Giới Tinh Hoa Quyền Lực

Lượt đọc: 99 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3 - Tầng Lớp Thị Dân 400

❊ ❊ ❊

C

ác thành phố nhỏ nhìn vào các thành phố lớn, nhưng các thành phố lớn thì nhìn vào đâu? Mỹ không phải là nước có một thành phố quốc gia thực sự; không có Paris, không có Rome, không có London, chẳng có thành phố nào từng là trung tâm xã hội, thủ phủ chính trị hay trung tâm kinh tế. Các xã hội địa phương của thành phố lớn nhỏ ở Mỹ chưa bao giờ có phiên tòa lịch sử nào có thể công nhận sự lựa chọn đó một cách chính thức. Thủ phủ chính trị của đất nước không phải là thủ phủ địa vị, càng không phải là một bộ phận quan trọng của Xã hội theo bất kỳ nghĩa nào; sự nghiệp chính trị không song hành với thăng tiến xã hội. New York, chứ không phải Washington, trở thành thủ phủ tài chính. Nếu ngay từ đầu Boston, Washington và New York được hợp thành thủ phủ xã hội, chính trị và tài chính lớn của đất nước thì chắc mọi chuyện đã khác! Như thế thì bản ghi chép của Bà John Jay (Danh sách tiệc tối và chiều giai đoạn 1787–1788), trong đó các gia đình thuộc tầng lớp trên, của cải nhiều và có quyền quyết định hợp lại, có lẽ, như một phần của cuộc điều tra dân số toàn quốc, vẫn còn nguyên vẹn và hợp thời.1

Thế nhưng, dù thiếu sự hợp nhất chính thức và quy về một mối, hiện nay, sau 17 thập kỷ, một tầng lớp xã hội thượng lưu dễ nhận biết vẫn bùng nổ ở các thành phố lớn của Mỹ, mà nhóm này có vẻ khá nhỏ gọn. Ở Boston và New York, ở Philadelphia, Baltimore và San Francisco, một cốt lõi vững chắc gồm các gia tộc giàu có, lâu đời được vây quanh bởi các tập hợp lỏng lẻo hơn các gia tộc giàu có mới nổi. Cốt lõi lâu đời này, nhóm người ở New York mà người bạn Ward McAllister của Bà Astor từng gọi tên theo con số Bốn Trăm, dốc sức để trở thành Xã hội Thượng lưu Mỹ, và có lẽ, thời xa xưa, nó đã suýt thành công. Ngày nay, chừng nào nó còn cố dựa vào lòng kiêu hãnh dòng tộc, chừng ấy cơ hội đạt tới tầm quốc gia đích thực vẫn còn mong manh. Tuy nhiên, chắc chắn là tầng lớp thị dân 400 cũng như các nhóm người tương ứng ở thành phố nhỏ sở hữu ngày một nhiều lợi thế mang lại cho họ cả cơ hội khách quan và sự sẵn sàng tâm lý, từ đó tạo ra và duy trì thế giới các tầng lớp thượng lưu xã hội cho mỗi thế hệ. Ở mỗi thành phố lớn, các tầng lớp này hướng đến nhau đầu tiên.

1.

Trước Nội chiến, tầng lớp thượng lưu nơi thành phố lớn thường nhỏ gọn và ổn định. Ít nhất là các nhà biên niên sử đều nói vậy khi lần ngược dòng lịch sử. Bà John King Van Rensselaer viết: “Xã hội phát triển từ trong ra hơn là từ ngoài vào… Các yếu tố ngoại lai được hấp thụ không đáng kể. Vòng xã hội mở rộng từ thế hệ này sang thế hệ khác qua rất nhiều đóng góp của mỗi gia đình cho hậu thế… Có một ranh giới vững chãi và khó lòng lờ đi, giống như Vạn Lý Trường Thành vậy”. Dòng dõi gia đình bắt nguồn từ việc tổ chức xã hội của nhóm người khai khẩn [Tân Thế giới], và sự chia rẽ duy nhất trong các nhóm tầng lớp thượng lưu “đến từ phía Giáo hội: (Tin Lành) Trưởng lão, (Tin Lành) Hà Lan Cải cách và (Tin Lành) Tân giáo tạo thành các nhánh khá khác biệt của một tổ chức nhỏ gọn”.2

Ở từng địa phương và khu vực, sự giàu có của thế kỷ XIX đã tạo ra riêng hệ thống thứ bậc công nghiệp của các gia đình địa phương. Vùng thượng Hudson có những chúa đất tự hào về nguồn gốc của mình, còn ở Virginia là các điền chủ. Ở mỗi thị trấn vùng New England có các chủ hãng tàu thủy Thanh giáo và các nhà công nghiệp mới, còn ở St. Louis là những hậu duệ thời thượng gốc Pháp ở Mỹ sống bằng lợi tức đất đai. Ở Denver, Colorado có những chủ mỏ vàng bạc giàu có. Và ở thành phố New York, như Dixon Wecter viết, “có một tầng lớp những người sống bằng cổ tức, những vận động viên sống bằng của cải gia đình và một tầng lớp như nhà Astor và nhà Vanderbilt cố rũ bỏ gốc gác buôn bán của mình càng nhanh càng tốt”.3

Những người giàu nhất có thể được coi là thuộc một đẳng cấp khác, của cải của họ luôn sẵn, gia đình họ cao quý lâu đời. Chừng nào họ còn giàu có và không bị tầng lớp nào mới hơn, giàu có hơn đe dọa, thì không có lý do gì phải tách bạch địa vị do dòng dõi gia đình và địa vị do giàu.4 Sự ổn định của tầng lớp thượng lưu cũ hơn dựa khá chắc chắn vào việc họ vừa là những dòng tộc lâu đời, vừa có nhiều của cải. Khi bị dồn ép, những người giàu có và quyền lực của tầng lớp thượng lưu mới bị kiềm chế bởi tầng lớp cũ, những người vốn vẫn duy trì sự khác biệt và không bị đe dọa, đôi khi có thể chấp nhận thành viên mới.

Trong những thập kỷ sau Nội chiến, tầng lớp thượng lưu cũ của các thành phố lâu đời hơn bị những kẻ mới giàu lên lấn át. “Ngay lập tức”, bà Van Rensselaer viết, Xã hội Thượng lưu “bị tấn công từ mọi phía bởi những kẻ liều lĩnh tìm cách vượt qua thành lũy của tính độc quyền xã hội”. Hơn nữa, những người nhập cư từ nước ngoài, như người miền Nam và sau này là miền Tây, cũng đến thành phố làm ăn. “Những người đã làm giàu ở đâu đó, nay lặn lội tới New York để tiêu xài giải khuây và mua sự thừa nhận từ xã hội.”5

Trong giai đoạn 1870–1920, cuộc đấu tranh giữa dòng tộc lâu đời với nhà giàu mới nổi diễn ra trên một quy mô lớn trên toàn quốc. Những gia tộc bị coi là cũ vì họ đã giàu có từ trước Nội chiến cố gắng đoàn kết nhằm chống lại những nhà giàu lên sau Nội chiến. Họ thất bại trước hết vì tài sản của tầng lớp mới quá lớn so với tài sản của tầng lớp cũ, mà đơn giản là không cự lại nổi. Thêm vào đó, không thể kiềm tỏa nhóm nhà giàu mới trong phạm vi địa phương. Giống như địa giới lãnh thổ đang mở rộng, tài sản và quyền lực mới – dưới hình thức gia đình và nay cả công ty – đã phát triển tới tầm vóc và quy mô quốc gia. Thành phố, hạt, bang không thể kiềm chế nhóm nhà giàu nắm quyền xã hội này. Ở khắp nơi, những người lắm tiền nhiều của lấn át các gia đình lâu đời cao quý của xã hội thành phố lớn.

Mọi gia đình đều có vẻ khá “lâu đời”, nhưng không phải tất cả đều giàu có đến hai thế hệ, chưa nói là ba hay bốn thế hệ. Công thức “gia đình lâu đời” ở Mỹ là tiền bạc cộng với thời thế cộng với thời gian. Nói cho cùng, lịch sử nước Mỹ mới chỉ kéo dài khoảng sáu hoặc bảy thế hệ. Gia tộc cũ nào cũng phải có lúc từng không “cũ”. Vì thế ở Mỹ, là tổ tiên hoặc có tổ tiên gần như là một việc lớn.

Không nên cho rằng các gia đình dòng dõi đã và đang không chấp nhận các gia đình không có gốc gác gia nhập tầng lớp xã hội của họ, đặc biệt sau khi các gia đình này nắm giữ ngân hàng của họ. Chỉ có những người mà tổ tiên của họ mới tìm cách len vào các gia đình lâu đời hơn một chút cách đây hai hay ba thế hệ mới cố sức ngăn người khác làm như thế lúc này. Cuộc chơi của tầng lớp giàu có lâu đời và tầng lớp mới giàu khai màn ngay từ buổi đầu lịch sử đất nước, và ngày nay tiếp diễn ở cả thị trấn nhỏ và trung tâm thành phố lớn. Một quy tắc bất di bất dịch của cuộc chơi này là, xét xu hướng nhất quán, mọi gia đình có thể đạt được bất kỳ thứ hạng nào mà tiền bạc của họ cho phép. Tiền bạc – tiền tươi, trần truồng, kệch cỡm – giúp chủ nhân của nó vào được bất kỳ đâu và mọi nơi trong xã hội Mỹ, trừ một vài ngoại lệ.

Từ quan điểm về địa vị, vốn luôn cố dựa vào xuất xứ gia đình, việc này có nghĩa là các bức tường luôn dễ đổ; từ quan điểm chung hơn về tầng lớp thượng lưu được thừa nhận cả ở ngoài phạm vi địa phương họ sinh sống, nó có nghĩa là các thứ hạng cao nhất luôn thay đổi. Nó cũng đồng nghĩa với việc dù tỏ vẻ ra sao, tầng lớp thượng lưu Mỹ chỉ nhóm người tư sản giàu có, và dù thành viên của tầng lớp ấy có quyền đến thế nào, họ cũng không thể bịa ra một quá khứ quý tộc vốn không tồn tại. Một người lập phả hệ cẩn trọng đã khẳng định là vào đầu thế kỷ XX, có “không quá chục gia đình chiếm giữ các vị trí xã hội rõ ràng” thuộc giới lắm tiền nhiều của hoặc các gia đình lâu đời của New York mà “tên của tổ tiên họ xuất hiện trong danh sách tiệc tối của Bà John Jay”.6

Ở Mỹ, cố gắng đầy tự hào để đạt được địa vị nhờ dòng dõi gia đình là một việc không hề dễ dàng, chưa bao giờ động chạm đến dù chỉ một phần rất nhỏ dân cư. Với tổ tiên có thực hay được sáng tạo ra, giới “con dòng” và “cháu giống” đã cố gắng trau chuốt công phu gốc gác gia đình, và trên cơ sở hiểu biết về gia phả của họ để tránh xa “tầng lớp thấp”. Nhưng họ càng cố làm việc này với dân cư bên dưới, mà theo một cách hoàn toàn tầm thường thì hình như lại càng hãnh diện vì được sinh ra trong tầng lớp thấp kém, và quá sẵn sàng với quá nhiều chuyện tiếu lâm về nhân giống ngựa để khiến cho những chuyện ấy dễ nghe hơn và lan truyền rộng rãi.

Đã có quá nhiều dịch chuyển – về nơi ở của gia đình và nghề nghiệp trong suốt cuộc đời của một cá nhân và giữa các thế hệ khiến cảm xúc về dòng dõi khó bén rễ. Ngay cả khi cảm xúc ấy thúc đẩy những đòi hỏi của tầng lớp thượng lưu, nó vẫn không thể có trừ phi được tầng lớp dưới tán dương. Người Mỹ không ý thức nhiều về dòng dõi; họ không phải loại dân cư sẵn sàng đổi tiền lấy uy tín trên cơ sở dòng dõi. Chỉ khi một cấu trúc xã hội không thực sự thay đổi đường hướng của các thế hệ, chỉ khi nghề nghiệp, tài sản, và vị trí có xu hướng cha truyền con nối, thì niềm kiêu hãnh và định kiến ấy, cùng với chúng là thân phận lệ thuộc và cảm giác thấp kém, mới có thể trở thành những cơ sở ổn định của một hệ thống uy tín.

Việc thành lập một xã hội phả hệ dựa trên uy tín về dòng dõi là khả thi trong một giai đoạn ngắn, dù cho Mỹ không trải qua giai đoạn xã hội phong kiến và hiện tại thì đầy biến động vì tình trạng nhập cư. Chính trong mấy thập kỷ khi dòng người nhập cư mới tràn vào các thành phố lớn là đông đúc nhất, Xã hội Thượng lưu ở thành phố lớn đã đạt đến đỉnh cao ở Mỹ. Trong các khu ổ chuột của người nhập cư, đòi hỏi địa vị theo dòng dõi là thành công nhất, không phải trong số đông dân cư mà là những người nhận mình thuộc dòng dõi nào đó và muốn nhiều hơn. Những đòi hỏi này đã và đang liên quan đến hệ thống địa vị của các nhóm sắc tộc.

Nhưng đã có thời kỳ khi những người nhập cư khiêm tốn không còn thỏa mãn với mục đích này: dòng người nhập cư đã bị dừng lại, và trong một thời gian ngắn, mọi người ở Bắc Mỹ trở thành – hay sẽ nhanh chóng trở thành – người Mỹ bản địa có cha mẹ bản địa.

Ngay cả khi nguồn cung về người nhập cư cực lớn và số lượng người nhập cư ở các thành phố lớn còn nhiều hơn số người bản xứ, tình cảm dân tộc chủ nghĩa theo kiểu tự do trở nên quá mạnh nên không thể xác định bằng tiêu chí dòng dõi được nữa. “Mỹ hóa Người nhập cư” – một phong trào có tổ chức, một ý thức hệ, một thực tế – coi lòng trung thành với ý thức hệ quốc gia còn quan trọng hơn dòng dõi Anglo-Saxon. Việc xem quốc gia như một tổ hợp đa sắc tộc và dân tộc – quan điểm của các tầng lớp trung lưu và giới trí thức – bắt đầu thắng thế quan điểm Anglo-Saxon của những người quan tâm đến nguồn gốc “chủng tộc” và một xã hội có gốc gác phả hệ. Ngoài ra, mỗi nhóm dân tộc này – từ người Ireland đến người Puerto Rico – đều từng bước giành được quyền lực chính trị tại đây.

Cố gắng nhằm tạo nên một xã hội phả hệ tiếp tục tồn tại trong tầng lớp thượng lưu mà ở đó các thành tố địa phương cạnh tranh nhau: vùng bờ biển phía đông có người định cư trước tiên; vì vậy, những người vẫn ở đó là những gia đình địa phương lâu đời hơn những gia đình ở các khu vực mới có người đến gần đây hơn. Nhưng ở nhiều thị trấn nhỏ vùng New England, cũng có những gia đình địa phương từ lâu đã nổi tiếng chẳng kém bất kỳ gia đình nào ở Boston; có những gia đình trong các thị trấn nhỏ miền Nam đòi hỏi sự tiếp nối dòng họ mà ngay cả nhà Brahmin cuồng tín nhất ở Boston cũng không thể làm gì được; và có những gia đình từ thuở xưa của California, trong cảm giác mạnh mẽ của riêng mình về khuôn khổ thời gian, thấy mình lâu đời hơn và có nền tảng tốt hơn bất kỳ gia đình New York nào từng có thể. Các địa phương cũng cạnh tranh về kinh tế. Những gia đình khai mỏ, kinh doanh ngành đường sắt, và buôn bán bất động sản – trong mỗi ngành, mỗi địa phương và mỗi vùng, như chúng tôi đã nói, tài sản lớn tạo nên thứ bậc của những gia đình địa phương.

Gia phả là cơ sở uy tín vững chắc và ổn định khi cấu trúc tầng lớp cũng vững chắc và ổn định. Chỉ sau này mọi loại thỏa thuận và khuôn mẫu mới bám rễ và đơm hoa kết trái trên cơ sở kinh tế vững chắc. Khi sự thay đổi về kinh tế diễn ra nhanh chóng và sự linh loạt mang tính quyết định, thì tầng lớp lắm tiền ấy mới tự khẳng định mình một cách chắc chắn, những tham vọng địa vị mới sụp đổ và những định kiến mới bị cuốn trôi theo thời gian. Từ quan điểm giai cấp, 1 đô-la là 1 đô-la, nhưng từ quan điểm của một xã hội phả hệ, hai món tiền này – một nhận được từ việc thừa hưởng niềm tin qua bốn thế hệ, một từ vụ kiếm chác thực trên thị trường tuần trước – lại rất khác nhau. Thế nhưng người ta sẽ làm gì khi món tiền mới kia đơn giản là trở nên rất lớn? Bà Astor (một quý bà xuất thân từ gia tộc Knickerbocker kết hôn với một người thuộc tầng lớp sở hữu bất động sản cũ) sẽ làm gì với Bà Vanderbilt (xuất thân từ giới lắm tiền kệch cỡm của ngành đường sắt và ông bà bên chồng còn kệch cỡm hơn) vào năm 1870? Bà Astor sẽ thua: năm 1883, bà để lại danh thiếp của mình ở cửa nhà Bà Vanderbilt, và nhận lời mời tới dự lễ hội hóa trang của bà ta.7 Với những việc xảy ra như thế, bạn không thể khoe khoang địa vị theo xuất xứ gia đình thực. Ở Mỹ, có lẽ ở cả những nơi khác, xã hội dựa trên dòng dõi luôn bị bỏ qua hoặc bị tầng lớp giàu mới và thô kệch dùng tiền gạt đi.i

i. Nhưng không chỉ cơ chế chuyển động nhanh của các tầng lớp mới làm đảo lộn vở diễn. Hầu như những gì chuyển động nhanh đều thế. Bởi các quy ước về lối sống là quan trọng đối với uy tín của xã hội địa phương, và chỉ ở nơi mà quan hệ giai cấp và địa vị có sự ổn định thì các quy ước này mới có thể ổn định. Nếu quy ước thực sự cứng nhắc, thì váy áo trở thành “trang phục”, và các quy ước trở thành “truyền thống”. Uy tín cao của tổ tiên, của tuổi già, của tài sản lâu đời, của đồ cổ, của “thâm niên” cư dân và thành viên, của những cách làm cũ trong bất kỳ việc gì và mọi việc – chúng kết hợp lại và cùng tạo nên các quy ước địa vị của một tầng lớp hỗn hợp trong một xã hội ổn định. Khi xã hội biến đổi nhanh chóng, uy tín có xu hướng chuyển qua giới trẻ và xinh đẹp, cho dù họ có là tầng lớp bị rủa xả; chuyển qua những kẻ khác biệt và chuyển qua những kẻ “mới lạ” cho dù họ thô lỗ. Khi ấy trang phục trở nên “lỗi mốt”, và điều quan trọng trước hết là “thời trang”. Giá trị bên ngoài của ngôi nhà, kể cả cung cách ứng xử và bản thân bạn đều phụ thuộc vào thời thượng. Tóm lại, có một sự đánh giá tầng lớp mới theo những gì nó có: rằng những gì mới đều có uy tín. Trong tình hình đó, tiền bạc dễ dàng quyết định ai có thể theo được sự khác biệt trong tiêu dùng luôn thay đổi theo chiều thẳng đứng về váy áo, xe cộ, nhà cửa, thể thao, sở thích, câu lạc bộ. Tất nhiên, chính vì tình hình như vậy, chứ không phải vì tầng lớp an nhàn ổn định, mà Veblen đã gọi nó bằng mấy cụm từ “tiêu dùng phô trương” và “lãng phí lộ liễu”. Về Mỹ, và về thế hệ thứ hai của giai đoạn mà ông viết, nói chung ông đã đúng.

Ở đây, trong bối cảnh xã hội của con người tự lập, những kẻ mới nổi đòi hỏi địa vị. Anh ta đòi hỏi nó với tư cách một người tự lập thay vì bất chấp nó. Trong mỗi thế hệ, một số người thăng tiến dựa vào gia đình thì coi thường anh ta như một kẻ không mời mà đến, một kẻ khoe của, một kẻ ngoại đạo trên mọi phương diện. Nhưng trong mỗi thế hệ kế tiếp – hay thế hệ sau thế hệ đó – anh ta được chấp nhận với tầng lớp xã hội thượng lưu của các gia đình có nền tảng đàng hoàng.

2.

Cuộc tranh giành địa vị ở Mỹ không phải cái gì đó chỉ diễn ra ở một thời gian nào đó và rồi lắng xuống. Cố gắng của người giàu cũ để duy trì sự nổi tiếng riêng bởi dòng dõi là một cố gắng liên tục, luôn thất bại và luôn thành công. Thất bại vì trong mỗi thế hệ luôn có thêm những người mới; thành công vì tầng lớp thượng lưu xã hội luôn khơi ngòi cuộc chiến. Một tầng lớp thượng lưu ổn định với thành viên thực sự cố định không hề tồn tại, nhưng một tầng lớp thượng lưu xã hội thì tồn tại. Thay đổi trong thành viên của một tầng lớp, dù nhanh đến thế nào, cũng không phá hủy tầng lớp đó. Không phải các cá nhân hoặc các gia đình giống nhau, mà là những người giống nhau đã chiếm ưu thế trong đó.

Có rất nhiều cố gắng để xác định loại người này bằng cách khoanh vùng theo kiểu ít nhiều chính thức. Thậm chí trước Nội chiến, khi tài sản mới không nhiều như sau này, các nữ chủ nhân lo ngại phải đối mặt với những quyết định xã hội nên dường như đã cần đến người phân xử xã hội nào đó. Đối với hai thế hệ trước năm 1850, Xã hội Thượng lưu New York phụ thuộc vào sự phục vụ của một Isaac Brown nào đó, người trông coi nhà thờ của Tin Lành Ân điển mà Dixon Wecter cho biết là có một “trí nhớ khá chính xác về tên tuổi, gốc gác và lời đồn đại”. Ông ta rất sẵn sàng kể với các nữ chủ nhân về việc ai đang có tang, ai phá sản, ai có bạn tới thăm, ai là người mới dọn đến trong thị trấn và trong xã hội. Ông ta thường đứng án ngữ cửa trong các buổi tiệc tùng, và một số người quan sát còn nói ông ta “có danh sách ‘đám trai giỏi khiêu vũ’ để giới thiệu với các nữ chủ tiệc mới dọn đến”.8

Của cải dồi dào của thời kỳ sau Nội chiến đòi hỏi phải có một cách thức quyết định rõ ràng hơn về người được chọn, và Ward McAllister đã có thời tự cho mình là người chọn. Để “xã hội có thể có được sự vững chắc cần cho việc chống lại việc xâm nhập của giới đầu cơ chớp nhoáng nhất”, McAllister muốn tiến hành việc pha trộn cần thiết giữa các gia đình cũ có địa vị nhưng không hợp thời với “‘đám bảnh bao’ phải giao đãi và khôn khéo để có thể có được thứ họ muốn”. Nghe nói ông “thực hiện nhiệm vụ rất nghiêm túc, dành cả ngày và đêm nghiên cứu về gia huy, sách vở về nghi thức triều đình, phả hệ, và nghệ thuật nấu ăn…” Mùa đông năm 1872–1873, ông tổ chức Hội Trưởng tộc, “một ủy ban gồm 25 quý ông ‘có quyền thành lập và lãnh đạo Xã hội Thượng lưu’ bằng cách mỗi buổi khiêu vũ mời bốn quý bà và năm quý ông theo trách nhiệm cá nhân của họ mà như McAllister nhấn mạnh là một sự tin cậy thiêng liêng”. Các trưởng tộc đầu tiên là những người New York thuộc gia đình lâu đời ít nhất bốn thế hệ, điều mà theo tính cách hào sảng kiểu Mỹ của mình, McAllister nghĩ sẽ làm nên “một quý ông 40 tuổi chân chính và tài giỏi”.9

Trong những năm 1880, McAllister đã đưa ra các bình luận với báo giới rằng thực sự “chỉ có khoảng 400 người thuộc Xã hội Thượng lưu New York. Ngoài số người đó, quý vị sẽ thấy những người hoặc không thoải mái trong phòng khiêu vũ hoặc làm cho người khác không thoải mái”.10 Năm 1892, khi mà cả sự độc quyền của Hội Trưởng tộc lẫn sự nổi tiếng của Ward McAllister đều bắt đầu suy giảm nghiêm trọng, ông đã công bố danh sách “400” mà trên thực tế chỉ có khoảng 300 cái tên. Đơn giản là điểm danh những người tới dự các buổi khiêu vũ của Hội Trưởng tộc, tầng lớp cốt lõi của các gia đình New York trước Nội chiến, được tô điểm bằng những cô con gái và những cậu con trai thích khiêu vũ, và một ít người được chọn thuộc tầng lớp giàu mới nổi mà McAllister thấy phù hợp để chấp nhận. Trong danh sách 90 người giàu nhất ngày đó, chỉ chín người có tên trong danh sách của ông.11

Sự chú ý dành cho danh sách “tầng lớp thị dân 400” mà McAllister đưa ra và việc ông rút chân khỏi xã hội thượng lưu sau đó phản ánh tình trạng bấp bênh của các tầng lớp thượng lưu cũ mà ông từng cố gắng củng cố. Không chỉ ở New York mà ở cả các thành phố khác, người ta nỗ lực đủ kiểu để bảo tồn “vệ binh cũ” trước sự gia nhập xã hội của tầng lớp giàu có mới. Sự ra đi của McAllister tượng trưng cho thất bại của mọi cố gắng này. Điều hợp lý duy nhất có thể làm được là chấp nhận tầng lớp giàu mới, hoặc ít nhất là các thành viên chọn lọc của nó. Ấy chính là ý nghĩa của Sổ Đăng ký Xã hội – nỗ lực thành công nhất.

Trong thời hoàng kim của những năm 1880, một người đàn ông độc thân ở New York được thừa hưởng “một khoản thu nhập nhỏ suốt đời và một địa vị xã hội chắc chắn mà kín đáo” đã quyết định công bố “một danh sách Những người Giỏi nhất dù không chen quảng cáo vào một cách khéo léo vẫn thu hút giới thương gia tìm mua”.12 Kết hợp đúng đắn tầng lớp [thượng lưu] cũ và mới, cùng sự hỗ trợ nhiệt tình của bạn bè ở các câu lạc bộ New York như Calumet và Union, Sổ Đăng ký Xã hội đã thành công lập tức. Sổ Đăng ký Xã hội đầu tiên của New York liệt kê khoảng 881 gia đình; theo đó, các danh sách tương ứng với các thành phố khác cũng được ra đời, và việc cộng tác biên soạn và xuất bản những danh sách đó dẫn đến sự thành lập Hiệp hội Đăng ký Xã hội. Trong những năm 1920, người ta phát hành ấn phẩm này cho 21 thành phố, nhưng sau này phải dừng chín ấn bản “vì thiếu sự quan tâm”. Tới năm 1928, có 12 tập được in vào mùa thu mỗi năm, từ đó về sau còn có Sổ Đăng ký Xã hội cho New York và Boston (từ năm 1890), Philadelphia (1890), Baltimore (1892), Chicago (1893), Washington (1900), St. Louis (1903), Buffalo (1903), Pittsburg (1904), San Francisco (1906), Cleveland (1910), và Cincinnati (1910).13

Ấn phẩm này liệt kê những người “có chọn lọc về mặt xã hội” cùng địa chỉ, con cái, trường học, số điện thoại và câu lạc bộ [mà họ tham gia]. Danh sách được bổ sung vào tháng 12 và tháng 1, còn một số mùa hè được xuất bản vào mỗi tháng 6. Hiệp hội khuyên người đọc mua một phụ lục có đầy đủ những cái tên được ghi trong tất cả ấn phẩm, một việc hữu ích khi có nhiều cuộc liên hôn giữa các gia đình từ các thành phố khác nhau, cũng như thay đổi địa chỉ từ thành phố này sang thành phố khác.

Sổ Đăng ký Xã hội mô tả những người đủ điều kiện lọt vào danh sách là “những gia đình do dòng dõi hoặc địa vị xã hội hoặc các tiêu chuẩn khác vốn thuộc xã hội tốt nhất của bất kỳ thành phố hoặc các thành phố nào”. Tuy nhiên, như Wecter khẳng định, tiêu chuẩn chính xác để đưa vào là khó phân biệt, có lẽ vì “một sự không thiên vị, khách quan và bầu không khí điều tra bí ẩn bao quanh Sổ Đăng ký Xã hội. Sự ẩn danh là điều quan trọng đối với thành công và uy tín liên tục của nó”.14 Ngày nay, Hiệp hội Đăng ký Xã hội có trụ sở tại New York, hình như do một người tên là Bertha Eastmond, thư ký từ những ngày đầu của người thành lập Hiệp hội, điều hành. Eastmond cân nhắc mọi cái tên, một số được thêm vào, một số bị từ chối vì không phù hợp, một số sẽ được xem xét trong tương lai. Trong việc này, Eastmond có thể dựa vào tư vấn của một số cố vấn xã hội, và ở mỗi thành phố có Sổ Đăng ký Xã hội đều có một đại diện cá nhân để theo dõi tên tuổi, địa chỉ và số điện thoại cập nhật.

Những ai sẽ nằm trong khoảng 38.000 đơn vị gia đình vợ chồng hiện có tên trong danh sách,15 và tại sao họ nằm trong đó? Bất kỳ ai sống ở một thành phố bất kỳ nào trong 12 thành phố được chọn đều có thể xin tham gia, nhưng phải có sự giới thiệu của một vài gia đình đã có tên trong danh sách cũng như phải là thành viên của các câu lạc bộ. Nếu chỉ có tiền, hoặc dòng dõi gia đình, hoặc kể cả hai, xem ra chưa đảm bảo được chấp nhận ngay hay để lại xem xét sau. Những người thuộc gia đình dòng dõi lâu đời đôi khi vẫn bị gạt ra một cách khá độc đoán; thế hệ thứ hai của tầng lớp giàu mới dù cố gắng xin vào thường không thành công. Tuy nhiên, để nói rằng dòng dõi và của cải là chưa đủ không có nghĩa là những thứ này, cùng với sự ứng xử phù hợp, là không cần thiết.

Các giám đốc điều hành công ty tương đối thành công, một khi họ đã quyết, thì đều được lọt vào Sổ Đăng ký Xã hội, nhưng không nên quá nhấn mạnh vào điều này. Đặc biệt, nó phải được làm rõ về mặt lịch sử: khoảng thời gian từ năm 1890 tới năm 1920 là giai đoạn ghi nhận nhiều người tham gia nhất. Trên thực tế, từ những năm 1910, tỉ lệ chấp nhận các gia đình mới vào danh sách – ít ra ở một thành phố chính là Philadelphia – đã liên tục giảm: trong thập niên 1910, tỉ lệ tăng 68%, đến những năm 1930, tỉ lệ này giảm xuống còn 6%.16

Những ai không vào được Sổ Đăng ký Xã hội thường nổi tiếng tới mức người ta nói nhiều về việc họ bị gạt bỏ; tính chất “độc đoán” của ấn phẩm này bấy giờ được dùng để chế giễu ý nghĩa xã hội của nó. Dixon Wecter đã kết luận: “Việc công khai là không thuận lợi xem ra gần giống như lý do để có thể xua đuổi, nhưng việc này lại được áp dụng bằng trực giác hơn là logic… Thật an toàn để nói ai đó tránh khỏi các cột [báo] – cho dù đời tư của anh ta có thể là thế nào đi nữa, hoặc mấy lời đồn thổi lén lút có thể lan truyền – cũng sẽ không bị ô danh vì bị loại khỏi Sổ Đăng ký Xã hội”.17

Với việc lựa chọn và gạt bỏ có vẻ độc đoán, cùng với tất cả sự màu mè và nỗi thống khổ bao phủ mà thậm chí là đặc trưng cho nó, Sổ Đăng ký Xã hội là một danh sách nghiêm túc mang một ý nghĩa nào đó. Đây là một cố gắng, rất nỗ lực trong mọi hoàn cảnh, chỉ mở ra cho các tầng lớp thực sự phù hợp chứ không đơn thuần cho tầng lớp mới giàu và mới nổi tiếng, để xác nhận và củng cố tầng lớp giàu phù hợp, giữ cho tầng lớp được chọn luôn phù hợp và do đó có thể xứng đáng với việc được chọn. Hơn hết, nó là danh sách duy nhất về những gia đình có gốc gác mà người Mỹ có, và nó là thứ ở gần trung tâm địa vị chính thức nhất mà đất nước này, vốn không có quá khứ quý tộc, không có xã hội phong kiến, không có thành phố thủ đô thực sự, có được. Trong bất kỳ trường hợp của cá nhân nào, việc được chấp nhận có thể không dự đoán được hoặc thậm chí còn độc đoán, nhưng với tư cách một nhóm, những người trong Sổ Đăng ký Xã hội đã được chọn vì tiền bạc, gia đình, và lối sống của họ. Vì thế, những cái tên trong 12 tập đầy ma lực này đại diện cho một kiểu người nhất định.

3.

Trong mỗi khu vực thành phố được chọn của đất nước, có một tầng lớp thượng lưu mà thành viên của nó sinh ra trong các gia đình đã được đăng ký từ khi Sổ Đăng ký Xã hội bắt đầu. Tầng lớp xã hội đã được đăng ký này, cũng như các tầng lớp mới đăng ký hoặc không đăng ký ở các thành phố lớn khác, gồm những nhóm gia đình cổ xưa mà hai hoặc ba hoặc bốn thế hệ đã nổi tiếng và giàu có. Họ khác biệt với phần còn lại của cộng đồng do tính chất về nguồn gốc, diện mạo, và lối ứng xử.

Họ sống trong một hoặc nhiều khu vực dành riêng và đắt tiền, trong những ngôi nhà cổ đẹp đẽ mà nhiều người trong họ được sinh ra, hoặc trong những ngôi nhà hiện đại đơn giản nhưng trau chuốt mà họ xây nên. Trong những ngôi nhà này, cũ hoặc mới, có nội thất phù hợp và trang thiết bị đáng mơ ước. Trang phục của họ, ngay cả khi rõ ràng là bình thường và đã cũ thực sự, nhưng về kiểu cách không hiểu sao vẫn cứ khác biệt với trang phục của người khác. Những thứ họ mua đều khá đắt tiền không ai biết và họ sử dụng chúng một cách kín đáo. Họ thuộc về các câu lạc bộ và tổ chức mà chỉ những người như họ mới được chấp nhận, và họ rất coi trọng vẻ ngoài của mình ở các nơi này.

Họ có chung người quen và bạn bè, nhưng còn hơn thế, họ có chung kinh nghiệm về một kiểu nề nếp gia phong và được lựa chọn cẩn thận. Họ học cùng trường tư hoặc tương tự, và là loại trường dành riêng cho một nhóm nào đó, nhất là các trường nội trú của Tân giáo thuộc New England. Họ theo học Đại học Harvard, Đại học Yale, Đại học Princeton, hoặc nếu không thể vượt qua niềm tự hào địa phương thì theo học các trường danh tiếng ở địa phương mà gia đình họ có đóng góp. Và giờ thì họ thường xuyên tới các câu lạc bộ của mấy trường này, cũng như các câu lạc bộ hàng đầu trong thành phố của riêng họ, và cũng hay tới một hoặc hai câu lạc bộ ở những trung tâm thành phố lớn khác.

Tên của họ không có trên các cột tin tầm phào, tán gẫu, hoặc kể cả trong các cột tin xã hội của báo chí địa phương; nhiều người trong họ – người Boston thực sự và San Francisco thực sự, sẽ hết sức bối rối ở vùng đất của riêng mình nếu tên tuổi được dùng một cách vô ích – quảng bá rẻ tiền và bê bối kiểu hội hè chỉ dành cho những gia đình mới hơn với lối sống ồn ào và lòe loẹt, chứ không phải cho tầng lớp xã hội cũ. Vì những người có địa vị cao thì “tự hào”, còn những người chưa có địa vị chỉ là tự kiêu. Những người tự hào này thực sự không quan tâm tới những gì người khác thấp hơn nghĩ về họ; những kẻ tự kiêu phụ thuộc vào lời phỉnh nịnh và dễ dàng bị nó đánh lừa, vì họ không nhận thấy ý kiến của mình phụ thuộc vào người khác.i

i. Từ ngữ trong The Theory of the Leisure Class (Thuyết về tầng lớp nhàn rỗi, xuất bản năm 1899) của Thorstein Veblen, một tác phẩm – may mắn thay – vẫn còn độc giả, không phải vì sự chỉ trích của ông về tầng lớp thượng lưu Mỹ còn phù hợp, mà vì văn phong khiến nó đáng tin cậy, ngay cả khi sự chỉ trích này không được xem xét nghiêm túc. Những gì ông viết vẫn đúng sự thật, cho dù thực tế ông đưa ra không lột tả hết được các cảnh tượng và nhân vật đã xuất hiện trong thời đại chúng ta. Nó vẫn đúng vì chúng ta không thể thấy hết các đặc điểm mới hơn của thời đại chúng ta nếu ông không viết ra những gì như đã viết. Đó là ý nghĩa của việc chính những thành kiến của ông lại đơm hoa kết trái nhất khi xuất hiện trong văn chương về phản kháng xã hội ở Mỹ. Nhưng mọi nhà chỉ trích rồi sẽ chết; và luận thuyết của Veblen nói chung không còn là một mô tả thích hợp về hệ thống tuy tín của Mỹ.

Thuyết về tầng lớp nhàn rỗi không phải là thuyết về tầng lớp nhàn rỗi. Nó là thuyết về một yếu tố đặc biệt của tầng lớp thượng lưu trong một giai đoạn lịch sử đất nước. Nó mô tả cuộc tranh giành địa vị giữa nhóm người giàu có cũ và mới, đặc biệt, nghiên cứu về những kẻ giàu xổi, hiển hiện rất rõ vào lúc quốc gia hình thành thời Veblen, về Mỹ của nửa sau thế kỷ XIX, về các nhà Vanderbilt, Gould và Harriman, về Saratoga Springs và Newport, về những thứ xa hoa và quý giá.

Nó là một phân tích về tầng lớp thượng lưu đang thăng tiến xã hội bằng cách biến tiền bạc của mình thành các biểu tượng địa vị, nhưng lại làm việc đó trong bối cảnh các biểu tượng này còn mờ nhạt. Hơn nữa, khán giả vở kịch của Veblen không phải khán giả truyền thống, dàn diễn viên cũng không đặt hẳn trong một cấu trúc xã hội thừa kế như thời phong kiến. Vì thế, các khuôn mẫu tiêu dùng là phương tiện duy nhất cạnh tranh về danh vị. Veblen không phân tích những xã hội có tầng lớp quý tộc cũ hoặc một xã hội phong kiến nơi các quan trong triều có lối sống thành công.

Khi khắc họa lối sống Mỹ cao hơn, Veblen – giống như các nhân vật mà ông xây dựng – có vẻ nhầm lẫn giữa đặc điểm của tầng lớp quý tộc và tư sản. Ở một vài chỗ, ông viết rõ thế này: “Đặc điểm của tầng lớp quý tộc và tư sản – có thể nói đó là tính phá hoại và tiền bạc mà chủ yếu được tìm thấy ở tầng lớp thượng lưu…”18 Người ta chỉ cần xem xét thị hiếu của các doanh nhân nhỏ là biết điều này chắc chắn không đúng.

“Tiêu dùng phô trương”, như Veblen đã biết, không giới hạn trong tầng lớp thượng lưu. Nhưng hôm nay tôi phải nói rằng nó là một yếu tố đặc biệt thịnh hành trong tầng lớp thượng lưu mới – tầng lớp giàu mới với những đặc quyền công ty mới – họ có tài khoản để tiêu xài, và được hưởng những đặc quyền công ty khác – thậm chí còn có ảnh hưởng đáng buồn hơn về chuẩn mực và lối sống của những người nổi tiếng chuyên nghiệp trên sân khấu và phim ảnh, đài phát thanh và truyền hình. Và tất nhiên, thịnh hành trong các nhóm mới nổi của những kẻ giàu xổi lỗi thời mà điển hình là “các triệu phú Texas”. Giữa thế kỷ XX, giống như cuối thế kỷ XIX mà Veblen nhận xét, đã có những việc khó tin: “Ca sĩ giọng nam cao Mario Lanza sở hữu một chiếc Cardillac màu trắng ngoại cỡ được đặt làm với bảng đồng hồ mạ vàng… Chủ nhà hàng Mike Romanoff chuyển phát nhanh bằng máy bay những chiếc sơ mi tơ tằm và lụa mộc của mình tới tiệm giặt là Suka ở Mahattan để giặt cho đúng cách… Trùm xây dựng Hal Hayes… cho lắp một quầy ba trong chiếc Cardillac của mình cộng với những vòi rượu Scotch, uytxki ngô, sâm banh và bia tại nhà mình…”19 Nhưng ở các xã hội địa phương đã được xác lập, những người thuộc thế hệ thứ tư và thứ năm lặng lẽ tiêu xài và lặng lẽ vung tiền; trên thực tế, họ thường chủ ý kín đáo trong tiêu dùng: với những ngôi nhà nơi trang trại và nhà nghỉ mùa hè đầy khiêm nhường, họ thường sống khá đơn giản, và dĩ nhiên không phô trương vẻ giàu sang một cách kệch cỡm.

Từ ngữ trong luận thuyết của Veblen chưa đủ để mô tả tầng lớp thượng lưu đã được xác lập hiện nay. Hơn nữa – như chúng ta sẽ thấy ở Chương 4, tác phẩm của Veblen, với tư cách một luận thuyết về hệ thống địa vị Mỹ, không nói được đầy đủ về sự xuất hiện của giới tinh hoa trong thiết chế hay về thế giới những người nổi tiếng. Tất nhiên, không thể chờ đợi vào những năm 1890 ông đã có thể hiểu được ý nghĩa của một hệ thống địa vị tầm quốc gia thực sự của “những người nổi tiếng chuyên nghiệp”, nổi lên như một phần của truyền thông đại chúng và giải trí tầm quốc gia, hay thấy trước sự phát triển của sức quyến rũ tầm quốc gia, trong đó cô diễn viên non trẻ được thay bằng minh tinh màn bạc, và quý bà của xã hội địa phương được thay bằng những nhà quản lý quân sự, chính trị, và kinh tế – “giới tinh hoa quyền lực” – mà hiện nay nhiều người trong họ nổi tiếng như những vị thủ lĩnh xứng đáng.

Trong và giữa những nhóm khác mà họ hợp thành, thành viên của các gia đình đầy tự hào này có quan hệ bạn bè gần gũi và rất trung thành. Họ được phục vụ tại các bữa tối và dự các buổi khiêu vũ của nhau. Họ tới dự lễ cưới sang trọng không ồn ào, dự tang lễ trong trang phục sẫm màu, những bữa tiệc ra mắt vui tươi với vẻ nghiêm túc và điềm tĩnh. Sự xuất hiện ngoài xã hội có lẽ được họ thích nhất thường là phi chính thức, mặc dù giữa họ với nhau có quy tắc về ăn mặc và ứng xử, cảm giác về điều gì là đúng và điều gì không được làm, chi phối những gì phi chính thức và tự nhiên cũng như chính thức.

Ý thức phục vụ dân sự của họ dường như không mang hình thức chính trị trực tiếp, nhưng khiến họ vui vẻ đứng đầu các thiết chế từ thiện, giáo dục, và văn hóa của thành phố mình. Tài sản của họ nhiều – có lẽ trung bình vài triệu đô-la – nên thường thì họ không phải tiêu vào vốn; nếu họ không muốn làm việc, có lẽ họ không phải làm. Nhưng họ – đặc biệt là những người nhiều tuổi hơn đáng kể – nói chung vẫn làm việc và đôi khi rất cần mẫn. Họ tạo thành giới quý tộc kinh doanh của thành phố mình, đặc biệt là giới quý tộc tài chính và pháp lý. Một quý ông thực sự – ở các thành phố phía đông và ngày càng lan rộng cả nước – thường là chủ ngân hàng hoặc luật sư, điều ấy thuận tiện cho giới hữu sản cần có những người tin cậy, khôn ngoan, và tỉnh táo để duy trì sự toàn vẹn của nó. Họ là những giám đốc và chủ tịch của các ngân hàng lớn, là những đối tác và nhà tư vấn đầu tư cao cấp của các hãng luật hàng đầu nơi thành phố mình.

Hầu như mọi nơi ở Mỹ, tầng lớp thượng lưu của thành phố lớn ít nhiều đều có điểm chung về chủng tộc, tôn giáo, và gốc gác. Kể cả nếu họ không thuộc những dòng họ lâu đời, thì cũng là người gốc Mỹ lâu hơn dân cư bên dưới. Tất nhiên có các ngoại lệ, một số trong đó là ngoại lệ quan trọng. Ở nhiều thành phố khác, các gia đình Ý, Do Thái và Công giáo Ireland – trở nên giàu có và hùng mạnh – đã leo cao về địa vị. Nhưng dù quan trọng thế nào, vẫn có các ngoại lệ: hình mẫu của tầng lớp thượng lưu xã hội vẫn “thuần khiết” về chủng tộc, về nhóm sắc tộc, và về nguồn gốc dân tộc. Ở mỗi thành phố, họ có xu hướng là người Tin Lành, và hơn thế, thuộc các nhánh giáo hội đẳng cấp, chủ yếu là Tân giáo hoặc Nhất thể hoặc Trưởng lão.

Ở nhiều thành phố – New York chẳng hạn – có tới vài chứ không phải một, tầng lớp thị dân 400. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là tầng lớp thượng lưu ở thành phố lớn không tồn tại, mà là ở những thành phố như vậy, cấu trúc địa vị phức tạp hơn ở những thành phố với nhiều hội đoàn thống nhất hơn. Việc có những hiềm khích xã hội giữa các trung tâm địa vị cạnh tranh nhau không làm phương hại tới hệ thống địa vị.

Gia đình có địa vị cao hơn có thể thuộc một câu lạc bộ địa phương riêng biệt, nơi diễn ra các hoạt động thể thao và sự kiện xã hội, nhưng kiểu cách này không có tầm quan trọng quyết định với gia đình thượng lưu, vì “câu lạc bộ địa phương” trải rộng tới giới trung lưu và thậm chí tới cả các tầng lớp trung lưu thấp hơn. Ở các thành phố nhỏ hơn, là thành viên trong câu lạc bộ địa phương tốt nhất thường là chỉ dấu có ý nghĩa quan trọng về mặt tổ chức của các nhóm thượng lưu, nhưng nó lại không phải vậy ở thị trường địa vị nơi thành phố lớn. Câu lạc bộ của các quý ông, một tổ chức dành riêng cho nam giới, mới là quan trọng nhất về mặt xã hội.

Các quý ông thuộc câu lạc bộ dành cho nam giới ở thành phố lớn, và đàn ông tầng lớp thượng lưu thường gia nhập các câu lạc bộ như thế ở nhiều hơn một thành phố; những nơi dành cho cả nam lẫn nữ, chẳng hạn các câu lạc bộ thể thao ở vùng nông thôn, thường mang tính địa phương. Trong số câu lạc bộ ngoại ô mà hội viên là đám đàn ông thượng lưu lớn tuổi có cả câu lạc bộ của Đại học Harvard, Đại học Princeton và Đại học Yale, nhưng các câu lạc bộ thành thị không bị giới hạn ở mấy trường danh tiếng. Không lạ khi các quý ông thuộc về ba, bốn câu lạc bộ hoặc thậm chí nhiều hơn. Những câu lạc bộ này ở các thành phố thực sự mang tính dành riêng theo nghĩa tầng lớp trung lưu và thấp hơn nói chung không biết tới chúng mấy. Chúng ở trên những vũ đài nổi tiếng nơi địa vị của tầng lớp thượng lưu được thừa nhận rộng rãi hơn. Chúng là của, do và vì tầng lớp thượng lưu, chứ không phải tầng lớp nào khác. Nhưng chúng thường được tầng lớp thượng lưu của nhiều thành phố biết và đến thăm.i

i. Cho đến năm 1933, vẫn còn khoảng 50 người New York duy trì việc đóng phí đầy đủ ở Câu lạc bộ Somerset của Boston.20

Với người ngoài cuộc, câu lạc bộ mà hội viên thuộc tầng lớp thượng lưu là một dấu hiệu xác nhận địa vị của anh ta; đối với người trong cuộc, câu lạc bộ có các nhóm dành riêng gần gũi hơn hoặc giống kiểu bang hội sẽ xác định chỗ đứng và đặc trưng của anh ta. Thành viên nòng cốt thường là các gia đình có được địa vị do gốc gác. Từ mối liên kết gần gũi với những người như vậy, các hội viên mới bèn vay mượn địa vị, đổi lại, thành tựu của những hội viên mới hơn này sẽ giúp nâng cao uy tín của câu lạc bộ như một sự quan tâm liên tục.

Thành viên của các câu lạc bộ thích hợp có ý nghĩa xã hội rất quan trọng khi chỉ người giàu mới chen chúc và xô đẩy ở ranh giới xã hội, vì lúc đó đường phân tuyến có xu hướng trở nên mờ nhạt, và thành viên câu lạc bộ có tính xác định riêng biệt khá rõ ràng. Thế nhưng các câu lạc bộ thành phố lớn là các nấc quan trọng trên chiếc thang xã hội đối với những thành viên tương lai của thứ bậc địa vị cao nhất: chúng là chiếc thang địa vị cho tầng lớp mới bước vào tầng lớp thượng lưu cũ; vì đàn ông và con trai họ có thể dần leo cao từ câu lạc bộ này sang câu lạc bộ khác, và thế là nếu thành công, sẽ bước hẳn vào trong pháo đài của tầng lớp độc quyền nhất. Chúng cũng quan trọng với đời sống công việc trong và giữa các tầng lớp thành phố lớn: với nhiều người thuộc các tầng lớp này, nó có lẽ tiện lợi và dẫu sao cũng thích hợp để đi tới những quyết định quan trọng trong câu lạc bộ dành riêng. Như một tạp chí quốc gia dành cho giám đốc điều hành đã viết: “Câu lạc bộ dành riêng” đang trở thành “lâu đài của các doanh nhân”.21

Vì tầng lớp giàu có nắm quyền kiểm soát các thiết chế tài chính và luật pháp chủ yếu của mỗi địa phương, nên tầng lớp thượng lưu thành phố lớn phải có quan hệ làm ăn và pháp lý với nhau, bởi kinh tế của thành phố, đặc biệt ở khu vực thành phố lớn, không chỉ giới hạn trong thành phố. Trong chừng mực nền kinh tế mang tính quốc gia, tập trung ở các thành phố lớn, và khi tầng lớp thượng lưu kiểm soát các vị trí chủ chốt có quyền ra quyết định ở thành phố lớn, thì tầng lớp thượng lưu của mỗi thành phố đều có quan hệ với tầng lớp thượng lưu ở các thành phố khác. Trong cái tĩnh lặng đa sắc thái phần nào buồn tẻ của một câu lạc bộ ở Boston, hay trong khung cảnh ấm cúng và sôi động của một câu lạc bộ ở Houston, trở thành hội viên tức là được thừa nhận. Nó cũng là mối quan hệ dễ dàng, phi chính thức với những người được thừa nhận về mặt xã hội, và vì thế ở vị trí tốt hơn khi ký hợp đồng trên bàn ăn trưa. Câu lạc bộ quý ông lập tức trở thành một trung tâm quan trọng của mạng lưới có tính quyết định về tài chính và kinh doanh, và là một trung tâm chủ yếu để xác nhận họ phù hợp về mặt xã hội. Ở đó mọi đặc tính tạo nên tầng lớp thượng lưu cũ dường như đều trùng khớp: gia đình lâu đời, hôn nhân môn đăng hộ đối, cư ngụ đúng nơi, đi lễ đúng nhà thờ, học đúng trường, và có quyền quyết định quan trọng. “Những người đứng đầu” ở mỗi thành phố đều thuộc các câu lạc bộ như vậy, và khi những người đứng đầu các thành phố khác tới thăm, rất có khả năng thấy họ cùng ăn trưa ở Somerset hoặc Union của Boston, Racquet hoặc Philadelphia của Philadelphia, Pacific Union của San Francisco, Knickerbocker, Links, Brook hoặc Racquet & Tennis của New York.22

4.

Lối sống của tầng lớp thượng lưu khá giống nhau ở mỗi thành phố lớn của đất nước – dù có sự đa dạng vùng miền. Nhà cửa và trang phục, các kiểu sự kiện xã hội mà tầng lớp thị dân 400 quan tâm có xu hướng đồng nhất. Sơ mi và bộ vét Brooks Brothers dù không được quảng cáo rộng rãi trên toàn quốc, và ngoài cửa hàng chính ở thành phố New York chỉ có bốn chi nhánh, nhãn hiệu này nổi tiếng ở mọi thành phố lớn trên nước Mỹ, và không có “người đại diện” cho Brooks Brothers ở bất kỳ đô thị quan trọng nào lại thấy mình kỳ quặc.23 Có những bộ trang phục khác đặc trưng và phổ biến với phong cách của tầng lớp thượng lưu, nhưng nói cho cùng, những người có tiền và có “gu” thời trang đều thoải mái nhất khi khoác lên mình bộ vét Brooks Brothers. Lối sống của tầng lớp thượng lưu cũ trên toàn quốc còn khó lung lay hơn thế.

Một kinh nghiệm sâu sắc giúp phân biệt tầng lớp xã hội giàu có với tầng lớp mới giàu và các tầng lớp thấp hơn là trường họ theo học, và cùng với nó là tất cả các mối quan hệ, ý thức và sự nhanh nhạy mà việc giáo dục này dẫn dắt họ trong suốt đời mình.

Ví dụ, con gái của một gia đình New York thuộc tầng lớp thượng lưu cũ thường được bảo mẫu và mẹ chăm sóc tới 4 tuổi, sau đó cô được một nữ gia sư thường là nói tiếng Pháp cũng như tiếng Anh dạy dỗ. Khi được 6 hay 7 tuổi, cô đến trường tư ban ngày, có lẽ là trường Miss Chapin hoặc Brearley. Cô thường được lái xe riêng của gia đình đưa đi đón về, và buổi chiều sau khi đến trường lại được kèm cặp bởi nữ gia sư, người mà giờ đây dành gần hết thời gian của mình với lũ trẻ ít tuổi hơn. Khi 14 tuổi, cô theo học tại trường nội trú, có lẽ là trường St. Timothy ở Maryland hoặc Miss Porter hoặc Westover ở Connecticut. Rồi cô có thể theo học trường trung học Finch của thành phố New York và thế là “xong”, hoặc nếu cô muốn vào một trường đại học phù hợp, cô sẽ được nhận, cùng nhiều cô gái tầng lớp trung lưu giản dị khác, vào trường Bryn Mawr hoặc Vassar hoặc Wellesley hoặc Smith hoặc Bennington. Sau khi tốt nghiệp phổ thông hoặc đại học, cô sẽ sớm lấy chồng và có thể bắt đầu nuôi dạy con cái theo đúng quy trình giáo dục ấy.i

i. “Con gái của nhà lãnh đạo ngành công nghiệp, của chuyên gia lớn phải phát triển trong một nền văn minh phức tạp vốn không quá thiên về công dung ngôn hạnh của phụ nữ: ngoan hiền và khiêm tốn, đoan trang và thánh thiện. Nhưng người cha ấy, theo tập tục của đẳng cấp mình, thì phải đưa con gái tới một trong nhóm những thiết chế mà quy tắc của nó dựa trên các nền tảng này. Có điều lạ là trong số hơn 1.200 trường tư dành cho nữ ở nước này, chỉ có trên mười trường thực sự coi trọng các nền tảng đó… vì thế sự phù du ấy là những thứ để trường nọ làm nên sự khác biệt với trường kia.”24

Con trai của gia đình này, khi chưa đầy 7 tuổi, sẽ theo một khuôn mẫu tương tự. Rồi cậu cũng sẽ học tại trường ban ngày, và vào trường nội trú sớm hơn các bạn nữ vài năm, mặc dù đối với cậu thì nó được gọi là trường dự bị: trường St. Mark hoặc St. Paul, Choate hoặc Groton, Andover hoặc Lawrenceville, Phillips Exeter hoặc Hotchkiss.25 Sau đó cậu sẽ theo học Princeton, Harvard, Yale hoặc Dartmouth. Biết đâu cậu sẽ tốt nghiệp ngành Luật thuộc một trong những trường này.

Mỗi giai đoạn giáo dục này đều quan trọng với việc tạo nên người đàn ông hoặc đàn bà tầng lớp thượng lưu; nó là một quy trình giáo dục phổ biến với tầng lớp thượng lưu ở tất cả các thành phố hàng đầu đất nước. Trên thực tế, có một xu hướng rất mạnh là cho con cái từ tất cả các thành phố này tới học ở một trong những trường nội trú hoặc dự bị thời thượng hơn ở New England, ở đó có thể dễ dàng tìm thấy học sinh từ trên dưới 20 bang cũng như từ các nước khác. Vì đòi hỏi địa vị dựa trên dòng dõi gia đình ngày càng trở nên khó chấp nhận, nên các trường phù hợp bèn bỏ qua tầm quan trọng xã hội của dòng dõi gia đình. Theo đó, nếu người ta phải chọn một chứng cứ cho sự thống nhất quốc gia của tầng lớp thượng lưu xã hội ở Mỹ ngày nay, thì trường nội trú dành riêng cho nữ và trường dự bị dành riêng cho nam sẽ là rõ nhất.

Nhiều nhà giáo dục của thế giới trường tư nhận thấy rằng sự biến chuyển của kinh tế đã đưa những người mà con cái họ vốn không có nền tảng gia đình và phong cách sống lên vị trí cao nhất, và rằng trường tư là một thiết chế hàng đầu trong việc chuẩn bị để chúng sống trên đỉnh đất nước theo cái cách phù hợp với người ở tầng lớp thượng lưu. Và dù các vị hiệu trưởng có biết hay không, thì thực tế dường như giống thang bậc ở các câu lạc bộ đối với người cha – nhưng theo những cách quan trọng và sâu sắc hơn – các trường tư thực hiện nhiệm vụ chọn lọc và đào tạo các thành viên mới của tầng lớp thượng lưu đất nước, cũng như nâng các tiêu chuẩn lên cao hơn cho con cái của các gia đình từ lâu đã ở tầng cao nhất. Chính nhờ “thế hệ kế tiếp” ở các trường tư mà căng thẳng giữa các tầng lớp thượng lưu cũ và mới đã dịu đi và thậm chí được giải tỏa. Và chính nhờ cái cách của các trường tư này, chứ không phải bất kỳ cơ quan nào khác, mà các gia đình cũ hơn và mới hơn sẽ đến lúc trở thành thành viên của tầng lớp thượng lưu tự ý thức.

Là nơi lựa chọn và đào tạo tầng lớp thượng lưu, cả cũ lẫn mới, trường tư là một ảnh hưởng thống nhất, một thế lực đối với việc dân tộc hóa tầng lớp thượng lưu. Khi dòng dõi gia đình trở nên ít quan trọng trong việc chuyển giao cẩn thận những đặc tính tinh thần và văn hóa, thì trường tư lại càng quan trọng. Trường học – chứ không phải gia đình ở tầng lớp thượng lưu – là cơ quan quan trọng nhất chuyển giao truyền thống của tầng lớp thượng lưu, và điều tiết việc nhận những người giàu có mới và tài năng vào học. Đó là điểm đặc trưng trong kinh nghiệm của tầng lớp thượng lưu. Trong số 15 hoặc 20 trường học tốt nhất như vậy, ở đâu đó, người ta tìm thấy một trung tâm tổ chức chính của tầng lớp thượng lưu xã hội cấp quốc gia. Vì ở các trường tư dành cho vị thành niên này, nhiệm vụ tôn giáo, gia đình, và giáo dục của tầng lớp thượng lưu xã hội gắn chặt với nhau, và trong đó nhiệm vụ chính là nâng cao tiêu chuẩn như thế hiện chiếm ưu thế đã trở thành trung tâm.i

i. “Điều dễ thấy là các trường dành cho nam này”, biên tập viên của tờ Fortune viết, “đã nói quá về con số theo học ở trường. Tại Mỹ hiện nay (năm 1944), trong số bảy triệu nam và nữ sinh trung học phổ thông có 460.000 ở các trường tư. Trong đấy, hơn 360.000 người ở các trường Công giáo (số liệu năm 1941) và hơn 10.000 người ở các trường quân sự mà mục đích của chúng là khá rõ. Số còn lại ở các trường nữ sinh mà nhiệm vụ của chúng cũng được xác định tương đối rõ, khoảng trên 30.000. Chừng 40.000 ở các trường dạy chung nam nữ, chủ yếu là các trường ban ngày. Khoảng 20.000 ở các trường nam sinh, nhóm trường này đặc biệt muốn được tự đánh giá.”26

Đây là những trường tự trang trải và tự chủ về chính sách, và chúng là các thiết chế phi lợi nhuận theo đúng nghĩa nhất. Chúng không phải là “trường của giáo hội” vì không do các cơ sở tôn giáo điều hành, nhưng chúng đòi hỏi học sinh phải tham dự các buổi lễ tôn giáo, và mặc dù không thuộc về tôn giáo, nhưng chúng vẫn thấm đượm những nguyên tắc mang cảm hứng tôn giáo. Mục đích cơ bản trong tuyên bố của các nhà sáng lập trường Groton nay vẫn còn được sử dụng là: “Mọi nỗ lực sẽ được thực hiện để nuôi dưỡng nhân cách đàn ông và Ki-tô giáo, tôn trọng sự phát triển về tinh thần và thể chất cũng như trí tuệ. Hiệu trưởng của Trường sẽ là một mục sư Tân giáo”.27

“Những điều chính yếu của một trường dự bị không nằm trong chương trình học. Nó nằm ở hơn chục chỗ khác, một số trong đó thực sự kỳ lạ: ở một nhà nguyện kiểu Gô-tích hoặc một phòng tập thể thao mới bóng lộn; ở loại nhà mà nam sinh sống tại đó, ở loại công việc chúng làm sau bữa tối; và trên tất cả là ở hiệu trưởng.”28 Có một kiểu ý tưởng ngầm để trường là cánh tay nối dài có tổ chức của gia đình, nhưng là một gia đình lớn trong đó những đứa trẻ dòng dõi từ Boston, Philadelphia, và New York cùng học lối ứng xử đúng đắn. Ý tưởng gia đình này được tăng cưởng bởi những buổi thực hành tôn giáo chung của trường theo xu hướng Tân giáo; bởi xu hướng để các gia đình tầng lớp thượng lưu gửi tất cả con trai mình đến cùng những trường mà cha, hoặc thậm chí ông của chúng đã theo học; và bởi những sự hiến tặng cũng như các hoạt động xã hội và tình cảm của các hiệp hội cựu học sinh. Chẳng hạn mục đích sâu xa của trường Choate là để chứng tỏ rằng gia đình và nhà trường có thể kết hợp một cách hiệu quả, do đó một cậu bé trong khi được hưởng những lợi ích mà nhà trường cung cấp – đặc biệt là “lãnh đạo tinh thần” và “liên kết các cậu bé có mục đích” – sẽ giữ được ảnh hưởng thân mật là đặc trưng của một mái nhà đích thực.

Cuộc sống hằng ngày ở các trường dành riêng thường hoàn toàn đơn giản, thậm chí khổ hạnh; trong không khí đơn giản kỳ dị, có một sự dân chủ về địa vị. Mọi người đều ít nhiều theo cùng một lề thói, và không có cơ hội chính thức cho việc thừa nhận những biểu hiện của thói lên mặt hoặc hợm đời.[29]

Những trường này thường không định hướng theo kết quả thực tế rõ ràng cuối cùng nào cả. Đúng là các trường nam sinh thì luôn chuẩn bị cho đại học, trong khi các trường nữ sinh lại có một chương trình học dự bị đại học, và một khóa cuối dành cho các cô gái đang tính chuyện hôn nhân sớm hơn. Nhưng thường thiếu đặc tính cạnh tranh của tầng lớp trung lưu. Có vẻ nhà trường sẽ nói là không nên so sánh việc làm và hành vi của bạn với nam sinh hay nữ sinh bên cạnh mình, mà là với điều mà bạn và thầy giáo bạn tin là tốt nhất nơi bạn. Ngoài ra, nếu bạn quá quan tâm, bạn sẽ bị để ý.

Cạnh tranh địa vị giữa các học sinh chắc chắn được giữ ở mức tối thiểu: ở những nơi được trợ cấp, số tiền thường cố định ở mức khiêm tốn, và xu hướng là không cho nam sinh tiêu tiền; việc nam sinh mặc áo in phù hiệu trường, hoặc nữ sinh mặc váy áo đồng phục, không phải để khoe tầng lớp thượng lưu của mình như người ngoài thường nghĩ, mà chỉ là một cố gắng để dẹp bỏ lối trưng diện hàng độc của nhóm riêng. Và nữ sinh, dù giàu có, thường không được phép sở hữu ngựa riêng.

Bậc đàn anh của cộng đồng trường là những học sinh lớn tuổi hơn ở lớp trên, và họ trở thành hình mẫu để học sinh ít tuổi hơn noi theo. Đối với nam sinh, khoảng 8 đến 9 tuổi sẽ có những cô bảo mẫu được lựa chọn cẩn thận; từ 12 tới 13 tuổi, chúng không được tiếp xúc với phụ nữ và toàn bộ giáo viên là nam giới, mặc dù vợ của họ thường sống với chồng trong các căn hộ gần phòng ở của nam sinh và tiếp tục có vai trò như họ hàng với chúng. Người ta cẩn thận không để việc tự nhận thức bản thân của đứa trẻ bị tổn thương, như có thể xảy ra trong trường hợp phụ huynh dao động, và cách thức bên bàn ăn cũng như ở các nơi khác đều thẩm thấu từ bầu không khí chung thay vì từ những nhân vật độc tài đáng sợ.

Rồi bạn sẽ luôn biết phải làm gì, ngay cả khi bạn đôi lúc thấy khó xử. Bạn sẽ phản ứng phù hợp khi gặp người chải chuốt quá cẩn thận, và nhất là người quá khó tính để làm vừa lòng, vì bạn biết điều đó không cần thiết nếu bạn là “kiểu người đúng đắn”. Cách ứng xử giản dị và thái độ đàng hoàng có thể sẽ xuất hiện chỉ vì con người bạn hiển nhiên là một thực tế được xác lập rõ trong thế giới của bạn, nên bạn không thể bị gạt bỏ, phớt lờ, coi thường, hay mua chuộc. Và đến ngày nào đó, với tư cách một nhà môi giới, chủ ngân hàng, giám đốc điều hành trẻ, bạn sẽ cảm thấy nhẹ nhàng và thoải mái, với thái độ dễ gần, thú vui của người bề trên, và mọi mối quan hệ bạn bè hữu ích. Bạn sẽ chỉ phải tỏ lòng tôn trọng đúng mức với người nhiều tuổi hơn, cho dù họ có là hội viên ở câu lạc bộ của bạn, và có đủ trình độ tri thức và lòng nhiệt tình – nhưng không thứ nào quá nhiều, vì nói cho cùng, phong cách của bạn là thực hiện phương châm mà bạn đã được dạy ở trường: không thái quá trong bất kỳ việc gì.30

Harvard hay Yale hay Princeton chưa đủ. Chính những trường trung học thực sự dành riêng mới quan trọng, vì nó quyết định bạn sẽ theo học trường nào trong “hai Harvard”. Các câu lạc bộ và hội nhóm đại học thường gồm những người quen cũ đã ghi danh ở mấy lớp dưới trong trường dành riêng; bạn bè của bạn ở Harvard là những người đã có quan hệ bạn bè từ thời ở trường dự bị. Đó là lý do tại sao trong tầng lớp thượng lưu xã hội, nếu chỉ có bằng tốt nghiệp của một trường thuộc Ivy League thì vẫn chẳng có ý nghĩa nhiều lắm. Giả sử đó không phải là Harvard, vậy thì Harvard nào? Khi nói Harvard, người ta muốn nói tới Porcellian, Fly hoặc AD.; khi nói Yale, là nói tới Zeta Psi, Fence hoặc Delta Kappa Epsilon; khi nói Princeton, là nói tới Cottage, Tiger, Cap & Gown hoặc Ivy.31 Uy tín của giáo dục trung học được xác nhận một cách phù hợp, theo sau là một câu lạc bộ phù hợp trong một trường phù hợp thuộc Ivy League, chính là tấm vé tiêu chuẩn để được chấp nhận vào thế giới các câu lạc bộ và tiệc tùng đô thị ở bất kỳ thành phố lớn nào của đất nước. Lòng trung thành địa phương cũng phải cúi đầu trước uy tín của tiếng nói và phong cách được hình thành trong những trường như vậy, vì trải nghiệm ấy là một bằng chứng chủ yếu với tầng lớp thượng lưu trên cả nước vốn thuần nhất và tự ý thức.

Giữa những người được giáo dục theo các cách giống nhau, trường học tất nhiên dẫn tới hôn nhân. Các trường dự bị nam sinh thường ở khoảng cách thuận tiện với các trường nội trú nữ sinh cùng trang lứa, và mỗi năm vài lần học sinh các trường được gặp nhau dưới sự giám hộ. Hơn nữa, còn có chị gái của nam sinh và anh trai của nữ sinh. Và với những người theo học các trường đại học dành riêng cho nam và nữ, có các cuộc viếng thăm và hội hè được tổ chức chính thức – ngắn gọn là theo kiểu hẹn hò. Ở bậc đại học, các trường dành riêng trở thành những cấu phần của một thị trường hôn nhân mở rộng, đưa con cái của tầng lớp thượng lưu Mỹ vào quan hệ hẹn hò.

5.

Những người trở nên giàu có trước Nội chiến cũng trở thành người sáng lập nên các gia đình Mỹ lâu đời nhất, và những người trở nên giàu có từ đó cũng gia nhập. Tầng lớp thượng lưu thành phố lớn mà họ tạo nên đã và vẫn chưa là một xã hội dòng dõi với thành viên cố định, nhưng với tất cả những điều đó, nó trở thành một tầng lớp thượng lưu xã hội được công nhận trên toàn quốc với nhiều đặc điểm thuần nhất và một ý thức đoàn kết mạnh mẽ. Nếu các gia đình mới được bổ sung, thì đấy luôn là các gia đình giàu có, và dù mới hay cũ, con trai và con gái họ cũng theo học cùng loại trường dành riêng và có xu hướng kết hôn với nhau. Họ thuộc cùng những hội nhóm đại học ở các trường tương tự trong Ivy League, và họ vẫn có quan hệ xã hội và làm ăn thông qua mạng lưới câu lạc bộ đô thị lớn của các thành phố. Trong mỗi thành phố hàng đầu đất nước, họ công nhận lẫn nhau, nếu không phải là những người ngang hàng thì cũng là những người có nhiều điểm chung. Trong các tiểu sử của nhau, họ thừa nhận những trải nghiệm mà họ cùng trải qua; trong các vị trí tài chính của các hãng môi giới, ngân hàng, và công ty, họ thừa nhận những lợi ích mà tất cả họ phục vụ. Khi mà việc làm ăn trở thành tầm quốc gia thực sự, vai trò kinh tế của tầng lớp thượng lưu trở nên giống nhau và thậm chí có thể hoán đổi; khi chính trị trở thành tầm quốc gia thực sự, quan điểm và hành vi chính trị của tầng lớp thượng lưu trở nên vững chắc. Tất cả những lực lượng mà chuyển đổi thành một liên minh của các địa phương và một sự tan rã của các công ty thành một công ty quốc gia, cũng tạo nên những lợi ích, chức năng, và sự thống nhất của tầng lớp thị dân 400 trùng nhau.

Tầng lớp thượng lưu xã hội bắt đầu thu nhận nhiều loại thành viên có quan tâm tới quyền lực trong một số hoàn cảnh, và những quan tâm này được chia sẻ giữa các thành viên câu lạc bộ, họ hàng, công ty, văn phòng luật. Chúng là chủ đề của các cuộc nói chuyện quanh bàn ăn tối, nơi các thành viên gia đình và câu lạc bộ trao đổi kinh nghiệm về một loạt vấn đề lớn trong một khung cảnh hoàn toàn phi chính thức. Lớn lên cùng nhau, ngầm tin tưởng lẫn nhau, sự thân mật cá nhân của họ dẫn đến cả việc tôn trọng những quan tâm chuyên biệt của mỗi thành viên như một người đứng đầu, một người hoạch định chính sách trong lĩnh vực quyền lực và quyết định cụ thể của anh ta.

Họ thâm nhập rộng rãi vào các giới lãnh đạo khác nhau của những thiết chế quyền lực. Một cậu con trai đầy hứa hẹn sẽ bước vào một sự nghiệp cao trong chính quyền– có lẽ là Bộ Ngoại giao; anh em chú bác của anh ta sẽ có lúc được đề bạt lên vị trí giám đốc điều hành cao cấp ở trụ sở chính của một công ty; bác anh ta đã thăng chức chỉ huy hải quân; và người anh con bác của anh ta sẽ trở thành chủ tịch của một trường đại học hàng đầu. Và tất nhiên, còn có hãng luật gia đình mà các đối tác của nó giữ quan hệ gần gũi với các thành viên bên ngoài và với những vấn đề họ phải đối mặt.

Vì vậy, trong các giới nòng cốt của tầng lớp thượng lưu, mấy vấn đề cá nhân nhất của những thiết chế lớn nhất và quan trọng nhất đều gắn với cảm xúc và lo âu của các nhóm nhỏ gần gũi và thân mật. Có một ý nghĩa rất quan trọng về gia đình tầng lớp thượng lưu và trường dành cho tầng lớp thượng lưu: “thân thế” là một cách mà trong đó dựa trên quan hệ thân thiết, các hoạt động của tầng lớp thượng lưu có thể được ngầm phối hợp. Nó cũng quan trọng vì trong những giới như vậy, nam nữ vị thành niên lại được nghe các cuộc trao đổi quanh bàn ăn của những người ra quyết định, và vì vậy gieo vào đầu họ các kỹ năng và tham vọng phi chính thức của những người ra quyết định; tóm lại, họ bị tiêm nhiễm cái được gọi là “cân nhắc”. Không cần phải cố gắng có ý thức, họ thấm nhuần kỳ vọng – nếu không nói là tin tưởng – sẽ trở thành Những người ra quyết định.

Trong và giữa các gia đình thượng lưu cũng như các hãng và văn phòng của họ, có những mối quan hệ bạn bè thời học trò, trường dự bị, câu lạc bộ đại học, và sau này là câu lạc bộ xã hội và chính trị chủ chốt. Và trong mọi mái nhà riêng và tổ chức, có những người mà sau này – hoặc khi thời điểm đến – sẽ điều hành các giới cao hơn khác nhau của xã hội hiện đại.

Các trường, câu lạc bộ và khu nghỉ dành riêng của tầng lớp thượng lưu xã hội không chỉ là dành riêng vì thành viên của chúng là những kẻ hợm hĩnh. Các nơi và các mối quan hệ ấy có vai trò thực sự trong việc hình thành tính cách của tầng lớp thượng lưu, và hơn thế nữa, những kết nối mà đương nhiên họ đứng đầu sẽ giúp gắn kết giới cao hơn với giới khác.

Vì thế, một sinh viên luật xuất sắc sau khi tốt nghiệp trung học dự bị và Đại học Harvard sẽ làm “thư ký” cho một chánh án Tòa án Tối cao, rồi luật sư công ty, rồi nhân viên đối ngoại, rồi lại một hãng luật. Trong các lĩnh vực này, anh ta gặp gỡ và quen biết những người cùng tầng lớp, và rồi tiếp theo là bạn bè cũ của gia đình và bạn bè thân thời phổ thông, các bữa tối ở câu lạc bộ, và mỗi năm trong đời là các khu nghỉ dưỡng mùa hè. Trong mỗi lĩnh vực hoạt động mà anh ta chuyển dịch, anh ta có được và thể hiện một sự tự tin vào khả năng đánh giá của riêng mình để quyết định, và với sự tự tin ấy, anh ta được hỗ trợ bởi sự sẵn sàng tiếp cận của mình với kinh nghiệm và độ nhanh nhạy của những người ngang hàng mình trong xã hội và những người hành động quyết đoán trong mỗi thiết chế và lĩnh vực đời sống xã hội quan trọng. Người ta không quay lưng với người mà sự hiện diện được chấp nhận ở những giới như vậy, kể cả trong các hoàn cảnh thử thách nhất. Trên đỉnh cao quốc gia, anh ta là “trong cuộc”, với diện mạo, chứng chỉ địa vị xã hội, tiếng nói và lối ứng xử, biểu thị về sự đào tạo phù hợp; với các cộng sự của mình, cũng có bằng chứng về sự thừa nhận của họ và với nhận thức rập khuôn về anh ta.

Nguyễn Thành Châu dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 17 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.