn trọng hơn giới quân sự. Theo một bản báo cáo chính thức của chính phủ: “Trong cả những gì đã làm hay từ chối không làm, Quốc hội thời chiến đều liên tục hợp tác và hầu như không thắc mắc trước những gợi ý và yêu cầu của Tham mưu trưởng”.12 Và trong chiến lược liên minh, trong khi Tổng thống và Thủ tướng “quyết định”, thì các quyết định của họ là những lựa chọn được giới quân sự thông qua từ những giải pháp được chính họ tổ chức và đưa ra.
Theo Hiến pháp, Quốc hội được cho là phụ trách việc hỗ trợ và quản lý quyền lực quân sự của đất nước. Trong thời bình, trước Thế chiến II, các chính trị gia chuyên nghiệp trong Quốc hội tranh luận với giới quân sự về những chi tiết của đời sống quân sự, ra quyết định về chúng, thảo luận chiến lược và thậm chí quyết định các chiến thuật. Trong Thế chiến II, Nghị sĩ “bỏ phiếu” cho những mục như Dự án Manhattan mà không có một ý kiến nào về sự có mặt của nó trong ngân sách quân sự, và khi – theo tin đồn – Thượng Nghị sĩ Truman nghi ngờ là có gì đó rất lớn đang diễn ra, chỉ một lời từ Bộ trưởng Chiến tranh là đủ để ông hủy bỏ mọi điều tra. Thời kỳ sau chiến tranh, thực tế đơn giản là Quốc hội không có cơ hội để có thông tin thực về những vấn đề quân sự, lại càng có ít kỹ năng và thời gian để đánh giá nó. Đằng sau cái “an ninh” và “quyền hành” của họ như các chuyên gia, vai trò chính trị của giới quân sự cao cấp trong những quyết định thích hợp về chính trị và kinh tế cơ bản ngày càng được mở rộng. Và thế là nó lại được mở rộng hơn nữa vì sự vắng bóng chính trị của giới dân sự – có lẽ cần thiết vì cách thức tổ chức và nhân sự của Quốc hội hơn là vì giới quân sự tiếm quyền nào đó.13
3.
Không có lĩnh vực quyết định nào lại chịu ảnh hưởng của giới quân phiệt và học thuyết quân sự của họ nhiều như trong lĩnh vực chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế. Trong đó, thế lực quân sự phối hợp với các thế lực khác đang cố đánh đổ ngoại giao dân sự như một nghệ thuật, và ngoại giao dân sự như một nhóm có tổ chức của những người có năng lực. Thế lực quân sự và sự sụp đổ của ngoại giao diễn ra đúng vào lúc lần đầu tiên trong lịch sử Mỹ, các vấn đề quốc tế thực sự là trung tâm của những quyết định quốc gia quan trọng nhất và ngày càng thích hợp với hầu hết mọi quyết định đem lại hệ quả. Với việc giới tinh hoa chấp nhận định nghĩa của giới quân sự về thực trạng thế giới, nhà ngoại giao chuyên nghiệp, như chúng ta đã biết hoặc chúng ta có thể mường tượng về anh ta, đơn giản là chẳng còn tiếng nói hiệu quả nào ở các giới cao hơn.
Một khi chiến tranh được coi là việc của người lính, thì quan hệ quốc tế chính là mối quan tâm của nhà ngoại giao. Nhưng giờ đây khi chiến tranh xem ra đã trở nên toàn diện và thường xuyên, thì môn thể thao tự do của các bậc vua chúa biến thành công việc bắt buộc và tàn sát lẫn nhau của mọi người, còn quy tắc ứng xử danh dự giữa các quốc gia đã sụp đổ. Hòa bình không còn quan trọng, chỉ chiến tranh mới quan trọng. Mọi người và mọi quốc gia hoặc là bạn hoặc là thù, và tư tưởng thù hận trở nên máy móc, tràn lan và thiếu cảm xúc chân thật. Khi hầu như mọi thương lượng nhằm đạt hiệp ước hòa bình có thể bị coi là “nhân nhượng”, nếu không nói là phản bội, thì vai trò tích cực của nhà ngoại giao trở nên vô nghĩa; ngoại giao trở thành khúc dạo đầu của chiến tranh hoặc khoảng lặng giữa các cuộc chiến tranh, và trong bối cảnh đó, nhà ngoại giao bị thay thế bằng giới quân phiệt.
Ba tập hợp sự kiện về ngoại giao Mỹ và các nhà ngoại giao Mỹ phù hợp với sự hiểu biết về những gì đang diễn ra: điểm yếu tương đối của ngoại giao chuyên nghiệp; nó lại càng yếu hơn do các biện pháp “điều tra” và “an ninh”; thế lực của những người phụ trách nó theo học thuyết quân sự.
1. Chỉ trong những bối cảnh mà các sắc thái tế nhị của đời sống xã hội và ý định chính trị hòa quyện nhau, “ngoại giao” mới có thể lập tức trở thành một chức năng chính trị và một nghệ thuật xã hội có đất diễn. Một nghệ thuật như vậy dường như cần những sự hoa mỹ xã hội đó, thường có ở người có học và phong cách sống thượng lưu. Và trên thực tế, nhà ngoại giao chuyên nghiệp là đại diện của các tầng lớp giàu có hơn.i
i. Việc này được bảo đảm bởi chính sách trả lương cho nhà ngoại giao thấp tới mức họ không thể tồn tại ở một vị trí tại nước ngoài nếu không có thêm thu nhập riêng. Vì những ràng buộc xã hội của đời sống ngoại giao, mà hầu như không thể sống bằng lương đại sứ ở bất kỳ thủ đô lớn nào trên thế giới. Ước tính vào đầu những năm 1940, một đại sứ ở vị trí quan trọng mỗi năm phải tốn từ 75.000 tới 100.000 đô-la tiền chiêu đãi xứng tầm với vị thế của ông, trong khi lương chính thức cao nhất của một đại sứ chỉ có 25.000 đô-la.14
Nhưng tới năm 1930, nghề ngoại giao không dẫn tới chức đại sứ.ii Trong số 86 người phục vụ với tư cách các đại sứ Mỹ từ năm 1893 tới 1930, chỉ khoảng 1/4 số đó có chức vụ ngoại giao trước khi được bổ nhiệm là đại sứ. D. A. Hartman chỉ rõ, “Đại sứ Anh đại diện cho giai đoạn cuối cùng của một nghề nhất định trong Bộ Ngoại giao, trong khi chức đại sứ Mỹ chỉ là một giai đoạn quá muộn màng trong đời sống của một doanh nhân, chính trị gia, hay luật sư”.16
ii. Không ai trong số 18 đại sứ hàng đầu của năm 1899 có thể được gọi là “nhà ngoại giao chuyên nghiệp” theo nghĩa họ đã dành hầu hết đời đi làm của mình cho Bộ Ngoại giao. 10 người trong họ chưa bao giờ giữ một vị trí ngoại giao nào trước khi trở thành đại sứ, và sáu người khác phục vụ trong ngành ngoại giao chưa quá chín năm tính tới năm 1899. Chỉ hai người bắt đầu phục vụ trong ngành ngoại giao hơn một thập kỷ trước: Oscar S. Straus, Đại sứ tại Thổ Nhĩ Kỳ, và Andrew D. White, Đại sứ tại Đức. Hình như hầu hết những đại sứ này được bổ nhiệm như một sự tưởng thưởng cho lòng trung thành đảng phái: 11 người đã tích cực trong chính trị, khoảng nửa số người này liên quan đến hoạt động pháp lý. Có một giáo sư và một nhà báo, và năm người còn lại là doanh nhân, cũng lại thường gắn với các hoạt động pháp lý. Nhóm các đại sứ của năm 1899 đến từ các gia đình phong lưu, thường có nhiều tiền, được giáo dục ở những trường tốt nhất của Mỹ và châu Âu – sáu người tốt nghiệp các trường thuộc Ivy League – và từng nắm giữ các vị trí quan trọng trong kinh doanh hoặc chính trị.15
Trong một giai đoạn dài, Đảng Dân chủ cầm quyền đã phát triển một thứ giống như lực lượng chuyên nghiệp được tuyển từ tầng lớp thượng lưu. Trong số 32 đại sứ và công sứ hàng đầu của năm 1942, gần một nửa đã tốt nghiệp các trường tư dự bị dành riêng cho con em của tầng lớp thị dân 400, và trong số 118 quan chức hàng đầu ở Bộ Ngoại giao, 51 người đã tốt nghiệp Harvard, Princeton hoặc Yale.17
Khi phe Cộng hòa lên nắm quyền năm 1953, có 1.305 quan chức Bộ Ngoại giao (trong tổng số 19.405 người của Bộ Ngoại giao) phục vụ tại 72 cơ quan ngoại giao và 198 lãnh sự quán của Mỹ.18 40 trong số 72 người đứng đầu cơ quan đại diện Mỹ ở nước ngoài là các nhà ngoại giao chuyên nghiệp “mà việc bổ nhiệm họ vào những vị trí cụ thể do Tổng thống đảm nhận, nhưng thời gian phục vụ của họ trong ngành ngoại giao không bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi trong chính phủ”.19 Có hai lựa chọn cho nhà ngoại giao chuyên nghiệp: họ có thể nghỉ hưu, hoặc có thể từ nhiệm và sẵn sàng cho các nhiệm vụ khác dưới chính quyền mới.
Tới lúc này dường như hoạt động đối ngoại dẫn tới chức đại sứ đã trở nên chắc chắn hơn, vì 19 trong số 25 đại sứ hàng đầu được Tổng thống Eisenhower bổ nhiệm đều là các nhà ngoại giao chuyên nghiệp. Nhưng cũng có thể nói là đến năm 1953, việc được bổ nhiệm là đại sứ tại các nước nhỏ nói chung mà hầu hết giới chuyên nghiệp này đều đã phục vụ ở đấy không còn là một “vinh dự” với một doanh nhân, luật sư, hay chính trị gia nổi tiếng.20 Tuy nhiên, sau này dưới chính quyền của Tổng thống Eisenhower, ông bắt đầu bổ nhiệm những chính trị gia không thành công và bạn bè chính trị của mình tới các nước nhỏ hơn mà trước đây vốn dành cho giới ngoại giao chuyên nghiệp. Vì thế ở Madrid, John D. Lodge – sau thất bại trong cuộc chạy đua vào ghế thống đốc bang Connecticut – đã thay thế nhà ngoại giao lão luyện James C. Dunn. Ở Lybia, John L. Tappin – chuyên gia trượt tuyết và là người đứng đầu bộ phận “Công dân ủng hộ Eisenhower” – đã thay thế nhà ngoại giao chuyên nghiệp Henry S. Villard.21 Ở các vị trí ngoại giao được thèm muốn hơn, đại diện cho Mỹ là những triệu phú chủ ngân hàng, thành viên gia đình, họ hàng, và cố vấn của nhóm rất giàu; luật sư công ty cao cấp; chồng của các nữ thừa kế.
2. Ngay cả trước khi thay đổi chính phủ, tinh thần và năng lực của những người phục vụ chuyên nghiệp bị suy yếu nghiêm trọng bởi việc điều tra và sa thải nhân sự. Lúc đó cộng sự của Thượng Nghị sĩ McCarthy, Scott McLeod, chuyển từ FBI sang đứng đầu cả bộ phận an ninh lẫn nhân sự trong Bộ Ngoại giao. Ông McLeod, người mà “tin rằng ‘an ninh’ là một tiêu chuẩn ngoại giao cơ bản”, đã nhận xét rằng sau khi kiểm tra mọi tiêu chuẩn khác, ông tự hỏi: “Liệu tôi có thích anh ta ở sau một cái cây cùng tôi trong một cuộc đọ súng? Bạn có những tiêu chuẩn khá cao nếu bạn nghĩ theo lối như vậy. Và đó là cách tôi thích nghĩ trong các cuộc điều tra này”.22 Có nhiều người “sẽ không đứng vừa sau một cái cây” với cảnh sát McLeod, và nhiều quan chức Bộ Ngoại giao vẫn còn tại nhiệm “đều cảm thấy không an toàn nếu báo cáo sự thật cho Washington về bất kỳ tình hình nào ở nước ngoài khi mà sự thật không giống với những gì đã hình thành từ trước trong những người ở Washington”.23i
i. Tất nhiên việc này không phải là một đặc điểm hoàn toàn mới của ngoại giao. Chẳng hạn: “Gánh nặng cơ bản trong báo cáo của Vụ Trung Quốc vào những năm nguy hiểm là trong cuộc xung đột không tránh khỏi giữa phe Cộng sản Trung Hoa với Tưởng Giới Thạch, Tưởng sẽ là người thua. Tuy nhiên, sự chính xác trong đánh giá này chẳng đem lại vinh dự cho tập thể cũng như cá nhân nào của Vụ Trung Quốc. Trung Quốc trở thành Cộng sản. Ở mức độ nào đó, những người ở Vụ Trung Quốc phải chịu trách nhiệm. Vì thế Vụ Trung Quốc không còn tồn tại. Trong số 22 quan chức tham gia Vụ trước khi bắt đầu Thế chiến II, đến năm 1952 chỉ còn hai người vẫn được Bộ Ngoại giao ở Washington sử dụng… Phần lớn số còn lại vẫn phục vụ chính quyền Mỹ, nhưng… chỉ ở những bộ phận mà hiểu biết sâu sắc của họ về một Trung Quốc đang bị tách biệt với chúng ta do cuộc chiến khốc liệt ở Triều Tiên có thể còn có ích”.24
Nối tiếp một danh sách dài những người đã bị sa thải vì lý do trung thành, vào mùa thu năm 1954, một nhà ngoại giao chuyên nghiệp có thâm niên 23 năm, John Paton Davies, bị sa thải không phải vì lý do trung thành, mà vì “thiếu cân nhắc, thận trọng và độ tin cậy”; những ý kiến của ông về chính sách Trung Quốc mười năm trước không phù hợp với chính sách của chính quyền hiện thời.25 Những lời bình luận về trường hợp này của các nhà ngoại giao chuyên nghiệp cho thấy suy nghĩ của họ. Một thành viên của Đội Hoạch định Chính sách thuộc Bộ Ngoại giao viết gần đây: “Người ta hy vọng là công chúng Mỹ cuối cùng sẽ thấy từ ‘an ninh’ đã trở thành một uyển ngữ. Nó che đậy cố gắng chính trị ban đầu suốt năm năm qua nhằm xóa bỏ sự khác biệt về trí tuệ và đạo đức trong các ban ngành chính quyền, và để đưa vào chính quyền những người có phẩm chất chính trị tốt, không bị cấp trên nghi ngờ. Ví dụ ở Bộ Ngoại giao đã được tái tổ chức, tiêu chuẩn học vấn khi tuyển dụng bị hạ thấp một cách công khai. Cứ như cái tầm thường của kẻ không có đầu óc hóa ra lại là lý tưởng”.26 George Kennan, một nhà ngoại giao lão luyện và là nhà nghiên cứu nổi tiếng về các vấn đề đối ngoại, đã khuyên một lớp sinh viên ở Princeton chớ chọn ngoại giao làm nghề nghiệp. Nói cách khác, “tinh thần của Bộ Ngoại giao tan vỡ đến mức những người khôn ngoan nhất đã chạy khỏi đây, và khuyên người khác ra đi”.27
3. Tất nhiên, nhiều năm nay các tùy viên quân sự luôn có mặt ở vị trí của mình tại nước ngoài, nơi họ được coi là trợ lý của Đại sứ cũng như là một mắt xích của tổ chức tình báo; nhưng “trong những năm sau chiến tranh, nhiều người trong họ coi rẻ nghề ngoại giao và Bộ Ngoại giao một cách không giấu diếm, hoạt động gần như độc lập với đại sứ mà họ làm việc dưới quyền”.i
i. Tháng 4 năm 1954, quân đội cấm các sĩ quan ở nước ngoài không được ghi nhật ký, sau khi thế giới phát hiện việc Thiếu tướng Grow, tùy viên quân sự ở Moscow, đã giữ một cuốn nhật ký trong đó ông ủng hộ cuộc chiến chống Liên Xô, tỏ ý không thích đại sứ và không thích các tiếp xúc của ông ta. Khi tới thăm Frankfurt, Đức, ông để cuốn nhật ký trong phòng khách sạn, nó nhanh chóng bị lấy cắp, chụp ảnh, rồi để lại chỗ cũ. Liên Xô mở chiến dịch tuyên truyền. Vị tướng, rõ ràng là một kiểu không may mắn đối với công việc tình báo, có lẽ ít bị đổ lỗi hơn là “chế độ ban thưởng” của hệ thống tình báo quân đội mà nhờ đó ông được bố trí ở Moscow. Tướng Grow cũng không phải là người kém năng lực duy nhất. Vị trí tùy viên quan trọng nhất trong giai đoạn sau chiến tranh được giao cho một vị tướng – Mike O’Daniel Thép – người có lối đánh cả hai tay dường như thường là phẩm chất duy nhất của ông ta. Hai tùy viên ở Đông Âu sau chiến tranh “đều khét tiếng, một vì thói quen rượu chè, người kia vì bán bớt đống quần áo anh ta mua thừa ra chợ đen”. Một tướng khác – đứng đầu G2 trong chiến tranh, bị triệu hồi từ London về để điều tra những cáo buộc buôn bán chợ đen.28
Tuy nhiên, vấn đề còn đi xa hơn sự căng thẳng ở cấp tương đối thấp. Giới quân sự, như chúng ta đã thấy, trở thành các đại sứ cũng như phái viên đặc biệt. Trong nhiều quyết định quốc tế lớn, giới ngoại giao chuyên nghiệp đơn giản là bị qua mặt, và các vấn đề được nhóm nhân sự quân đội và chính trị cao cấp quyết định. Trong các hiệp ước quốc phòng mà Mỹ và Tây Ban Nha ký hồi tháng 9 năm 1953, liên quan đến những hòn đảo nhỏ chiếm được từ người Nhật Bản ở Tây Thái Bình Dương theo dàn xếp năm 1945 và 1946, giới quân sự đưa ra chính sách ngoại giao phù hợp, không cần hoặc trái với tư vấn của giới ngoại giao.29 Hiệp ước hòa bình với Nhật Bản không phải do giới ngoại giao, mà do các tướng lĩnh, dàn xếp; một hiệp ước hòa bình với Đức đã không được ký kết: chỉ có liên minh và thỏa thuận giữa hai quân đội. Ở Bàn Môn Điếm, việc kết thúc Chiến tranh Triều Tiên không phải do một nhà ngoại giao, mà do một vị tướng để hở cổ và không cài cúc “thương lượng”. Tờ London Economist viết: “Quân đội Mỹ đã thành công trong việc nêu ý kiến rằng có những việc thuần túy mang yếu tố quân sự và những vấn đề liên quan đến chúng mà một người giới dân sự không thể đánh giá đầy đủ. Lý thuyết và kinh nghiệm của người Anh đã bác bỏ cả hai lập luận này…”30
Vì vậy, Đô đốc Radford từng nói với một ủy ban Quốc hội rằng Trung Quốc Cộng sản phải bị tiêu diệt cho dù có cần một cuộc chiến 50 năm. Với tư cách Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, ông lập luận phải sử dụng 500 máy bay ném bom nguyên tử chiến thuật xuống quân đội Việt Minh trước khi Điện Biên Phủ thất thủ.
Nếu Trung Quốc công khai vào cuộc, theo những nguồn tin không chính thức, thì Bắc Kinh cũng sẽ phải nếm mùi bom nguyên tử.31 Tình thế chính trị này được ông xác định là mang tính quân sự, và do đó ông lập luận lớn tiếng không kém gì các vị lãnh đạo dân sự của mình, Bộ trưởng Quốc phòng và Ngoại trưởng Mỹ. Tháng 8 năm 1954, Tướng Mark Clark công khai tuyên bố việc Nga sẽ bị khai trừ khỏi Liên Hợp Quốc, và quan hệ ngoại giao với Nga sẽ bị tan vỡ. Tướng Eisenhower, lúc đó là Tổng thống, không đồng tình với người bạn thân của mình, nhưng lời của Tổng thống không ngăn được Tướng James A. Van Fleet công khai ủng hộ quan điểm của Tướng Clark.32Không phải vì nó là một vấn đề quá quan trọng, mà bởi Liên Hợp Quốc thường xuyên bị qua mặt trong các quyết định và các buổi họp kín quan trọng. Liên Hợp Quốc đã không tổ chức Hội nghị Geneva, Liên Hợp Quốc đã không xem xét hành động của Mỹ ở Guatemala.33 Việc vượt mặt Liên Hợp Quốc trong các cuộc xung đột Đông-Tây quan trọng nhất và điểm yếu chính trị chung của nó là một khía cạnh cho thấy ngoại giao thất thế trong giai đoạn sau chiến tranh. Một khía cạnh khác của thế lực quân sự, về cả nhân sự lẫn học thuyết.
Ở Mỹ, ngoại giao chưa bao giờ được những người chuyên nghiệp có năng lực đào tạo và nuôi dưỡng thành công như một nghệ thuật có học uyên bác, và những người làm việc này lại không thể nhìn về phía trước để có được vị trí ngoại giao chóp bu, do các vị trí này chủ yếu được ban phát theo lệnh của chính trị và kinh doanh. Đội ngũ ngoại giao chuyên nghiệp như Mỹ có, cùng với những cơ hội để xây dựng một đội ngũ như vậy trong tương lai, đã bị các cuộc điều tra và sa thải gần đây hủy hoại. Và đồng thời, giới quân sự đã và đang len chân vào mấy hội đồng ngoại giao cao hơn.
4.
Tất nhiên, tổ chức quân sự từ lâu đã phù hợp về mặt kinh tế. Đội ngũ Kỹ sư – trong lịch sử là giới tinh hoa của những cựu West Point – nay trong thời bình lại kiểm soát các con sông và việc xây dựng cảng. Những nhóm lợi ích kinh tế của địa phương, cũng như của Quốc hội, không phải không biết về các khả năng mua chuộc dân chúng, cũng như không biết Đội Kỹ sư này không đồng ý với những kế hoạch phát triển các thung lũng sông đa mục đích của Cục Khai hoang. Arthur Maass cho chúng ta biết: “Thực tế, tới khoảng năm 1925, không thể cố vận động hành lang; Đội này đã chi 12% toàn bộ chi phí thông thường của chính phủ”.34
Nhưng bây giờ sự phù hợp kinh tế của tổ chức quân sự phụ thuộc vào một quy mô khác về chất.i Ngân sách quốc gia tăng, trong đó tỉ lệ dành cho quân sự cũng tăng. Vì ngay trước Thế chiến II, tỉ lệ này không bao giờ ở dưới khoảng 30%, mà trung bình là 50% tổng ngân sách chính phủ. Trên thực tế, cứ mỗi 3 đô-la tiền ngân sách công bố năm 1955 thì có 2 đô-la dành cho an ninh quân sự.36 Và khi vai trò của chính phủ trong nền kinh tế tăng, vai trò của quân đội trong chính phủ cũng tăng.
i. Từ năm 1789 đến 1917, chính phủ Mỹ đã chi khoảng 29,[5] tỉ đô-la, nhưng riêng năm tài chính 1952, chỉ quân đội đã được phân bổ 40 tỉ. Năm 1913, chi phí cho một quân nhân là 2,[25] đô-la, năm 1952 là gần 250 đô-la.35
Chúng ta phải luôn nhớ thế lực quân sự gần đây thế nào. Trong Thế chiến I, quân đội chỉ tạm thời tham gia vào các tầng lớp kinh tế và chính trị cao hơn vì “tình thế khẩn cấp”; mãi tới Thế chiến II họ mới can thiệp một cách thực sự quyết định. Do bản chất của chiến tranh hiện đại, họ phải làm vậy cho dù họ muốn hay không khi mời những người có sức mạnh kinh tế tham gia giới quân sự. Vì trừ phi giới quân sự tham gia vào những quyết định của công ty, nếu không họ khó mà chắc chắn là các chương trình của họ có được thực hiện hay không, và trừ phi các giám đốc công ty biết đôi chút về các kế hoạch chiến tranh, nếu không họ chẳng thể lên kế hoạch sản xuất trang thiết bị quân sự. Vì vậy, các tướng lĩnh cố vấn cho các chủ tịch công ty, và các chủ tịch công ty cố vấn cho các tướng lĩnh. Trung tướng Levin H. Campbell, Jr. đã nói: “Việc đầu tiên tôi làm khi trở thành Chủ nhiệm Hậu cần vào ngày 1 tháng 6 năm 1942 là thành lập một ban tư vấn riêng gồm bốn người đứng đầu doanh nghiệp và công nghiệp nổi tiếng rất thạo tất cả các giai đoạn sản xuất hàng loạt”.37
Trong Thế chiến II, cái bắt tay giữa nền kinh tế doanh nghiệp với bộ máy quan liêu quân sự có ý nghĩa quan trọng tới tận ngày nay. Chính quy mô của “dịch vụ cung ứng” có tính quyết định về kinh tế: Tạp chí Fortune năm 1942 nhận xét, Dịch vụ Cung ứngi “có thể… giống như một công ty cổ phần không có tỉ lệ góp vốn. Trên thực tế, theo mức chi tiêu vào khoảng 32 tỉ đô-la, bằng 42% tổng chi phí mà Mỹ sẽ tiêu cho chiến tranh, Tập đoàn Thép Mỹ thành ra giống như một kẻ làm ăn lén lút, AT & T thì như một tổng đài khách sạn đồng quê, Tập đoàn Tài chính Tái thiết (RFC) của Jesse Jones hay bất kỳ cơ quan nào của chính phủ thì chẳn khác gì trò vô bổ nơi thị trấn nhỏ. Quả thực, khắp Washington hiếm có một cánh cửa nào – từ Ban Phân bổ Vũ khí Đạn dược của Harry Hopkins trở xuống – mà [Tướng] Somervell hay các trợ lý của ông lại không gõ để nài xin, vay mượn hay đánh cắp”.38 Chính cách tổ chức nền kinh tế thời chiến đã tạo nên sự trùng hợp về lợi ích và sự hòa hợp về chính trị giữa những thủ lĩnh quân sự và kinh tế: “Chủ nhiệm Hậu cần có một đội tư vấn gồm Bernard M. Baruch, Lewwis H. Brown của Tập đoàn Johns-Manville, K. T. Keller của Tập đoàn Chrysler, và Benjamin F. Fairless của Tập đoàn Thép Mỹ. Các hợp đồng hậu cần được giao cho bốn ngành… Giám đốc mỗi ngành… [được] hỗ trợ bởi một nhóm cố vấn công nghiệp gồm đại diện của các nhà sản suất vũ khí lớn mà ngành đó phụ trách”.39
i. Nguyên văn: “The Services of Supply”, một trong ba bộ phận cấu thành Lục quân Hoa Kỳ bên cạnh Không lực Lục quân (AAF) và Lực lượng Lục quân (AGF) thời hậu Thế chiến II. (BT)
Tổ chức quân sự và các công ty đương nhiên là chính thức ở dưới sự kiểm soát của các chính trị gia dân sự. Là những nhà quản lý của tập đoàn lớn nhất ở Mỹ, “giới quân sự có một ban giám đốc… Tổng thống, các Bộ trưởng đương nhiệm, thành viên các ủy ban về các vấn đề quân sự của Quốc hội. Nhưng nhiều người trong ban này, ví dụ các nghị sĩ, có thể thực sự biểu lộ sự tin tưởng ít nhiều nói chung, hoặc không tin, vào giới quản lý. Ngay cả các giám đốc có ảnh hưởng nhất, như Tổng thống và Bộ trưởng Quốc phòng, thường có thể tranh luận với giới quản lý chỉ như những người bình thường tranh luận với giới chuyên môn – một quan hệ khác biệt quan trọng so với quan hệ của ban giám đốc và giới quản lý trong công nghiệp”.40
Việc kết hợp các công ty với giới quân sự bộc lộ rõ rệt nhất trong thỏa thuận của họ về thời gian và quy định khi muốn “thay đổi lại”. Giới quân sự có thể mất quyền lực; các công ty không còn sản xuất theo các hợp đồng lớn mà họ có; đổi lại, nếu không xử lý cẩn thận, có thể dễ làm đảo lộn các kiểu độc quyền đang thắng thế trước khi sản phẩm chiến tranh ra lò. Các tướng lĩnh và giám đốc điều hành 1 đô-la-một- năm sẽ lo sao cho điều đó không xảy ra.41
Sau Thế chiến II, các yêu cầu quân sự tiếp tục định hình và tăng tốc cho nền kinh tế doanh nghiệp. Vì thế, không có gì ngạc nhiên là trong thập kỷ vừa qua, nhiều tướng lĩnh và đô đốc, thay vì đơn thuần nghỉ hưu, lại trở thành thành viên của các ban giám đốc.i Khó tránh được chuyện suy luận rằng giới quân phiệt, trong việc đổi danh tiếng lấy tiền, được các giám đốc điều hành công ty thấy là có ích bởi họ biết những người này thuộc giới quân sự nên nắm được các quy định và cách thức của nó ra sao thay vì những gì họ biết về tài chính và công nghiệp. Xem xét những hợp đồng lớn được ký giữa giới quân sự với các công ty tư nhân, chúng ta có thể hiểu ngay tại sao các nhà báo kinh tế công khai viết: “Joseph T. McNarney biết khách hàng tốt nhất của Convair là Lầu Năm Góc, một việc ít người biết, nhưng bạn ông là Floyd Odium, Chủ tịch Convair, thì biết rõ”. Và “trong giới doanh nhân người ta kháo nhau: Hãy kiếm cho mình một vị tướng. Ngành nào của chính phủ xài tiền nhiều nhất? Quân đội. Ai, dù chỉ chiếm hơn 5%, là chuyên gia về thói quan liêu? Một vị tướng hay một đô đốc. Vậy hãy bầu ông ta làm Chủ tịch Hội đồng quản trị”.43
i. Tướng Lucius D. Clay, chỉ huy quân Mỹ ở Đức, sau đó bước vào lĩnh vực chính trị với tư cách chỉ huy quân chiếm đóng, hiện là Chủ tịch Hội đồng quản trị của Công ty Continental Can. Tướng James H. Doolittle, đứng đầu Không lực số 8 ngay trước khi Nhật Bản đầu hàng, hiện là Phó Chủ tịch Shell Oil. Tướng Omar N. Bradley, chỉ huy Tập đoàn quân số 12 trước khi chiếm được Berlin, có vị trí cao trong bộ tham mưu, rồi trở thành Chủ tịch Hội đồng quản trị của Bulova Research Laboratories; vào tháng 2 năm 1955, Chủ tịch Bradley cho phép sử dụng tên của ông – “Tướng quân đội Omar N. Bradley” – to hết cỡ trên trang quảng cáo, vì sự cần thiết quân sự, ủng hộ mức thuế quan mới áp cho linh kiện đồng hồ Thụy Sĩ. Tướng Douglas MacArthur, vị tướng chính trị ở Nhật Bản và Triều Tiên nay là Chủ tịch Hội đồng quản trị của Tập đoàn Reminton Rand. Tướng Albert C. Wedemeyer, chỉ huy các lực lượng Mỹ ở chiến trường Trung Quốc, giờ là một Phó Chủ tịch của Tập đoàn AVCO. Đô đốc Ben Morell giờ là Chủ tịch Tập đoàn Thép Jones & Laughlin. Tướng Jacob Evers hiện là cố vấn kỹ thuật cho Tập đoàn Máy bay Fairchild. Tướng Ira Eaker là Phó Chủ tịch Công ty Hugh Tool. Tướng Brehon Somervell, từng phụ trách việc mua sắm cho quân đội, trước khi mất năm 1955, trở thành Chủ tịch Hội đồng quản trị và Chủ tịch Công ty Koppers. Đô đốc Alan G. Kirk, sau khi là Đại sứ Mỹ tại Nga, trở thành Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng Giám đốc điều hành Tập đoàn Mercast, chuyên về luyện thép có độ chính xác cao. Tướng Leslie R. Groves, đứng đầu Dự án Manhattan, giờ là một Phó chủ tịch của Remington Rand phụ trách nghiên cứu tiên tiến. Tướng E. R. Quesada, phụ trách thử bom nhiệt hạch, là một Phó Chủ tịch của Tập đoàn Lockheed. Tướng Walter Bedell Smith nay là Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị của Công ty American Machine & Foundry. Tư lệnh Lục quân Tướng Matthew B. Ridgway, rõ ràng đã quay lưng lại với mệnh lệnh của Kaiser trong cuộc xâm lược Argentina, trở thành Chủ tịch Hội đồng quản trị Mellon Institute of Industrial Research.42
Tuy nhiên, việc giới quân sự và các lĩnh vực dân sự quan trọng ngày càng đưa người của mình vào bộ phận lãnh đạo của nhau là một bằng chứng cho thấy một thực tế trong cấu trúc Mỹ hơn là một biện pháp nhanh chóng xử lý các hợp đồng chiến tranh. Trở lại sự thay đổi này trên chóp bu, và đằng sau ngân sách quân sự tăng cao trên cơ sở đó, có sự thay đổi lớn về cấu trúc của chủ nghĩa tư bản hiện đại Mỹ theo hướng kinh tế chiến tranh thường trực.
Trong thời gian khoảng một thế hệ, Mỹ đã trở thành một xã hội công nghiệp hàng đầu thế giới, và đồng thời là một trong những quốc gia quân sự hàng đầu. Tất nhiên, giới quân nhân trẻ hơn lớn lên trong bầu không khí của liên minh kinh tế-quân sự, nhưng hơn thế, họ được dạy một cách rõ ràng và sâu sắc để tiếp tục thực hiện nó. “Trường Cao đẳng Công nghiệp Quân đội”, có chương trình dạy về tính phụ thuộc lẫn nhau giữa kinh tế và chiến tranh, là trường đứng đầu hệ thống giáo dục quân sự.44
Với người tự do lạc quan của thế kỷ XIX, tất cả điều này có vẻ là một thực tế trớ trêu nhất. Hầu hết đại diện của trường phái tự do lúc đó đều cho rằng sự phát triển của chủ nghĩa công nghiệp sẽ nhanh chóng hạ thấp vai trò của chủ nghĩa quân sự xuống rất nhỏ trong các vấn đề hiện đại. Theo những quy chuẩn yêu thích của xã hội công nghiệp, bạo lực kiểu yêng hùng của nhà nước quân sự đơn giản là sẽ biến mất. Chẳng phải sự xuất hiện của công nghiệp hóa và kỷ nguyên hòa bình lâu dài của thế kỷ XIX đã cho thấy điều đó sao? Nhưng mong muốn kinh điển của những người tự do như Herbert Spencer đã tỏ ra hoàn toàn sai lầm. Thay đổi chính của thế kỷ XX cho thấy khi nền kinh tế trở nên tập trung và sáp nhập thành những thang bậc lớn, giới quân sự trở nên mở rộng và có tính quyết định đối với hình dạng của toàn bộ cấu trúc kinh tế, và hơn nữa, kinh tế và quân sự có mối quan hệ qua lại sâu sắc về cấu trúc, khi kinh tế trở thành một nền kinh tế chiến tranh gần như vĩnh viễn; và con người và chính sách của giới quân sự ngày càng thâm nhập vào nền kinh tế doanh nghiệp.i
i. Chương 12 sẽ thảo luận đầy đủ hơn trước những xu hướng này.
Vào tháng 4 năm 1953, Arthur Krock báo cáo: “Thứ mà các quan chức sợ hơn cả cuộc chiến không có hồi kết ở Triều Tiên là hòa bình…
Viễn cảnh hòa bình có thể quyến rũ thế giới tự do tới chỗ buông lỏng cảnh giác, phá bỏ việc xây dựng an ninh tập thể ở Tây Âu chậm chạp và tốn kém trong khi người Xô-viết duy trì và tăng cường sức mạnh quân sự của họ, đủ để làm những người cầm quyền lưỡng lự. Và việc mua bán trên thị trường chứng khoán sau những đề nghị mang tính hòa giải đột ngột của Kremlin đã ủng hộ giả thuyết cho rằng sự thịnh vượng nhanh chóng ở đất nước này gắn với một nền kinh tế chiến tranh và dẫn tới các vấn đề kinh tế đáng sợ có thể xuất hiện ở mặt trận trong nước”.45
5.
Sự phát triển khoa học và công nghệ, một khi đã bám chặt vào nền kinh tế, đã ngày càng trở thành một phần của trật tự quân sự mà bây giờ là thứ ủng hộ lớn nhất và là thứ chỉ đạo nghiên cứu khoa học trên thực tế, nói chung, số tiền được cấp nhiều bằng toàn bộ chi phí nghiên cứu khoa học khác của Mỹ cộng lại. Từ Thế chiến II, định hướng chung trong nghiên cứu khoa học thuần túy do giới quân sự xem xét quyết định, tài chính chủ yếu lấy từ ngân sách quân sự, và rất ít người tham gia nghiên cứu khoa học cơ bản mà lại không làm việc dưới sự chỉ đạo của giới quân sự.
Mỹ chưa bao giờ là nước dẫn đầu trong nghiên cứu cơ bản, mà thường du nhập từ châu Âu. Ngay trước Thế chiến II, khoảng 40 triệu đô-la – phần lớn từ công nghiệp – được chi cho nghiên cứu khoa học cơ bản, nhưng 227 triệu đô-la lại được chi cho nghiên cứu ứng dụng và “phát triển sản phẩm và cơ khí”.46 Trong Thế chiến II, các nhà khoa học lý thuyết bận rộn, nhưng không phải bận nghiên cứu cơ bản. Chương trình hạt nhân, cho tới lúc nó trở thành công việc của chính phủ, thì phần lớn là vấn đề cơ khí. Nhưng những phát triển công nghệ như vậy cho thấy rõ là các quốc gia trên thế giới đang bước vào một cuộc chạy đua khoa học cũng như vũ trang. Vì thiếu những chính sách chính trị dành cho khoa học, nên giới quân sự, mà trước hết là hải quân, rồi quân đội, bắt đầu bước vào lĩnh vực chỉ đạo và hỗ trợ khoa học, cả lý thuyết lẫn ứng dụng. Việc họ lấn sân được là do các giới chức công ty mời chào hoặc cho phép vì họ thích sự kiểm soát quân sự hơn là dân sự của chính phủ trước các cố gắng trong khoa học, họ sợ thứ quan điểm mang tính “ý thức hệ” của giới dân sự trong những việc như sáng chế.
Tới năm 1954, chính phủ đã chi khoảng 2 tỉ đô-la cho nghiên cứu (gấp 20 lần tỉ lệ trước chiến tranh), trong đó 85% là cho “an ninh quốc gia”.47 Trong lĩnh vực công nghiệp tư nhân và ở các trường đại học lớn, việc hỗ trợ khoa học lý thuyết lúc này chủ yếu là hỗ trợ từ giới quân sự. Trên thực tế, một số trường đại học là các nhánh tài chính của tổ chức quân sự, nhận số tiền từ giới quân sự nhiều gấp ba hoặc bốn lần số tiền từ các nguồn khác cộng lại. Trong chiến tranh, bốn cơ sở giáo dục hàng đầu đã nhận tổng cộng hơn 200 triệu đô-la theo các hợp đồng nghiên cứu, chưa kể nghiên cứu hạt nhân vì không có số liệu chính xác.
Xu hướng chung cho việc quân sự hóa khoa học tiếp tục trong những năm hòa bình. Thực tế đó, như Quỹ Khoa học Quốc gia đã chỉ rõ, là trách nhiệm đối với việc tương đối thờ ơ về “khoa học cơ bản”. Trong ngân sách 2 tỉ đô-la dành cho khoa học năm 1955, chỉ có 120 triệu đô-la (6%) là cho nghiên cứu cơ bản, nhưng có tới 85% là cho công nghệ quân sự.48
Thế lực quân sự trong thế giới khoa học bộc lộ rõ hơn trong bầu không khí hỗn loạn mà “hệ thống rủi ro” của quân đội gây ra. Tới tháng 10-1954, việc này đã tới ngưỡng khiến Tiến sĩ Vannevar Bush, Trưởng Cơ quan Nghiên cứu Khoa học và Phát triển trong Thế chiến II, thấy cần phải nói thẳng ra là cộng đồng khoa học đã “mất tinh thần”. “Bạn sẽ không thấy có bất kỳ cuộc tấn công nào…” ông nói, “nhưng các nhà khoa học hôm nay đã mất hết nhuệ khí, chán nản, và cảm thấy họ đang bị đẩy ra ngoài, và đúng thế”.49 Trong bối cảnh thiếu lòng tin, một nhà khoa học như Albert Einstein cũng công khai khẳng định: “Nếu tôi được trẻ lại và phải quyết định làm thế nào để kiếm sống, tôi sẽ không cố trở thành một nhà khoa học, một học giả, hay một thầy giáo. Tôi sẽ thà chọn làm một thợ sửa ống nước hay người bán hàng rong với hy vọng tìm thấy ở mức khiêm tốn nhất tính độc lập vẫn còn trong hoàn cảnh hiện tại”.50
Mặc dù có lẽ có khoảng 600.000 kỹ sư và nhà khoa học ở Mỹ, nhưng chỉ khoảng 125.000 trong đó tích cực nghiên cứu, và có lẽ cũng chỉ 75.000 đang nghiên cứu giúp các ngành công nghiệp theo đuổi các sản phẩm thương mại mới, và 40.000 khác trong ngành cơ khí phát triển. Chỉ có 10.000 nhà khoa học tham gia nghiên cứu cơ bản trong tất cả các ngành, và có ý kiến cho rằng số người sáng tạo cao nhất cũng không quá 1.000 hoặc 2.000.51
Chính tầng lớp trên này ngày càng dấn sâu vào khía cạnh chính trị của các quyết định quân sự và quân sự hóa đời sống chính trị. Trong 15 năm qua, họ đã lấp vào khoảng trống nghiên cứu lý thuyết quân sự, trong đó chiến lược và chính sách hầu như kết hợp làm một. Nó là khoảng trống vì trong lịch sử – như Theodore H. White đã chỉ rõ – giới quân phiệt Mỹ không quan tâm đến nó, họ chú trọng tới “kỹ thuật” nhiều hơn “lý thuyết”. Vì thế, là một bộ phận của thế lực quân sự, người ta cảm thấy cần đến giới quân phiệt cho lý thuyết, quân sự hóa khoa học, và hiện nay là “làm thoái chí” các nhà khoa học để phục vụ giới quân phiệt.52
Trong các thiết chế giáo dục, việc theo đuổi kiến thức được gắn với đào tạo con người để đảm nhận các vai trò đặc biệt trong mọi lĩnh vực của xã hội hiện đại. Ngoài trường học riêng, giới quân sự còn đã và đang sử dụng ngày một nhiều các cơ sở giáo dục của các thiết chế giáo dục công và tư.i Tính đến năm 1953, gần như 40% sinh viên nam của 372 trường cao đẳng và đại học đã theo học các chương trình đào tạo sĩ quan lục quân, hải quân hoặc không quân. Các thiết chế giáo dục khai phóng liên quan cũng dành khoảng 16% giáo trình cho các khóa học quân sự. Nhìn chung trên cả nước, cứ khoảng một trong năm sinh viên là thuộc các đơn vị của Ban Huấn luyện Sĩ quan Dự bị (ROTC), một tỉ lệ chưa từng thấy trong một năm hòa bình chính thức.53
i. Trong thời Nội chiến, các trường cao đẳng được cấp kinh phí xuất hiện ở nhiều bang, trong giáo trình có chương trình huấn luyện quân sự. Ở một số trường này, từ Nội chiến đến Thế chiến I, việc huấn luyện là tự nguyện; ở các trường khác là bắt buộc trong nhiều giai đoạn khác nhau khi học tại trường. Năm 1916, Bộ Chiến tranh đã tiêu chuẩn hóa việc huấn luyện quân sự như một sự bắt buộc trong hai năm đầu ở các trường được cấp kinh phí. Nhưng năm 1923, ngành lập pháp bang Wisconsin đã thu xếp thành công việc này cho trường Đại học Wisconsin, một thiết chế giáo dục được cấp kinh phí, và một số trường khác nhanh chóng làm theo. Trong Thế chiến I, các đơn vị thuộc ROTC được thành lập ở nhiều trường. Các chương trình ROTC này được mở rộng trong các trường cao đẳng và đại học. Phổ cập huấn luyện quân sự – mà giới quân sự gây sức ép rất mạnh – tất nhiên đồng nghĩa với việc huấn luyện tất cả giới trẻ các kỹ năng quân sự và thái độ phù hợp, trong một giai đoạn dài bằng một nửa và có lẽ với cường độ gấp đôi khóa đại học bốn năm.
Trong Thế chiến II, giới quân sự bắt đầu sử dụng các trường cao đẳng và đại học cho những khóa huấn luyện chuyên sâu, cũng như huấn luyện quân sự cho sinh viên trong các khóa cấp tốc. Và khóa huấn luyện chuyên sâu, cũng như các chương trình nghiên cứu rất nặng, vẫn kéo dài tới thời hậu chiến.
Hiện nay, nhiều trường cao đẳng và đại học hăng hái tổ chức chương trình huấn luyện và nghiên cứu quân sự tại khuôn viên của mình. Việc này tốt cho uy tín và tài chính. Hơn nữa, rất ấn tượng là danh sách những người thuộc giới quân sự, mà phần lớn không đủ các tiêu chuẩn giáo dục cụ thể, sẽ bắt đầu phục vụ với tư cách quản lý trường, và trong những vị trí giáo dục khác. Tất nhiên, Tướng Eisenhower trước khi trở thành Tổng thống từng là người đứng đầu Đại học Columbia, cũng như là một thành viên của Ủy ban Chính sách Hiệp hội Giáo dục Quốc gia. Và ngay cả một khảo sát ngẫu nhiên cũng cho thấy hơn chục người trong giới quân sự ở các vị trí giáo dục.i Có nhiều căng thẳng được xử lý tốt giữa các trường và giới quân sự. Trong trường hợp của Học viện Quân đội – một trường tại chức dành cho các sĩ quan đang tại ngũ – có một điều khoản trong hợp đồng với các trường đại học là giới quân sự có quyền trực tiếp đối với nhân sự của trường, trong trường hợp họ không được chính phủ “phê chuẩn”: vào tháng 8 năm 1953, 28 trường đại học đã ký, 14 từ chối, và năm chờ ký.55 Nhưng nói chung, các nhà giáo dục đã chấp nhận giới quân sự mà không kèm theo những hiểu lầm như vậy; hợp đồng được ký kết trong thời gian chiến tranh và sau đó, vì nhiều trường cần hỗ trợ tài chính trong khi chính phủ liên bang dưới sự kiểm soát dân sự lại không thể cung cấp, nhưng giới quân sự đủ sức làm việc đó.
i. Ví dụ, Chuẩn đô đốc Herbert J. Grassie, Hiệu trưởng trường Cao đẳng Khoa học và Công nghệ Lewis; Đô đốc Chester Nimitz, thành viên Hội đồng quản trị trường Đại học California ở Berkeley; Thiếu tướng Frank Keating, thành viên Hội đồng Ủy thác trường Cao đẳng Ithaca; Chuẩn đô đốc Oswald Colcough, Trưởng khoa Luật trường Đại học George Washington; Đại tá Melvin A. Casburg, Trưởng khoa của Trường Y St. Louis; Đô đốc Charles M. Cook, Jr., thành viên của Hội đồng Giáo dục bang California.54
6.
Không chỉ trong giới chính trị, kinh tế, khoa học, và giáo dục cao hơn thì thế lực quân sự mới rõ. Giới quân phiệt cùng bạn đồng hành và người phát ngôn đang cố gieo lý thuyết của họ vào sâu trong công chúng nói chung.
Trong Thế chiến II, những người đồng tình với giới quân phiệt công khai làm phát ngôn viên cho giới quân sự. Ví dụ những bài phát biểu thời chiến của Frank Knox, Charles E. Wilson (General Electric) và James Forrestal đầy những hình ảnh quân sự tương lai do những người có quyền lực quan trọng nắm giữ, và những hình ảnh này không hề phai mờ. Trên thực tế, từ Thế chiến II, giới quân phiệt đã thực hiện chương trình quan hệ công chúng trên quy mô lớn và mạnh mẽ. Họ chi hàng triệu đô-la, thuê hàng nghìn người trong và ngoài quân đội có chuyên môn quảng cáo để bán ý tưởng cho họ, và họ lại bán nó cho công chúng và Quốc hội.
Nội dung của nỗ lực lớn này lộ rõ mục tiêu cơ bản của nó: để xác định thực trạng quan hệ quốc tế theo cách quân sự, để khắc họa các lực lượng vũ trang theo cách hấp dẫn đối với giới dân sự, và vì thế nhấn mạnh sự cần thiết phải mở rộng các căn cứ quân sự. Mục đích là xây dựng uy tín của tổ chức quân sự và tạo nên lòng tôn trọng với người của nó, và do đó chuẩn bị công chúng trước những chính sách được giới quân sự thông qua, khiến Quốc hội sẵn sàng và đồng ý chi trả cho chúng. Tất nhiên, còn có ý định đánh động công chúng sẵn sàng cho tình huống chiến tranh.
Để đạt được những mục tiêu này, giới quân phiệt của Washington có trong tay các phương tiện thông tin và quan hệ công chúng rất rộng. Hằng ngày, vào thời chiến cũng như thời bình, họ phát hành tin tức và phóng sự cho báo chí và cho vài chục nhà báo ngồi trong phòng tin tức của Lầu Năm Góc. Họ chuẩn bị kịch bản, chụp ảnh, thu âm và ghi hình cho các bản tin phát thanh và truyền hình; họ duy trì hãng phim lớn nhất ở miền Đông, mua lại của Paramount năm 1942. Họ sẵn sàng cung cấp cho các biên tập viên tạp chí bản tin đã chuẩn bị sẵn. Họ sắp xếp các buổi nói chuyện cho quân nhân và cung cấp các diễn văn. Họ thiết lập liên lạc với các tổ chức quốc gia quan trọng và dàn xếp các hội nghị định hướng cùng những chuyến đi thực địa cho giới lãnh đạo, cũng như cho các giám đốc điều hành và những người quan trọng trong thế giới kinh doanh, giáo dục, tôn giáo, và giải trí. Họ sắp xếp, bố trí các “ủy ban tư vấn” trong khoảng 600 cộng đồng dân cư, mở đường cho các thông điệp của họ và cố vấn cho các cộng đồng này có phản ứng bất lợi.56
Mọi thứ xuất hiện trên báo chí và đài phát thanh truyền hình liên quan đến giới quân sự được tóm lược và phân tích, và mọi thứ họ phát hành, kể cả bài viết của giới quân phiệt về hưu, đều được rà soát và kiểm duyệt.
Chi phí cho chương trình này thay đổi từng năm, nhưng các Thượng Nghị sĩ quan tâm ước tính vào khoảng từ 5 tới 12 triệu đô-la. Tuy nhiên, con số ước tính này chẳng là gì, vì giới quân sự ở vào thế có thể có được số phim ảnh trị giá khoảng 30 triệu đô-la mà họ hợp tác sản xuất trong thời gian 12 tháng; được lợi hàng triệu đô-la từ thời gian miễn phí trên tivi, và khoảng 6 triệu đô-la từ thời gian miễn phí trên đài phát thanh, theo ước tính của tờ Variety.
Ngay cả ước tính của Thượng Nghị sĩ Harry F. Byrd năm 1951 (2.235 người giới quân sự và 787 người giới dân sự trong quảng bá, quảng cáo và quan hệ công chúng) cũng không lột tả hết quy mô chương trình. Vì nó không khó thực hiện, ít nhất là bán thời gian, nên có nhiều người phục vụ cho các mục đích quan hệ công chúng. Tất nhiên, các đô đốc và tướng lĩnh chóp bu có những người phụ trách quan hệ công chúng cho họ. Năm 1948, bộ chỉ huy của Tướng MacArthur có 135 người giới quân sự và 40 người giới dân sự phụ trách quảng bá. Eisenhower, khi còn làm Tổng Tham mưu trưởng, có 44 người giới quân sự và 113 người giới dân sự.57 Và bản thân giới quân phiệt cũng học cách tuyên truyền quảng bá. Gần đây, Tư lệnh Không quân vừa về hưu, Tướng Hoyt S. Vandenberg, nói với các học viên tốt nghiệp tại một căn cứ không quân rằng “tình đồng đội vĩ đại nhất trên mặt đất này là giữa những người mang đôi cánh… Các bạn không chỉ là những cầu thủ khúc côn cầu phản lực… Hãy thực hiện nhiệm vụ lớn hơn là hiểu biết và giảng giải về vai trò của không lực… Những người không đối diện với sự thật… cần phải được nhắc đi nhắc lại, một cách nghiêm túc, logic rằng không lực sẽ cứu thế giới khỏi hủy hoại…”58
Đây là một vấn đề tế nhị mà các nhà tuyên truyền quân sự gặp phải, nhưng có một thực tế lớn lại hoàn toàn có lợi cho thành công của họ: trong toàn bộ nước Mỹ đa nguyên, không có lợi ích nào – không có sự kết hợp khả dĩ nào về lợi ích – ở một nơi nào đó lại gần về thời điểm, tiền bạc, nhân lực, để đưa ra một quan điểm về các vấn đề liên quan mà có thể cạnh tranh hiệu quả với quan điểm của giới quân phiệt và những người họ thuê đưa ra liên tục từ ngày này tới ngày khác.59
Điều này có nghĩa là chắc chắn không có chuyện tranh luận tự do và rộng rãi về chính sách quân sự hoặc về những chính sách phù hợp với quân sự. Nhưng tất nhiên, nó phù hợp với việc huấn luyện binh lính chuyên nghiệp cho vị trí chỉ huy và tuân thủ mệnh lệnh, và phù hợp với đặc tính của mình, mà chắc chắn không phải là đặc tính của một xã hội thích tranh cãi rồi đem các quyết định ra bỏ phiếu. Nó cũng phù hợp với xu hướng trong một xã hội đại chúng mà ở đó thao túng thay thế quyền lực được bàn thảo rõ ràng; nó cũng phù hợp với thực tế chiến tranh tổng lực trong đó sự phân biệt giữa binh lính và dân thường bị xóa bỏ. Giới quân sự thao túng ý kiến dân sự và xâm nhập quân sự vào đầu óc dân sự hiện nay là những cách quan trọng thực thi chắc chắn quyền lực của giới quân phiệt.
Mức độ quảng bá quân sự và không bị chống lại cũng có nghĩa nó không chỉ là đề nghị này hay quan điểm kia vốn đang bị xô đẩy. Thiếu những quan điểm trái chiều, nên hình thức chiến tranh tuyên truyền cao nhất có thể là: tuyên truyền cho một sự xác định thực trạng trong đó chỉ một số quan điểm nhất định mới được cho phép. Những gì được công bố và tăng cường là học thuyết quân sự – khuôn khổ suy nghĩ vốn xác định thực trạng quốc tế như quân sự về cơ bản. Những người tuyên truyền cho thế lực quân sự không cần phải thực sự hành động để truyền bá học thuyết này với những người quan trọng khác: họ đã chấp nhận nó rồi.
7.
Trái với sự tồn tại của những người thuộc giới quân sự, đơn giản được coi là các chuyên gia trong việc tổ chức và sử dụng bạo lực, “chủ nghĩa quân sự” được định nghĩa là “một trường hợp phương tiện chiếm ưu thế so với mục đích” nhằm nâng cao uy tín và tăng cường quyền lực của giới quân sự.60 Tất nhiên, đây là một quan điểm của giới dân sự, coi giới quân sự chỉ là một phương tiện cho các mục đích chính trị dân sự. Định nghĩa này cho thấy xu hướng của giới quân sự không chỉ là phương tiện, mà là theo đuổi những mục tiêu riêng của họ và chuyển các khu vực thiết chế khác thành phương tiện để hoàn thành chúng.
Nếu không có nền kinh tế công nghiệp, thì quân đội hiện đại như quân đội của Mỹ không thể tồn tại; bởi nó là quân đội của máy móc. Các nhà kinh tế học chuyên nghiệp thường coi thiết chế quân sự là thứ ăn bám các phương tiện sản xuất. Tuy nhiên, bây giờ những thiết chế ấy bắt đầu định hình phần lớn đời sống kinh tế của Mỹ. Tôn giáo, hầu như luôn ban phước cho quân đội đang tham chiến, đã tuyển mộ trong số chức sắc của nó các tuyên úy mặc đồ quân sự tư vấn, úy lạo và nâng đỡ tinh thần cho người lính nơi trận mạc. Theo định nghĩa của Hiến pháp, giới quân sự phải phục tùng chính quyền chính trị, và nói chung được coi và thường là người phục vụ cũng như cố vấn của các chính khách dân sự, nhưng giới quân phiệt đang di chuyển vào các giới này, và bằng định nghĩa của ông ta về thực trạng đang tác động đến các quyết định của họ. Gia đình cung cấp cho quân đội và hải quân những người đàn ông và những cậu con trai tốt nhất mà nó có. Và như chúng ta đã thấy, giáo dục và khoa học cũng đang trở thành phương tiện phục vụ các mục tiêu mà giới quân sự tìm kiếm.
Việc giới quân sự theo đuổi địa vị, bản thân điều đó không phải là mối đe dọa về sự thắng thế của giới quân sự. Trên thực tế, địa vị vốn có sẵn trong quân đội thường trực là một kiểu đền đáp cho việc giới quân sự từ bỏ các cuộc phiêu lưu về quyền lực chính trị. Chừng nào việc theo đuổi địa vị này còn nằm trong giới hạn của thang bậc quân sự, chừng đó nó còn là một đặc điểm quan trọng của kỷ luật quân sự, và không nghi ngờ gì nữa, là nguồn trả công chủ yếu của giới quân sự. Nó trở thành mối đe dọa, và nó biểu thị sức mạnh ngày càng tăng của giới tinh hoa quân sự hiện nay, khi nó vượt ra ngoài thang bậc quân sự và có xu hướng trở thành cơ sở của chính sách quân sự.
Sức mạnh là chìa khóa để hiểu về địa vị. Giới quân sự không thể thành công khi đòi hỏi địa vị với giới dân sự nếu họ không có, hoặc được cho là không có sức mạnh. Giờ đây sức mạnh cũng như những hình ảnh về nó luôn là tương đối: sức mạnh của người này lại là điểm yếu của người khác. Và sức mạnh làm suy yếu địa vị của giới quân sự ở Mỹ là sức mạnh của tiền bạc và của những người làm ra tiền, và của các chính khách dân sự đối với tổ chức quân sự.
“Chủ nghĩa quân sự” Mỹ vì thế liên quan đến nỗ lực tăng cường quyền lực của giới quân sự, và từ đó gia tăng địa vị so với giới doanh nghiệp và giới chính trị. Để giành được quyền lực ấy, họ phải làm sao cho không bị coi là phương tiện trong tay các chính trị gia và những người làm ra tiền. Không thể coi họ là những ký sinh trùng của nền kinh tế và chịu sự giám sát của những người mà giới quân sự thường gọi là “đám chính khách bẩn thỉu”. Trái lại, mục đích cuối cùng của họ phải đồng nhất với mục đích cũng như danh dự của đất nước; nền kinh tế phải là đầy tớ của họ; chính trị là công cụ mà họ sử dụng để quản lý đất nước trong chiến tranh hiện đại nhân danh quốc gia, gia đình, và Chúa. “Tham chiến nghĩa là gì?” Woodrow Wilson đã hỏi vào năm 1917. Chính ông ấy đã đáp rằng: “Nó là sự cố gắng để xây dựng nền văn minh thời bình với các tiêu chuẩn chiến tranh, và vào cuối cuộc chiến sẽ không còn kẻ đứng ngoài nào hành động với các tiêu chuẩn hòa bình hiệu quả. Sẽ chỉ có các tiêu chuẩn chiến tranh…”61 Chủ nghĩa quân sự Mỹ khi đã phát triển đầy đủ sẽ đồng nghĩa với việc chiến thắng trong mọi lĩnh vực đời sống của lý thuyết quân sự, và do đó tất cả các lối sống khác đều phải tuân theo nó.
Không còn nghi ngờ nào khác ngoài việc trong thập kỷ qua, giới quân phiệt của Washington cùng với bạn bè họ trong giới lãnh đạo chính trị và giới tinh hoa công ty đã lộ rõ xu hướng quân sự. Vậy liệu trong những giới cao hơn của Mỹ có “phe nhóm quân sự” không? Những người lập luận về một khái niệm như vậy – như Thẩm phán Tòa án Tối cao William O. Douglas và Tướng lục quân Omar Bradley gần đây đã làm62 – lại thường chỉ nói về ảnh hưởng đang gia tăng của giới quân sự chuyên nghiệp. Vì thế những lập luận của họ, chừng nào họ còn mang dấu ấn về cấu trúc của giới tinh hoa, thường không dứt khoát và thường nhằm nhiều mục đích. Vì khi được hiểu đầy đủ, ý kiến về giới quân sự không chỉ liên quan đến thế lực của giới quân sự. Nó bao gồm sự trùng hợp về lợi ích và sự điều phối mục đích giữa những người làm kinh tế, chính trị, cũng như quân sự.
Câu trả lời của tôi cho câu hỏi “Hiện nay có phe nhóm quân sự nào đó không?” là: Có, có một phe quân sự, nhưng chính xác hơn nên gọi nó là giới tinh hoa quyền lực, vì nó gồm cả những người tham gia vào kinh tế, chính trị cũng như quân sự, lợi ích của họ ngày càng trùng khớp nhau. Để hiểu được vai trò của giới quân sự trong giới tinh hoa quyền lực, chúng ta phải hiểu vai trò của giám đốc điều hành công ty và các chính trị gia trong tầng lớp đó. Và chúng ta cũng phải hiểu đôi điều về những gì đang xảy ra trong lĩnh vực chính trị nước Mỹ.