(Cho ấn bản năm 2000)
1.
Cuốn Giới tinh hoa quyền lực của C. Wright Mills được xuất bản năm 1956, thời điểm mà như Mills gọi, khi người Mỹ sống trong “một sự bùng nổ vật chất, một sự ca tụng chủ nghĩa dân tộc, một khoảng trống chính trị”. Dễ hiểu vì sao người Mỹ lại luôn tự mãn như Mills cáo buộc.
Giả sử bạn là một cử tri điển hình 35 tuổi vào năm 1956. Hãy tưởng tượng cuộc sống của bạn là thế nào. Khi bạn 8 tuổi, thị trường chứng khoán đổ vỡ, và Đại Suy thoái bắt đầu ngay khi bạn vào học lớp 3 hoặc lớp 4. Vì thế, thời thơ ấu của bạn tràn ngập cuộc chiến chống nghèo đói và thất nghiệp sinh ra từ một tai họa kinh tế lớn nhất trong lịch sử Mỹ. Khi bạn tròn 21 tuổi, chính thức thành người lớn, Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng, và chắc chắn rằng trong những năm tuổi trẻ, đặc biệt nếu bạn là đàn ông, bạn sẽ phải chiến đấu trên lục địa châu Âu hoặc từ đảo này qua đảo khác ở châu Á. Nếu đủ may mắn để sống sót qua trải nghiệm đó, bạn trở về nhà ở tuổi 24 vừa độ chín, sẵn sàng tiếp tục một cuộc sống như bình thường để rồi chứng kiến Chiến tranh Triều Tiên, chủ nghĩa McCarthy, và khởi đầu Chiến tranh Lạnh với Liên Xô.
Không ngạc nhiên khi suy nghĩ về việc bỏ phiếu trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1956 của bạn có chiều hướng ngả về Tổng thống Eisenhower. Nói cho cùng, ông là người đã chỉ huy quân Đồng minh trong Thế chiến II. Và hẳn là, dường như ông ít khi gây xúc động với các bài phát biểu của mình, và có các mối giao hảo với những doanh nhân giàu có, gần như tất cả họ đều là đàn ông, da trắng, theo Ki-tô giáo, và bảo thủ trong xu hướng chính trị của mình. Nhưng Eisenhower vẫn mang lại tính ổn định cho cử tri mà trong đời họ không biết gì khác ngoài sự đối lập. Trước mọi lời nói dữ dội của Ngoại trưởng John Foster Dulles về hiểm họa Nga, Tổng thống có vẻ không tham gia mấy vào chính sách đối ngoại. Và chương trình đối nội của ông chỉ tập trung vào việc xây dựng các tuyến đường cao tốc mà bạn dự định sử dụng để tới Los Angeles tìm việc, được tạo ra bởi cái Eisenhower gọi là “tổ hợp công nghiệp quân sự”.
Trong bối cảnh đó, Giới tinh hoa quyền lực ra đời. C. Wright Mills là một trong những trí thức đầu tiên ở Mỹ viết rằng cảm giác thỏa mãn của những năm dưới thời Eisenhower là không đủ. Ông không khoan nhượng trong cáo buộc của mình. Một mặt, ông tuyên bố, việc tập trung quyền lực quá rộng đã làm đông cứng nước Mỹ, biến nền dân chủ Mỹ thành trò cười. Mặt khác, ông buộc tội các trí thức đồng nghiệp đã bán rẻ mình cho tâm lý bảo thủ ở Mỹ, bỏ mặc người đọc – nhân dân Mỹ – trong tình trạng tăm tối và lãnh đạm giống các chế độ độc tài mà Mỹ đã đánh bại hoặc đang chiến đấu chống lại đến mức đáng kinh ngạc.
Một trong những mục tiêu Mills đặt ra cho mình ở Giới tinh hoa quyền lực là cho người đọc – một lần nữa, theo giả định thì lúc này họ khoảng 35 tuổi – biết rằng tổ chức quyền lực ở Mỹ đã thay đổi đến mức nào theo chiều dài cuộc đời họ. Vào những năm 1920, khi độc giả điển hình sinh ra, đã có thứ mà Mills gọi là “xã hội địa phương”, những thị trấn và thành phố nhỏ khắp nước Mỹ mà đời sống chính trị và xã hội ở đó do các doanh nhân địa phương thống trị. Giới tinh hoa nơi thị trấn nhỏ thường theo quan điểm Cộng hòa, có tiếng nói mạnh mẽ ở Quốc hội, vì phần lớn các nghị sĩ đại diện cho họ hoặc là thành viên của các gia đình có ảnh hưởng hoặc có quan hệ tài chính chặt chẽ với họ.
Vào thời gian Mills viết cuốn sách của ông, thế giới của giới tinh hoa địa phương đã trở nên lỗi thời giống như máy điện báo. Mills cáo buộc quyền lực đã phủ lên toàn nước Mỹ, và kết quả là có quan hệ qua lại với nhau. Giới tinh hoa quyền lực lưu ý tới ba gọng kìm quyền lực ở Mỹ. Thứ nhất, kinh doanh đã chuyển trọng tâm từ các công ty chủ yếu là khu vực về mặt lực lượng lao động và cơ sở người tiêu thụ sang các công ty chế tạo sản phẩm trên các thị trường quốc gia và phát triển lợi ích quốc gia. Tầng lớp từng là hữu sản, gắn chặt với sở hữu tài sản thực sự, đã trở thành tầng lớp quản lý, được tưởng thưởng vì khả năng tổ chức trên diện rộng các doanh nghiệp thành một cỗ máy có lợi nhuận ngày càng tăng. Giới quan chức điều hành các công ty này không còn được chọn vì họ có nền tảng xã hội cánh hữu. Các mối quan hệ vẫn quan trọng, nhưng kỹ năng hành chính cũng thế. Những người có các kỹ năng này được trả công hậu hĩnh cho cố gắng của họ. Có trong tay các tài khoản chi phí và được trả lương cao, họ có thể sử dụng ảnh hưởng quốc gia không chỉ qua các công ty, mà còn qua vai trò của mình để phục vụ “lợi ích quốc gia”.
Những thay đổi tương tự cũng diễn ra ở khu vực quân sự của xã hội Mỹ. Mills lập luận, Thế chiến II và sau đó là Chiến tranh Lạnh bắt đầu, đã đưa tới việc thành lập một “nền kinh tế thường trực chiến tranh” ở Mỹ. Mills viết rằng “giới quân phiệt”, từ ông dùng để gọi giới quân sự và các đồng minh dân sự của nó, trước đây “chỉ khó chịu, quan hệ không tốt với giới tinh hoa Mỹ; nay trở thành bà con, chẳng mấy mà họ có thể trở thành anh em”. Với những tài khoản vãng lai cho các chính trị gia nóng lòng muốn tỏ ra cứng rắn, được sự hỗ trợ của các thành tựu khoa học công nghệ tuyệt vời, và bám rễ sâu trong các thiết chế giáo dục Mỹ, Mills tin là giới quân sự đang ngày càng trở nên tự trị. Là một trong những gọng kìm của giới tinh hoa quyền lực, “thế lực quân sự” này mang các hàm ý nguy hiểm nhất. “Chủ nghĩa quân phiệt Mỹ, trong hình thái phát triển đầy đủ, sẽ đồng nghĩa với chiến thắng của học thuyết quân sự trong mọi lĩnh vực đời sống, và do đó tất cả các lối sống khác đều phải lệ thuộc vào nó.”
Cùng với giới tinh hoa quân sự và công ty, Mills đã phân tích vai trò của cái mà ông gọi là “ban lãnh đạo chính trị”. Giới tinh hoa địa phương từng có nhiều đại diện mạnh trong Quốc hội, nhưng bản thân Quốc hội, Mills chỉ rõ, đã đánh mất quyền lực vào tay nhánh hành pháp. Và trong nhánh đó, Mills có thể kể ra khoảng 50 người mà theo ông “hiện phụ trách việc ra các quyết định hành pháp nhân danh Hợp chúng quốc Hoa Kỳ”. Các vị trí cao nhất – như Ngoại trưởng và Bộ trưởng Quốc phòng – do những người có quan hệ gần gũi với các công ty quốc gia hàng đầu ở Mỹ nắm giữ. Những người này không hề bị các vị trí trên hấp dẫn vì tiền; thường thì họ hưởng lương ít hơn so với số họ kiếm được ở khu vực tư nhân. Họ hiểu rằng việc điều hành CIA hay là Bộ trưởng Ngân khố sẽ cho người ta ảnh hưởng rất lớn đối với định hướng phát triển của đất nước. Gắn chặt với các khu vực quân sự và tập đoàn, giới lãnh đạo chính trị của Mỹ lên một chương trình nghị sự có lợi cho tầng lớp của họ hơn là những gì có thể tốt cho đất nước nói chung.
Mặc dù đây chủ yếu là sản phẩm của thời đại lúc nó được viết ra, nhưng Giới tinh hoa quyền lực có sức sống lâu dài đáng kể. Cuốn sách vẫn được in nguyên văn trong suốt 44 năm qua, có nghĩa là người 35 tuổi đọc nó khi xuất bản lần đầu giờ đã 79 tuổi. Các tên tuổi và diện mạo đã thay đổi kể từ khi cuốn sách xuất hiện – độc giả trẻ hơn sẽ khó nhận ra những lãnh đạo công ty, quân sự, và chính trị nào được Mills nhắc tới – nhưng vấn đề cơ bản về việc liệu Mỹ có dân chủ trong thực tế như trong lý thuyết tiếp tục là vấn đề rất quan trọng.
2.
Vấn đề hiển nhiên với mọi người đọc đương đại của Giới tinh hoa quyền lực là liệu những kết luận của nó có áp dụng cho Mỹ ngày nay không. Phân loại những gì hữu ích trong cuốn sách của Mills với những gì đã trở nên lỗi thời xem ra là một nhiệm vụ đáng làm.
Hằng năm, tạp chí Fortune xuất bản một danh sách gồm 500 công ty Mỹ hàng đầu. Nhìn qua Bảng 1, so sánh 50 công ty hàng đầu ở Mỹ năm 1956 với 50 công ty hàng đầu năm 1998, cho thấy khoảng 30 trên 50 công ty thống trị nền kinh tế khi Mills viết cuốn sách của ông không còn thống trị nữa, trong đó có các công ty thuộc mấy ngành công nghiệp một thời có vẻ vững chắc như sắt thép, cao su, và thực phẩm. Nói cách khác, danh sách năm 1998 có tên của nhiều công ty hẳn sẽ rất quen thuộc với Mills: General Motors đứng thứ nhất, Ford thứ hai, và Exxon thứ ba. Nhưng công ty đứng ngay sau mấy gã khổng lồ này – các cửa hàng Wal-Mart – thậm chí không tồn tại vào lúc Mills viết cuốn sách; quả thực ý kiến cho rằng chuỗi cửa hàng bán lẻ mà một thương gia bình dân bang Arkansas lập ra một ngày nào đó sẽ vượt qua Mobil Oil, General Electric, hoặc Chrysler chắc sẽ làm Mills sửng sốt. Hơn nữa, ngay khi một số ngành công nghiệp suy giảm, thì các ngành công nghiệp hoàn toàn mới đã xuất hiện từ năm 1956 ở Mỹ; IBM đứng thứ 59 khi Mills viết cuốn sách, khó có thể gọi là gã khổng lồ máy tính – hiện nay đứng thứ sáu trong danh sách Fortune 500. (Compaq và Intel, cả hai đều chưa xuất hiện lúc Mills viết cuốn sách, cũng nằm trong 50 công ty hàng đầu của danh sách năm 1998). Để minh họa thế giới khép kín của giới tinh hoa quyền lực, Mills lưu ý tới việc một người tên là Winthrop W. Aldrich, Đại sứ Mỹ tại Anh, giám đốc của bốn trong số 25 công ty hàng đầu ở Mỹ năm 1950. Trái lại, năm 1998, chỉ có một trong những công ty này, AT&T, là ở tốp đầu: Chase Manhattan đứng thứ 27, Metropolitan Life rơi xuống thứ 43, và không thấy cái tên New York Central Railroad.
BẢNG 1. 50 CÔNG TY LỚN NHẤT NĂM 1956 VÀ NĂM 1998


Một lý do tại sao các vị trí của nhóm công ty hàng đầu lại thay đổi là vì các công ty Mỹ liên tục sáp nhập với nhau trong một cố gắng bảo đảm cho thị phần chi phối của họ. Tới cuối năm 1998, công ty Exxon lớn thứ ba ở Mỹ thông báo kế hoạch sáp nhập với Mobil là công ty lớn thứ tám, để lập ra một công ty mới có thể biến mọi thứ được Mills coi là ngoạn mục thành mấy chú lùn. Thực ra, một trong những lý do làm Mills lưu ý nhiều tới quy mô công ty là vì một truyền thống lâu đời ở Mỹ, có từ thời Luật Sherman năm 1898 coi độc quyền là điều xấu không được luật pháp khuyến khích. Do ảnh hưởng của truyền thống này, một số công ty lớn đã giải thể và những công ty mới – SBC Communications, Lucent Technologies – được khuyến khích thành lập. Nhưng ngày nay Luật Sherman ít khi được vận dụng, ít nhất phần nào là do cả chính quyền Cộng hòa lẫn Dân chủ đều ít khả năng ủng hộ quy định chính phủ về nền kinh tế hơn là những gì họ đã làm dưới thời Eisenhower. Khi cựu giám đốc điểu hành của General Motors, cũng là Bộ trưởng Quốc phòng của Eisenhower, nói rằng những gì tốt cho công ty của ông cũng tốt cho Mỹ, thì dân tình bị sốc. Ngày nay tuyên bố đó, có lẽ nếu không nói ra, sẽ được coi là một chỉ dẫn phù hợp cho mối quan hệ giữa chính quyền và doanh nghiệp.
Mills đã rất đúng về giới tinh hoa công ty. Ví dụ, chắc chắn những ai điều hành công ty cũng đều nằm trong số rất giàu; khoảng cách thu nhập giữa một CEO và công nhân là vô cùng lớn. Nhưng có một sự khác biệt giữa thế giới mà Mills mô tả với thế giới ngày nay rõ tới mức không thể bỏ qua. Rất lạ là hiểu biết của Mills vể chủ nghĩa tư bản không đủ cấp tiến. Bị ảnh hưởng nặng bởi xã hội học của thời đại mình, Giới tinh hoa quyền lực phác họa chân dung các giám đốc điều hành công ty như những nhà tổ chức “phải ‘hợp cạ’ với những người đã ở vị trí chóp bu”. Họ phải quan tâm tới việc quản lý các ấn tượng về mình, tựa như vẻ ngoài của việc đạt được những kết quả tốt quan trọng hơn con người thực của họ. Mills coi thường ý kiến cho rằng doanh nhân hàng đầu có năng lực đặc biệt. “Người phù hợp thì sống”, ông viết, “và phù hợp có nghĩa là không có năng lực chính thức – có lẽ làm gì có cái đó cho các vị trí điều hành cao nhất – mà là phù hợp với tiêu chí của những người đã thành công”.
Vào những năm 1950, có thể đúng là giới lãnh đạo công ty không đặc biệt sáng tạo, nhưng nếu vậy, là vì họ phải đối mặt tương đối trước một vài thách thức. Nếu bạn là người đứng đầu General Motors năm 1956, bạn biết rằng các công ty ô tô Mỹ thống trị thị trường của bạn; điều cuối cùng bạn nghĩ là một ngày nào đó, những chiếc xe mang nhãn hiệu Toyota hoặc Honda sẽ là mối đe dọa lớn nhất của bạn. Bạn không thích nghiệp đoàn đã tổ chức công nhân của bạn, nhưng nếu bạn khôn ngoan, bạn nhận ra là một nền kinh tế ngày càng phát triển sẽ cho phép bạn trả lương cao cho công nhân để đổi lấy sự ổn định của thị trường lao động. Các công ty nhỏ hơn cung cấp cho bạn phụ tùng phụ thuộc vào đơn đặt hàng của bạn. Hằng năm bạn muốn bán ra vượt qua Ford và Chrysler, nhưng bạn cũng cùng họ lập ra một hệ thống dấu hiệu phức tạp để họ không phá giá của bạn và bạn cũng không phá giá của họ. Nói cách khác, dù thị phần của bạn năm 1956 thế nào, thì bạn có thể tương đối chắc chắn rằng nó sẽ vẫn thế năm 1957. Vậy thì xáo trộn làm gì? Các giám đốc điều hành vào nghề hoàn toàn có lý khi làm những gì mà Mills cho là họ đã làm: cho rằng cách tốt nhất để vượt lên là làm theo.
Vào cuối thế kỷ XX, bức tranh này không còn chính xác. Tỉ lệ hội viên nghiệp đoàn trong toàn bộ lực lượng lao động giảm mạnh, và trong khi điều này có nghĩa là các công ty có thể trả cho công nhân ít hơn, nó còn có nghĩa là họ không thể hy vọng đầu tư nhiều vào việc đào tạo công nhân của mình với giả định những công nhân này sẽ vẫn ở lại công ty gần như cả đời họ. Cạnh tranh với nước ngoài, đã có thời bị sao lãng, thì nay là quy tắc chung cho hầu hết các công ty Mỹ, dẫn đến việc nhiều công ty trong số này phải đưa các bộ phận của công ty ra nước ngoài và tạo ra những sắp xếp thị trường toàn cầu. Các ngành công nghiệp phát triển nhanh chóng của Mỹ có mặt trong lĩnh vực công nghệ cao, một sự phát triển mà Mills đã tiên đoán (“Nhiều lý thuyết hiện đại về sự phát triển công nghiệp”, ông viết, “nhấn mạnh đến những bước phát triển công nghệ, nhưng số lượng các nhà phát minh trong nhóm rất giàu lại nhỏ tới mức không đáng kể”.) Thường bị thống trị bởi những người tay trắng làm nên (một hiện tượng nữa mà Mills nghi ngờ), các hãng này cạnh tranh khốc liệt, làm đảo lộn bất kỳ khả năng nào có được các thỏa thuận quân tử để kiểm soát giá cả; quả thực là trong các công ty liên mạng thì khái niệm này có nghĩa là cung cấp sản phẩm không có bất kỳ giá nào – tức là miễn phí – với hy vọng giành được sự trung thành của khách hàng tương lai. Trong điều kiện này, giám đốc điều hành nào cố gắng đi theo những cách thức mà Mills mô tả thì tốt nhất là chuyển tới một trường đại học và giảng dạy ở đó.
Những thay đổi cấp tiến này theo tinh thần cạnh tranh năng động của chủ nghĩa tư bản Mỹ có các hệ lụy quan trọng đối với nỗ lực đặc trưng cho giới tinh hoa quyền lực hiện nay. C. Wright Mills là người phiên dịch và diễn giải của nhà xã hội học Đức Max Weber, và ông đã mượn từ Weber ý kiến cho rằng một xã hội nặng tính hành chính cũng sẽ là một xã hội ổn định và bảo thủ. Chỉ ở một xã hội tương đối ít thay đổi thì giới tinh hoa mới có thể có quyền lực hàng đầu, vì nếu các sự kiện thay đổi mạnh mẽ thì sẽ có xu hướng sự kiện kiểm soát con người hơn là con người kiểm soát sự kiện. Cũng có thể có chút nghi ngờ về việc những người nắm giữ các vị trí cao nhất trong thang bậc công ty ở Mỹ vẫn là những người Mỹ quyền lực nhất như ở thời của Mills. Nhưng ngay cả họ cũng không thể kiểm soát được những biến đổi công nghệ nhanh chóng, cạnh tranh toàn cầu căng thẳng, và thị hiếu người tiêu dùng ngày càng thay đổi. Chủ nghĩa tư bản Mỹ đơn giản là quá năng động nên khó có ai kiểm soát được lâu.
3.
Giới tinh hoa quyền lực được viết vào lúc vai trò chính xác của giới quân sự trong đời sống Mỹ đã rất rõ để nắm bắt. Về mặt lịch sử, người Mỹ chưa bao giờ đồng tình với ý kiến cho rằng sự hiện diện thường trực của giới quân sự là do yêu cầu bảo vệ đất nước chống lại kẻ thù của nó. Chắc chắn rằng, người Mỹ không thua kém bất kỳ ai trong việc thể hiện lòng yêu nước. Họ ngưỡng mộ các tướng lĩnh và thể hiện thiên hướng rõ ràng khi lựa chọn những người đó làm tổng thống. Nếu cần phải tiến hành chiến tranh để bảo vệ lợi ích quốc gia, người Mỹ sẵn sàng trả giá bằng sinh mạng và các cơ hội bị mất. Đồng thời, người Mỹ có xu hướng hài lòng với sự biệt lập địa lý của họ đối với phần còn lại của thế giới. Họ coi thời bình là tình trạng bình thường và chiến tranh là ngoại lệ. Sau mỗi cuộc chiến tranh lớn mà Mỹ tham gia, người Mỹ lại thu mình vào chủ nghĩa biệt lập.
Trong việc miễn cưỡng phải để giới quân sự đóng vai trò thường xuyên trong đời sống của mình, người Mỹ nhận được sự giúp đỡ đáng kể từ giới lãnh đạo Đảng Cộng hòa. Để tổ chức giới quân sự hiệu quả, không có cách nào khác là thông qua việc sử dụng chính phủ, nhưng nếu chính phủ lại dính líu vào việc giao các hợp đồng cho giới kinh doanh tư nhân, thì phái biệt lập bảo thủ tin rằng sẽ không lâu nữa trước khi chính phủ điều tiết giá cả theo giới kinh doanh, thì kiểu quan hệ lao động mà họ thực hiện, và thậm chí lợi nhuận của họ, sẽ lớn đến đâu.
Một trong những lập luận quan trọng mà Mills đưa ra trong Giới tinh hoa quyền lực là sự xuất hiện của Chiến tranh Lạnh đã thay đổi hoàn toàn việc chống đối có tính lịch sử đối với tổ chức quân sự thường trực ở Mỹ. Nhân sự thường xuyên trao qua đổi lại từ thế giới công ty tới thế giới quân sự. Các công ty lớn như General Motors trở nên phụ thuộc vào hợp đồng quân sự. Đổi mới khoa học và công nghệ được giới quân sự bảo trợ đã góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Và cùng với các liên kết giữa kinh tế và quân sự được gắn chặt, giới quân sự đã trở thành một thế lực chính trị tích cực. Những nghị sĩ từng có thái độ thù địch giới quân sự thì nay đối xử hết sức tôn trọng với các sĩ quan. Và không tổng thống nào có thể hy vọng với nhân sự Bộ Ngoại giao, tìm kiếm sĩ quan tình báo, và bổ nhiệm đại sứ mà không tham khảo giới quân sự.
Mills bị thuyết phục là sự trỗi dậy của giới quân sự như một thế lực quan trọng trong đời sống Mỹ đòi hỏi một cuộc tấn công mạnh vào chủ nghĩa biệt lập vốn từng là đặc trưng của công luận. Ông lập luận rằng “giới quân phiệt, cùng với bạn đồng hành và phát ngôn viên, đang cố gắng nhồi nhét các học thuyết bền vững của họ vào dân cư nói chung”. Mục đích của họ không là gì khác ngoài việc định nghĩa lại hiện thực, trong đó người Mỹ có thể bắt đầu chấp nhận cái mà Mills gọi là “một tình trạng khẩn cấp không thấy trước cái đích cuối cùng”. Ông viết: “Chiến tranh hay tình trạng sẵn sàng chiến tranh cao độ được cảm thấy là bình thường và là tình trạng có vẻ thường trực của Mỹ”. Trong tình trạng này của cơn sốt chiến tranh thường trực, Mỹ không còn được coi là một nền dân chủ thực sự, vì dân chủ đơm hoa kết trái trên sự khác biệt và bất đồng, đúng như những gì không được phép trong định nghĩa về hiện thực của giới quân sự. Nếu những thay đổi mà Mills mô tả thực sự là thường xuyên, thì Giới tinh hoa quyền lực có thể được coi như sự mô tả về một chuyển đối cấp tiến sâu sắc và đáng thất vọng trong bản chất của Mỹ.
Hầu hết những gì Mills viết về thời đại mình, rằng Quốc hội cực kỳ thân thiện với giới quân sự, ít nhất một phần vì giới quân sự đã trở thành một thế lực hùng mạnh ở các khu vực bầu cử của phần lớn các nghị sĩ, vẫn còn đúng đến hôm nay. Các cơ sở quân sự là một nguồn việc làm quan trọng cho nhiều người Mỹ. Chi tiêu quân sự của chính phủ là rất quan trọng đối với tất cả các công ty, như Lockheed và Boeing chuyên chế tạo thiết bị quân sự. Các hãng Mỹ là những người lãnh đạo trong thị trường vũ khí toàn cầu của thế giới, chế tạo và xuất khẩu vũ khí tới mọi nơi. Một số hệ thống vũ khí dường như không bao giờ chết, thậm chí như trường hợp hệ thống “Chiến tranh giữa các vì sao” được thiết kế để bắn hạ tên lửa đang bay đến mục tiêu, mặc dù về mặt quân sự chẳng thấy cần phải có chúng. Ít nhất một Tổng thống gần đây của Mỹ, Ronald Reagan, đã làm nức lòng dân chúng khi tuyên bố Liên Xô là một “đế chế ma quỷ” và biểu thị ông sẵn sàng chi tiêu nhiều hơn người Nga trong cuộc chạy đua vũ trang.
Mặc dù có các điểm giống với những năm 1950, nhưng cả thế giới lẫn vai trò của Mỹ trong thế giới đó đã thay đổi. Có điều Mỹ không thể đủ lực lượng để duy trì trong bất kỳ xung đột nào ở nước ngoài từ sau Chiến tranh Việt Nam. Lo sợ khả năng bị quần chúng phản ứng mạnh trước việc người Mỹ chết, các tổng thống Mỹ hoặc kiềm chế theo đuổi các cuộc phiêu lưu quân sự ở nước ngoài hoặc giới hạn chúng trong các cuộc tấn công chớp nhoáng, theo cách của các tổng thống Bush và Clinton ở Iraq. Hơn nữa, từ năm 1989, sự sụp đổ hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đã làm xói mòn khả năng huy động ủng hộ chi phí quân sự của giới tinh hoa Mỹ với lý do về mối đe dọa Xô- viết. Vào lúc Mills viết cuốn sách, Trung Quốc được coi là một mối đe dọa nghiêm trọng, thì nay được doanh nhân Mỹ coi là nguồn đầu tư tiềm năng lớn. Tóm lại, sự ủng hộ chính trị trong nước đối với tổ chức quân sự lớn và thường trực ở Mỹ không còn được coi là đương nhiên.
Hệ quả nhãn tiền của những thay đổi này trong thế cân bằng sức mạnh của thế giới đã giảm sút mạnh tính theo tỉ lệ của nền kinh tế Mỹ dành cho quốc phòng. Vào lúc Mills viết cuốn sách, chi phí quân sự chiếm khoảng 60% toàn bộ chi tiêu liên bang và tiêu thụ gần 10% GDP của Mỹ. Tới cuối những năm 1990, tỉ lệ này giảm xuống còn 17% chi tiêu liên bang và 3,5% GDP (xem Biểu đồ 1). Gần ba triệu người Mỹ phục vụ trong lực lượng vũ trang khi Giới tinh hoa quyền lực xuất hiện, nhưng con số này đã giảm một nửa vào cuối thế kỷ. Dù sao đi nữa, tiên đoán của Mills rằng cả hệ thống kinh tế lẫn chính trị trong Biểu đồ 1 cho thấy Mỹ sẽ ngày càng bị giới quân sự thống trị không đúng với những sự kiện lịch sử diễn ra từ thời ông.
BIỂU ĐỒ 1
CHI TIÊU CỦA BỘ QUỐC PHÒNG GIAI ĐOẠN 1956–1998

NHÂN LỰC GIAI ĐOẠN 1956–1995

Tầm quan trọng của những số liệu này được tăng cường bởi các thế lực văn hóa và chính trị sinh ra chúng. Mills tin rằng bất kỳ xung đột nào giữa các định nghĩa của giới quân sự về hiện thực với các xu hướng phổ biến ở Mỹ về chủ nghĩa biệt lập sẽ được giải quyết thiên về cái trước. Nhưng hình như rõ ràng là vào những năm 1990, việc phản đối các cuộc phiêu lưu quân sự ở nước ngoài đã làm suy giảm nghiêm trọng khả năng làm theo cách của mình ở giới quân sự trong cả chính sách đối ngoại lẫn đối nội. Hầu hết người Mỹ chỉ muốn tiếp tục làm việc kiếm đủ tiền để có thể có cuộc sống tốt nhất. Việc họ phản đối trước thuế má cao hơn làm giới quân sự không thể phát triển được. Những lời hoa mỹ về tình trạng khẩn cấp – và cùng với nó là cần phải hy sinh cá nhân đáng kể – không còn thu hút được họ. Thường thì họ không muốn thấy con cái mình phải tham gia chiến tranh, thậm chí còn phải miễn cưỡng ủng hộ chế độ quân dịch bắt buộc thời bình.
Những thay đổi kiểu này cho thấy vai trò của giới quân sự trong đời sống Mỹ đã bị biến đổi, nhưng không đảo ngược. Các nhà chiến lược tiếp tục lên kế hoạch cho các cuộc chiến tranh có thể xảy ra, mặc dù họ cố hết sức làm điều đó theo nhiều cách để tránh việc phải dùng đến quân đội Mỹ. Nhiều cố gắng được thực hiện để tuyển mộ thanh niên vào phục vụ quân đội, nhưng chỉ bằng cách nhấn mạnh những bước đi như vậy sẽ giúp cho sự nghiệp của họ, chứ không phải cho đất nước. Bộ Quốc phòng tiếp tục cung cấp ngân sách cho đổi mới khoa học và công nghệ, nhưng cũng nhấn mạnh những cải tiến này có thể sử dụng cho dân sự. Đảng Cộng hòa kêu gọi vì một nước Mỹ mạnh hơn, nhưng đây cũng là đảng mà giới lãnh đạo của nó đã chỉ trích các hành động quân sự của Tổng thống Clinton ở Iraq trong các cuộc tranh luận nghị tội hồi cuối năm 1998. Mỹ chưa trở lại với chủ nghĩa biệt lập đầy kịch tính vốn đặc trưng cho phần lớn lịch sử của nó trước khi Mills viết Giới tinh hoa quyền lực. Nhưng nói chúng ta đã chứng kiến thế lực quân sự đầy ấn tượng (và nguy hiểm) mà Mills mô tả vào năm 1956 thì cũng không đúng.
Vậy chúng ta phải làm thế nào? Các hãng kinh doanh, vẫn là thế lực mạnh nhất trong đời sống Mỹ, ngày càng mang bản chất toàn cầu, quan tâm đến việc bảo vệ lợi nhuận của mình ở bất kỳ đâu họ có mặt hơn là bảo vệ đất nước mà ở đó có lẽ thiểu số nhân viên của mình sống và làm việc. Nếu cho hầu hết lãnh đạo các công ty lớn nhất của Mỹ chọn giữa việc xâm lược nước khác và đầu tư vào các ngành công nghiệp của nó, họ hầu như luôn chọn cái sau hơn là cái trước. Mills tin rằng vào những năm 1950, lần đầu tiên trong lịch sử Mỹ, giới tinh hoa quân sự đã thành lập một liên minh mạnh với giới tinh hoa kinh tế. Bây giờ điều đó sẽ càng đúng hơn nếu nói giới tinh hoa kinh tế Mỹ tìm thấy nhiều điểm chung với giới tinh hoa ở các nước khác hơn là với giới tinh hoa quân sự ở nước mình. Giới tinh hoa quyền lực đã không thấy trước được tình trạng mà ở đó ít nhất một trong những yếu tố chủ chốt của giới tinh hoa quyền lực sẽ không còn gắn vận mệnh của nó với vận mệnh của đất nước đã sinh ra nó.
4.
Các chính trị gia và quan chức công có trách nhiệm kiểm soát hai nhánh hành pháp và lập pháp của chính quyền tạo thành một trụ thứ ba của giới tinh hoa quyền lực. Mills tin rằng các chính trị gia thời ông không còn bị đòi hỏi phải tập sự phục vụ ở địa phương trước khi leo dần lên nấc thang chính trị quốc gia. Bởi các công ty và giới quân sự đã trở nên gắn chặt với chính quyền, và bởi cả hai đều là các thiết chế quốc gia, cái có thể gọi là “quốc gia hóa chính trị” chắc chắn sẽ diễn ra. Một lứa nhân vật chính trị mới có khả năng leo lên các vị trí chính trị cao nhất ở đất nước này sẽ là những người có quan hệ nồng ấm với giới tướng lĩnh và giám đốc điều hành, chứ không phải những người thân thiết với đám môi giới động sản và quan chức ngân hàng phụ trách mảng tiết kiệm và cho vay.
Mills tin rằng vào lúc ông viết cuốn sách, “chính trị gia phải dựa vào truyền thông đại chúng, và việc tiếp xúc với truyền thông rất tốn kém.” Nhưng ngay cả Mills cũng không thể dự đoán nó tốn kém tới mức nào để chạy đua vào chính quyền nửa thế kỷ sau đó. Truyền hình đã trở thành một yếu tố trong các chiến dịch tranh cử chính trị tới mức không tưởng tượng nổi với những ai từng xem ba kênh đen trắng trên màn hình 9 inches. Các chiến dịch tranh cử dài hơn, nặng tính đảng phái hơn, và thường cạnh tranh hơn lúc Mills viết cuốn sách. Tham gia vào chiến dịch tranh cử thường xuyên, các chính trị gia phải trở thành người gây quỹ toàn thời gian. Và để chi phí cho các cố gắng của mình, họ phải quay sang những người có đủ khả năng tài trợ cho họ. Trong khi các nghiệp đoàn lao động vẫn là một nguồn tài chính quan trọng, đặc biệt đối với phe Dân chủ, thì chính trị gia của cả hai đảng, đương nhiệm cũng như thách thức, tìm thấy phần lớn nguồn tài trợ của họ từ các công ty. Khi các công ty cung cấp khoản tài trợ này, hiếm khi họ làm thế vì ý thức trách nhiệm dân sự. Danh sách những thứ mà chính phủ có thể cung cấp cho doanh nghiệp gần như dài bằng danh sách những thứ mà doanh nghiệp không muốn chính phủ dính líu vào. Không có thứ nào trong số này đồng nghĩa với việc các công ty cho tiền theo lối “ông đưa chân giò, bà thò chai rượu”, tức là các chính trị gia sẽ thông qua các luật để họ có thể đút tiền đầy túi. Nhưng nó có nghĩa là vì chính trị rất tốn kém, nên các công ty, theo mọi khả năng, có nhiều quyền lực đối với các nghị sĩ hơn khi Mills viết cuốn sách.
Với Mills, chính trị chủ yếu là cái mã ngoài trong bất kỳ trường hợp nào. Từ góc độ lịch sử mà nói, chính trị Mỹ được tổ chức theo thuyết cân bằng quyền lực: mỗi nhánh chính quyền giữ cân bằng với nhánh kia; các đảng cạnh tranh bảo đảm cho việc đại diện đầy đủ, và các nhóm lợi ích như các nghiệp đoàn lao động là đối trọng với nhóm khác như trong kinh doanh. Nhưng sự trỗi dậy của giới tinh hoa quyền lực đã thay đổi thuyết cân bằng trong câu chuyện kỳ bí lãng mạn kiểu Jefferson. Theo Mills, với nguyên tắc của giới tinh hoa quyền lực, Mỹ trở nên phản dân chủ tới mức phần lớn các quyết định được thực hiện ở hậu trường. Kết quả là Quốc hội cũng như các đảng phái chính trị không có nhiều việc để làm. Mills viết: “Chẳng có sự khác biệt chính sách về mặt hệ quả giữa các đảng lớn, chính trị gia chuyên nghiệp của đảng phải sáng tác ra các chủ đề về nó mà nói.”
Mills đã đúng khi nhấn mạnh sự không phù hợp của các hình ảnh thế kỷ XVIII và XIX với thực tế của quyền lực chính trị Mỹ thế kỷ XX. Nhưng ông không hẳn đã đúng khi cho rằng chính trị vì thế sẽ trở thành thứ sân khấu kịch không có khán giả. Mills tin rằng do thiếu bản chất thực, nên các đảng sẽ trở nên giống nhau. Nhưng hiện nay, sự khác biệt ý thức hệ giữa phe Cộng hòa và phe Dân chủ rất nghiêm trọng – như trên thực tế đã diễn ra vào năm 1956. Joseph McCarthy, Thượng Nghị sĩ chống cộng bảo thủ của bang Wisconsin mà tên tuổi gắn liền với giai đoạn Mills viết cuốn sách, xuất hiện một vài lần trong Giới tinh hoa quyền lực, nhưng không phải với tư cách một nhân vật chính. Trong khi nhấn mạnh đến chính trị và kinh tế, Mills đã đánh giá thấp vai trò quan trọng mà những cuộc thập tự chinh biểu tượng cho sức mạnh và tinh thần từng đem lại cho đời sống Mỹ, trong đó có cuộc săn tìm phù thủy của McCarthy sau ảnh hưởng cộng sản. Nếu ông chú ý nhiều hơn tới chủ nghĩa McCarthy, Mills hẳn đã có khả năng dự đoán những sự kiện kiểu như cố gắng của phe Cộng hòa giai đoạn 1998–1999 nhằm buộc tội Tổng thống Clinton, rồi vai trò của những vấn đề mang tính quyết định như nạo phá thai, nhập cư, và hành động khẳng định trong nền chính trị Mỹ, cùng tầm quan trọng tiếp tục của lối tranh cử tiêu cực. Bản chất thực có thể là không cao trong chương trình nghị sự chính trị Mỹ, nhưng điều đó không có nghĩa là chính trị không quan trọng. Thông qua hệ thống chính trị của chúng ta, chúng ta ra các quyết định về việc mình thuộc loại người nào, đó là lý do tại sao nó rất quan trọng vào cuối thế kỷ XX khi đảng chính trị nắm quyền.
5.
Vậy thì, khi nhìn lại Giới tinh hoa quyền lực thấy thế nào? Nó có được coi là một cuốn sách kinh điển? Nó có thể được coi là một chỉ dẫn cho hiện tại cũng như một sự giải thích về quá khứ? Tôi tin rằng câu trả lời cho mấy câu hỏi này nằm ở chỗ Giới tinh hoa quyền lực thực sự là hai cuốn. Trong cuốn thứ nhất (các chương từ 1 đến 10), Mills viết bằng một thứ ngôn ngữ hơi giản dị nhằm mô tả cấu trúc quyền lực ở Mỹ. Phần này của cuốn sách có nhiều dữ liệu và sử dụng nghiên cứu gốc rộng rãi. Sau khi trình bày trường hợp của mình, Mills (ở các chương từ 11 đến 15) chuyển sang một thứ ngôn ngữ bất bình. Chính trong những chương này mà một số cụm từ nổi tiếng nhất của Mills như “chủ nghĩa hiện thực lập dị”, “sự ngu muội cao hơn” xuất hiện. Ở đây ông có vẻ giống một nhà tiên tri trong kinh thánh, báo trước ngày tận thế, lên án gay gắt “đầu óc hạng hai” và “lời nói tầm thường vô vị.” Đây là Mills nhà phê bình xã hội, để lại phía sau thứ khoa học mô tả, thể hiện rất rõ cảm xúc của ông về giới tinh hoa quyền lực.
Các nhà bình luận đương thời tin rằng Mills là một nhà phê bình xã hội kiệt xuất, nhưng không hẳn là một nhà khoa học xã hội hạng nhất. Song tôi tin là Giới tinh hoa quyền lực tồn tại như một công trình về khoa học xã hội hơn là về chỉ trích xã hội.
Vào lúc Mills đang viết, xã hội học hàn lâm đang trong quá trình tuyên bố nó là một ngành khoa học. Nhiều đồng nghiệp của Mills tin rằng, vai trò chính xác của một nhà xã hội học là phải tiến hành việc nghiên cứu không phụ thuộc vào giá trị, nhấn mạnh đến thử thách dựa trên kinh nghiệm của những giả thuyết nhỏ. Một ngành khoa học lớn cuối cùng sẽ được xây dựng trên cơ sở các công trình thực nghiệm rộng rãi, mà giống như những gì tốt nhất của khoa học tự nhiên, sẽ được xuất bản trong các tạp chí chuyên môn cao nhấn mạnh đến việc đổi mới phương pháp luận và năng lực kỹ thuật. Vì không bao giờ đồng ý với các mục tiêu này – quả thực, Mills đã viết những bài chỉ trích gay gắt xã hội học khoa học, nên Mills chưa bao giờ được giới xã hội học cùng thời coi là một nhà khoa học đúng nghĩa.
Có điều, xã hội học hàn lâm của những năm 1950 tồn tại chưa lâu, trong khi có rất ít sách vở thời đó có thể địch nổi Giới tinh hoa quyền lực về mặt tuổi thọ. Theo cách riêng của mình, Mills đã đóng góp nhiều vào sự hiểu biết về thời của ông. Các nhà khoa học xã hội của những năm 1950 nhấn mạnh đến chủ nghĩa đa nguyên, một khái niệm mà Mills công kích khi chỉ trích thuyết cân bằng. Ý kiến thống trị ngày đó là việc tập trung quyền lực ở Mỹ phải được coi là quá đáng vì một nhóm luôn cân bằng quyền lực với nhóm kia. Vấn đề lớn nhất Mỹ đối mặt không phải là quyền lực tập trung, mà là thứ được các nhà xã hội học gọi là “sự kết thúc của ý thức hệ”. Họ tin là Mỹ đã đạt tới chỗ mà ở đó những đam mê lớn về tư tưởng đã cạn kiệt. Từ giờ trở đi, người ta sẽ cần đến tài năng kỹ thuật để giải quyết vấn đề chứ không phải mấy thứ mơ màng của đám trí thức.
So với các ý kiến đó, bức tranh của Mills về hiện thực Mỹ, tuy tất cả đều cường điệu, nhưng có vẻ gần trọng tâm hơn. Nếu thử nghiệm của khoa học là để nhận thức đúng hiện thực, thì những lời buộc tội khá sôi nổi của C. Wright Mills đã thúc đẩy ông phát triển hiểu biết khoa học về xã hội Mỹ hơn nhiều người đương thời khách quan và đơn giản. Vì vậy chúng ta có thể coi Giới tinh hoa quyền lực như một bản mô tả khá tốt những gì đang diễn ra ở Mỹ vào lúc nó được viết.
Tuy nhiên, là một nhà phê bình xã hội, Mills đã để lại một số niềm ước vọng. Trong vai trò đó, Mills khắc họa mình như một chiến binh đơn độc vì sự thật, luôn nhất quán cho dù bao nhiêu người khác đã bị tiếng gọi quyến rũ của quyền lực và của cải mê hoặc. Điều này đem lại cho cuốn sách của ông sức mạnh xúc cảm, nhưng cái giá phải trả là sự vô trách nhiệm nào đó. Mills đã viết trong một thông điệp điển hình, “Hiện nay ở Mỹ, những con người của công việc tỏ ra thiếu đầu óc hơn là giáo điều.” Nhưng tuy nhiên, người ta có thể không thích các quyết định của giới cầm quyền những năm 1950, vì họ chịu trách nhiệm cho các hệ quả từ hành động của mình. Đứng ngoài chỉ trích thường thì dễ hơn là hiểu được điều thực sự có ý nghĩa với việc ra quyết định của một công ty liên quan đến hàng nghìn công nhân, cân nhắc một hành động quân sự khả dĩ mà có thể mất đi nhiều sinh mạng, hoặc quyết định liệu nên sử dụng ngân sách cho đường xá hay chiến tranh. Khi gọi các quan chức công là không có đầu óc, Mills ngụ ý nói ông biết lẽ ra họ có thể hành động tốt hơn thế nào. Nhưng nếu ông có ý đó, ông không bao giờ nói với người đọc của Giới tinh hoa quyền lực, vì cái thiếu trong cuốn sách là một lời tuyên bố về những gì cụ thể có thể làm để khiến thế giới hòa hợp hơn với những giá trị mà Mills tin.
Hơn nữa, tấn công giới tinh hoa quyền lực là một việc, nhưng mở rộng chỉ trích của ông tới những trí thức khác, và kể cả tới công chúng nói chung, là một việc khác. Khi chỉ trích công chúng, Mills có nguy cơ trở thành người phản dân chủ vì ông tin Mỹ đã là như thế. Lúc chuẩn bị hoàn thành cuốn sách, Mills chấp nhận một từ từng liên quan rất chặt tới những nhà lý luận chính trị bảo thủ. Hoảng sợ trước sự lan rộng của nền dân chủ, giới cầm bút châu Âu bảo thủ tuyên bố thế kỷ XX là thời đại “xã hội đại chúng.” Thuyết này cho rằng đại đa số sẽ không bao giờ hành động hợp lý mà chỉ đáp ứng hơn như một đám đông, lúc thì cuồng loạn như lên đồng, lúc lại thờ ơ khép kín. “Mỹ không phải là một xã hội đại chúng”, Mills viết, nhưng rồi lại viết tiếp cứ như là nó đã có. Và khi ông làm thế, những gì mà ông khắc họa về hình ảnh Mỹ đã trở nên hoàn toàn thiếu hấp dẫn: “Ông mất đi tính độc lập, và quan trọng hơn, ông mất đi ham muốn được độc lập; trên thực tế, ông không nắm được ý kiến về việc một cá nhân độc lập với suy nghĩ riêng và lối làm việc riêng trong đời mình.” Mills đã bị quyền lực của giới tinh hoa quyền lực thuyết phục khiến ông có vẻ đã mất hết hy vọng vào việc người dân Mỹ có thể tìm thấy chính mình và chấm dứt việc lạm dụng mà ông phát hiện.
Giọng điệu chua xót cam chịu này đối với người đọc đương thời có thể là ngạo mạn, tựa như Mills và chỉ Mills mới là người duy nhất có thể nhìn thấy sự thật mà không ai thấy được. Phê phán xã hội đúng đắn đòi hỏi phải gắn bó cũng như xa cách. Người ta phải gắn bó và thậm chí ngưỡng mộ điều gì đó trước khi có cảm giác tràn đầy năng lượng phê phán nó. Ý thức về sự gắn bó với Mỹ từng thúc đẩy những người cầm bút như Ralph Waldo Emerson và Walt Whitman nâng đất nước mình lên một tiêu chuẩn cao hơn. Mills thường không chia sẻ cảm giác khoan dung về cuộc sống Mỹ, thay vì thế viết như một nhà phê bình gay gắt, chua chát vì giận dữ, có quan điểm khước từ thế giới quanh mình. Vì lý do đó, nếu không phải vì những lý do khác, nhà phê bình xã hội Mills không phải lúc nào cũng hiệu quả như nhà khoa học xã hội Mills.
Khi chỉ ra một vài vấn đề trong Giới tinh hoa quyền lực, tôi không có ý nói là cuốn sách không xứng đáng với tiếng tăm của nó như một cuốn kinh điển đương thời; vinh dự cao nhất có thể dành cho một nhà phê bình xã hội là phê phán. Các thế hệ sinh viên và người đọc thạo tin khi đọc Giới tinh hoa quyền lực đã bị thôi thúc nghĩ về loại xã hội mà họ đang có và loại xã hội mà họ có thể muốn có. Cuốn sách này đáng được mọi thế hệ mới tìm đọc, vì nó nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của việc kết hợp sức mạnh phân tích với lòng tận tụy say mê – một nhiệm vụ cơ bản nếu muốn là một công dân thạo tin và quan tâm. Việc xuất bản cuốn sách của Mills không làm thay đổi thành phần hoặc tính chất của giới tinh hoa quyền lực. Nhưng nó đưa sự tồn tại của giới này ra ánh sáng, thành tích không nhỏ đối với một giáo sư xã hội học phần nào đứng bên lề môn khoa học đã sinh ra ông.
NGUỒN ĐỌC THÊM
Một chỉ số về tầm quan trọng ở cuốn sách của Mills là nó thôi thúc các nhà khoa học xã hội và phê bình xã hội tiếp tục các nghiên cứu về quyền lực ở Mỹ. Đến lượt nó, việc này dẫn tới nhiều cuộc tranh luận học thuật về những vấn đề như liệu những người có ảnh hưởng nhất ở Mỹ có thể được gọi là giới tinh hoa quyền lực hay là tầng lớp thống trị; liệu kinh doanh thống trị chính phủ hay chính phủ giữ được tính độc lập đối với kinh doanh; liệu có thể các chính phủ dân chủ khi thông qua luật lại đi ngược với lợi ích của doanh nghiệp; liệu giới quân sự hoặc dân sự thống trị việc hoạch định chính sách đối ngoại; và ngoài ra liệu các thiết chế giáo dục, giải trí, thể thao có cần thêm vào ba tầng lớp mà Mills đã bàn luận hay không.
Những nhân vật viết gần như theo truyền thống mà Mills đã xác lập gồm có G. William Domhoff, The Higher Circles: The Governing Class in America (Các tầng lớp cao hơn: Tầng lớp quản lý ở Mỹ) (New York: Random House, năm 1970), Michael Schwartz và Beth Mintz. The Power Structure of American Business (Cấu trúc quyền lực của giới kinh doanh Mỹ) (Chicago: University of Chicago Press, năm 1985). David Vogel trong Fluctuating Fortunes: The Political Power of Business in America (Sự dao động vận may: Quyền lực chính trị của giới kinh doanh ở Mỹ) (New York: Basic Books, năm 1989) coi quyền lực kinh doanh không nhất thiết là một thứ đương nhiên mà là thứ kinh doanh có thể được hoặc mất. Nhiều học giả bây giờ ngả theo lập trường cho rằng kinh doanh không phải luôn có được những gì nó muốn trong chính trị, vì chính quyền, theo quan điểm của họ, đã có mức độ tự trị riêng của mình; ví dụ đọc Peter B. Evans, Dietrich Rueschemeyer, và Theda Skocpol, biên soạn, Bringing the State Back In (Đưa nhà nước vào cuộc) (New York: Cambridge University Press, năm 1985). Hiểu biết của Mills về đặc điểm quản lý của giới tinh hoa doanh nghiệp phải được bổ sung bằng việc đọc Steven Brint, In an Age of Experts: The Changing Role of the Professions in America (Trong thời đại chuyên gia: Thay đổi vai trò của các ngành nghề ở Mỹ) (Princeton, NJ.: Princeton University Press, năm 1994).
Một nghiên cứu cố gắng cập nhật những ý kiến của Mills về giới quân sự là của John L. Boies, Buying for Armageddon: Business, Society, and Military Spending Since the Cuban Missile Crisis (Mua sắm cho ngày tận thế: Kinh doanh, xã hội, và chi phí quân sự từ cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba (New Brunswick, NJ.: Rutgers University Press, năm 1994). Ít nhất một cuốn sách gần đây rất bất bình với việc Mills cho rằng đặc trưng của giới quân sự là phản dân chủ, ví dụ, rằng ở Mỹ các lực lượng vũ trang là một trong một vài lĩnh vực đã diễn ra sự hội nhập chủng tộc rộng rãi: Charles C. Moskos và John Sibley Butler, All That We Can Be: Black Leadership and Racial Integration the Army Way (Những gì chúng ta có thể: Giới lãnh đạo da đen và hòa hợp chủng tộc theo cách quân đội) (New York: Basic Books, năm 1996).
Một số tác phẩm gần đây về vai trò của tiền bạc và quyền lực công ty trong việc định hình bản chất của giới tinh hoa chính trị gồm có Thomas Ferguson, Golden Rule: The Investment Theory of Party Competition and the Logic of Money-Driven Political Systems (Nguyên tắc vàng: Thuyết đầu tư về thành phần của đảng và logic của các hệ thống chính trị mà tiền bạc thúc đẩy) (Chicago: University of Chicago Press, năm 1995), và Ronald Frederick King,Money, Time, and Politics: Investment Tax Subsidies and American Democracy (Tiền bạc, thời gian, và chính trị: Hỗ trợ thuế đầu tư và nền dân chủ Mỹ) (New Haven, Conn.: Yale University Press, năm 1993). Tuy nhiên, một số học giả chỉ rõ rằng kinh doanh thường thích những gì mâu thuẫn, do đó làm nó bất khả thi đối với nhà nước với tư cách một đầy tớ trực tiếp của giới tinh hoa công ty. Đọc Cathie J. Martin, Shifting the Burden: The Struggle over Growth and Corporate Taxation (Chuyển gánh nặng: Cuộc đấu tranh về phát triển và thuế công ty) (Chicago: University of Chicago Press, năm 1991).
Hai cuốn sách gần đây về phê phán xã hội, đề cập những vấn đề như cái gì làm nó hiệu quả và quan hệ của nó với khoa học xã hội: Michael Walzer, In the Company of Critics: Social Criticism and Political Commitment in the Twentieth Century (Đồng hành cùng các nhà phê bình: Phê phán xã hội và cam kết chính trị trong thế kỷ XX) (New York: Basic Books, 1988), Alan Wolfe, Marginalized in the Middle (Khoảng cách ở giữa) (Chicago: University of Chicago Press, năm 1996).