T
ình trạng suy thoái đạo đức cao hơn không thể thu hẹp trong lĩnh vực chính trị và cũng không thể hiểu chủ yếu là vấn đề tham nhũng trong các thiết chế mà cơ bản là tốt. Tham nhũng chính trị là một khía cạnh của tình trạng suy thoái đạo đức chung hơn; mức độ nhạy cảm đạo đức hiện chiếm ưu thế không chỉ là vấn đề tham nhũng.1 Suy thoái đạo đức ở tầm cao hơn là một đặc điểm có tính hệ thống của giới tinh hoa Mỹ, được mọi người chấp nhận là một đặc điểm cơ bản của xã hội đại chúng.
Tất nhiên, có kẻ tham nhũng ở các thiết chế đàng hoàng, nhưng khi các thiết chế là tham nhũng thì nhiều người sống và làm việc trong đó hẳn cũng tham nhũng. Trong thời đại công ty, quan hệ kinh tế trở nên khách quan, và giám đốc điều hành cảm thấy ít chịu trách nhiệm cá nhân hơn. Bên trong thế giới công ty của doanh nghiệp, chiến tranh và chính trị, lương tâm cá nhân giảm sút và tình trạng suy thoái đạo đức ở cấp cao hơn được thể chế hóa. Nó không chỉ là vấn đề quản lý tham nhũng ở công ty, quân đội hay nhà nước, nó còn là một đặc điểm của giới điều hành giàu có, với tư cách là một tầng lớp tư bản, gắn chặt với nền chính trị của nhà nước quân sự.
Theo quan điểm này, ví dụ vấn đề quan trọng nhất về các quỹ vận động tranh cử của các chính trị gia trẻ tham vọng không phải là việc liệu các chính trị gia có nhạy cảm về đạo đức hay không, mà là có hay không có người trẻ tuổi nào trong nền chính trị Mỹ, vốn đã tiến xa và nhanh như vậy, rất có thể hiện nay cũng đã làm như thế mà không cần có hoặc đòi hỏi phải có độ nhạy cảm đạo đức dẫu có cùn đi phần nào. Nhiều vấn đề về “tội ác cổ cồn” và về đạo đức công vụ dễ dãi, những thói hư tật xấu phải trả giá đắt và sự liêm chính cá nhân phai nhạt dần, là những vấn đề suy thoái đạo đức mang tính cấu trúc. Chúng không chỉ là vấn đề về nhân cách nhỏ hư hỏng vì môi trường xấu. Và nhiều người ít nhất cũng mơ hồ nhận ra điều đó. Khi có tin tức về tình trạng suy thoái đạo đức ở cấp cao hơn, họ thường nói: “Thế là hôm nay lại thêm một người nữa bị bắt”, ngụ ý rằng các trường hợp bị phanh phui không phải là mấy sự kiện kỳ quặc liên quan đến các nhân vật ngẫu nhiên mà là triệu chứng của một tình trạng đang lan rộng. Có chứng cứ xác đáng chứng minh rằng họ đúng. Nhưng điều kiện cơ bản biến các ví dụ này thành triệu chứng là gì?
1.
Nỗi trăn trở về đạo đức của thời đại chúng ta là kết quả của việc các giá trị và quy tắc ứng xử đàng hoàng cũ hơn không còn kiềm chế được đàn ông và đàn bà của thời đại công ty nữa, nhưng chúng cũng không được thay bằng các giá trị và quy tắc mới có ý nghĩa đạo đức và chấp thuận với những việc hàng ngày của công ty họ đang phải làm. Không phải việc quần chúng công khai gạt bỏ các quy tắc họ phải tiếp nhận, mà là với nhiều thành viên, mấy quy tắc này đã trở nên rống tuếch. Không có các tiêu chuẩn đạo đức của việc chấp nhận, nhưng cũng chẳng có tiêu chuẩn đạo đức của sự phản đối. Là những cá nhân, họ không thể tự vệ về mặt đạo đức; là nhóm, họ lại khác biệt về chính trị. Vì thế khi nói “công chúng” bị lẫn lộn về đạo đức chính là muốn nói đến việc không có cam kết đã được khái quát.
Nhưng tất nhiên, không chỉ có “công chúng” mới bị lẫn lộn về đạo đức như thế này. James Reston đã bình luận, “Bi kịch của chính quyền Washington, là nó bị xáo trộn ở mọi ngả rẽ bởi những thứ còn sót lại của các tập quán chính trị cũ và các thiết chế đã hết thời nhưng không được chăm bón tiếp bằng đức tin cổ xưa vốn là cơ sở của nó. Nó bám lấy những thứ xấu xa và vứt bỏ tính vĩnh cửu. Nó rao giảng lòng tin nhưng lại không tin. Nó nhớ lời cũ nhưng lại quên giai điệu. Nó tham gia vào cuộc chiến ý thức hệ mà không thể xác định được ý thức hệ của riêng mình. Nó lên án chủ nghĩa duy vật của kẻ thù vô thần, nhưng lại ca ngợi chủ nghĩa duy vật của mình”.2
Trong các thiết chế kinh tế và chính trị, giới điều hành giàu có hiện nắm giữ quyền lực khổng lồ, nhưng họ không bao giờ cần phải có sự đồng ý của những người là đối tượng của quyền lực họ có. Mọi nhóm lợi ích không che đậy, mọi quyền lực mới không bị cấm đoán của công ty, khối trang trại, nghiệp đoàn lao động, và cơ quan chính quyền xuất hiện trong hai thế hệ vừa qua đã được khoác cho những khẩu hiệu đạo đức. Vậy mấy thứ nhân danh lợi ích công mà không làm là gì? Khi những khẩu hiệu này cũ dần, những khẩu hiệu mới công phu tạo ra, rồi cũng đến lúc trở nên nhàm chán. Trong khi đó khủng hoảng kinh tế và quân sự cứ tái diễn đã làm lan truyền nỗi sợ hãi, do dự, và lo lắng, khiến việc bận rộn tìm kiếm lời bào chữa đạo đức và nguyên cớ đúng đắn càng trở nên cấp thiết.
“Khủng hoảng” là một thuật ngữ mang nghĩa xấu, vì quá nhiều người ở vị trí cao viện vào nó để che giấu những chính sách và việc làm khác thường của họ; thực tế là chính sự thiếu vắng các cuộc khủng hoảng là đặc tính chủ yếu của tình trạng suy thoái đạo đức ở cấp cao hơn. Vì khủng hoảng đích thực liên quan đến tình huống trong đó mọi người nói chung được giới thiệu các giải pháp thực sự mà ý nghĩa đạo đức của nó rõ ràng được mở rộng cho tranh luận công khai. Suy thoái đạo đức cao hơn, việc suy yếu các giá trị cũ hơn nói chung và cách tổ chức vô trách nhiệm không liên quan đến bất kỳ cuộc khủng hoảng công khai nào; trái lại, chúng là những vấn đề về một sự thờ ơ đang lan rộng và một sự mọt ruỗng thầm lặng từ bên trong.
Những hình ảnh cho thấy các tầng lớp cao hơn thường chiếm ưu thế là những hình ảnh về giới tinh hoa được xem là người nổi tiếng. Khi bàn về giới nổi tiếng chuyên nghiệp, tôi đã lưu ý rằng giới tinh hoa quyền lực đã được thiết chế hóa không độc chiếm tâm điểm của sự vinh danh quốc gia. Họ chia sẻ nó trên cả nước với những sinh vật phù phiếm đầy nhục cảm của thế giới người nổi tiếng, được dùng như bức màn che đậy quyền lực thực sự của họ. Nếu nhìn lượng quảng cáo cũng như tán dương chủ yếu và liên tục dành cho giới nổi tiếng chuyên nghiệp, sẽ thấy nó không dành cho giới tinh hoa quyền lực. Vì vậy tính nổi trội xã hội của giới tinh hoa đó giảm đi do bị phân tâm về địa vị, hoặc do công chúng nhìn họ qua người nổi tiếng vốn chuyên mua vui và giải trí, hoặc cũng có thể là ghê tởm.
Việc thiếu vắng trật tự đạo đức vững chắc về lòng tin làm quần chúng càng thấy rõ sự thao túng và rối trí trong thế giới người nổi tiếng. Đến một lúc nào đó, “sản phẩm” của những lời kêu gọi và quy tắc hành xử và giá trị mà họ bị phụ thuộc sẽ dẫn họ tới sự ghê tởm và hoài nghi, tới một dạng con-người-nhỏ-bé-kiểu-Machiavelli. Thế là họ vui vẻ tận hưởng những đặc quyền của giới điều hành giàu có, những trò hề về đêm của người nổi tiếng, và cuộc sống vui buồn của nhóm rất giàu.
Nhưng cùng với tất cả mấy thứ đó, vẫn có một giá trị Mỹ xưa cũ không hề bị giảm sút mấy: giá trị của tiền và những thứ tiền có thể mua được – những thứ mà ngay cả trong thời kỳ lạm phát dường như vẫn trụ vững và bền như thép không rỉ. Sophie Tucker nói: “Tôi đã là người giàu và cũng từng nghèo, nhưng tin tôi đi, giàu là tốt nhất”.3 Khi nhiều giá trị khác yếu đi, vấn đề đối với người Mỹ không phải là “Có thứ gì đó mà tiền, sử dụng đầy thông minh, sẽ chẳng mua được?” mà là “Có bao nhiêu thứ mà tiền sẽ không mua được lại có giá trị và được khao khát hơn những gì tiền sẽ mua được?” Tiền là một tiêu chí thành công không rõ ràng, và thành công đó vẫn là giá trị Mỹ tối thượng.
Bất kỳ khi nào các tiêu chuẩn của đời sống dựa trên tiền còn chiếm ưu thế, thì khi đó người có tiền, dù có bằng cách nào, cuối cùng vẫn sẽ được tôn trọng. Nghe nói 1 triệu đô-la có thể xóa đi vô vàn tội lỗi. Không chỉ là chuyện mọi người muốn có tiền, mà chính những tiêu chuẩn của họ là tiền. Trong một xã hội mà người làm ra tiền không có đối thủ xứng tầm về tiếng tăm và danh dự, từ “thực tế” trở nên đồng nghĩa với lợi ích riêng và từ “ý thức chung” hàm ý phải vượt lên đầu về tài chính. Theo đuổi cuộc sống dựa trên tiền bạc là giá trị chủ đạo mà trong quan hệ với nó thì ảnh hưởng của các giá trị khác giảm sút, vì vậy người ta dễ dàng trở nên tàn nhẫn về đạo đức khi theo đuổi đồng tiền dễ kiếm và nhanh chóng dựng xây cơ nghiệp.
Rất nhiều trường hợp hối lộ ở Mỹ, tuy không phải tất cả, đơn giản là một phần của cố gắng ngày xưa để trở nên giàu và rồi giàu hơn. Nhưng ngày nay bối cảnh của cách vận hành cũ đã phải thay đổi. Khi cả thiết chế kinh tế lẫn chính trị còn nhỏ bé và phân tán – như trong các mô hình kinh tế kinh điển đơn giản hơn và nền dân chủ Jefferson – không ai trong phạm vi quyền lực của mình có thể ban phát hoặc nhận những ưu đãi lớn. Nhưng khi các thiết chế chính trị cùng các cơ hội kinh tế nhanh chóng được tập trung và liên kết, thì chức vụ công có thể được dùng cho tư lợi.
Suy thoái đạo đức ở các cơ quan chính phủ cũng không cao hơn ở các công ty kinh doanh. Những người làm chính trị có thể ban phát ưu ái tài chính chỉ khi có những người làm kinh tế sẵn sàng và tự nguyện nhận chúng. Và những người làm kinh tế có thể tìm kiếm ưu ái chính trị chỉ khi có những tổ chức chính trị có thể ban phát ưu ái đó. Tất nhiên, công chúng chú ý nhất đến các vụ giao dịch của những người trong chính phủ, và có lý do chính đáng cho việc đó. Mong muốn cao hơn, nên công chúng rất dễ bị quan chức chính phủ làm thất vọng. Doanh nhân được cho là phải tự thân vận động, và nếu họ có thể lướt trên mặt băng pháp lý mỏng thành công, thì người Mỹ thường vinh danh họ vì đã làm được như thế. Nhưng trong một nền văn minh đượm màu kinh doanh như Mỹ, các quy tắc làm ăn cũng có mặt trong chính phủ. Có bao nhiêu giám đốc điều hành thực sự đấu tranh cho một bộ luật đòi phải tính toán cẩn thận và công khai tất cả các hợp đồng làm ăn và “các khoản chi phí”? Thuế thu nhập cao đưa tới kết quả là một mạng lưới móc ngoặc giữa hãng lớn và nhân viên cao cấp hơn. Có nhiều cách tài tình để đánh lừa tinh thần của các luật thuế, như chúng ta đã thấy, và tiêu chuẩn tiêu thụ của nhiều người cao giá được quyết định bởi các khoản chi phí phức tạp nhiều hơn là bởi số lương được đem về. Giống như sự ngăn cấm, các luật thuế thu nhập và những quy định thời chiến tồn tại mà không có sự hỗ trợ của các quy ước làm ăn chắc chắn. Chỉ khai gian mới là bất hợp pháp, còn tìm cách thoát được lại là khôn ngoan. Luật pháp mà không có các quy ước đạo đức hỗ trợ thì sẽ mời gọi tội ác, nhưng quan trọng hơn nhiều, chúng thúc đẩy việc phát triển một thái độ thực dụng vô luân.
Một xã hội mà nhiều người tin rằng trong các tầng lớp cao hơn và ở các cấp độ quyền lực trung bình có một mạng lưới những kẻ phóng đãng khôn ngoan, sẽ không sinh ra những người có ý thức đạo đức trong tâm; một xã hội thực dụng thuần túy sẽ không sinh ra những người có lương tâm. Một xã hội bó hẹp nghĩa của “thành công” là nhiều tiền và theo đó nó sẽ lên án thất bại như một thứ rất xấu xa, nâng tiền bạc lên tầng giá trị tuyệt đối, sẽ sinh ra kẻ điều hành sắc sảo và giao dịch mờ ám. Cầu Chúa phù hộ cho người hoài nghi, vì chỉ họ mới có những thứ đưa tới thành công.
2.
Trong thế giới công ty, trong ban lãnh đạo chính trị, và ngày càng nhiều trong giới quân sự có thế lực, cánh đứng đầu các thang bậc lớn và bộ máy quyền lực được coi không chỉ là những người thành công, mà còn là những người bảo trợ cho thành công. Họ diễn giải và áp dụng các tiêu chuẩn thành công cho các cá nhân. Những người ở ngay dưới họ thường là thành viên của nhóm họ, khách hàng của họ, người đàng hoàng vì bản thân họ cũng đàng hoàng. Nhưng các thang bậc lại liên quan với nhau một cách phức tạp, và trong mỗi nhóm có một số người mà lòng trung thành lại dành cho các nhóm khác. Có lòng trung thành cá nhân cũng như lòng trung thành chính thức, tiêu chuẩn cá nhân cũng như tiêu chuẩn chung cho thăng tiến. Khi lần theo nghề nghiệp của từng thành viên khác nhau trong tầng lớp cao hơn, tôi cũng lần theo lịch sử lòng trung thành của họ, vì thực tế thứ nhất và bao trùm về những tầng lớp cao hơn này, theo quan điểm về thứ đưa họ tới thành công là dựa trên việc tự cố kết. Thực tế thứ hai về thang bậc thành công này là họ không tạo thành một cấu trúc nguyên khối; họ là một tập hợp phức tạp của các nhóm có nhiều mối quan hệ khác nhau và thường đối lập nhau. Thực tế thứ ba chúng ta phải công nhận là trong bất kỳ thế giới nào như thế, những người thành công trẻ hơn sẽ cố có mối quan hệ với những người phụ trách việc chọn họ là những người thành công.
Vì thế, văn học Mỹ mang khát vọng thực tế – rất tôn sùng sự thành công – đã trải qua một thay đổi quan trọng trong lời khuyên của nó về “những gì đưa tới thành công”. Các đức tính cá nhân đúng mực như sức mạnh ý chí và lòng trung thực, như đầu óc siêu đẳng và bất lực thể xác không thể nói “có” với Con đường Dễ dàng trước đàn bà, thuốc lá, và rượu – hình ảnh cuối thế kỷ XIX này đã nhường đường cho “yếu tố quan trọng nhất, nhân cách thực sự”, thứ “lôi cuốn chú ý bằng sức hấp dẫn”, và “toát lên vẻ tự tin”. Trong “lối sống mới” này, người ta phải mỉm cười thường xuyên và biết nghe, nói những gì phù hợp với lợi ích của người khác và làm họ cảm thấy quan trọng – và phải làm tất cả những việc này với vẻ chân thành. Tóm lại, quan hệ cá nhân đã trở thành một phần của “quan hệ công chúng”, một sự hy sinh cái tôi trên thị trường nhân cách, đi tới mục tiêu duy nhất là thành công cá nhân trong lối sống công ty.4 Được biện minh bằng phẩm chất ưu việt và làm việc chăm chỉ, nhưng dựa trên sự cố kết trong một nhóm, thường thì với các lý do hoàn toàn khác, người ham danh vọng cao phải liên tục thuyết phục người khác cũng như bản thân là anh ta khác với con người thực của mình.
Các tầng lớp cao hơn ở Mỹ tự hào tuyên bố thành viên của họ toàn là những người tay trắng làm nên. Đó là những hình ảnh và chuyện huyền bí được họ quảng cáo khắp nơi. Bằng chứng phổ biến về việc này là dựa trên các giai thoại; chứng cứ khoa học được cho là dựa trên những cách thống kê qua đó cho thấy các tỉ lệ khác nhau về những người ở tầng lớp cao nhất là con trai của tầng lớp thấp hơn. Tôi từng thấy các tỉ lệ nhất định trong giới tinh hoa gồm những người mới nổi. Nhưng thứ quan trọng hơn tỉ lệ con trai của những người làm công ăn lương có mặt ở các tầng lớp cao hơn này là các tiêu chuẩn chấp nhận họ và vấn đề ai áp dụng các tiêu chuẩn này. Chúng ta không thể chỉ nhìn vào sự thăng tiến mà nghĩ là họ có thành tích cao hơn. Ngay cả nếu các số liệu thô hiện đang được đưa ra bị đảo ngược, và 90% giới tinh hoa là con trai của người làm công ăn lương – nhưng các tiêu chuẩn cố kết của giới tinh hoa vẫn như bây giờ – chúng ta cũng không thể cứ nhất định cho thăng tiến đó là thành tích. Chỉ khi các tiêu chuẩn của các vị trí chóp bu là xứng đáng, và chỉ khi chúng được tự áp dụng như cái cách của doanh nghiệp thuần túy, chúng ta mới có thể đưa thành tích vào trong các số liệu lấy từ bất kỳ số liệu thống kê về sự thăng tiến nào. Ý kiến cho rằng người tay trắng làm nên dù sao cũng là người “tốt” và rằng người nhờ gia đình mà nên là không tốt chỉ mang ý nghĩa đạo đức khi nghề nghiệp là độc lập, khi người ta được là chính mình như một doanh nhân. Nó cũng sẽ có ý nghĩa trong một nền hành chính nghiêm khắc, nơi có các bài kiểm tra để kiểm soát việc thăng tiến. Nó không có ý nghĩa mấy trong hệ thống cố kết công ty.
Về mặt thực tế tâm lý, làm gì có người tay trắng làm nên. Không ai có thể làm được điều đó, tất cả thành viên của giới tinh hoa Mỹ lại càng không. Trong thế giới thang bậc công ty, những người có vị trí cao hơn chọn người theo các tiêu chuẩn mà họ sử dụng. Liên quan đến các công ty của Mỹ, chúng ta đã thấy các tiêu chuẩn hiện hành. Con người phải tự gò mình để thích hợp với chúng, do đó được tạo nên bởi các tiêu chuẩn và vị trí xã hội chiếm ưu thế. Nếu không có người tay trắng làm nên như thế, thì lại có người tự thân vận động, và có nhiều người như vậy trong giới tinh hoa Mỹ.
Dưới những điều kiện thành công ấy, làm gì có chuyện lúc khởi nghiệp thì nghèo rồi trở nên giàu có. Chỉ ở đâu mà cách làm giàu đòi hỏi đức tính tốt hoặc đưa tới đức tính tốt thì làm giàu cá nhân mới cần đến nó. Trong một hệ thống cố kết từ trên xuống, việc bạn khởi nghiệp giàu hay nghèo xem ra ít phù hợp với việc lột tả bạn là loại người nào khi bạn mới đến hơn là nguyên tắc của những người nắm quyền chọn lựa những người thành công.
Nhiều người bên dưới các tầng lớp cao đều cảm nhận được điều này, dẫn tới quan điểm hoài nghi về việc thiếu sự kết nối giữa thành tích và thay đổi, giữa đức tính tốt và thành công. Nó là một cảm giác về mặt xấu của thành tích, và được thể hiện trong cách nhìn phổ biến kiểu như “tất cả chỉ là một mánh lới”, và “không phải bạn biết gì mà là bạn biết ai”. Khá nhiều người hiện nay chấp nhận mặt xấu của thành tích như một thực tế đang có.
Một số nhà quan sát lại bị cảm nhận của họ về mặt xấu của thành công đưa tới ý thức hệ, do khoa học xã hội hàn lâm lập lờ đưa ra, về mối quan hệ con người trong công nghiệp,5 còn những người khác lại đi tới sự khuây khỏa đầu óc được tạo ra bởi tư liệu mới hơn về sự buông bỏ, về sự bình an trong tâm, mà ở một vài tầng lớp kín tiếng hơn thì thay thế cho tư liệu cũ về khát vọng ngông cuồng, làm sao để bước tiếp. Nhưng, bất kể kiểu phản ứng cụ thể thế nào, ý thức về mặt xấu của thành công thường làm tăng thêm mức độ nhạy cảm của công chúng mà tôi gọi là suy thoái đạo đức cao hơn. Hình ảnh cũ về người tay trắng làm nên đã nhạt nhòa, và không có hình ảnh thành công nào khác thế vào chỗ từng chói sáng. Bản thân thành công, như mô hình tuyệt vời của Mỹ, bị suy giảm vì nó trở thành một một đặc điểm nữa của sự suy thoái đạo đức cao hơn.
3.
Thiếu tin tưởng đạo đức của giới tinh hoa Mỹ – cũng như việc thiếu trách nhiệm có tổ chức – đều do sự suy thoái đạo đức cao hơn mà ra, nhưng còn do những cảm nhận mơ hồ về sự ngu dốt cao hơn. Đã có thời ở Mỹ, con người công việc cũng là con người nhạy cảm: giới tinh hoa quyền lực và giới tinh hoa văn hóa trùng khớp ở mức độ đáng kể, và ở đâu họ không trùng khớp thì thường lại chồng chéo nhau như các giới. Trong phạm vi một đám công chúng hiểu biết và có ảnh hưởng, kiến thức và quyền lực tương tác nhau hiệu quả; và hơn nữa, đám công chúng này quyết định phần lớn những gì đã được quyết định.
James Reston đã viết: “Không gì lột tả rõ hơn khi đọc về cuộc tranh luận ở Hạ viện những năm 1830 về cuộc chiến giành độc lập của Hy Lạp với Thổ Nhĩ Kỳ và cuộc tranh luận Hy Lạp-Thổ Nhĩ Kỳ ở Quốc hội năm 1947. Cuộc thứ nhất nghiêm trang và hùng hồn, lập luận đi từ nguyên tắc qua minh họa tới kết luận; cuộc thứ hai là mớ lộn xộn tẻ nhạt về các điểm gây tranh cãi, đầy rẫy những việc không phù hợp và lịch sử tồi tệ”.6 Năm 1783, George Washington thư giãn với “những bức thư” của Voltaire và cuốn On Human Understanding (Về hiểu biết con người) của Locke; Eisenhower đọc truyện gã chăn bò và truyện trinh thám.7 Với những người điển hình hiện ở trong giới chính trị, kinh tế, và quân sự cao hơn, các tóm tắt và ghi nhớ có lẽ đã thay thế khá tốt cho không chỉ sách vở nghiêm túc, mà còn cả báo chí. Có lẽ cứ thành công là đạo đức xuống cấp thật, nhưng điều hơi bất an về nó là người ta còn không cảm thấy xấu hổ chút nào về phong cách ít học trong thư giãn và trong món ăn tinh thần của mình, và không có công chúng có học để bằng phản ứng của mình có thể chỉ bảo cho họ các việc khó chịu ấy.
Tới giữa thế kỷ XX, giới tinh hoa Mỹ đã trở nên hoàn toàn khác biệt về chủng loại với những người có thể được coi là giới tinh hoa văn hóa trên bất kỳ cơ sở hợp lý nào, hoặc thậm chí được coi là những người nhạy cảm có học. Kiến thức và quyền lực không thực sự thống nhất trong giới cầm quyền, và khi người có kiến thức tiếp cận được giới quyền lực, họ không trở thành những người đồng cấp mà là đám được thuê mướn. Giới tinh hoa quyền lực, giàu có, và nổi tiếng không có quan hệ dù chỉ thoảng qua với giới tinh hoa văn hóa, hiểu biết và nhạy cảm; họ không tiếp xúc với những người này, mặc dù những người bên ngoài thích phô trương của hai thế giới này đôi khi chồng chéo trong thế giới những người nổi tiếng.
Phần lớn mọi người được khích lệ để nghĩ rằng, nói chung những người quyền lực nhất và giàu có nhất cũng là hiểu biết nhất, hay theo cách nói của họ là “thông minh nhất”. Các ý kiến ấy thường được trưng ra trong nhiều khẩu hiệu nhỏ về những người “dạy vì họ không thể làm”, và về những người “nếu anh khôn ngoan, sao anh không giàu?”i Nhưng mọi lời khiếm nhã ấy có nghĩa là những ai sử dụng chúng đều nghĩ rằng quyền lực và của cải là các giá trị cao nhất đối với mọi người và đặc biệt là những người “vốn khôn ngoan”. Họ cũng cho rằng hiểu biết luôn luôn hoặc phải có kết quả theo cách như vậy, và rằng thử thách hiểu biết thực sự sẽ mang tới kết quả ấy. Người có quyền lực và người giàu có phải là những người hiểu biết nhất, nếu không làm sao họ có thể ở vị trí của mình bây giờ? Nhưng khi nói những người có được quyền lực phải “khôn ngoan”, cũng chính là nói quyền lực là hiểu biết. Khi nói những người có được của cải phải khôn ngoan, tức là nói của cải là hiểu biết.
i. Bernard Baruch, một cố vấn cho các đời Tổng thống, gần đây đã nhận xét: “Tôi nghĩ các nhà kinh tế học như [một] quy tắc… coi việc họ biết nhiều là đương nhiên. Nếu họ thực sự biết nhiều như vậy, họ hẳn sẽ có toàn bộ tiền bạc và chúng ta sẽ chẳng có gì”. Và ông lại lý giải: “Những người này [các nhà kinh tế học] có thể lấy thực tế và số liệu rồi khớp lại với nhau, nhưng những dự đoán của họ không đáng giá hơn của chúng ta. Nếu chúng hơn, họ hẳn sẽ có toàn bộ tiền bạc và chúng ta sẽ chẳng có gì”.8
Việc các giả định này chiếm ưu thế cho thấy có gì đó đúng: đó là ngay cả hiện nay, những người bình thường có xu hướng giải thích và biện minh cho quyền lực và của cải bằng kiến thức và năng lực. Các giả định ấy cũng cho thấy có điều gì đó về những gì đã xảy ra đối với thứ kinh nghiệm mà kiến thức đem lại. Kiến thức không còn được cảm nhận rộng rãi như một lý tưởng, mà được xem như một công cụ. Trong một thế giới của quyền lực và của cải, kiến thức có giá trị như một công cụ quyền lực và của cải, và tất nhiên, cũng là một thứ tô điểm trong trò chuyện.
Những gì kiến thức đưa lại cho một con người (khi xác định rõ anh ta là gì, và làm anh ta tự do) là lý tưởng cá nhân về kiến thức. Những gì kiến thức đưa lại cho một nền văn minh (trong việc lột tả ý nghĩa con người, và làm nó tự do) là lý tưởng xã hội về kiến thức. Nhưng hiện nay, các lý tưởng cá nhân và xã hội về kiến thức trùng hợp với những gì mà kiến thức làm con người trở nên khôn ngoan – thúc đẩy anh ta đi lên –và đối với quốc gia khôn ngoan, nó đem lại uy tín văn hóa, xác nhận quyền lực bằng thẩm quyền.
Kiến thức hiếm khi mang lại quyền lực cho người hiểu biết. Nhưng giả sử, và bí mật, kiến thức của một số người-đang-lên, và việc họ tự do sử dụng nó, lại gây hậu quả cho những người không có sức mạnh bảo vệ. Tất nhiên, kiến thức không tốt mà cũng không xấu, việc dùng nó chẳng tốt mà cũng chẳng xấu. John Adams viết: “Người xấu hiểu biết cũng nhanh chẳng kém gì người tốt, và khoa học, nghệ thuật, thị hiếu, giác quan và chữ viết, đều được dùng cho mục đích bất công cũng như đạo đức”.9 Đó là chuyện của năm 1790; giờ thì chúng ta có đầy đủ lý do để biết đúng là như vậy.
Vấn đề về hiểu biết và quyền lực đã luôn và hiện vẫn là vấn đề về mối quan hệ của người có kiến thức với người có quyền lực. Giả sử chúng ta phải chọn 100 người có quyền lực nhất từ mọi lĩnh vực quyền lực ở Mỹ ngày nay, và xếp họ thành hàng. Và rồi, giả dụ chúng ta chọn ra 100 người hiểu biết nhất từ mọi lĩnh vực kiến thức xã hội, và cũng xếp họ thành hàng. Có bao nhiêu người sẽ có mặt trong cả hai hàng của chúng ta? Tất nhiên, việc lựa chọn sẽ phụ thuộc vào thứ mà chúng ta nói là quyền lực và thứ mà chúng ta nói là kiến thức – đặc biệt là thứ mà chúng ta nói là kiến thức. Nhưng, nếu chúng ta muốn nói những từ này dường như có nghĩa là gì, chắc hẳn chúng ta sẽ thấy rất ít người ở Mỹ hôm nay thuộc cả hai nhóm, và chắc hẳn chúng ta có thể thấy nhiều hơn vào thời lập quốc hơn là hôm nay. Vì ở thế kỷ XVIII, ngay cả tại những tiền đồn thực dân này, người có quyền lực vẫn theo đuổi việc học hành, và những người ham học thường có vị trí quyền lực. Trong các lĩnh vực này, tôi tin là chúng ta có sự suy giảm trầm trọng.10
Không hề có sự kết hợp giữa kiến thức và quyền lực trong cùng một con người, nhưng người có quyền lực thì được nhiều người có đôi chút hiểu biết vây quanh, hoặc chí ít cũng là đám có kinh nghiệm trong mấy vụ làm ăn khôn khéo. Người hiểu biết không trở thành ông vua triết học, mà thường trở thành một nhà tư vấn, và hơn nữa là nhà tư vấn cho một người không giống như vua hay như triết gia. Tất nhiên, đúng là chủ tịch của nhóm người viết thuê thuộc Liên đoàn Tác giả đã giúp một thượng nghị sĩ hàng đầu “chải chuốt những diễn văn ông ta đưa ra trong chiến dịch tranh cử thượng viện năm 1952”.11 Nhưng không phải trong suốt sự nghiệp của mình, những người hiểu biết đương nhiên sẽ gặp những người có quyền lực. Mối liên kết giữa trường đại học và chính quyền là yếu, và khi nó diễn ra, người hiểu biết có vẻ là một “chuyên gia” mà thường được hiểu như một kỹ thuật viên được thuê mướn. Giống như phần lớn mọi người trong xã hội ấy, cuộc sống của người hiểu biết phụ thuộc vào công việc anh ta làm, mà ngày nay là sự chấp nhận chủ yếu đối với việc kiểm soát suy nghĩ. Ở đâu mà để vươn lên đòi hỏi phải có các đánh giá tốt của những người khác quyền lực hơn, ở đó nhận xét của họ trở thành đối tượng quan tâm chính. Vì thế, trong chừng mực các trí thức trực tiếp phục vụ quyền lực – ở thang bậc công việc – họ thường không được tự do làm việc đó.
Người phe dân chủ cho rằng công chúng có tồn tại, và trong các hùng biện của mình, anh ta khẳng định rằng chính công chúng ấy có quyền nhất. Một nền dân chủ cần có hai thứ: một cộng đồng công chúng hiểu biết và dám có ý kiến, và những người lãnh đạo chính trị nếu không phải là người có lý trí thì ít nhất có trách nhiệm hợp lý đối với công chúng hiểu biết đang tồn tại. Chỉ ở nơi cộng đồng công chúng và lãnh đạo đáp ứng và có trách nhiệm, thì các vấn đề của con người mới theo trật tự dân chủ, và chỉ khi hiểu biết phù hợp với công chúng thì mới có thể có trật tự này. Chỉ khi suy nghĩ có cơ sở tự trị, không phụ thuộc mà liên hệ chặt chẽ với quyền lực, thì nó mới có thể thực thi sức mạnh trong việc định hình các vấn đề của con người. Việc này có thể dân chủ chỉ khi có một công chúng tự do và hiểu biết, với những người hiểu biết có thể tự vạch đường, và với những người có quyền lực thực sự có trách nhiệm. Một công chúng và những người như vậy – có quyền lực hoặc có kiến thức – hiện chưa thịnh hành, và do vậy, kiến thức giờ đây chưa phù hợp về mặt dân chủ ở Mỹ.
Thành viên điển hình của các tầng lớp cao hơn hiện nay là một người tầm thường về tri thức, đôi lúc là một người tận tâm, nhưng vẫn tầm thường. Trí tuệ của anh ta chỉ lộ ra khi thỉnh thoảng anh ta nhận ra rằng mình không ngang tầm với những quyết định mà đôi khi anh ta cảm thấy có trách nhiệm phải đối diện. Nhưng anh ta thường giữ các cảm giác đó cho riêng mình, còn những lời bày tỏ của anh ta vẫn tôn kính và tình cảm, kiên định và can đảm, vui vẻ và giả tạo như vẫn thường thấy. Anh ta chỉ cởi mở với những ý kiến rút gọn và thông tục, dễ tiêu hóa và định kiến. Anh ta là một vị chỉ huy trong thời đại của điện thoại, bản ghi nhớ và tóm tắt.
Khi nói tới sự thiếu suy nghĩ và tầm thường ở con người của công việc, tất nhiên tôi không có ý cho là những người này đôi khi không thông minh, dù trường hợp này thường vậy. Tuy nhiên, nó chủ yếu không phải là vấn đề phân phối “trí tuệ” – cứ như trí tuệ là thứ ít nhiều ai cũng có. Nó là vấn đề về kiểu trí tuệ, chất lượng của đầu óc được lựa chọn và hình thành. Nó là vấn đề về việc đánh giá tính hợp lý riêng biệt như giá trị chủ yếu của cuộc sống, tính cách, và lối hành xử của một con người. Đánh giá là thứ còn thiếu ở giới tinh hoa quyền lực Mỹ. Thay vào chỗ của nó là “sức nặng” và “cân nhắc” quan trọng hơn nhiều trong thành công được ca ngợi của họ so với bất kỳ sự tinh tế nào của đầu óc hoặc sức mạnh nào của tri thức.
Xung quanh và bên dưới con người của công việc có uy thế là những người phó về kỹ thuật của quyền lực được giao đóng vai trò của người hiểu biết, thậm chí phát ngôn viên: phụ trách quan hệ công chúng, cái bóng, trợ lý hành chính, thư ký. Và đừng quên các Ủy ban. Với việc ngày càng có nhiều các phương tiện quyết định, ban lãnh đạo chính trị của Mỹ thường gặp khủng hoảng trong việc nắm bắt vấn đề, và do đó, thường có nhiều việc không được quyết định.
Việc thiếu kiến thức với tư cách là một kinh nghiệm trong giới tinh hoa thường gắn với thế lực nham hiểm của giới chuyên môn, không chỉ như một thực tế mà còn hợp pháp. Gần đây, khi được hỏi về chỉ trích của lãnh đạo đảng đối lập đối với các chính sách quốc phòng, Bộ trưởng Quốc phòng đã trả lời, “Anh có nghĩ ông ấy là một chuyên gia về vấn đề này không?” Khi các phóng viên hỏi tiếp, ông ta khẳng định là “lãnh đạo quân sự nghĩ nó hợp lý, và tôi nghĩ nó hợp lý”, và sau đó, khi được hỏi về các trường hợp cụ thể, ông ta nói thêm: “Ở một số trường hợp, tất cả những gì anh có thể làm là hỏi Chúa”.12 Với một vai trò lớn đến thế mà ông ta ngạo mạn viện đến Chúa và chuyên gia, thì còn chỗ nào cho giới lãnh đạo chính trị? Lại càng ít chỗ hơn cho các cuộc tranh luận công khai về những gì theo sau mọi chi tiết thuộc vấn đề chính trị, đạo đức, và quân sự. Nhưng từ trước Trân Châu cảng, đã có khuynh hướng xóa bỏ tranh luận và sự sụp đổ của phe đối lập dưới khẩu hiệu lưỡng đảng dễ dãi.
Ngoài việc thiếu trau dồi tri thức của đội ngũ chính trị và giới cố vấn, việc không có những suy nghĩ phù hợp công khai đã đi đến chỗ có nghĩa là các quyết định mạnh mẽ và các chính sách quan trọng không được thông qua theo kiểu để rồi được bào chữa hoặc bị công kích, ngắn gọn là được tranh luận dưới bất kỳ hình thức trí tuệ nào. Hơn nữa, ngay cả cố gắng bào chữa cho chúng cũng thường không được làm. Quan hệ công chúng thế chỗ cho tranh luận có lý trí; thao túng và những quyết định về quyền lực không tranh luận thay cho quyền dân chủ. Từ thế kỷ XIX, khi chính quyền thay thế chính trị, các quyết định quan trọng thậm chí ngày càng không còn được che đậy bằng tấm màn thảo luận hợp lý nữa, mà do Chúa, các chuyên gia, và những người như ông Wilson quyết.
Lĩnh vực bí mật chính thức ngày càng được mở rộng, cũng như lĩnh vực nghe trộm những người có thể tiết lộ công khai mọi thứ với công chúng, chứ không phải những chuyên gia đã được kiểm tra an ninh, không được phép biết. Toàn bộ quy trình ra quyết định liên quan đến việc sản xuất và sử dụng vũ khí nguyên từ đã được thực hiện mà không có bất kỳ tranh luận công khai đích thực nào, và không có những thực tế cần để thảo luận khôn ngoan vì đã chính thức bị giấu kín, bóp méo, và thậm chí lừa gạt. Khi các quyết định mang tới nhiều hiểm họa hơn, không chỉ cho người Mỹ mà cho cả nhân loại theo nghĩa đen, thì các nguồn thông tin bị bưng bít, và các thực tế phù hợp cần cho quyết định (kể cả cho các quyết định đã đưa ra!) không chuyển cho các kênh nhiều thông tin mà giữ lại như “những bí mật chính thức” thuận lợi về chính trị.
Trong khi đó ở những kênh này, sự hùng biện chính trị hình như ngày càng trượt xuống thấp hơn về mức độ trau dồi và nhạy bén. Độ cao của các phương tiện truyền thông thiếu suy nghĩ như vậy với quần chúng, hoặc những gì được nghĩ là với quần chúng, có lẽ là thứ giả định mị dân vốn nghi ngờ và cáo buộc, nếu được nhắc lại thường xuyên đến lúc nào đó sẽ trở thành bằng chứng buộc tội – giống như những tuyên bố lặp lại về thuốc đánh răng hay các nhãn thuốc lá đã làm người ta tưởng là đúng. Loại tuyên truyền lớn nhất mà Mỹ gặp phải, ít nhất là theo tần suất và âm lượng, là tuyên truyền thương mại cho xà phòng, thuốc lá, và xe hơi; đó là những thứ, hay Tên của chúng thì đúng hơn, mà xã hội này lớn tiếng ca ngợi thường xuyên nhất. Điều quan trọng trong việc này là bằng cách lôi vào hay bỏ ra, bằng cách nhấn mạnh và đôi khi tuyên bố thẳng thừng, lượng tuyên truyền đáng kinh ngạc này cho các loại hàng hóa lại thường không đúng sự thật và lừa dối, thường nhắm vào bụng hay vào háng hơn là vào đầu hay vào tim. Truyền thông công chúng từ những người có các quyết định mạnh mẽ, hoặc những người muốn chúng ta bỏ phiếu cho họ vào các vị trí ra quyết định, ngày càng đề cập nhiều tới đặc điểm của sự thiếu quan tâm và chuyện huyền bí mà tuyên truyền và quảng cáo thương mại bắt đầu lấy làm ví dụ.
Hiện nay ở Mỹ, những con người của công việc tỏ ra thiếu đầu óc hơn là giáo điều. Giáo điều thường ít nhiều có nghĩa là sự biện minh công phu cho các ý kiến và giá trị, và vì thế có một số đặc điểm (dù cứng nhắc và khép kín) về đầu óc, trí tuệ, và lý trí. Hiện nay, thứ mà chúng ta chống chính xác là tình trạng thiếu đầu óc của bất kỳ một dạng thế lực công khai nào; thứ mà chúng ta chống là việc thờ ơ và sợ sự hiểu biết có thể phù hợp với việc giải phóng công chúng. Những gì mà việc này có thể làm là khiến các quyết định có những biện minh bất hợp lý mà trí tuệ có thể đương đầu và nêu lên trong tranh luận.
Sự phi lý hoang dại trong các quan niệm chính trị từ thủa sơ khai khó lay chuyển không phải là mối nguy hiểm với Mỹ, mà là những đánh giá được tôn trọng của các Ngoại trưởng, mấy lời tha thiết mà vô vị của các Tổng thống, cái tự tin đáng sợ của các chính trị gia Mỹ trẻ tuổi thẳng thắn từ vùng California đầy nắng. Những người này đã thay thế suy nghĩ bằng lời vô vị, và những giáo điều làm họ hợp pháp được chấp nhận rộng rãi tới mức không người có đầu óc nào đủ sức đối trọng với họ. Họ là những người theo chủ nghĩa hiện thực lập dị: dưới danh nghĩa chủ nghĩa hiện thực, họ xây dựng một hiện thực hoang tưởng của riêng mình; dưới danh nghĩa thực tiễn, họ đưa ra hình ảnh Không tưởng về chủ nghĩa tư bản. Họ thay thế việc giải thích có trách nhiệm về các sự kiện bằng việc che giấu các sự kiện trong mê cung quan hệ công chúng; thay thế việc tôn trọng tranh luận công khai bằng các quan niệm không sắc sảo về chiến tranh tâm lý; thay thế năng lực trí tuệ bằng sự mềm mại của âm thanh, của sự cân nhắc tầm thường; thay thế khả năng xây dựng giải pháp cụ thể và đánh giá hệ quả bằng lập trường của người điều hành.
4.
Mặc dù – có lẽ vì không bị vướng vào suy nghĩ về các vấn đề chung, về tình trạng suy thoái đạo đức của thành công, và ưu thế chung của thói vô trách nghiệm có tổ chức, nên những người thuộc tầng lớp cao hơn được lợi từ tổng quyền lực của các lĩnh vực thiết chế mà họ thống trị. Vì quyền lực thực tế hay tiềm năng của các thiết chế này được cho là thuộc về họ với tư cách những người có vẻ có quyền quyết định. Vị trí và hành động của họ, và thậm chí con người họ, được sùng bái vì những lý do này; và xung quanh mọi vị trí cao của quyền lực, có một vùng uy tín tranh tối tranh sáng mà giới lãnh đạo chính trị, giới điều hành giàu có, các đô đốc và tướng lĩnh đều đắm mình trong đó. Giới tinh hoa của một xã hội, dù mỗi thành viên của nó có khiêm tốn thế nào đi nữa, vẫn là hiện thân uy tín của quyền lực xã hội.i Hơn nữa, ít cá nhân ở những vị trí quyền lực như thế có thể chống cự được lâu cái ham muốn dựa vào nó để xây dựng hình ảnh riêng, ít nhất phần nào dựa vào tập thể lãnh đạo mà họ đứng đầu. Hành động với tư cách đại diện của quốc gia, công ty, quân đội, đến một lúc nào đó anh ta bắt đầu tự coi mình cùng những gì mình nói và tin là thể hiện của vinh quang tích tụ từ lịch sử của những thiết chế lớn mà anh ta đồng nhất với mình. Khi anh ta phát biểu nhân danh đất nước hay sự nghiệp của nó, vinh quang quá khứ của nó cũng văng vẳng bên tai anh ta.
i. Cuối thế kỷ XVIII, John Adams viết: “Khi bạn đã leo tới hàng đầu, và nhìn những người đầu tiên; ít nhất đó là những người quyền quý được biết đến và kính trọng, có lẽ thường được cả nước quý trọng và yêu mến; mọi cặp mắt của mọi người đổ dồn vào các Ông hoàng và Bà chúa, từng hành động của họ đều được theo dõi, và làm tổn thương tình cảm của mọi người sẽ đem lại hậu quả đáng sợ, vì đó là tình cảm của cả quốc gia, và đôi khi của nhiều quốc gia, bị tổn thương cùng lúc. Nếu hoàn cảnh của họ có làm nên sự khác biệt nhỏ nhất, trong tương quan với người khác; nếu có ai ở cấp dưới được thăng lên thành cấp trên, trừ phi điều đó đã được quy định trong luật; thì chính sách rõ ràng và sự cần thiết của họ có thể làm người khác không bị mất mặt, không gì khác ngoài chiến tranh, chém giết và hận thù mới là hậu quả thông thường của nó…”13
Địa vị, vì không còn bám rễ chủ yếu trong các ủy ban địa phương nữa, cũng đi theo các thang bậc lớn mà lúc này đã ở quy mô toàn quốc. Địa vị theo sau tiền bạc, cho dù nó có hơi hướng băng đảng một chút. Địa vị theo sau quyền lực, cho dù nó không có nền tảng. Trong xã hội đại chúng, bên dưới là các hàng rào đạo đức và truyền thống xưa cũ ngăn cản địa vị đổ sập và người Mỹ tìm kiếm những tiêu chuẩn tuyệt hảo ở các tầng lớp trên mình, làm hình mẫu để noi theo và để đánh giá bản thân. Nhưng ngày nay đối với người Mỹ, công nhận những người đại diện trong quá khứ hình như dễ hơn công nhận những người hiện tại. Rất khó nói đó là do khác biệt lịch sử thực sự hay chỉ là dễ dãi chính trị và vấn đề nhận thức.i Dù thế nào thì đó cũng là một thực tế, rằng trong những sắp xếp uy tín có tính chính trị, không mấy ai chê trách Washington, Jefferson, và Lincohn, nhưng nhiều người không đồng tình với những nhân vật hiện thời. Những người đại diện hình như dễ nhận ra hơn sau khi họ chết; các nhà lãnh đạo chính trị đương thời chỉ là những chính trị gia; họ có thể lớn hay nhỏ, nhưng họ không vĩ đại, và họ ngày càng bị đánh giá theo tình trạng suy thoái đạo đức cao hơn.
i. Trong mỗi giai đoạn trí tuệ, một môn phái hay trường phái tư tưởng nào đó sẽ trở thành một kiểu mẫu số chung. Lịch sử Mỹ chính là mẫu số chung của tâm lý bảo thủ hiện nay ở Mỹ. Đây là thời đại của sử gia Mỹ. Tất nhiên, mọi xu hướng ca ngợi mang tính dân tộc chủ nghĩa đều được đặt trong các bối cảnh lịch sử, nhưng những người ca ngợi không muốn hiểu lịch sử chỉ như sự kiện quá khứ. Mục đích của họ là ca ngợi hiện tại. (1) Một lý do tại sao ý thức hệ Mỹ có xu hướng lịch sử như vậy là vì toàn bộ cộng đồng học giả đều là các sử gia, họ rất có khả năng tạo ra những giả định công khai như vậy. Vì trong tất cả những người cầm bút uyên bác, sử gia là những người có truyền thống đọc nhiều hiểu rộng. “Các nhà khoa học xã hội” khác nhiều khả năng không quen với việc dùng tiếng Anh, và hơn nữa họ không viết về mấy chủ đề lớn mà công chúng quan tâm. (2) Khi hoàn thành vai trò công của nhà báo cao cấp, sử gia “giỏi”, sử gia được công chúng quan tâm và ca ngợi trong lễ Chủ nhật, là sử gia nhanh nhất trong việc diễn giải lại quá khứ của Mỹ phù hợp với tâm trạng hiện thời, và đổi lại, thông minh nhất khi lúc này biết nhặt ra từ quá khứ những nhân vật và sự kiện dễ mang lại chủ nghĩa lạc quan và cảm xúc trữ tình nhất. (3) Nói thật, và không hoài cổ, chúng ta phải nhận ra rằng quá khứ của Mỹ là nguồn tuyệt vời cho các câu chuyện thần kỳ về hiện tại của Mỹ. Rằng đôi khi, quá khứ quả đúng là hiện thân của một lối sống; Mỹ đã cực kỳ may mắn trong thời kỳ lập quốc và phát triển ban đầu; hiện tại là phức tạp, và đặc biệt với một sử gia được đào tạo thì nó không được viết thành văn. Ý thức hệ chung của Mỹ do đó có xu hướng là của lịch sử và bởi các sử gia.14
Tiếp theo quyền lực, bây giờ trở lại với chuyện địa vị và các kiểu nhân vật điển hình cũ hơn đã được thay bằng đám người thành công – các giám đốc điều hành chuyên nghiệp đã trở thành giới tinh hoa chính trị, và nay là những đại điện chính thức. Cũng còn phải đợi xem liệu họ có trở thành những đại điện như trong hình dung và mong đợi của đại chúng, hay liệu họ có trụ lại được lâu hơn phái tự do đã bị thay thế của những năm 1930. Hình ảnh của họ gây tranh cãi, liên quan sâu sắc đến tình trạng suy thoái đạo đức của những người thành công và suy thoái đạo đức ở cấp cao hơn nói chung. Ngày càng nhiều người Mỹ có học cảm thấy có gì đó không tự nhiên về họ. Phong cách của họ và những điều kiện mà theo đó họ trở nên “lớn” làm họ luôn nghi ngờ những gì đang có; cái bóng của đám viết thuê và những người được tô điểm hiện lên quá lớn; tài bịa đặt quá rõ ràng.
Tất nhiên, chúng ta cần nhớ rằng người của các tầng lớp cao hơn có thể hoặc không thể tìm cách áp đặt vai trò đại diện của họ lên quần chúng bên dưới, và rằng những bộ phận công chúng thích hợp có thể hoặc không thể chấp nhận hình ảnh của họ. Giới tinh hoa có thể cố áp đặt đòi hỏi của mình lên công chúng, nhưng công chúng ấy có thể không chấp nhận họ. Ngược lại, công chúng ấy có thể không quan tâm hoặc thậm chí lật tẩy những giá trị của họ, châm biếm hình ảnh của họ, cười vào đòi hỏi làm đại diện của họ.
Khi thảo luận về các mô hình mang đặc điểm quốc gia, Walter Bagehot không đi sâu vào mấy khả năng ấy,15 nhưng rõ ràng là những người đương thời chúng ta phải xem xét chúng, vì chính phản ứng này dẫn tới một việc luôn đắt giá và đôi khi khó kiểm soát của cái gọi là “quan hệ công chúng”. Những người có cả quyền lực lẫn địa vị có lẽ là tốt nhất khi không phải tích cực tìm kiếm địa vị. Các gia đình xưa cũ thực sự kiêu hãnh sẽ không tìm kiếm nó; giới nổi tiếng chuyên nghiệp là những chuyên gia tìm kiếm nó tích cực. Như chúng ta đã thấy, giới tinh hoa chính trị, kinh tế, và quân sự ngày càng cạnh tranh với những người nổi tiếng và tìm cách vay mượn địa vị của họ. Có lẽ những người có quyền lực chưa từng có, nếu không có vầng hào quang địa vị, sẽ luôn tìm kiếm nó, cho dù không dễ dàng, giữa những người được quảng bá nhiều mà không có quyền lực.
Đối với đại chúng, họ không quan tâm tới địa vị của người nổi tiếng, cũng như không quan tâm đến sự phồn thịnh kinh tế nhờ chiến tranh; đối với tầng lớp trí thức tự do luôn theo dõi chính trường, họ không quan tâm đến chính trị của các địa phương tối cao và của các cấp độ quyền lực tầm trung, thứ đã duy trì ảo tưởng về việc Mỹ vẫn là một xã hội tự cân bằng. Nếu các phương tiện truyền thông đại chúng tập trung vào giới nổi tiếng chuyên nghiệp, thì các trí thức phái tự do, trong đó đặc biệt là các nhà khoa học xã hội hàn lâm, lại tập trung vào các cấp độ quyền lực tầm trung luôn ầm ĩ. Giới nổi tiếng chuyên nghiệp và chính trị gia tầm trung là những nhân vật dễ thấy nhất của hệ thống; trên thực tế, họ đều có xu hướng độc chiếm sân khấu công hoặc truyền thông mà các thành viên của xã hội đại chúng đều thấy, do đó làm lu mờ và lạc hướng chú ý khỏi giới tinh hoa quyền lực.
Một mặt, các tầng lớp cao hơn ở Mỹ hiện nay có tính quyến rũ, nhục cảm, chói sáng của giới nổi tiếng chuyên nghiệp; và mặt khác, là ánh hào quang uy tín của quyền lực, thế lực, sức mạnh, và của cải. Hai đỉnh cao này chưa hẳn không liên quan. Giới tinh hoa quyền lực không nổi bật như những người nổi tiếng, và thường không muốn vậy; “quyền lực” của giới nổi tiếng chuyên nghiệp là thứ quyền lực làm lạc hướng. Mỹ là một nước cộng hòa mà quả thực có một tập hợp kỳ lạ những thần tượng. Chủ yếu là giới chuyên nghiệp hoặc đám thú cưng bé nhỏ hào nhoáng hoặc những chú hề đần độn; người có quyền lực, về chủ yếu, hình như hiếm khi là hình mẫu người đại diện.
Những trăn trở đạo đức ấy chiếm ưu thế trong giới tinh hoa Mỹ theo đó hoàn toàn có thể hiểu được. Sự tồn tại của nó được khẳng định đầy đủ bởi những người nghiêm túc hơn trong số người bắt đầu cảm thấy họ đại diện cho Mỹ ở nước ngoài. Ở đó, tính chất hai mặt của nhân vật nổi tiếng Mỹ được phản ánh cả trong các loại người Mỹ đi chơi hoặc làm việc, lẫn trong những hình ảnh mà nhiều người châu Âu có học và biết ăn nói nghĩ về “người Mỹ”. Danh tiếng chung ở Mỹ hiện nay có vẻ vui tươi hoặc buồn bã; những tín hiệu nhỏ tầm thường hoặc kỳ diệu về một hệ thống uy tín được siết chặt lại đáng kể.
Giới tinh hoa Mỹ không gồm những người đại diện mà lối hành xử và tính cách của họ là khuôn mẫu cho người Mỹ học tập và mong đợi. Không có tập hợp những người mà công chúng có thể nhận dạng họ một cách vui vẻ và chính đáng. Theo nghĩa cơ bản này, Mỹ thực sự không có lãnh đạo. Song do bản chất thiếu tin tưởng, hoài nghi về đạo đức và không cụ thể về chính trị của công chúng khiến nó dễ dàng khô cạn mà không bị ảnh hưởng chính trị thực sự. Sau những gì diễn ra ở những con người và sự kiện của 30 năm qua, đây là một bằng chứng nữa về sự khó khăn tột cùng của việc tìm và sử dụng các phương tiện chính trị ôn hòa để đạt được các mục tiêu tinh thần đúng đắn tại Mỹ ngày nay.
Là một nước bảo thủ không có ý thức hệ bảo thủ, Mỹ hiện có vẻ là một cường quốc độc đoán và trần trụi trước thế giới, khi dưới danh nghĩa chủ nghĩa hiện thực, những người có quyền quyết định của nó tăng cường các định nghĩa vốn lập dị về hiện tình thế giới. Những đầu óc hạng hai nắm quyền chỉ huy vô vị được phát ngôn một cách vụng về. Sự mơ hồ trong lối nói hoa mỹ của phái tự do, và tính phi lý trong tâm lý bảo thủ, được nâng lên thành nguyên tắc. Quan hệ công chúng và những bí mật chính thức, chiến dịch vận động tầm thường và những việc được làm một cách vụng về, đang thay thế cho tranh luận hợp lý về các ý kiến chính trị trong nền kinh tế sáp nhập tư nhân, thế lực quân sự, và khoảng trống chính trị của Mỹ hiện đại.
Những người thuộc tầng lớp cao không phải là những người đại diện, vì thế vị trí cao không phải là kết quả của đức hạnh tốt, thành công tuyệt vời của họ không gắn chặt với năng lực xuất chúng. Những người ngồi ở vị trí của tầng lớp cao và quyền lực được lựa chọn và sắp xếp bởi các phương tiện quyền lực, nguồn gốc của cải, cơ chế nổi tiếng, những thứ chiếm ưu thế trong xã hội của họ. Họ không phải là những người được lựa chọn và sắp xếp bởi lực lượng dân sự có liên kết với thế giới hiểu biết và nhạy cảm. Họ không phải là những người được định hình bởi các đảng phái có trách nhiệm quốc gia tranh luận công khai và rõ ràng về các vấn đề mà đất nước này hiện phải đối mặt. Họ không phải là những người bị kiểm tra một cách có trách nhiệm bởi nhiều hội tình nguyện có quan hệ với các cộng đồng tham gia tranh luận với những người có quyền quyết định cao nhất. Là những người chỉ huy quyền lực chưa từng có trong lịch sử loài người, họ đã thành công trong hệ thống thiếu trách nhiệm có tổ chức của Mỹ.