Giới Tinh Hoa Quyền Lực

Lượt đọc: 108 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chú Thích

❊ ❊ ❊

CHƯƠNG 1. CÁC TẦNG LỚP CAO HƠN

1. Jacob Burckhardt, Force and Freedom (New York: Patheon Books, 1943), từ trang 303.

2. Xem Hans Gerth và C. Wright Mills, Character and Social Structure (New York: Harcourt, Brace, 1953), từ trang 457.

3. Ý tưởng thống kê để chọn một giá trị nào đó và gọi những ai có giá trị đó nhiều nhất là gốc rễ của giới tinh hoa ở thời hiện đại xuất phát từ nhà kinh tế học người Ý Pareto, diễn đạt đại ý như sau: “Chúng ta hãy giả định rằng ở mỗi nhánh hoạt động của con người, mỗi cá nhân có được một chỉ số như dấu hiệu về năng lực, giống với thang điểm cho các bài kiểm tra ở nhiều môn học tại trường. Ví dụ, kiểu luật sư cao nhất sẽ được điểm 10. Người không có khách hàng điểm 1, còn loại rất dốt điểm 0. Với người kiếm được hàng triệu đô-la – trung thực hay gian dối tùy trường hợp – chúng tôi cho điểm 10. Với người kiếm được hàng nghìn đô-la chúng tôi cho điểm 6; với người chỉ vừa cố gắng đứng ngoài ngôi nhà nghèo điểm 1, người ở trong đó vẫn giữ điểm 0… Vì vậy hãy để chúng tôi phân ra một loại người có chỉ số cao nhất trong lĩnh vực hoạt động của mình, và gọi tầng lớp đó là tinh hoa.” Vilfredo Pareto, The Mind and Society (New York: Harcourt, Brace 1953), đoạn 2027 và 2031. Những ai theo cách tiếp cận này đi tới kết quả không phải một, mà là một số giới tinh hoa tương đương với số giá trị mà họ lựa chọn. Giống như nhiều cách lý giải khá trừu tượng, cách này hữu ích vì nó buộc chúng tôi phải suy nghĩ mạch lạc. Để biết dùng tốt phương pháp này, xem công trình của Harold D. Lasswell, đặc biệt là cuốn Politics: Who Gets What, When, How(New York, McGraw-Hill, 1936) và để thấy cách sử dụng có hệ thống, xem H. D. Lasswell và Abraham Kaplan, Power and Society (New Haven: Yale University Press, 1950).

4. Quan niệm cho rằng giới tinh hoa là thành viên của một tầng lớp xã hội cao nhất tất nhiên phù hợp với quan điểm chung đang thịnh hành về phân tầng. Về mặt kỹ thuật, nó gần với “nhóm địa vị” hơn là “giai cấp”, và được Joseph A. Schumpeter nói rất rõ trong “Social Classes in an Ethically Homogeneous Environment”, Imperialism and Social Classes (New York: Augustus M. Kelley, Inc., 1951), từ trang 133, đặc biệt từ trang 137-47. Cũng xem thêm cùng tác giả cuốn Capitalism, Socialism and Democracy, tái bản lần ba, (New York: Harper 1950), Phần II. Để thấy sự phân biệt giữa giai cấp và nhóm địa vị, xem From Max Weber: Essays in Sociology (Gerth và Mills dịch và biên soạn; New York: Oxford University Press, 1946). Để phân tích quan niệm của Pareto về giới tinh hoa cùng với quan niệm của Marx về giai cấp, cũng như các dữ liệu về Pháp, xem Raymond Aron, “Social Structure and Ruling Class”, British Journal of Sociology, tập I, các số 1 và 2 (1950).

5. Một bài viết phổ biến nhất trong những năm gần đây định nghĩa giới tinh hoa và quần chúng theo phân loại tính chất về tinh thần có lẽ là của Jose Ortega y Gasset, The Revolt of the Masses, 1932 (New York: New American Library, Mentor Edition, 1950), đặc biệt từ trang 91.

6. Giới tinh hoa Mỹ là tập hợp những hình ảnh đã bị nhầm lẫn và đang gây nhầm lẫn, thế nhưng khi nghe hoặc sử dụng những từ như Tầng lớp thượng lưu, Nhân vật quan trọng, Tướng lĩnh chóp bu, Câu lạc bộ Triệu phú, Người cao cấp và quyền lực, ít nhất chúng tôi cũng lờ mờ cảm thấy mình biết chúng có nghĩa gì, và thường là thế. Tuy nhiên, những gì chúng tôi thường không làm là kết nối hình ảnh này với hình ảnh khác; chúng tôi không cố để hình thành một bức tranh rõ nét trong đầu về giới tinh hoa nói chung. Ngay cả khi ấy, rất hay gặp, vì cố làm việc này, chúng tôi thường đi tới chỗ tin rằng nó thực sự không phải “một khối”; rằng giống như hình ảnh của chúng tôi về nó, không có một giới tinh hoa, mà có nhiều, và rằng họ không thực sự kết nối với nhau. Cái chúng tôi phải nhìn nhận là cho tới khi chúng tôi cố để thấy nó là một khối, có lẽ ấn tượng của chúng tôi là nó không thể chỉ là kết quả của việc chúng tôi thiếu sức mạnh phân tích và trí tưởng tượng xã hội học.

Quan niệm thứ nhất xác định giới tinh hoa theo góc nhìn xã hội học về vị trí thiết chế và cấu trúc xã hội tạo nên các thiết chế này; quan niệm thứ hai theo thống kê về các giá trị được chọn; quan niệm thứ ba theo thành viên trong một tập hợp người giống phe nhóm; và quan niệm thứ tư theo đạo đức của một số loại nhân cách. Hoặc nói ngắn gọn không cần trau chuốt: họ thấy cái gì, họ có cái gì, họ thuộc cái gì, họ thực sự là ai.

Trong chương này, cũng như trong toàn bộ cuốn sách, tôi đã lấy đi quan điểm thứ nhất – về giới tinh hoa được xác định theo vị trí thiết chế – và đặt các quan điểm khác vào đó. Quan niệm thẳng thắn này về giới tinh hoa có một lợi thế thực tế và hai lợi thế lý thuyết. Lợi thế thực tế là nó hình như là “cách tìm hiểu” toàn bộ vấn đề dễ nhất và cụ thể nhất – nếu chỉ vì nhiều thông tin ít nhiều có sẵn để phản ánh xã hội học về các tầng lớp và thiết chế đó.

Nhưng các lợi thế lý thuyết quan trọng hơn nhiều. Trước hết, định nghĩa mang tính thiết chế hoặc cấu trúc không bắt buộc chúng tôi phải cân nhắc trước bằng định nghĩa mà đúng ra là phải để mở cho việc điều tra. Ví dụ, về mặt tinh thần giới tinh hoa như những người có một kiểu đặc tính nào đó không phải là định nghĩa cuối cùng, vì ngoài việc khá độc đoán về tinh thần, nó còn dẫn chúng tôi tới ngay câu hỏi tại sao những người ấy lại có loại đặc điểm này hay kia. Do đó, chúng tôi cần để mở loại đặc điểm mà hóa ra các thành viên của tầng lớp quyền lực thực sự có, chứ không dựa vào định nghĩa để chọn họ theo kiểu này hay khác. Giống như vậy, chúng tôi không muốn chỉ bằng định nghĩa để đánh giá trước liệu giới tinh hoa có phải là những thành viên có nhận thức về tầng lớp xã hội hay không. Lợi thế lý thuyết thứ hai của việc xác định giới tinh hoa theo các thiết chế lớn, điều mà tôi hy vọng cuốn sách này nhìn chung nói rõ, đó là việc nó cho phép chúng tôi đặt ba quan niệm về giới tinh hoa vào đúng vị trí một cách hệ thống: (1) Các vị trí thiết chế mà người ta nắm giữ trong suốt cuộc đời quyết định cơ hội họ có được và giữ gìn các giá trị được chọn. (2) Kiểu đặc điểm tâm lý của họ phần lớn được xác định bằng những giá trị họ trải nghiệm và vai trò thiết chế họ đảm nhiệm. (3) Cuối cùng, liệu họ có cảm nhận được việc mình thuộc một giai tầng xã hội có chọn lọc hay không, và liệu họ có hành động theo những gì họ coi là lợi ích của mình hay không – đây cũng là những vấn đề chủ yếu được xác định bằng vị trí thiết chế, và đổi lại, các giá trị chọn lựa mà họ sở hữu và những đặc tính mà họ cần có.

7. Hoàn toàn nổi bật như trong trường hợp của Gaetano Mosca, The Ruling Class (New York: McGraw-Hill, 1939). Để phân tích kỹ về Mosca, xem Fritz Morstein Marx, “The Bureaucratic State”, Review of Politics, tập 1, 1939, từ trang 457. Xem thêm Mills, “On Intellectual Craftsmanship”, 4-1952, bản rô-nê-ô, Columbia College, 2-1955.

8. Xem Karl Lowith, Meaning in History (Chicago: University of Chicago Press, 1949), từ trang 125, để thấy những tuyên bố ngắn gọn và thấm thía của một số triết lý hàng đầu về lịch sử.

9. Một số mục này được lấy từ Gerth và Mills, Character and Social Structure, từ trang 405. Về những người do vai trò quyết định và quyết định vai trò, xem thêm lời bàn của Sidney Hook trong The Hero in History (New York: John Day, 1943).

10. Tôi lấy ý kiến về kiểu công thức sau đây từ trình bày của Joseph Wood Krutch về đạo lý của lựa chọn. Xem The Measure of Man (Indianapolis: Bobbs-Merrill, 1954), trang 52.

CHƯƠNG 2. XÃ HỘI ĐỊA PHƯƠNG

1. Chương này phần lớn dựa trên những quan sát và phỏng vấn riêng của tôi ở khoảng hơn chục thành phố tầm trung miền Đông Bắc, miền Trung Tây, và miền Nam. Một số kết quả của công việc này đã xuất hiện trong “Small Business and Civic Welfare, Report of the Smaller War Plants Corporation to the Special Committee to Study Problems of American Small Business”(cùng Melville J. Ulmer), Tài liệu Thượng viện số 135, Quốc hội khóa 79, phiên họp thứ hai, Washington, 1946; “The Middle Classes in Middlesized Cities”, American Sociological Review, 10-1946; và White Collar: The American Middle Classes (New York: Oxford University Press, 1951). Tôi cũng dùng các ghi chép thực địa trong thời gian nghiên cứu sâu về một thành phố 60.000 dân của Illinois mùa hè 1945. Ngoại trừ những chỗ có ghi chú, tất cả các trích dẫn ở chương này đều lấy từ nghiên cứu của tôi.

Tôi cũng sử dụng bản ghi nhớ mà ông J. W. Harless chuẩn bị cho tôi, trong đó tất cả các tuyên bố về tầng lớp thượng lưu địa phương xuất hiện trong các nghiên cứu sau đây đã được sắp xếp: Robert S. Lynd và Helen M. Lynd,Middletown (New York: Harcourt, Brace, 1929) và Middletown in Transition (New York: Harcourt, Brace, 1937); Elin L. Anderson, We Americans (Cambridge, Mass.: Harvard University Press, 1938); Hortense Powdermaker, After Freedom (New York: The Viking Press, 1939); John Dolland, Caste and Class in a Southern Town, tái bản lần hai (New York: Harper, 1950); W. Loyd Warner và Paul S. Lunt, The Social Life of a Modern Community (New Haven: Yale University Press, 1941), tập I của loạt bài về thành phố Yankee; Allison Davis và Burleigh B. Gardner và Mary R. Gardner, Deep South (Chicago: University of Chicago Press, 1941); Liston Pope, Millhands and Preachers(New Haven: Yale University Press, 1942); John Useem, Pierre Tangent và Ruth Useem, “Stratification in a Prairie Town”, American Sociological Review, tháng 7-1942; James West, Plainville, USA. (New York: Columbia University Press, 1950); Harold F. Kaufman, Defining Prestige in a Rural Community (New York: Beacon House, 1946); Evon Z. Vogt Jr., “Social Stratification in the Rural Midwest: A Structural Analysis”, Rural Sociology, 12- 1947; August B. Hollingshead, Elmtown’s Youth (New York: John Wiley, 1949); W. Lloyd Warner và cộng sự, Democracy in Jonesville (New York: Harper, 1949); M. C. Hill và Bevode C. McCall, “Social Stratification in ‘Georgiatown’”, American Sociological Review, 12-1950; và Alfred Winslow Jones, Life, Liberty and Property (Philadelphia: J. B. Lippincott, 1941).

Hầu hết các nghiên cứu về uy tín ở cộng đồng nông thôn, thường là đơn vị trong nghiên cứu xã hội học, chỉ là mối quan tâm địa phương. Thậm chí không thể nói rằng chúng vượt ra ngoài khuôn khổ mối quan tâm đó bởi chúng tạo điều kiện cho các cải tiến phương pháp luận, vì thực ra phần lớn những tiến bộ phương pháp luận này chỉ phù hợp với những gì chúng tìm ra – các nghiên cứu về cộng đồng địa phương.

Thật thú vị khi nhận ra rằng để nghiên cứu thành phố nhỏ của Mỹ, cả nhà tiểu thuyết và nhà xã hội học, theo cách riêng của mình, đều quan tâm đến những chi tiết giống nhau và đi tới những kết luận hoàn toàn giống nhau. Nhìn chung họ thường quan tâm đến địa vị hơn là quyền lực. Nhà tiểu thuyết quan tâm nhiều hơn đến cách thức và các tác động làm nản lòng của đời sống tỉnh lẻ đối với quan hệ con người và nhân cách; nhà xã hội học không chú ý đầy đủ tới thành phố nhỏ như một cấu trúc quyền lực, càng không phải là một đơn vị trong hệ thống quyền lực có quy mô toàn quốc. Sự tương đồng trong mô tả của họ về các tác động được thể hiện ở thực tế là, bất chấp những chứng cứ xác đáng mà họ có, vô vàn “nghiên cứu cộng đồng” của các nhà xã hội học thường giống như mấy cuốn tiểu thuyết viết tồi, còn tiểu thuyết thì lại giống như cuốn xã hội học viết hay hơn.

2. Xem Allison Davis và cộng sự, sđd, trang 497.

3. Ở phần này tôi lấy từ nhiều phần khác nhau trong nghiên cứu trực tiếp của Floyd Hunter, Community Power Structure (Chapel Hill: University of North Carolina Press, 1953).

4. Sđd, trang 172-74.

5. Xem Richard Hofstadter, The Age of Reform (New York: Knopf, 1955), từ trang 46.

6. Xem Hollingshead, sđd., trang 59. Về sở hữu trang trại ở một hạt miền Nam, xem Allison Davis, sđd, trang 276.

7. Về sở hữu đất trang trại của dân thành phố ở một hạt vùng Trung Tây, xem Evon Vogt, sđd.

8. So sánh thành phố nhỏ và công ty quốc gia, Mills và Ulmer, “Small Business and Civic Welfare”, sđd.

9. Về ví dụ nhầm lẫn giữa thị trấn nhỏ với quốc gia đến mức đi vào tranh biếm họa, xem W. Lloyd Warner, American Life: Dream and Reality (Chicago: University of Chicago Press, 1953).

CHƯƠNG 3. TẦNG LỚP THỊ DÂN 400

1. Xem Dixon Wecter, The Saga of American Society (New York: Scribner’s, 1937), từ trang 199, một tác phẩm tiêu chuẩn về lịch sử của “xã hội” Mỹ. Những nghiên cứu tốt nhất về “các xã hội” của mấy thành phố đặc biệt lớn là của Cleveland Amory, The Proper Bostonians (New York: E. P. Dutton, 1947); và Edwward Digby Baltzell Jr., The Elite and the Upper Class in Metropolitan America: A Study of Stratification in Philadelphia (luận án tiến sĩ, Columbia University, 1953). Tôi đã sử dụng cả hai.

2. Bà John King Van Rensselaer, The Social Ladder (New York: Henry Holt, 1924), trang 30-32.

3. Dixon Wecter, sđd, trang 294-95.

4. Xem J. L. Ford, “New York of the Seventies”, Scribner’s Magazine, 6-1923, trang 744.

5. Bà John King Van Rensselaer, sđd, các trang 53–54.

6. W. J. Mills, “New York Society”, Delineator, 11-1904. Xem thêm Ralph Pulitzer, “New York Society at Work”, Harper’s Bazaar, 12-1909.

7. Xem Harvey O’Connor, The Astors (New York: Knopf, 1941), trang 197.

8. Wecter, sđd, trang 209-10.

9. Như trên, trang 212, 214.

10. Như trên, trang 215.

11. Xem Chương 5 và ghi chú ở chương đó.

12. Wecter, sđd, trang 232-33.

13. Xem Mona Gardner, “Social Register Blues”, Collier’s, 14-12- 1946; và G. Holland, “Social Register”, American Mercury, 6-1932. Về các tập Sổ Đăng ký Xã hội xuất bản tới năm 1925, xem Wecter, sđd, trang 233.

14. Wecter, sđd, trang 234.

15. Về năm 1940, xem Baltzell Jr., sđd, Bảng 2.

16. Như trên, Bảng 14, từ trang 89.

17. Wecter, sđd, các trang 235, 234.

18. Thorstein Veblen, The Theory of the Leisure Class, 1899 (New York: New American Library, Mentor Edition, 1953), trang 162. Xem thêm phần giới thiệu của tôi ở lần tái bản đó để xem xét đầy đủ hơn thuyết của Veblen.

19. Xem Time, 26-10-1953.

20. Xem “Boston”, Fortune, 2-1933, trang 27.

21. Business Week, 5-6-1954, các trang 92-93.

22. Theo dự đoán cá nhân. Xem Baltzell Jr., sđd, trang 178.

23. Như trên, chú thích 5, trang 172.

24. “Miss Chapin’s, Miss Walker’s, Foxcroft, Farmington”, Fortune, 8-1931, trang 38.

25. Xem Porter Sargent, A Handbook of Private Schools, tái bản lần 25 (Boston: Porter Sargent, 1941); “Schools for Boys”, Fortune, 5-1944, từ trang 165; “St. Paul’s, St. Mark’s, Groton, Andover, et al”, Fortune, 9-1931, từ trang 76. Xem thêm George S. Counts, “Girls’ Schools”, Fortune, 8-1931 và “Twelve of The Best American Schools”, Fortune, 1-1936, từ trang 48.

26. “Schools for Boys”, sđd, trang 165. Xem thêm “Boys’ Prep School”, Life, 1-3-1954, về trường Hotchkiss. So sánh cảm nhận của Eleanor Roosevelt khi bà gửi John cậu con trai út tới trường Groton như bà ghi lại trong This I Remember (New York: Harper, 1949), trang 43.

27. Xem Frank D. Ashburn, Peabody of Groton (New York: Coward McCann, 1944), các trang 30, 67-68.

28. “St. Paul’s, St. Mark’s, Groton, Andover, et al”, sđd, trang 76.

29. Xem Allan Heely, Why the Private School? (New York: Harper, 1951).

30. Xem John P. Marquand, M. Pulham Esquire (New York: Bantam Edition, 1950), các trang 76, 60, và W. M. Spackman, Heyday (New York: Ballantine Edition, 1953), trang 12.

31. Xem Baltzell Jr., sđd, các trang 218-20.

CHƯƠNG 4. NHỮNG NGƯỜI NỔI TIẾNG

1. Xem “The Yankee Doodle Salon”, Fortune, 12-1937; và để có số liệu gần đây, xem George Frazier, “Cafe Society: Wild, Wicked and Worthless”, Coronet, 8-1954. Xem thêm Elsa Maxwell, RSVP., Elsa Maxwell’s Own Story(Boston: Little, Brown, 1954).

2. Xem Business Week, 12-1-1953, các trang 58, 64.

3. “The US. Debutante”, Fortune, 12-1935, từ trang 48; và “The Yankee Doodle Salon”, sđd, các trang 128-29.

4. Như trên, trang 127, và bà John King Van Rennselaer, “Entertaining Royalty”, Ladies’ Home Journal, 5-1925, trang 72.

5. “The Yankee Doodle Salon”, sđd, các trang 124–25.

6. Jack Gould, “Television in Review”, The New York Times, 6-4-1954. Xem thêm Jack Gould, “TV Techniques on the Political Stage”, The New York Times Magazine, 25-4-1954, từ trang 12.

7. Xem Igor Cassini, “The New 400”, Esquire, 6-1953. Về Cassini, xem Who’s Who in America, tập 27; Time, 5-11-1945, các trang 69-70; và Newsweek, 3-9-1945, trang 68.

8. Tôi không cảm thấy danh sách của Cassini là nghiên cứu đầy đủ; khi lướt nhanh, tôi chỉ có thể xếp 342 trong số 399 cái tên mà ông đưa vào: 102 nhân vật nổi tiếng chuyên nghiệp, 41 người thuộc tầng lớp thị dân 400, và 199 lãnh đạo các thiết chế (93 người trong chính phủ và 79 người trong giới kinh doanh).

9. “Nhìn chung, từng ngành một, từng gia đình một, người Boston ấy ngày nay đã rút khỏi các doanh nghiệp làm ăn có lãi. Anh ta đã mất quyền quản lý tích cực các ngành công nghiệp của mình. Anh ta đã mất quyền kiềm soát chính trị thành phố của mình. Anh ta không còn là một nhân vật có ảnh hưởng 100 năm trước trong chính quyền của đất nước, như anh ta vẫn thường là. Anh ta không còn dẫn dắt công luận cũng như suy nghĩ riêng tư. Và anh ta hoàn toàn mất quyền lãnh đạo trong nghệ thuật mà ảnh hưởng trước đây của anh ta từng trở thành một chủ đề để châm biếm.” Nhưng “không gia đình lớn hạng nhất nào của Boston bị mất đi phương tiện hay vị trí. Không có sứt mẻ nào ở tầng lớp thống trị của thành phố. Và toàn bộ quy luật trong quyết định luận kinh tế hình như đã bị vi phạm ở thực tế này… Hiện nay, bằng công cụ bổ sung khi chỉ đạo những người được ủy nhiệm tùy ý trả hoặc không trả thu nhập khi họ thấy cần thiết, vùng Massachusetts có thể bị gắn với bất kỳ loại quyền lực nào trừ Quốc tế Cộng sản. Nhưng ba thế hệ trước đây đã có thể duy trì được vĩnh viễn sự an toàn của cải cho mọi người, hoặc gần như vĩnh viễn khi Quy định chống Sở hữu vĩnh viễn được bỏ ngỏ. Và các gia đình Boston đã sớm hình thành tập quán, một tập quán trong đó hạt Suffolk rất nổi tiếng và những quy định hỗ trợ trong luật của Massachusetts về đầu tư ủy thác đã khẳng định chúng. May mắn, hay không may mắn, đối với Boston là họ tạo ra thói quen trong thời gian họ giàu có… Thời gian không thể làm tàn lụi hoặc giảm giá trị hàng loạt các dự án đầu tư khôn ngoan. Quyền lực xã hội là của họ. Nền văn minh là của họ. Nhưng nếu họ có mưu đồ đánh trả qua chiếc gương soi vào cái thế giới quyền lực thực tế thì họ sẽ bị chảy máu đến chết. Xa về phía trước và trong tâm điểm của chính quyền hiện hành là sự thống nhất rất cao của ngân hàng, First National. Dưới nó trong các mối quan hệ phụ thuộc khác nhau về tài chính là các ngành công nghiệp Boston. Trên nó trong bối cảnh mờ mờ phía sau là những người kiểm soát nó… Phía bên cạnh, trong mối liên hệ không rõ với mạng lưới tài chính hoặc xã hội, là các thang bậc chính trị… Và trên thang bậc chính trị này chẳng có quan hệ gì rõ ràng với nó ngoại trừ quan hệ đã được xác lập do cùng dòng máu và cùng tôn giáo là thang bậc Công giáo Ireland của thành phố… Rõ ràng có những sợi dây và các kênh dẫn từ tâm điểm quyền lực này sang tâm điểm quyền lực khác. Chắc chắn không thiếu những lời đồn đại về các mối liên hệ như vậy… Không có thỏa thuận. Hoặc nếu có thì đó là thỏa thuận về một điểm duy nhất mà không sợi dây quyền lực nào, trừ những sợi dây buộc Đại học Harvard vào đuôi của những con tàu vượt đại dương, dẫn tới những người Boston.” “Boston”, Fortune, 2-1933, từ trang 27.

10. Ví dụ, bà J. Borden Harriman viết: “400 đã phát triển thành 4.000. Có thể tôi nói hơi quá, nhưng chắc chắn có cả chục tập hợp người, mỗi tập hợp đủ sức mạnh và gắn kết với nhau giống như ban lãnh đạo quyết định các mốt thời thượng ở New York hiện nay.” “Hither and Yon”, The Century Magazine, 9-1923, trang 881. Và Alice-Leone Moast nói rõ rằng “mũi lạnh” là chưa đủ: “Người ta phải có tài mời chào để diễn đạt rõ ràng, để nói rõ là việc sở hữu chiếc mũi lạnh nhất cho phép người ta có một vị trí nổi bật. Nhưng một người có thể vào một nhà hàng, lập tức được nhận ra ngay và dẫn tới bàn tốt nhất trong phòng là người có giá trị cà phê. Nói cách khác, những nhân vật xã hội nổi bật đều là những Jim Bradys Kim cương.” “Cafe Value”, The Saturday Evening Post, 3-8-1935, trang 12.

11. Xem “The Yankee Doodle Salon”, sđd, các trang 183, 186.

12. Time, 31-1-1955, trang 57.

13. Time, 18-1-1954, trang 30.

14. Có lẽ nó cũng được lột tả trong hai câu chuyện trái ngược nhau đăng gần đây trên một tạp chí đưa tin phát hành toàn quốc: (1) Khi qua đời vào năm 1953, Bà Vanderbilt Quý bà Xã hội được đối xử một cách tò mò đến kỳ lạ (xem Time, 19-1-1953, tr. 21); (2) Gần như cùng lúc đó, chúng tôi biết tin về Hoàng thân Mike Romanoff, có lẽ tên khai sinh là Harry F. Gerfuson ở Brooklyn, người nổi tiếng trong xã hội cà phê. Xét về mặt nhân cách, Harry F. Gerguson được đối xử với sự tôn trọng đầy đủ và hoàn toàn ngưỡng mộ vui vẻ như một người giả mạo thành công. Xem Time, 9-6-1952, tr. 41.

15. Dixon Wecter, The Saga of American Society (New York: Scribner’s, 1937), các trang 226–228.

16. “The US. Debutante”, sđd, các trang 48, 52. Xem thêm Alida K. L. Milliken “This Debutante Business”, North American Review, 2-1930.

17. Elsa Maxwell, “Society-What’s Left of It”, Collier’s, 3-1939, trang 101.

18. Xem, chẳng hạn quảng cáo Woodbury trong Ladies’ Home Journal, 2-1939, trang 45.

19. Xem Life, 25-12-1950, trang 67.

20. “Yankee Doodle Salon”, sđd, trang 126.

21. Business Week, 3-10-1953, trang 184. Xem thêm Vô danh, “Piloting a Social Climber”, Ladies’ Home Journal, 8-1927.

22. Maude Karker, “The New Four Hundred of New York”, The Saturday Evening Post, 2-4-1927, trang 214.

23. Mona Gardner, “Social Register Blues”, Collier’s, 14-12-1946, trang 97. Xem thêm “Society”, Literary Digest, 16-1-1937, trang 22; và Bennett Schiff, “Inside Cafe Society: The Debutantes”, New York Post, 20-4-1955, từ trang 4.

24. Về nhiều hình ảnh khác nhau gần đây của “The All-American Girl”, xem Elizabeth Hardwick, “The American Woman as Snow-Queen”, Commentary, 12-1951, từ trang 546; Parker Tyler, The Hollywood Hallucination (New York: Creative Age Press, 1944) và Bennett Schiff, “Inside Cafe Society”, New York Post, 19-4-1955, từ trang 4.

25. Về quan hệ giữa các hộp đêm và doanh nghiệp liên quan đến tài khoản chi phí, xem Business Week, 12-1-1952, từ trang 58. Về “các cô gái tài khoản chi phí” xem báo cáo về các phiên điều trần Micky Jelke, đặc biệt ở Life, 2-3-1953, từ trang 29. Về đạo đức của xã hội cà phê nói chung, xem Mills, “Public Morality: Girls Using Vice To Help Careers”, New York American Journal, 31-8-1952, trang 4-L.

26. Năm 1946, nghe nói một danh sách xã hội Washington quan trọng đã có 3.000 trong số 5.000 người thay đổi. Jane Eads, “Washington Playground”, Collier’s, 13-4-1946, trang 52. Tất nhiên, ở Washington, có một tầng lớp thị dân 400 được biết đến là “Những người sống trong hang động”, những gia đình có thành viên sống ở Washington ít nhất hai hoặc ba thế hệ, và sống theo sách hướng dẫn. Nhưng cạnh tranh với họ là những “nữ chủ nhân lớn”, không phải vì gia thế lớn, họ khá chuyên nghiệp trong chiến lược giành địa vị, và những cư dân giàu có, dù tạm thời, có các trò giải trí thường xuyên và thành công về mặt xã hội. Và ở các thành phố khác, có những người leo lên các bậc thang xã hội là người có tiền thuộc tầng lớp trung lưu mới, cũng như theo trào lưu xã hội, nhưng không phải những người đã có địa vị.

27. Xem John K. Galbraith, American Capitalism (Boston: Houghton Mifflin, 1952).

28. Ida M. Tarbell, Owen D. Young (New York: Macmillan, 1932), các trang 211-12.

29. Trích từ Fortune, 3-1931, các trang 92, 94.

30. Nhật ký bí mật của Harold L. Ickes, tập II, The Inside Struggle, 1936–1939 (New York: Simmon and Schuster, 1954), trang 644.

31. “Năm ngoái [1954] Thượng Nghị sĩ Cộng hòa bang Wisconsin Alexander Wiley đã gây ấn tượng với cư dân bang quê nhà bằng cách chụp các bức ảnh với chiếc búa của ông sắp giáng xuống đỉnh đầu trụi tóc của Thượng Nghị sĩ Cộng hòa bang New Jersey H. Alexander Smith; năm nay Hạ Nghị sĩ Dân chủ nặng khoảng 150 kg của bang New Jersey T. James Tumulty còn gây ấn tượng mạnh hơn bằng việc chụp ảnh mặc quần sịp.

“Trong kỳ họp này, giữa lúc Quốc hội khóa 84 đang bàn luận về tình hình Mỹ, người ta thấy Thượng Nghị sĩ Cộng hòa bang Maine Margaret Chase Smith nhởn nhơ vòng quanh thế giới trong chương trình truyền hình của Edward R. Murrow – chẳng hạn tới Formosa, Ấn Độ, Tây Ban Nha. Một chương trình truyền hỉnh giả trang có tên Vũ hội Hóa trang với rất nhiều Thượng Nghị sĩ tham dự, ví dụ Thượng Nghị sĩ Cộng hòa bang Indiana Homer Capehart với chiếc áo choàng kiểu La Mã cổ cuốn quanh thân hình đẫy đà của ông; Thượng Nghị sĩ Cộng hòa bang Nam Dakota Karl Mundt cùng vợ xuất hiện trong trang phục của Bill Hickok Hoang dại và Jane Tai ương; Thượng Nghị sĩ Dân chủ bang Alabama John Sparkman (người được Đảng của ông đề cử là Phó Tổng thống năm 1952) trong bộ đồ lính cứu hỏa.” Times, 4-4-1955, trang 17. Xem thêm một phân tích xuất sắc của Douglas Cater, “Every Congressman a Television Star”, The Reporter, 16-6-1955, từ trang 26.

Về tình trạng của các doanh nhân, so sánh với phát biểu của tổng thống năm 1907 của Jeremiah W. Jenks, “The Modern Standard of Business Honor”, Hiệp hội kinh tế Mỹ (Loạt thứ ba, tập in), các trang 1-22, với những bình luận được tìm thấy trong cuốn The Reputation of the American Businessman của Sigmund Diamond (Cambridge: Harvard University Press, 1955). Xem thêm “Corporation Life Gets a Literature”, Business Week, 5-6-1954, trang 79.

32. Gustave Le Bon, The Crowd, 1896 (London: Ernest Benn, 1952), các trang 129, 130, 131.

33. Trong phần này, tôi đã lấy từ cuốn The Meaning of Prestige, Harold Nicolson (Cambridge, England: Cambridge University Press, 1937).

34. Gustave Le Bon, sđd, trang 140.

35. Xem Thorstein Veblen, The Theory of the Leisure Class, 1899 (New York: New American Library, Mentor Edition, 1953).

36. Xem John Adams, Discourses on Davila (Boston: Russell and Cutler, 1805), đặc biệt các trang 26-27, 30-34, 48-49. Các trích dẫn tiếp lấy từ các trang 40, 28-29, và 18.

37. Xem Rene Sedillot, “Now Medals for Civilians, Too”, The New York Times Magazine, 24-4-1955, từ trang 22, để thấy những cố gắng đạt vinh dự gần đây được công nhận chính thức hơn.

38. Winthrop Rockefeller. Xem The New York Times, 27-12-1953, và New York Post, 16-10-1953.

39. Haroldson L. Hunt. Xem The New York Times Magazine, 8-3-1953.

40. Barbara Sears Rockefeller. Xem Time, 28-6-1954 và The New York Times, 4-8-1954.

41. Dorothy Taylor di Frasso. Xem The New York Herald Tribune, 5-1-1954, trang 9 và Time, 18-1-1954, trang 88.

CHƯƠNG 5. NHÓM RẤT GIÀU

1. Xem Joseph A. Schumperer, Capitalism, Socialism and Democracy, tái bản lần ba (New York: Harper, 1950), từ trang 81.

2. Để có một sự phân tích cẩn thận và lột tả về thái độ và mối liên hệ của các Tổng thống và các ủy viên hội đồng tham gia hành động chống độc quyền trong Kỷ nguyên Tiến bộ quan trọng, xem Meyer H. Fishbein, Bureau of Corporations: An Agency of the Progressive Era (luận văn Thạc sĩ, American University, 1954), đặc biệt các trang 19-29, 100-19.

3. Frederick Lewis Allen, The Lords of Creation (New York: Harper, 1935), các trang 9-10.

4. Như trên, trang 12.

5. Xem Times, 10-8-1953, trang 82.

6. Báo cáo về Tập đoàn các nhà máy chiến tranh nhỏ hơn cho Ủy ban đặc biệt Nghiên cứu các vấn đề về doanh nghiệp nhỏ của Mỹ, Thượng viện Mỹ, Economic Concentration and World War II , Quốc hội khóa 79, kỳ họp thứ hai, tài liệu số 6 của Ủy ban Thượng viện (Washington, DC.: US. Government Printing Office, 1946), các trang 37, 39, 40.

7. Về của cải thời Mỹ thuộc địa, xem Dixon Wecter, The Saga ofAmerican Society (New York: Scribner’s, 1937), chương 2; và Gustavus Myers, History of the Great American Fortunes, 1907 (có chỉnh lý trong bản của Modern Library, 1936) các trang 55- 56, 59, 85. Về bất động sản của George Washington, xem sđd, trang 49. Về các triệu phú đầu những năm 1840, xem A. Forbes và J. W. Greene, The Rich Men of Massachusetts (Boston: Fetridge & Co., 1851); Moses Yale Beach, Wealth and Pedigree of the Wealthy Citizens of New York City (New York: biên soạn rất cẩn thận và xuất bản tại Văn phòng Sun, 1842), tái bản lần bốn; và “Wealth and Biography of the Wealthy Citizens of Philadelphia” của một Ủy viên Hội đồng Luật sư Philadelphia, 1845. Về những triệu phú New York giữa những năm 1850, xem Moses Yale Beach, “The Wealthy Citizens of the City of New York”, tái bản lần 12 (New York: in tại Văn phòng Sun, 1855). Về việc tạo ra từ “triệu phú”, xem Wecter, sđd, trang 113.

8. Xem The New York Tribune, Tribune Monthly, 6-1892. Gần đây Sydney Ratner biên tập cuốn New Light on the History of Great American Fortunes (New York: Augustus M. Kelley, 1953), in lại hai danh sách triệu phú Mỹ lấy từTribune Monthly, 6-1892 và The World Almanac 1902. Các danh sách này ít được dùng trong cố gắng liệt kê nhóm rất giàu (xem chú thích 9 ở dưới) vì ít khi có được ước lượng chính xác về quy mô tài sản; nghiên cứu danh sách này cho thấy hàng trăm “triệu phú thực sự” xuất hiện cùng John D. Rockefeller và Andrew Carnegie.

9. Ở một đất nước mà có lần Ferdinand Lundberg đã nhận xét, thích khoe ra hàng loạt số liệu về các chủ đề nói chung ít được quan tâm, không có các con số chính xác về tài sản khổng lồ. Để liệt kê tên của những người giàu nhất ba thế hệ qua, tôi đã phải cố gắng hết sức có thể với các nguồn tài liệu sẵn có không mang tính hệ thống. Tất nhiên, nhân dịp này tôi đã đọc toàn bộ lịch sử về tài sản khổng lồ ở Mỹ, cũng như tiểu sử của những người sở hữu chúng. Hai lần trong thế kỷ XX – năm 1924 và 1938 – thông tin khá hệ thống đã được công bố về thu nhập lớn hoặc tài sản lớn (xem ở dưới), và có một sự đứt đoạn của dòng thông tin cùng chuyện hoang đường xuất hiện trên các báo và tạp chí, những sự việc trong một bản di chúc có chứng thực, vụ bê bối thuế, giai thoại về những người giàu có.

Tôi bắt đầu bằng một danh sách tất cả những người đã nói trong mấy cuốn sách liệt kê dưới đây sinh sau năm 1799 và những người được cho là từng sở hữu 30 triệu đô-la hoặc hơn. Trong nhiều trường hợp, quy mô tài sản không được ước tính theo nguồn gốc tên tuổi; nhưng khi xem xét tất cả tên tuổi khả dĩ này, chúng tôi tìm kiếm toàn bộ các nguồn có sẵn để ước đoán quy mô tài sản. Tiêu chí chung 30 triệu đô-la chủ yếu là vấn đề tiện dụng. Chúng tôi thấy với tiêu chuẩn như vậy sẽ có 371 cái tên; vì cần phải sắp xếp thông tin sưu tầm chi tiết về tài sản và nghề nghiệp của mỗi cá nhân này, nên các nguồn của chúng tôi không cho phép có được một danh sách dài hơn. Đây là danh sách các nguồn đã sử dụng:

(I) Gustavus Myers, History of the Great American Fortunes, 1907, (bản của Modern Library có chỉnh sửa, 1936). (II) Gustavus Myers, The Ending of Hereditary Fortunes (New York: Julian Messner, 1939). (III) Mathew Josephson,The Robber Barons (New York: Harcourt, Brace, 1934). (IV) Frederic Lewis Allen, The Lords of Creation (New York: Harper, 1935). (V) Ferdinand Lundberg, America’s 60 Families, 1937 (New York: The Citadel Press, 1946) – việc chúng tôi sử dụng thận trọng cuốn sách này được bàn luận dưới đây trong (XI). (VI) Dixon Wecter, The Saga of American Society (New York: Scribner’s 1937). (VII) “Richest US. Women”, Fortune, 11-1936. (VIII) Stewart H. Holbrook, The Age of the Moguls, (New York: Doubleday, 1953). Dựa trên nhiều chi tiết trong cuốn sách của Myers và của các sử gia khác, cuốn sách này chủ yếu là một sự phổ biến của công trình trước đây. (IX) “Noted Americans of the Past: American Industrial Leaders, Financiers and Merchants”, The World Almanac, 1952, trang 381, và 1953, trang 783. Không bao gồm những ước tính về tài sản. (X) Cleveland Amory, The Last Resorts (New York: Harper, 1952). Tất nhiên trong các nguồn này có nhiều người trùng lặp, nhưng mỗi nguồn lại có thông tin mà không có ở những nguồn khác.

Thêm ba nguồn khác cần phải bàn chi tiết hơn: (XI) Năm 1924 và sau đó là 1925, một đạo luật tạm thời cho phép công bố thông tin về lượng tiền nộp thuế thu nhập đánh vào thu nhập năm 1923 và 1924. Nhà báo được phép vào các văn phòng Cục Thuế Nội địa và sao chụp tên từng người với các loại thuế phải nộp. Việc công bố những dữ liệu này rất lỏng lẻo về mặt hành chính, nên báo này công bố dữ liệu về một người mà báo khác lại bỏ qua, nhiều sai sót được in ra, và trong một vài trường hợp, tất cả các nhà báo không có được tên những người được biết là đóng thuế rất nhiều. (Tất nhiên, có một số người giàu mà thu nhập hoàn toàn được miễn thuế.) Khi chọn danh sách thuế thu nhập năm 1924 để nghiên cứu, chúng tôi lọc ra tất cả những người đóng thuế 200.000 đô-la hoặc hơn như được liệt kê trong một hoặc cả hai tờ The New York Times và The New York Herald Tribune, từ ngày 2 tới 15-9-1925.

Thuế trung bình lúc đó và ở những mức này là do phải đóng khoảng 40% tổng thu nhập; vì vậy đóng 200.000 đô-la cho thấy thu nhập năm 1924 là khoảng 500.000 đô-la. Vì phần lớn thu nhập cao như vậy đều từ nguồn đầu tư, nên con số 5% tổng đầu tư sẽ có nghĩa người ta có được nửa triệu đô-la từ các nguồn đầu tư, số vốn họ sở hữu sẽ phải vào khoảng 10 triệu đô- la. Người ta cho là chỉ khoảng 1/3 trong hầu hết mọi tài sản là các nguồn phải chịu thuế lúc đó; vì vậy tổng tài sản họ có sẽ gấp ba lần tài sản phải chịu thuế. (Đây là tính toán của Ferdinand Lundberg dựa trên số tiền lời trong cuốn sách của ông đã dẫn ở trên. Ông bình luận rằng “trong các trường hợp riêng lẻ việc gấp ba số tài sản ròng dựa trên thu nhập chiu thuế có thể đưa tới một vài sai lệch, nhưng đây xem ra là cách duy nhất để có được con số ước lượng tương đối, và vì phương pháp này cho những kết quả nói chung là chính xác, bức tranh nói chung không phải là cường điệu. Mà nó là rất bảo thủ.” (trang 25). Tôi cũng nghĩ vậy.) Theo những tính toán này thì mức thuế 200.000 đô-la cho thấy có thu nhập 500.000 đô-la, tài sản chịu thuế là 10 triệu, và tổng tài sản là 30 triệu.

Phần lớn bằng chứng từ những ước lượng đó đã được xác thực ngay sau năm 1924, cho thấy các tính toán này là tương đối chính xác. Ví dụ, theo các tính toán này, số tiền thuế 434.000 đô-la của Richard Teller Crane, Jr. cho biết tổng tài sản là 64,8 triệu đô-la; ông mất năm 1931, để lại tài sản 50 triệu. Tiền thuế của Ogden Mills là 372.000 đô-la cho biết tài sản vào năm 1924 là 55,5 triệu; ông mất năm 1929, để lại 41 triệu. Tất nhiên, có những trường hợp tài sản của họ thấp hơn nhiều, nhưng nghe nói họ thường bị mất tiền (như nhà đầu cơ ngũ cốc Arthur W. Cutten đã trắng tay trong khủng hoảng năm 1929) hay đem cho trước khi chết. Tôi đưa vào đây những người này chừng nào họ còn có lúc sở hữu 30 triệu đô-la.

Tôi thấy những cái tên này không được sử dụng một cách hệ thống. Năm 1937, Ferdinand Lundberg lập danh sách “60 gia đình” mà trên thực tế không phải toàn bộ các gia đình, vì nếu gọi là “gia đình” thì con số này không phải 60 mà là khoảng 74. Nhưng ông không phân tích chúng một cách hệ thống. Với từ “hệ thống”, tôi hiểu rằng thông tin giống nhau được biên soạn cho từng người trong danh sách và dựa vào đó mà khái quát.

Điều mà Lundberg làm là (1) khái quát quan hệ huyết thống, đôi khi chỉ là quan hệ họ hàng, thành các nhóm quyền lực và tài chính. Chúng tôi không muốn lẫn lộn giữa hai nhóm. Ngoài ra (2), chúng tôi không thể sử dụng danh sách mà ông đã lấy từ The New York Times không được lập thống nhất theo gia đình, cá nhân, hay công ty mà rất lộn xộn.

Trong số cái gọi là 60 gia đình, có 37 “gia đình” có trường hợp một thành viên nộp thuế nhiều lần. Có tám người không liên quan gì được đưa vào gia đình Morgan; và có một nhóm bảy gia đình khác tạo nên “gia đình” thứ 38 (đây là “Nhóm Standard Oil). Danh sách này còn có 22 cá nhân đóng thuế năm 1924 từ 188.608 tới 791.851 đô-la. Vì thế, nếu “gia đình” dùng để chỉ quan hệ huyết thống, thì sẽ có nhiều hơn 60 gia đình trong danh sách của ông, nhưng danh sách ấy thậm chí không tính đủ các gia đình này, vì chỉ những ai trả thuế dưới danh nghĩa gia đình mới được đưa vào. Hơn nữa, có một số người (ví dụ J. H. Brewer, L. L. Cooke) năm 1924 đóng nhiều tiền thuế hơn những người được Lundberg nêu tên, nhưng không có trong danh sách “60 gia đình” của ông. Một số, chứ không phải tất cả, những người này không có tên trong danh sách của The New York Times, nhưng lại có trong The New York Herald Trinbune, mà ông Lundberg hình như đã bỏ qua.

Điều quan trọng hơn đối với mục đích có được danh sách những người giàu nhất trên đỉnh là việc một số gia đình trong danh sách 60 gia đình chóp bu của Lundberg thậm chí không xuất hiện trong nhóm rất giàu khi chọn theo cá nhân. Ví dụ, gia đình Deering: Lundberg sử dụng tới ba Deering; số thuế cả ba phải nộp lên tới 315.701 đô-la. Chúng tôi không đưa gia đình Deering vào danh sách “rất giàu” vì James Deering chỉ đóng có 176.896 đô-la thuế; Charles chỉ đóng 139.341 đô-la; Deering thứ ba đóng khoảng 7.000 đô-la. Các loại thủ tục thuế cũng như vậy với các gia đình Taft, Lehman, và deForest. Rõ ràng họ đều là những người giàu, nhưng không phải ở mức độ như những người mà chúng tôi quan tâm.

(XII) Một nguồn thông tin có hệ thống gần đây về quy mô tài sản cá nhân là Bản rô-nê-ô số 29 của Ủy ban Kinh tế Quốc gia Tạm thời: “The Distribution of Ownership in the 200 Largest Non-Financial Corporations” (Washington: US. Government Printing Office, 1940). Bản in này đưa ra 20 cổ đông lớn nhất trong số 200 công ty phi tài chính lớn nhất, cùng với việc nắm giữ cổ phiếu của các giám đốc và quan chức công ty tính đến năm 1937 hoặc 1938. Mặc dù nó gồm phần lớn tài sản nổi tiếng dựa trên sở hữu công nghiệp, nhưng danh sách này không hoàn chỉnh: nó không nói tới tiền dưới dạng trái phiếu chính phủ hoặc địa phương, trong bất động sản hoặc tổ chức tài chính. Hơn nữa, trong một số trường hợp, việc sở hữu ở ngay cả các công ty công nghiệp vẫn được ngụy trang bằng việc ghi danh một khối cổ phiếu dưới tên nhiều nhà đầu tư khác nhau mà không lộ danh tính của chủ sở hữu thực sự. Tuy nhiên, danh sách TNEC này đại diện cho những gì tốt nhất mà chúng tôi tìm thấy ở giai đoạn sau. So sánh với các nghiên cứu tản mát đang có về các trường hợp cụ thể ở thế kỷ XX, những người giàu có mà nó tiết lộ là một tập hợp người khá ổn định.

Từ nguồn thông tin này, tôi đã nghiên cứu từng người mà tổng giá trị của toàn bộ cổ phần sở hữu trong tất cả các công ty có tên trong danh sách ở mức 10 triệu đô-la hoặc hơn vào năm 1937 hoặc 1938. Nhân con số này lên ba lần (lại giả định rằng tài sản phải nộp thuế chỉ khoảng 1/3 tổng tài sản sở hữu), cho chúng tôi tất cả những người sở hữu 30 triệu đô-la hoặc hơn vào cuối những năm 1930.

(XIII) Không có nguồn nào ở trên thực sự cung cấp thông tin mới nhất về những người rất giàu. Nhiều người được nêu tên trong các sách khác nhau, và trong danh sách năm 1924 và 1938, tất nhiên vẫn còn sống; và chúng tôi tìm thấy những người thừa kế còn sống của những người hiện đã chết qua cáo phó, chúng tôi cố lần theo tài sản của tất cả các tên được chọn, và đưa vào danh sách tất cả những người thừa kế mà chúng tôi thấy thừa hưởng 30 triệu đô-la hoặc hơn.

(XIV) Để có thông tin về những người hiện còn sống, khi tiếp xúc với các tổ chức và cơ quan công quyền, nhiều quan chức khác nhau trong đó cho chúng tôi thông tin mà họ có thể có, nhưng không cái nào là “chính thức”, và chẳng có nhiều tác dụng với chúng tôi: Hội đồng Dự trữ Liên bang của New York, Ủy ban Chứng khoán, Bộ Thương mại Mỹ, Cục Thương mại Nội địa, Ban Thống kê và Ban Thông tin của Cục Thuế vụ Nội địa. Cũng tiếp xúc với những cá nhân trong các tổ chức tư nhân sau đây: Dun & Bradstreet, Ban Lãnh đạo Hội nghị Hiệp thương Công nghiệp Quốc gia về Kinh tế Doanh nghiệp, The Wall Street Journal; Barron’s; Fortune; Quỹ Russell Sage; US.

News and World Report; Viện Brookings; Cục Các vấn đề quốc gia, Ngân hàng Tiền gửi và Cho vay Liên bang, và hai nhà đầu tư tư nhân. Những người gặp trong các tổ chức này có thể giới thiệu chúng tôi tới các nguồn mà chúng tôi đã biết. Một số không bao giờ nghĩ nhiều về vấn đề này, số khác hình như hơi sốc trước ý kiến “tìm hiểu” về những người giàu nhất; số khác nữa rất thích ý kiến này nhưng về nguồn thông tin thì không giúp được gì. Tôi biết ơn Giáo sư Fred Blum vì đã tổ chức phần lớn các cuộc tiếp xúc này cho chúng tôi, và đã có những bình luận hữu ích về toàn bộ vấn đề này.

(XV) Trong những năm sau Thế chiến II, tôi đã tìm kiếm các báo và tạp chí định kỳ lúc đó xem có gì về những triệu phú không. Từ các tạp chí như Business Week, Look and Life và từ The New York Times, tôi đã có thêm những cái tên, chủ yếu là đội ngũ Texas mới. Trong cuộc tìm kiếm thêm tên, tôi được khoảng trên hai chục sinh viên và bạn bè quan tâm giúp đỡ.

Vì tập hợp của những tên tuổi này rất lộn xộn, nên chúng tôi không thể chắc, và tôi không khẳng định, là danh sách có tên tất cả những người giàu nhất ở Mỹ trong 100 năm qua, cũng như không có đủ số liệu chứng minh tất cả những người có tên trong danh sách của chúng tôi lúc này hay lúc khác đã sở hữu 30 triệu đô-la.

Tuy nhiên, có hai việc có thể nói tương đối chắc chắn: (1) có bằng chứng khá rõ về tính chính xác của con số 30 triệu đô-la. Trong trường hợp những người đã chết, tôi đã kiểm tra bằng các di chúc có chứng thực và thấy những ước tính xem ra hoàn toàn chính xác. (2) Cho dù danh sách không thể chứng minh được là có tên tất cả những người giàu nhất, trong đó có tất cả những người được cho là sở hữu số tiền đã nói, nhưng tất cả họ rõ ràng là những người giàu nhất ở Mỹ theo bất kỳ định nghĩa hợp lý nào. Không nghi ngờ gì nữa, trong liệt kê của chúng tôi, chúng tôi đã để sót một số người lẽ ra phải đưa vào, và đã đưa vào những người lẽ ra không nên đưa vào. Nhưng chúng tôi đã đưa vào tất cả những người có thông tin thành văn mà mình có, và theo ý kiến chúng tôi thì những lỗi như vậy có thể xảy ra mà không ảnh hưởng nhiều đến bức tranh chung. Nói tóm lại, không có danh sách chính xác và có bằng chứng khả dĩ cho chúng tôi; danh sách này với chúng tôi hoàn toàn chỉ là ước lượng tương đối hợp lý về nhóm rất giàu nổi tiếng nhất ở Mỹ trong 100 năm qua.

Phác thảo thủ tục trên đây, cùng với liệt kê sơ bộ những cái tên được chọn, và một danh sách phụ về những người chúng tôi coi là ít tài sản hơn, đã được gửi cho những người sau đây để có gợi ý hoặc phê phán: Tiến sĩ John M. Blair của Cục Kinh tế Công nghiệp, Ủy ban Thương mại Liên bang; Giáo sư Thomas Cochran của Đại học Pennsylvania; Giáo sư Shepard Clough của Đại học Columbia; các Giáo sư Arthur Cole, Leland H. Jenks, và Sigmund O. Diamond của Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử Doanh nghiệp tại Đại học Harvard; các Giáo sư Joseph Dorfman và Robert S. Lynd của Đại học Columbia; Giáo sư Frank Freidel của Đại học Stanford; Frank Fogarty của Business Week; Earnest Dale của Trường Kinh doanh, Đại học Columbia; và Max Lerner của New York Post và Đại học Brandeis. Tôi muốn cảm ơn những người này đã dành thời gian, quan tâm và giúp đỡ về vấn đề này, dù họ không có trách nhiệm gì đối với bất kỳ lỗi hay đánh giá thực tế nào.

Trong 371 cái tên, tôi không thể tìm từ các nguồn tiểu sử, các sách đã nói ở trên, và tư liệu báo chí, bất kỳ thông tin nào về cuộc sống của 69 người trong số họ. Hơn một nửa số tên này lấy từ danh sách thuế năm 1924 mà chúng tôi chỉ biết họ, còn tên riêng viết tắt. Tính chất suy đoán về nhiều thu nhập cao trong những năm 1920 dẫn tôi tới chỗ tin rằng khả năng cao là nhiều thu nhập này không đại diện cho các tài sản lớn vững bền, và mối quan tâm của chúng tôi với nhóm rất giàu “nổi tiếng nhất” ở Mỹ có thể đã bỏ qua 69 người này trong số Những người rất giàu. Dù thế nào, đó cũng là điều cần thiết.

Trong một cố gắng để chấp nhận sự khác biệt về giá trị của đồng đô-la trong những giai đoạn mà chúng tôi quan tâm, tôi xếp các thành viên của mỗi thế hệ trong ba thế hệ theo quy mô tài sản ước đoán của họ. Các sử gia kinh tế mà tôi tham vấn đã chỉ ra rằng họ “không biết bất kỳ công cụ thỏa đáng nào cho việc giảm bớt một lượng tiền nhất định xuống mức tương đương với sức mua trong một thời gian dài” (thư của Sigmund O. Diamond và Lelan H. Jenks gửi tác giả, 30-3-1954). Tất nhiên, khi người ta nghiên cứu các loại triệu phú, giá cả sinh hoạt – thường là để xác định sức mua tương đối – không phải là vấn đề đáng quan tâm.

Với mỗi thế hệ, tôi chọn ra 90 người giàu nhất. Vậy là chúng tôi nghiên cứu 90 hoặc chừng ấy những người giàu nhất và nổi tiếng nhất ở mỗi giai đoạn của ba giai đoạn lịch sử. Việc này cho chúng tôi tổng cộng 275 trường hợp để tập trung phân tích, tức là 74% phía trên của 371 trường hợp mà các nguồn chúng tôi biết đã nhắc tới.

Trong 90 trường hợp được chọn vào Nhóm I, năm sinh chung là 1841 và năm chết là 1912. Vì thế năm mọi người 60 tuổi là 1901, do đó Nhóm I được coi là thế hệ 1900.

Trong 95 trường hợp được chọn cho Nhóm II, năm sinh chung là 1867, năm mất là 1936. Vậy khi họ 60 tuổi là năm 1927, và do đó Nhóm II là thế hệ 1925.

Trong 90 trường hợp được chọn cho Nhóm III, năm sinh chung là 1887 và tới 1954 phần lớn họ còn sống. Tính chung thì họ 60 tuổi năm 1947, vì thế Nhóm III là thế hệ 1950.

10. Về John D. Rockefeller, xem Wecter, sđd, các trang từ 141-42, 482; Frederick Lewis Allen, sđd, các trang 4-7; The New York Times, 24-5-1937 và 6-6-1937; tham khảo thêm John T. Flynn, Gods Gold (New York: Harcourt, Brace, 1932). Về Henry O. Havemeyer, xem Dictionary of American Biography; Myers, History of the Great American Fortunes, từ trang 697; và The New York Times, 5-12-1907. Về Henrietta Green, xem Dictionary of American Biography; The New York Time, 4-7-1916, trang 1 và 9-7-1916, phần tạp chí; và Boyden Sparkes và Samuel Taylor Moore, The Witch of Wall Street: Hetty Green (Garden City, NY.: Doubleday Doran, 1935). Về George F. Baker. Jr., xem Who Was Who, 1897-1942; và The New York Times, 31-5-1937.

11. Về Hunt và Cutten, xem The New York Times, 21-11-1952, và phần tạp chí ngày 8-3-1953; The Washington Post từ 15 đến 19-2-1954; và các báo cáo khác của United Press Survey về những người như Preston McGraw trên Long Island StarJournal, 4 và 5-8-1954 và Gene Patterson, “World’s Richest Man is a Texan”, Pacific Coast Business and Shipping Register, 16-8-1954.

12. Con số về tỉ lệ đàn ông Mỹ trưởng thành sinh ra ở nước ngoài năm 1900 được tính toán dựa trên Historical Statistics of the US., 1789–1945, Bộ Thương mại Mỹ, trang 32. Về số dân Mỹ da trắng sinh ra ở nước ngoài năm 1950, xem The World Almanac, 1954, trang 206.

13. Xem Historical Statistics of the US., 1789-1945, trang 29.

14. Số liệu chung về tôn giáo không thể có con số chính xác hơn vì nhiều người rất giàu không biết về đức tin tôn giáo. Ở hầu hết các giai đoạn trong lịch sử Mỹ, số liệu về những người bị rút phép thông công cũng không nói lên được các nguyên nhân chính xác, vì vậy cũng không thể so sánh bất kỳ nhóm nào với dân số nói chung.

15. Ví dụ, Eleanor Rice, con gái của William L. Elkins và đã có thời gian là vợ của George D. Widener, từng hiến tặng hàng triệu đô-la cho nhiều tổ chức giáo dục và nghệ thuật, có ông chồng quá cố là một bác sĩ và là nhà địa lý nổi tiếng từng thám hiểm Nam Mỹ để nghiên cứu các loại bệnh nhiệt đối và các bộ lạc thổ dân. Xem The New York Herald Tribune, 5-10-1951. Tại ngôi nhà hoành tráng của bà ở California, Mary Virginia McCormick luôn có một đội nhạc công và các ban nhạc giao hưởng nhập khẩu cho các buổi tiệc và hòa nhạc. Xem The New York Times, 26-5-1951.

16. Về Anita McCormick Blaine, xem The New York Times, 13-2- 1954; về Hetty Sylvia Green Wilks, xem The New York Times, 6-2-1951, trang 27.

17. Ngay cả vào năm 1900, khi chỉ 39% nhóm rất giàu xuất thân từ các tầng lớp thượng lưu, khoảng 25% nhóm rất giàu là doanh nhân trong các doanh nghiệp gia đình. William H. Vanderbilt, con trai của Cornelius Vanderbilt và mất năm 1900, trở thành người quản lý bảo thủ của các công ty nhà Vanderbilt, và trên thực tế, là người đứng đầu doanh nghiệp khi chúng lên tới đỉnh cao tài chính. Tất nhiên, khó mà biết liệu đó có phải là kết quả từ tài quản lý của ông – không hề suy đoán hoặc thổi phồng – hay là kết quả của những thay đổi khách quan làm giá trị cổ phiếu đường sắt tăng. Sự lười biếng của các con trai ông, dành thời gian cho mấy trò thời thượng ở châu Âu, có lẽ không phải nguyên nhân suy giảm tương đối của khối tài sản nhà Vanderbilt mà là do nền kinh tế đường sắt đang đi xuống. Xem Wayne Andrews, The Vanderbilt Legend (New York: Harcourt, Brace, 1941); George D. Widener, con trai của P. A. B. Widener, trở thành người nắm giữ cổ phiếu ở 23 công ty kiêm chủ tịch và giám đốc của 18 công ty. Ông thuộc loại người tích cực trong kinh tế, năm 1902 đã dính líu tới một vụ kiện lừa đảo vì đã ca ngợi một công ty yếu kém để ông có thể bán cổ phiếu công ty đó của mình và rút ra trước khi nó thất bại. Xem Philadelphia Public Ledger, 2-4-1912; và Philadelphia Press, 23-9-1902.

Trong số những nhà quản lý kiểu gia đình thời hiện đại, chẳng hạn như Vincent Astor, chắt nội của John Jacob Astor, có thể đam mê môn du thuyền và đua xe ô tô, nhưng lại làm các biên tập viên xã hội thất vọng trong cuộc tìm kiếm về đời sống nhàn hạ đầy tai tiếng, mà khi cha ông mất lúc ông mới 21 tuổi, ông đã thôi học Harvard, và bắt đầu nâng dần giá trị đất đai Astor ở thành phố New York. Chàng trai Vincent thay đổi chính sách quản lý bằng việc xóa bỏ nhiều nhà cửa đất đai cho thuê, cố gắng đưa khách hàng thuộc tầng lớp trung lưu và thượng lưu vào khu Astor, và vì thế tất nhiên nâng cao giá trị của nó cho ông. Xem Harvey O’Connor, The Astors, (New York: Knopf, 1941), trang 336. Và những quyết định hằng ngày của John D. Rockefeller III liên quan tới việc sử dụng hàng triệu đô-la; ông phải làm việc toàn thời gian cho những gì ông đã được đào tạo: công việc từ thiện trên quy mô toàn cầu. Hơn nữa, ông đã tích cực với vai trò giám đốc trong nhiều công ty Mỹ, trong đó có Công ty bảo hiểm New York Life và Ngân hàng Quốc gia Chase.

18. Xem The New York Times, 1-8-1954, trang 1-7.

19. Về tầng lớp nghèo khác nhau và không thành công, xem Mills, White Collar (New York: Oxford University Press, 1951), từ trang 259.

20. Xem Myers, History of the Great American Fortunes, từ trang 634; Lewis Corey, The House of Morgan (New York: G. Howard Watt, 1930); và John K. Winkler, Morgan the Magnificent (New York: The Vanguard Press, 1930).

21. Xem Harvey O’Connor, How Mellon Got Rich (New York: International Pamphlets, 1933), và Mellons Millions (New York: Newcomen Society of England, American Branch, 1948); và The New York Times, 30-8-1937, trang 16.

22. Trích trong Time, 1-6-1953, trang 38.

23. Xem The New York Times, 2-2-1944, trang 15.

24. Xem The New York Times, 7-6-1948, trang 19.

25. Xem Wallace Davis, Corduroy Road (Houston: Anson Jones Press, 1951).

Xem thêm lời chứng của James D. Steitenroth, cựu quan chức tài chính của Công ty Điện lực và Chiếu sáng Mississippi về hợp đồng Dixon Yates, được đưa tin trong Báo cáo tạm thời của Tiểu ban thuộc Ủy ban Tư pháp Chống Tổ hợp và Độc quyền về vụ điều tra độc quyền trong ngành công nghiệp Điện lực, Thượng viện Mỹ, khóa 83, kỳ họp thứ 2 (Washington, DC.: US. Government Printing Office, 1955), từ trang 12.

26. Xem Frederick Lewis Allen, sđd, trang 85.

CHƯƠNG 6. TỔNG GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH

1. Xem Mills, White Collar: The American Middle Classes (New York: Oxford University Press, 1951), Chương 2 và 3.

2. Số liệu từ Cục Điều tra dân số, Khảo sát thường niên năm 1951 về Các nhà sản xuất và “Danh bạ Tài sản của 500 công ty công nghiệp lớn nhất của Mỹ”, Fortune, 7-1955, phần Bổ sung và trang 96.

3. John Kenneth Galbraith, American Capitalism: The Concept of Countervailing Power, (New York: Houghton Mifflin, 1952), trang 58. Xem thêm từ trang 115 và 171.

4. Để biết rõ hơn qua những dữ liệu gần đây về quan điểm Gardiner Means giá cả cứng nhắc trong kinh tế công ty, xem John M. Blair, “Economic Concentration and Depression Price Rigidity”, American Economic Review, tập XLV, 5-1955, từ trang 566-82.

5. Xem Ferdinand Lundberg, America’s 60 Families, 1937 (New York: The Citadel Press, 1946), Phụ lục E.

6. Số lượng cổ đông năm 1952 và tỉ lệ họ đại diện trong các nhóm nghề nghiệp khác nhau và mức thu nhập lấy từ một nghiên cứu của Lewis H. Kimmel, Share Ownership in the United States (Washington: The Brookings Institution, 1952). Xem thêm “1955 Survey of Consumer Finances”, Federal Reserve Bulletin, 6-1955, cho thấy chỉ có 2% “các đơn vị chi tiêu” nắm giữ từ 10.000 cổ phần trở lên. Về số người trưởng thành năm 1950, xem The World Almanac, 1954, trang 259.

7. Giữa các nhóm cổ đông trụ cột này có 7% chủ trang trại có cổ phần. Xem Kimmel, sđd.

8. Năm 1936 chỉ có khoảng 55.000 người – chưa tới 1% tổng số cổ đông – nhận 10.000 đô-la cổ tức một năm. Xem “The 30,000 Managers”, Fortune, 2-1940, trang 108. Năm 1937, những người có thu nhập từ 20.000 đô-la trở lên – không kể số lỗ lãi tiền đầu tư – thu được từ 40-50% cổ tức công ty, và đại diện chưa tới 1% số người có cổ phần. Xem Ủy ban lâm thời quốc gia về tình trạng khẩn cấp, “Final Report to the Executive Secretary”, trang 167.

9. Hơn nữa, 13% cổ tức công ty nhận được năm 1949 là của những người hoặc không phải đóng thuế thu nhập, hoặc thu nhập ít hơn 5.000 đô-lanăm. Số liệu từ Bộ Ngân khố Mỹ, Cục Thuế Nội địa, “Statistics of Income for 1949, Part I”, các trang 16, 17.

10. Xem Floyd Hunter, Community Power Structure (Chapel Hill: University of North Carolina Press, 1953); và Robert A. Brady, Business as a System of Power (New York: Columbia University Press, 1943).

11. Xem Mills, The New Men of Power (New York: Harcourt, Brace, 1948), từ trang 23-27.

12. Để có chi tiết về chế độ lãnh đạo nhiều công ty năm 1938, xem Bản rô-nê-ô số 29 của TNEC, “The Distribution of Ownership in the 200 Largest Non-financial Corporations”, trang 59, và từ trang 533. Xem thêm Bản rô-nê-ô số 30 của TNEC, “Survey of Shareholdings in 1710 Corporations with Securities Listed on a National Securities Exchange”. Năm 1947, câu chuyện về cơ sở rộng hơn của các công ty tài chính và phi tài chính Mỹ thực tế cũng giống như chuyện giữa những giám đốc-chủ sở hữu của 200 công ty phi tài chính lớn nhất năm 1938: Trong số 10.000 người là giám đốc ở 1.600 công ty hàng đầu, có chừng 1.500 người ngồi ở hơn một công ty. Từ năm 1914, sẽ là bất hợp pháp khi một người là giám đốc của hai công ty hoặc hơn nếu những công ty này đang cạnh tranh nhau; năm 1951, Ủy ban Thương mại Liên bang lập luận rằng họ muốn luật này áp dụng cho hai công ty tầm cỡ hoặc hơn bất luận chúng có cạnh tranh nhau hay không. “Luật hiện hành bị hạn chế không đúng trong khái niệm của nó về cạnh tranh mà có thể bị ngăn cản bởi các ban lãnh đạo chéo. Luật chỉ áp dụng ở nơi có hoặc đã có cạnh tranh giữa các công ty liên quan chặt chẽ với nhau. Nó không áp dụng ở nơi các công ty này có thể sẵn sàng trở thành đối thủ và có lẽ sẽ làm như vậy nếu không ảnh hưởng tới quan hệ của họ… [Luật này] chỉ áp dụng cho các mối liên hệ trực tiếp giữa các công ty cạnh tranh trong khi có những tiềm năng giảm cạnh tranh trong các mối liên hệ gián tiếp.” Xem Report of The Federal Trade Commission on Interlocking Directorates (Washington: US. Government Printing Office, 1951), đặc biệt từ trang 14-15.

13. Năm 1950, có 556 vị trí giám đốc trong 25 công ty lớn nhất ở Mỹ. Một người (Winthrop W. Aldrich), nay là Đại sứ ở Anh, nắm giữ vị trí giám đốc ở bốn công ty trong số này (Ngân hàng Quốc gia Chase, Công ty Điện thoại và Điện tín Mỹ, Đường sắt Trung tâm New York, và Công ty Bảo hiểm Metropolitan Life). Bảy người nắm giữ vị trí giám đốc ở ba công ty trong số này; 40 người ở hai công ty; và 451 người ở chỉ một công ty. Vì thế, 105 trong số 556 ghế ban giám đốc của 25 công ty này do 48 người nắm giữ. Xem bảng của Ban Lưu trữ Hồ sơ Quốc hội chuẩn bị cho Hạ Nghị sĩ Emanuel Celler, Chủ tịch Ủy ban Tư pháp Hạ viện, Hearings Before the Subcommittee on the Study of Monopoly Power of the Committee on the Judiciary, Hạ viện, khóa 82, kỳ họp thứ nhất, Văn bản số 1, phần 2 (US. Government Printing Office, 1951), trang 77, khu trưng bày A.

14. Việc tập trung quyền lực tập đoàn và sự phối hợp phi chính thức của thế giới kinh doanh – có hoặc không có ban giám đốc kiêm nhiệm – đã tới mức mà Bộ Lao động dự đoán là chỉ khoảng 147 ông chủ thực sự mặc cả về các điều khoản lương với lực lượng lao động của họ. Những mặc cả này sẽ định ra các kiểu hợp đồng lương; hàng nghìn ông chủ khác có thể trải qua nhiều đợt mặc cả, nhưng rủi ro cao là họ sẽ phải theo cái cách mà một số ít thỏa thuận khổng lồ đã đặt ra. Xem Business Week, 18-10-1952, trang 148; Frederick H. Harbison và Robert Dubin, Patterns of Union-Management Relations, (Chicago: Science Research Associates, 1947); Mills, The New Men of Power, từ trang 233; và Frederick H. Harbison và John R. Coleman, Goals and Strategy in Collective Bargaining (New York: Harper, 1951), từ trang 125.

13. “Special Report to Executives on Tomorrow’s Management”, Business Week, 15-8-1953, trang 161.

14. John M. Blair, “Technology and Size”, American Economic Review, tập XXXVIII, 5-1048, số 2, từ trang 150-51. Blair lập luận rằng công nghệ ngày nay, không giống như công nghệ thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, là sức mạnh đưa tới phi tập trung hóa hơn là củng cố. Vì các kỹ thuật mới – như thay thế hơi nước bằng điện và thay thế sắt thép bằng các kim loại nhẹ hơn, hợp kim, nhựa và gỗ – đã làm giảm bớt quy mô hoạt động mà trong đó hiệu suất giảm dần. Với những phát triển công nghệ mới này, lợi nhuận tối đa của một nhà máy có thể đạt được ở một quy mô hoạt động thấp hơn nhiều so với trước đây. “Tóm lại… có thể hy vọng rằng việc ngày càng thay thế những nguyên liệu mới này sẽ giảm bớt lượng tư bản cần có trong mỗi đơn vị sản phẩm, và vì thế có xu hướng đưa tới thành lập các nhà máy mới hơn, nhỏ hơn, và hiệu quả hơn.” Như trên, trang 124.

15. Xem Galbraith, sđd; và American Economic Review, tập XLIV, 5-1954 để phê phán Galbraith.

16. Xem A. A. Berle, Jr., The 20th Century Capitalist Revolution (New York: Harcourt, Brace, 1954) và đánh giá sâu sắc về nó của Ben B. Seligman trong Dissent, Winter 1955, từ trang 92.

17. F. W. Taussig và C. S. Joslyn đặt nền móng đầu tiên bằng việc có được những thông tin từ khoảng 7.000 doanh nhân có tên trong Danh sách Giám đốc 1928 của Poor: American Business Leaders: A Study in Social Origins and Social Stratification.

15. Mills đã phân tích 1.464 “doanh nhân Mỹ nổi tiếng” mà tiểu sử xuất hiện trong The Dictionary of American Biography và sinh ra trong khoảng từ năm 1550 đến 1879: “The American Business Elite: A Collective Portrait”, The Tasks of Economic History, phần bổ sung 5 cho The Journal of Economic History, 12-1945.

16. William Miller đã tập hợp được một lượng lớn tốt nhất tiểu sử các lãnh đạo doanh nghiệp. Tự ông đã phân tích những chất liệu này và xuất bản bốn bài về họ: “American Historians and the Business Elite”, Journal of Economic History, tập IX, số 2, 12- 1949, trong đó so sánh 190 nhà lãnh đạo doanh nghiệp năm 1903 với 188 chính trị gia cùng thời với họ; “The Recruitment of the Business Elite”, Quarterly Journal of Economics, tập LXIV, số 2, 5-1950, về nguồn gốc xã hội của các lãnh đạo doanh nghiệp năm 1903 so với dân số nói chung; “American Lawyers in Business and Politics”, Yale Law Journal, tập LX, số 1, 1-1951, so sánh đặc điểm xã hội của các luật sư có trong danh sách lãnh đạo doanh nghiệp năm 1903 với những người trong số chính trị gia, và “The Business Bureaucracies: Careers of Top Executives in the Early Twentieth Century”, Men in Business: Essays in the History of Entrepreneurship (William Miller biên tập) (Cambridge: Harvard University Press, 1952), bàn luận về nghề kinh doanh của các doanh nhân năm 1903. Ông Miller cũng thu thập tài liệu về tiểu sử của 412 lãnh đạo doanh nghiệp năm 1950.

17. Theo sự chỉ đạo của Miller tại Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử Doanh nghiệp ở Đại học Harvard, một nghiên cứu tương tự cũng được thực hiện về các lãnh đạo công nghiệp thời kỳ 1870-1879. Xem Frances W. Gregory và Irene D. Neu, “The American Industrial Elite in the 1870’s: Their Social Origins”, Men in Business.

18. Một phân tích cả ba thế hệ này được tiến hành bởi Suzanne I.

Keller, “Social Origins and Career Lines of Three Generations of American Business Leaders”, luận án tiến sĩ tại Đại học Columbia, 1954. Sử dụng phương pháp tiếp cận vấn đề như Miller, tạp chí Fortune đã phân tích một nhóm 900 giám đốc điều hành cao cấp nhất của năm 1952 – ba nhóm người được trả lương cao nhất ở 250 tập đoàn công nghiệp lớn nhất, 25 thuộc các công ty đường sắt lớn nhất và 20 thuộc các công ty dịch vụ lớn nhất: “The Nine Hundred” (“Nhóm 900”), Fortune, 11-1952, từ trang 132, gồm những người đương thời tiêu biểu nhất có được, các tài liệu tốt không được phân tích đầy đủ. Xem thêm Mabel Newcomer, “The Chief Executives of Large Business Corporations”, Explorations in Entrepreneurial History, tập V (Cambridge: Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử Doanh nghiệp ở Đại học Harvard, 1952–1953), các trang 1–34 nói về các giám đốc điều hành chính của các tập đoàn trong các năm 1899, 1923, và 1948.

19. Tuy nhiên, tất cả các nghiên cứu về đường hướng nghề nghiệp, cũng như các vấn đề khác trong cuốn sách này dễ gặp nhiều khó khăn kỹ thuật khi giải thích, thông tin cần thiết thường khó kiếm và có thể dễ bị lạc lối. Ví dụ, “nguồn gốc xã hội” bề ngoài của Thượng Nghị sĩ Clifford Case bang New Jersey, nếu đánh giá theo nghề của cha ông thì “sống dễ chịu nhưng không giàu”; ông là con trai của một mục sư Tin Lành mất khi Clifford 16 tuổi. Nhưng chú ông là một thượng nghị sĩ bang, và trong 23 năm là ủy viên tòa án tối cao của bang (Xem Time, 18-10-1954, trang 21). Về nguy cơ cố hữu trong việc dùng các nghiên cứu số liệu nghề nghiệp để dự báo đường hướng các sự kiện xã hội, xem Richard H. S. Crossman, “Explaining the Revolution of Our Time: Can Social Science Predict Its Course?” Commentary, 7-1952, từ trang 77.

20. Số liệu dùng trong Phần 2 và 3 của chương này, nếu không ghi chú, đều lấy từ phân tích của Keller về dữ liệu của Miller; dữ liệu này không được sử dụng trừ phi tương thích với các nghiên cứu phù hợp khác: vì thế chúng tôi có thể sử dụng những số liệu trong bài này đại diện cho sự thống nhất chung của tất cả các nghiên cứu thích hợp hiện có.

18. “The Nine Hundred”, sđd, trang 235.

19. Khi mở rộng mẫu tới nhiều giám đốc điều hành hơn, tỉ lệ 900 giám đốc điều hành cao cấp năm 1952 đã tốt nghiệp đại học thì đại khái cũng thế (khoảng 65%), nhưng chỉ khoảng 1/3 là có đào tạo sau đại học. Trong nhóm giám đốc điều hành trẻ nhất hiện nay, những người dưới 50 tuổi, 84% tốt nghiệp đại học. Xem “The Nine Hundred”, sđd, trang 133.

20. Xem như trên, trang 133.

21. Xem nghiên cứu về 127 giám đốc điều hành ở 57 công ty hàng đầu được thông báo trong Business Week, 31-5-1952, từ trang 112. 72 trong số 127 giám đốc điều hành ngoài lương ra còn được nhận các loại phúc lợi khác.

22. Xem Business Week, 23-5-1953, từ trang 110.

23. Trong mỗi mẫu tương xứng, chúng tôi không biết chính xác giám đốc điều hành đã làm việc bao lâu và vất vả thế nào, nhưng chúng tôi có một vài thực tế gần đây về một nhóm nhỏ giám đốc điều hành vùng Bờ Tây mà tất cả đều có mức lương từ 35.000 đô-la trở lên; chúng tôi không có dữ liệu về việc họ sở hữu hay nhận được bao nhiêu từ cổ tức. Khoảng 37 trong nhóm 111 người này bắt đầu làm việc vào 10 giờ sáng, ra về lúc khoảng 3 giờ chiều, “có ba tiếng ăn trưa, chơi gôn hoặc đi câu hai hay ba lần một tuần, thường kéo dài kỳ nghỉ cuối tuần tới bốn hoặc năm ngày. Chỉ trừ năm người của nhóm này, còn những người khác đều có công ty riêng hoặc là các quan chức trong doanh nghiệp nhỏ địa phương.” Chỉ 10 người (9%) làm việc 40 tiếng một tuần. Nhưng 64 người (khoảng 58%) thực sự làm việc chăm chỉ. “Họ gần như giống nhân viên của các công ty quốc gia lớn… Họ làm việc 69 tiếng một tuần, lúc cao điểm tới 112 tiếng, và ý tôi là chỉ có làm việc… Phần lớn ở cơ quan từ 8 giờ sáng tới 6:30 tối và mang cả việc về nhà; khi họ ra ngoài ăn tối (trung bình ba lần một tuần), bao giờ cũng là vì công việc.” Trích từ nghiên cứu của Arthur Stanley Talbott, đăng trên Time, 10-11-1952, trang 109.

24. The New York Times, 10-4-1955, trang 74.

25. Xem “Why Don’t Businessmen Read Books?”, Fortune, 5-1954.

26. William Miller, “American Lawyers in Business and Politics”, sđd, trang 66.

27. Vì họ gia nhập công ty lần đầu tiên khi khoảng 29 tuổi, và làm việc ở đó cũng chừng ấy thời gian – 29 năm – và ở vị trí công việc hiện tại sáu năm, nên họ phải mất 23 năm để lên được vị trí cao nhất. Mấy con số này và các số liệu khác trong hai đoạn của bài này được trích hoặc sắp xếp lại từ “The Nine Hundred”, sđd.

28. Robert A Gordon, Business Leadership in the Large Corporation, (Washington: Viện Brookings, 1945), trang 71.

29. Về các giám đốc điều hành “Tầng lớp Hai”, xem Business Week, 2-1-1954, về sắp xếp du Pont.

30. Xem Business Week, 16-5-1953.

31. John L. McCaffrey trong một bài nói chuyện ngày 10-6-1953 trước lớp sinh viên tốt nghiệp Chương trình hai năm của Đại học Chicago, được đăng lại dưới tít “What Corporation Presidents Think About at Night”, Fortune, 9-1953, từ trang 128.

32. Xem Business Week, 3-10-1953.

33. Xem Gordon, sđd, trang 91; và Peter F. Drucker, The Practice of Management (New York: Harper, 1954).

34. Những bức thư của Lammot du Pont và Alfred P. Sloan được đăng trong The New York Times, 7-1-1953, các trang 33, 35.

35. Thực tế và trích dẫn liên quan đến cuộc tranh giành quyền kiểm soát hãng xe lửa Trung tâm New York của Robert R. Young trích từ John Brooks, “The Great Proxy Fight”, The New Yorker, 3-7-1954, từ trang 26. Xem thêmBusiness Week, 24-7-1954, trang 70.

36. Xem Business Week, 15-5-1954.

37. Xem The New York Post, 16-4-1954.

38. Xem Robert Coughlin, “Top Managers in Business Cabinet”, Life, 19-1-1953, các trang 111, 105.

39. Trích dẫn về một giám đốc điều hành cao cấp của công ty dầu lửa lớn nhất thế giới từ Business Week, 17-4-1954, trang 76. Về việc tự duy trì của các giám đốc điều hành như những người đã ở vị trí cao nhất, xem Melville Dalton, “Informal Factors in Career Achievements”, American Journal of Sociology, tập LVI, số 5 (3-1951), trang 414.

40. Xem Keller, sđd, các trang 108-111.

41. Xem “The 30,000 Managers”, sđd; và Robert W. Wald, “The Top Executive – a First Hand Profile”, Harvard Business Review, 8-1954.

42. Một khảo sát gần đây của Booz, Allen và Hamilton cho thấy một nửa của 50 công ty lớn được khảo sát chỉ sử dụng ý kiến của một người trong việc đánh giá các giám đốc điều hành, 30% sử dụng ý kiến “một số người” để đánh giá năng lực, và chỉ có 20% cố gắng sử dụng các phương pháp khoa học hơn. Business Week, 2-4-1955, trang 88.

43. Business Week, 3-11-1951, trang 86. Xem thêm Mills, White Collar, từ trang 106; và William H. Whyte, Jr., và bài của các biên tập viên Fortune, Is Anybody Listening? (New York: Simmon and Schuster, 1952).

44. “The Crown Princes of Business”, Fortune, 10-1953, trang 152.

45. “The Nine Hundred”, sđd, trang 135.

46. Các trích dẫn và số liệu trong hai đoạn này lấy từ “The Crown Princes of Business”, sđd, từ trang 152-53.

47. Như trên, trang 264.

48. Trích từ Fortune đã dẫn, trang 266; và về giám đốc điều hành là từ một “chủ tịch (giấu tên) của một tập đoàn nổi tiếng”, tạp chí đã dẫn.

49. Ida M. Tarbell, Owen D. Young (New York: Macmillan, 1932), các trang 232, 113, 229-30, 121, và 95-96.

CHƯƠNG 7. GIỚI ĐIỀU HÀNH GIÀU CÓ

1. Về “cách mạng quản lý”, xem James Burnham, The Managerial Revolution: What is Happening in the World (New York: John Day, 1941); bình luận chi tiết về quan điểm của Burnham, xem H. H. Gerth và C. Wright Mills, “A Marx For the Managers”, Ethics, tập LII, số 2, 1-1942. Để biết thuyết về các gia đình hàng đầu, xem Ferdinand Lundberg, America’s 60 Families, 1937 (New York: The Citadel Press, 1946).

2. Để biết phân phối thu nhập năm 1951 so với 1929, xem Business Week, 20-12-1852, các trang 122-23; thu nhập của cả năm 1029 lẫn 1951 đều tính theo tỉ giá đô-la năm 1951. Xem thêm Business Week, 18-10-1952, trang 28-29.

3. Để biết các thảo luận về một số thực tế kinh tế chung phía sau phân phối thu nhập đã thay đổi, xem Frederick Lewis Allen, The Big Change (New York: Harper, 1952), và Business Week, 25-10-1952, trang 192.

4. Bộ Thương mại Mỹ, Cục Điều tra dân số, “Current Population Reports: Consumer Income”, loạt P-60, số 12, 6-1952, trang 4.

5. Số liệu về thu nhập được khai báo năm 1949 theo nguồn của Bộ Ngân khố Mỹ, Cục Thuế Nội địa, “Statistics of Income for 1949, Part I, Preliminary Report of Individual Income Tax Returns and Taxable Fiduciary Income Tax Returns filed in 1950), (Washington, DC.: US. Government Printing Office, 1952), các trang 16-19.

6. Cổ tức công ty chiếm phần lớn nhất của 81 người nhận từ 1 tới 1,9 triệu đô-la (42 và 45%). Tài sản và ủy thác chiếm phần lớn nhất (48%) trong số tiền được nhận của 20 người trong nhóm có thu nhập từ 2 tới 2,9 triệu đô-la. Lợi tức tiền đầu tư chiếm 49% trong số tiền nhận được của những người kiếm được từ 3 triệu đô-la trở lên. Tuy nhiên, cổ tức chỉ là nguồn thu nhập phụ trong hai nhóm cuối cao nhất này, 39 và 43%. Xem như trên, các trang 16-19.

7. Như trên, các trang 45-47.

8. Các số liệu lịch sử về thu nhập 1 triệu đô-la trong giai đoạn 1917-1936 được biên soạn trong tài liệu của Ủy ban Liên hợp về Thuế thu nhập nội địa thuộc Quốc hội Mỹ “Million-dollar Incomes” (“Những người thu nhập 1 triệu đô-la”) (Wahington, DC.: US. Government Printing Office, 1938). Trong các năm trước 1944, thu nhập cá nhân không bị tách khỏi tài sản và ủy thác. Nếu gộp những thứ này vào khai thuế năm 1949 để làm chúng cân bằng với nhóm 513 người năm 1929, thì thu nhập năm 1949 sẽ là 145 triệu đô-la. Về tỉ lệ các gia đình có thu nhập ít hơn 2.000 đô-la năm 1939, xem The New York Times, 5-3- 1952, số liệu của Cục Điều tra dân số.

9. “Preliminary Findings of the 1955 Survey of Consumer Finances”, Federal Reserve Bulletin, 3-1955, trang 3, bản in lại.

10. Simon Kuznets, một chuyên gia số liệu về thuế, phát hiện phần trong tổng thu nhập sau thuế của 1% dân số giàu nhất, (chỉ tính những gia đình thu nhập 15.000 đô-la) đã giảm từ 19,1% năm 1928 xuống 7,4% năm 1945; nhưng ông thận trọng nói thêm, “Từ trình bày của chúng tôi chắc phải thấy rõ chúng tôi đã vấp phải khó khăn đáng kể trong việc xây dựng đánh giá với một độ tin cậy cao và tìm ra số liệu để kiểm tra một số giả thuyết.” Nhưng số liệu của ông dựa trên cơ sở được phổ biến rộng rãi của các thuyết về “sự suy giảm của những người giàu.” Số liệu này gồm một số “ước lượng” và “điều chỉnh” có thể cần được tranh luận rất chi tiết, nhưng tranh luận quan trọng phải liên quan đến số liệu mà chúng được “ước lượng.” Từ những gì chúng tôi biết – và chỉ biết một phần nhỏ – bằng các cách hợp pháp và bất hợp pháp về những thứ bị đánh thuế nặng, chúng tôi nghiêm túc tự hỏi việc giảm từ 19,1 xuống 7,4% liệu có phải là một minh họa cho việc giới điều hành giàu có đã biết cách giữ kín thông tin về thu nhập của họ với chính phủ hơn là một “cuộc cách mạng thu nhập.” Nhưng không ai sẽ thực sự biết. Vì loại điều tra chính thức cần có là bất khả thi về chính trị. Xem Simon Kuznets, “Shares of Upper Income Groups in Income and Savings”, National Bureau of Economic Research, Inc., Occasional Paper No. 35, các trang 67 và 59; và Simon Kuznets, Elizabeth Jenks trợ giúp, Shares of Upper Income Groups in Income and Savings (New York: National Bureau of Economic Research, Inc., 1953). Để biết tranh luận về các phương pháp Kuznets sử dụng bằng cách giải thích dữ liệu thuế khác nhau, xem J. Keith Butters, Lawrence E. Thompson và Lyn L. Bolinger, Effects of Taxation: Investment by Individuals (Cambridge: Harvard University Press, 1953), đặc biệt trang 104.

21. Ngẫu nhiên là tỉ lệ thu nhập phải nộp mọi loại thuế – mà các thành viên của một số mức thu nhập phải nộp gần đây – đã không được nghiên cứu cẩn thận. Tuy nhiên, trong thời kỳ Chính sách Kinh tế Mới, kết quả từ một nghiên cứu như vậy của Gerhard Colm và Helen Tarasov cho TNEC (Bản rô-nê-ô, số 3: “Who Pays the Taxes?” (“Ai trả thuế?”), đặc biệt xem trang 6) cho thấy một người kiếm từ 1.500 tới 2.000 đô-la một năm phải đóng thuế 17,8% thu nhập, và chỉ có thể tiết kiệm được 5,8%; trong khi người có thu nhập gấp 10 lần số thu nhập đó (15.000-20.000 đô-la) lại chỉ đóng chưa tới hai lần số thu nhập phải chịu thuế (31,7%) của mình và có thể tiết kiệm cao gấp năm lần (32,3%).

11. Những miễn giảm chi phí như vậy trong một năm nào đó sẽ giảm lượng “trợ cấp hao hụt” vì chúng giảm quy mô của thu nhập ròng, nhưng chúng không ảnh hưởng tới phần trăm dành cho trợ cấp hao hụt. Xem Roy Blough, The Federal Taxing Process (New York: Prencetice-Hall, 1952), trang 318.

22. Từ 31-7-1954, tất cả các cơ sở kinh doanh đều được hỗ trợ hao hụt: thay vì khấu hao cho các thiết bị đầu tư được mua để sử dụng lâu dài, 2/3 chi phí có thể được khấu trừ vào nửa đầu thời gian sử dụng. Xem The New York Times, 22-7-1954, các trang 1, 10.

12. Xem Time, 2-11-1953, trang 98.

13. Về thuế quà tặng, xem Business Week, 7-8-1954, các trang 103-04; và 13-11-1954, trang 175.

14. Business Week, 7-3-1953, trang 143.

15. Đã dẫn. Về ủy thác gia đình, xem thêm Business Week, 9-10-1954, từ trang 175.

16. Những số liệu và trích dẫn này liên quan đến các quỹ lấy từ Business Week, 19-6-1954, các trang 167-69, 173.

17. Business Week, 17-5-1952. Một khảo sát khoảng 164 công ty đại diện năm 1952 cho thấy chỉ có 8% trong đó trả cho giám đốc điều hành chỉ bằng lương – như Richard A. Girard trích dẫn, “They Escape Income Taxes—But You Can’t!”, American Magazine, 12-1952, trang 16.

18. Girard, sđd, trang 89.

19. Hiện tại lựa chọn cổ phiếu chỉ dành cho giám đốc điều hành nào có không quá 10% cổ phiếu của công ty, nhưng nghe nói người ta đang tự do hóa lựa chọn để bao gồm cả những chủ sở hữu lớn dù giá có hơi cao hơn giá thị trường, cho nên giám đốc điều hành kiêm chủ sở hữu có thể giữ quyền kiểm soát cổ phiếu của công ty khi số cổ phiếu mới phát hành được thả nổi. Về lựa chọn cổ phiếu của giám đốc điều hành, xem Business Week, 4-4- 1953, các trang 85-88, và 17-7-1954, các trang 52, 54.

20. Business Week, 25-12-1954.

21. Như trên, 19-7-1952.

22. The New York Times, 17-10-1954, trang F3.

23. Các kế hoạch bảo hiểm nhân thọ, sức khỏe, tai nạn, khuyết tật, và hưu trí theo nhóm ngày càng phổ biến trong giới điều hành giàu có. Về các xu hướng mới trong bảo hiểm nhân thọ theo nhóm và khuyết tật, xem Business Week, 14-2-1953, các trang 78, 83; 26-9-1053, các trang 120, 122; và 24-7-1954, trang 65. Về bảo hiểm nhân thọ “chủ thợ cùng chia sẻ”, xem Business Week, 24-7-1954, các trang 64, 65.

24. Xem Business Week, 20-6-1953, trang 183.

25. William H. Whyte, Jr., “The Cadillac Phenomenon”, Fortune, 2-1955, trang 178.

26. Xem Business Week, 11-6-1955, trang 168, và 9-7-1953, từ trang 40.

27. Ernest Haveman, “The Expense Account Aristocracy”, Life, 9-3-1953. Khoảng 73% trong một mẫu công ty được nghiên cứu gần đây trả toàn bộ hoặc một phần chi phí câu lạc bộ cho các giám đốc điều hành quan trọng của mình, xem Girard, sđd, trang 88.

28. The New York Times, 22-2-1953, phần Tin trong tuần, “Journeys’ End”.

29. Xem Business Week, 15-5-1954.

30. Xem Business Week, 16-10-1954.

31. Xem Business Week, 9-1-1954.

32. Girard, sđd, trang 89. Xem thêm Business Week, 29-8-1953.

33. Marya Mannes, “Broadway Speculators”, The Reporter, 7-4-1955, trang 39.

34. Ernest Haveman, sđd.

35. Honore de Balzac, The Thirteen (New York: Macmillan, 1901), trang 64.

36. Trích trong Look, 9-2-1954.

37. Honore de Balzac, sđd.

38. Ví dụ xem “Hearings before the Subcommittee on Study of Monopoly Power of the Committee on the Judiciary”, Hạ Nghị viện, khóa 81, kỳ họp thứ nhất, tài liệu số 14, Phần 2-A (Washington: US. Government Printing Office, 1950), trang 468-69.

39. Theodore H. White, “Texas: Land of Wealth and Fear”, The Reporter, 25-5-1954, các trang 11 và 15. Về Hugh Roy Cullen, xem thêm The Washington Post, 14-2-1954.

40. The New York Times, 11-10-1953, trang 65. “Luật Hatch về các hoạt động chính trị”, The New York Times viết tiếp, “cho việc hiến tặng bất kỳ nhóm nào trên 5.000 đô-la là bất hợp pháp. Nhưng nó cho phép một cá nhân tặng số tiền đó cho mỗi tổ chức riêng biệt và cho phép mỗi thành viên gia đình hiến tặng riêng.”

41. Harry Carman và Harold C. Syrett, A History of the American People (New York: Knopf, 1952), tập n, trang 451.

42. Jonathan Stout, “Capital Comment”, The New Leader, 5-12-1942.

43. Trích trong The Reporter, 25-10-1954, trang 2.

44. John Knox Jessup, “A Political Role for the Corporation”, Fortune, 8-1952.

CHƯƠNG 8. GIỚI QUÂN PHIỆT

1. Xem Gactano Mosca, The Ruling Class (Hannah D. Kahn dịch) (New York: McGraw-Hill, 1939), đặc biệt từ trang 226, và Giới thiệu của Livingston, từ trang xxii.

2. John Admas, Discourses on Davila (Boston: Russell and Cutler, 1805), các trang 36-37.

3. Xem Ray Jackson, “Aspects of American Militarism”, Contemporary Issues, Hè 1948, từ trang 19.

4. “Why An Army?”, Fortune, 9-1935, trang 48.

5. Xem Stanislaw Andrzejewski, Military Organization and Society (London: Routledge & Kegan Paul, 1954), từ trang 68. Cuốn sách hay nhất về chủ nghĩa quân phiệt ở phương Tây rõ ràng là cuốn A History of Militarism của Alfred Vagts (New York: Norton, 1937).

6. Các tướng lĩnh và đô đốc hải quân được chọn để nghiên cứu chi tiết được xếp theo cấp bậc chính thức, từ cao xuống thấp, từ các lực lượng lục quân, hải quân, và không quân. 1.900 sĩ quan xuất hiện trong danh sách thời kỳ 1895-1905, và có 15 Thiếu tướng sau đây: Nelson A. Miles, Thomas H. Ruger, Wealy Merritt, John R. Brooke, Elwell S. Ottis, Samuel B. M. Young, Adna R. Chaffee, Arthur MacArthur, Lloyd Wheaton, Robert P. Hughes, John C. Bates, James F. Wade, Samuel S. Sumner, Leonard Wood, George L. Gillespie.

23. Trong số khoảng 64 đô đốc phía sau xuất hiện ở danh sách giai đoạn 1895-1905, chỉ những người có tên ít nhất ba năm mới được chọn. Vì vậy có 18 đô đốc, xuất hiện trong một năm nào đó: George Brown, John G. Walker, Francis M. Ramsay, William A. Kirkland, Lester A. Beardslee, George Dewey, John A. Howell, William T. Sampson, John C. Watson, Francis J. Higginson, Frederick Rodgers, Albert S. Barker, Charles S. Cotton, Silas Terry, Merrill Miller, John J. Read, Robley D. Evans, Henry Glass.

24. Tôi muốn cảm ơn Henry Barbera vì đã sử dụng tài liệu từ luận văn Thạc sĩ của mình ở Đại học Columbia, 1954, liên quan tới các dữ liệu về sự nghiệp quân sự năm 1900 và 1950.

7. Gordon Carpenter O’Gara, Theodore Roosevelt and the Rise of the Modern Navy (Princeton: Princeton University Press, 1943), trang 102.

8. Xem ví dụ Business Week, 26-9-1953, trang 38.

9. Trung tá B. Voorhees, Korean Tales (New York: Simon and Schuster, 1952) trích trong Time, 3-8-1953, trang 9, như trong bình luận của Time.

10. Thông tin thực tế ở đây về Lầu Năm Góc lấy từ một báo cáo ở Time, 2-7-1951, từ trang 16.

11. Ủy ban Hoover, trích trong Horold D. Lasswell, National Security and Individual Freedom (New York: McGraw-Hill, 1950), trang 23.

12. Xem Hanson W. Baldwin, “The Men Who Run the Pentagon” The New York Times Magazine, 14-2-1954, từ trang 10.

13. Xem, “The New Brass”, Time, 25-5-1953, trang 21. “New Pentagon Team”, The New York Times Magazine, 26-7-1953, các trang 6, 7; và Elie Abel, “The Joint Chiefs”, The New York Times Magazine, 6-2-1955, từ trang 10.

14. Bộ trưởng Robert B. Anderson và Đô đốc hải quân Homer N. Wallin. Đô đốc Wallin bị chuyển từ vị trí cao cấp trong Lầu Năm Góc sang Nhà máy đóng tàu hải quân Puget Sound ở Bremerton, Washington; thực tế vị đô đốc này đã nói với Anderson nên bằng lòng “với chính sách diện rộng và để các chi tiết cho cánh đô đốc.” Xem Time, 10-8-1953, trang 18.

15. Xem Hanson W. Baldwin, “4 Army ‘Groupings’ Noted”, The New York Times, 9-5-1951.

16. “New Joint Chiefs”, Business Week, 16-5-1953, các trang 28–29.

17. Hanson W. Baldwin, “Skill in the Services”, The New York Times, 14-7-1954, trang 10C.

18. “Insuring Military Officers”, Business Week, 15-8-1953, trang 70.

19. S. L. A. Marshall, Men Against Fire (New York: Wm. Morrow, 1947), từ trang 50.

20. Xem ghi chú 6 ở trên. Danh sách đăng ký quân đội 1942-1953 cho thấy 36 người, đều là tướng 4 hoặc 5 sao: George C. Marshall, Douglas MacArthur, Malin Craig, Dwight D. Eisenhower, Henry H. Arnold, Joseph W. Stilwell, Walter W. Krueger, Brehon B. Somervell, Jacob L. Devers, Mark W. Clark, Omar N. Bradley, Thomas T. Handy, Courtney H. Holdges, Jonathan M. Wainwright, Lucius D. Clay, Joseph L. Collins, Waide H. Haislip, Matthew B. Ridgway, Walter B. Smith, John E. Hull, James A. Van Fleet, Alfred M. Gruenther, John R. Hodge, Carl Spaatz, Hoyt S. Vandenberg, Muir S. Fairchild, Joseph T. McNarney, George C. Kenny, Lauris Norstad, Benjamin Chidlaw, Curtis L. LeMay, John K. Cannon, Otto P. Weyland.

25. Vị tướng điển hình của năm 1950 sinh vào khoảng năm 1893 có cha mẹ người Mỹ gốc Anh. Ông mất 35 năm, tính từ năm đầu tiên vào học viện hoặc vào quân đội, để lên đến vị trí chỉ huy cao nhất hay cấp tướng ở tuổi 52. Cha ông là nhà chuyên môn và thuộc tầng lớp trung-thượng lưu, và có lẽ có bạn bè hoặc quan hệ trong giới chính trị. Một vị tướng điển hình tốt nghiệp West Point còn tốt nghiệp bốn trường trong quân đội. Nếu theo đạo, có lẽ ông là người Tin Lành và có thể là Tân giáo. Ông lấy một cô gái cùng tầng lớp trung-thượng lưu và cha cô cũng có thể là một vị tướng, một nhà chuyên môn, hoặc một doanh nhân. Ông là hội viên của khoảng ba câu lạc bộ, ví dụ Hải quân-Quân đội, Hải quân-Quân đội vùng quê, và the Masons (Hội Tam điểm). Ông đã viết khoảng hai cuốn sách và có người đã viết gì đó về ông. Ông cũng nhận được hai bằng danh dự và có lẽ hy vọng nhận được thêm.

26. 25 đô đốc hải quân và đô đốc hạm đội của năm 1950 được chọn là: Harold R. Stark, Ernest J. King, Chester W. Nimitz, Royal E. Ingersoll, William F. Halsey, Raymond A. Spruance, William D. Leahy, Jonas H. Ingram, Frederick J. Horne, Richard S. Edwards, Henry K. Hewitt, Thomas C. Kinkaid, Richoon K. Turner, John H. Towers, Devvitt C. Ramsey, Louis E. Denfield, Charles M. Coke, Richard L. Conolly, William H. P. Blandy, Forrest P. Sherman, Arthur VV. Radford, William M. Fechteler, Robert B. Carney, Lynde D. McCormick, Donald B. Duncan.

27. Đô đốc của năm 1950 sinh vào khoảng năm 1887, cha mẹ là người Mỹ gốc Anh. Ông mất 40 năm để lên được vị trí chỉ huy cao nhất tính từ năm ông bước vào Học viện Hải quân, và việc này diễn ra lúc ông đã 58 tuổi. Ông sinh ra ở một khu vực nào đó thuộc vùng Trung Tây Bắc của Mỹ và lớn lên ở khu vực Trung Atlantic. Ông sinh ra ở khu vực thành phố và cha ông là người trong quân đội khi vị đô đốc chừng 17 tuổi. Tầng lớp của cha ông lúc này là trung-thượng lưu và gia đình có thể có một vài mối quan hệ chính trị quan trọng. Ông tốt nghiệp Học viện Hải quân và trước đó đã tốt nghiệp đại học. Ông tốt nghiệp khi đang trong quân ngũ, cũng ở một trường chuyên biệt, ví dụ Đại học Chiến tranh Hải quân (trường hạng cao nhất dành cho các chỉ huy và thuyền trưởng). Tôn giáo của ông là Tân giáo và bố vợ ông thuộc tầng lớp trung-thượng lưu và là người thuộc giới chuyên môn hay doanh nghiệp. Ông có thể đã viết hoặc hiện đang viết một cuốn sách. Ông có thể được nhận một bằng danh dự, nếu không thì cũng sẽ sớm nhận được.

21. “Who’s in the Army Now?” Fortune, 9-1935, trang 39.

22. Katherine Tupper Marshall, Together (New York: Tupper and Love, Inc., 1946), các trang 8, 17, 22. Xem thêm Anne Briscoe Pye và Nancy Shea, The Navy Wife (New York: Harper, 1949).

23. Helen Montgomery, The Colonel’s Lady (New York: Farrar & Rinchart, 1943), các trang 207, 151, 195.

24. Time, 2-6-1952, các trang 21-22.

25. Business Week, 15-8-1954.

26. “You’ll Never Get Rich”, Fortune, 3-1938, trang 66.

27. Thorstein Veblen, The Theory of the Leisure Class (New York: Macmillan 1896), các trang 247-49.

28. H. Irving Hancock, Life at West Point (New York: Putnam, 1903), các trang 222-23, 228.

29. Trong số 165 sĩ quan cấp tướng thuộc quân đội chính quy ít nhất một năm trong giai đoạn 1898-1940, 68% tốt nghiệp West Point, số còn lại phần lớn phục vụ trong thập kỷ đầu của thế kỷ. 2% xuất thân từ tầng lớp lao động, 27% là con của giới chuyên môn, 21% của doanh nhân, 22% của nông dân, 14% của quan chức chính quyền, và 14% của giới quân sự.

63% theo Tân giáo hay Trưởng lão, 28% theo các dòng Tin Lành khác, và 9% theo Công giáo. Xem R. C. Brown, “Social Attitudes of American Generals, 1898–1940”, Luận án Tiến sĩ tại Đại học Wisconsin, 1951.

30. Để có mô tả tuyệt vời về việc truyền bá tư tưởng quân sự chuyên nghiệp, xem Sanford M. Dornbusch, “The Military Academy as an Assimilating Institution”, Social Forces, 5-1955; và Trường đào tạo sĩ quan Thế chiến II theo mô tả của M. Brewster Smith “chủ yếu là tấn công vào nhân cách của học viên” và “xây dựng nhân cách tích cực của một sĩ quan.” S. A. Stouffer và cộng sự, The American Soldier (Princeton: Princeton University Press,1949), tập I, các trang 389-90.

31. “Khi Thế chiến I nổ ra, những người tốt nghiệp West Point chiếm tới 43% sĩ quan chính quy trong quân đội. Khi chiến tranh kết thúc, họ nắm giữ các vị trí trọng trách… Toàn bộ chỉ huy quân đội cùng 34 trong 38 chỉ huy sư đoàn và quân đoàn đều từ Học viện. Trong thời kỳ Thế chiến II, những người tốt nghiệp West Point chỉ chiếm 1% tổng số sĩ quan chỉ huy, nhưng khi kết thúc chiến tranh họ nắm giữ 57% vị trí chỉ huy sư đoàn hoặc các đơn vị chiến đấu cao hơn.” Thiếu tướng Maxwell D. Taylor, West Point: Its Objectives and Methods (West Point, 11- 1947), các trang 16-17.

32. Trích trong Ralph Earle, Life at the US. Naval Academy (New York: Putnam, 1917), trang 167.

33. Earle, sđd, các trang 165, 79, 162-63.

34. Xem John P Marquand, “Inquiry Into the Military Mind”, The New York Times Magazine, 30-3-1952, từ trang 9.

35. Xem C. S. Forester, The General (New York: Bantam Edition, 1953), trang 168.

CHƯƠNG 9. THẾ LỰC QUÂN ĐỘI

1. Ví dụ, John K. Galbraith, đánh giá về John W. Wheeler- Bennett, The Nemesis of Power: The German Army in Politics, trong The Reporter, 27-4-1954), từ trang 54.

2. “The US. Military Mind”, Fortune, 2-1952, trang 91.

3. Xem Time, 18-8-1952, trang 14.

4. Hanson W. Baldwin, The New York Times, 21-2-1954, trang 2.

Xem thêm bài của James Reston, như trên, trang 1.

5. Time, 7-7-1954, trang 22.

6. Hanson W. Baldwin, “Army Men in High Posts”, The New York Times, 12-1-1947.

7. The New York Times, 15-11-1954, và 9-11-1954.

8. Xem xã luận “The Army in Politics”, The New Leader, 11-3-1944, trang 1.

9. Hanson W. Baldwin, The New York Times, 2-4-1952.

10. Xem The New York Times, 15-11-1954.

11. Tướng McArthur, nói chuyện ở New York hồi tháng 3-1953, và ở Boston năm 1951, trích trong The Reporter, 16-12-1954, trang 3.

12. Mark Skinner Watson, The War Department, tập 1: Chief of Staff, Pre-War Plans and Preparations (Washington: Phòng Lịch sử của Cục Quân đội, 1950). Maurice Matloff và Edwin M. Snell, The War Department, tập II:Strategic Planning for Coalition Warfare, 1941–1942 (Washington: Văn phòng Trưởng phòng Lịch sử Quân sự, Cục Quân đội, 1953). R. S. Cline, The War Department, tập III: Washington Command Post: The Operations Division (Washington: Văn phòng Trưởng phòng Lịch sử Quân sự, Cục Quân đội, 1954). Ba tập này là những nguồn tốt nhất về các chi tiết của thế lực quân sự trong lĩnh vực chính trị ngay trước và trong Thế chiến II.

13. Edward L. Katzenbach, Jr., “Information as a Limitation on Military Legislation: A Problem in National Security”, Journal of International Affairs, tập III, số 2, 1954, từ trang 196.

14. Robert Bendiner, The Riddle of the State Department, (New York: Farrar & Rinehart, 1942), trang 135. Về đối ngoại nói chung, xem thêm bài “Miscellaneous Staff Studies Pertaining to the Foreign Service”, do Vụ Đối ngoại chuẩn bị, Foreign Affair Task Force, Phụ lục VIIA, 1-9-1948. J. L. McCamy, The Administration of American Foreign Affairs (New York: Knopf, 1950); The Diplomats: 1919-1939 (Gordon A. Craig và Felix Gilbert biên soạn) (Princeton: Princeton University Press, 1953); C. L. Sulzberger trong The New York Times, 8-11-1954; và Henry M. Wriston, “Young Men and the Foreign Service”, Foreign Affairs, 10-1954, các trang 28-42.

15. Dựa trên một nghiên cứu về nghề nghiệp của 20 đại sứ hàng đầu năm 1899 có mức lương từ 10.000 đô-la trở lên. Có hai người trong số này (Hart và Townsend) chúng tôi không thể tìm được thông tin đầy đủ. 20 đại sứ và 23 nước trong danh sách là: Argentina – William I. Buchanan; Áo – Addison C. Harris; Bỉ – Lawrence Townsend; Chile – Henry L. Wilson; Brazil – Charles Page Bryan; Trung Quốc – Edwin H. Conger; Colombia – Charles Burdett Hart; Costa Rica, Nicaragua và Salvador – William L. Merry; Pháp – Horace Porter; Đức – Andrew D. White; Anh – Joseph H. Choate; Guatemala và Honduras – W. Godfrey Hunter; Ý – William F. Draper; Nhật Bản – Alfred E. Buck; Mexico – Powell Clayton; Peru – Irving B. Dudley; Nga – Charlemagne Tower; Tây Ban Nha – Bellamy Storer; Thổ Nhĩ Kỳ – Oscar S. Straus; Venezuela – Francis Loomis. Xin cảm ơn ông Friedman vì đã nghiên cứu về chủ đề này.

16. Trong số 53 đại sứ Anh giai đoạn 1893-1930, 70% từ ngành đối ngoại. Xem D. A. Hartman, “British and American Ambassadors: 1893-1930”, Economica, tập XI, 8-1931, từ trang 328, đặc biệt trang 340.

17. Dữ liệu từ Bộ Ngoại giao Mỹ, Danh sách Ngoại giao của Sylvia Feldman và Harold Sheppard trong một khóa học về “Xã hội học ngành nghề” ở Đại học Maryland, Xuân 1943.

18. The New York Times, 7-2-1954, trang 27.

19. Walter H. Waggoner, The New York Times, 3-12-1952, trang 12.

20. Chúng tôi chọn nghiên cứu những người ở 25 nước được cho hoặc là hùng mạnh hơn trên thế giới hoặc là trung tâm chú ý vì vị trí hoặc tài nguyên thiên nhiên làm cho các nước hùng mạnh hơn. Những người và nước được chọn là: Hy Lạp – Cavendish W. Cannon; Nam Tư – James W. Riddleberger; Ai Cập – Jefferson Caffrey; Indonesia – Hugh S. Comming Jr.; Bồ Đào Nha – Robert M. Guggenheim; Anh – Winthrop W. Aldrich; Tây Ban Nha – James Clement Dunn; Mexico – Francis White; Liên Xô – Charles E. Bohlen; Ấn Độ – George V. Allen; Canada – R. Douglas Stuart; Pháp – C. Douglas Dillon; Tiệp Khắc – George Wadsworth; Liên bang Nam Phi – Waldemar J. Gullman; Ý – Clare Booth Luce; Triều Tiên – Ellis O. Briggs; Formosa – Karl L. Rankin; Iran – Loy W. Henderson; Israel – Monnett B. Davis; Nhật Bản – John M. Allison; Áo – Llewellyn E. Thompson; Ba Lan – Joseph Flack; Úc – Amos J. Peaslee; Việt Nam – Donald R. Heath; Thổ Nhĩ Kỳ – Aura M. Warren.

28. Ở Anh, vốn là địa bàn đối ngoại nhiều người thèm muốn nhất, Winthrop W. Aldrich, triệu phú chủ ngân hàng và là em rể của John D. Rrockefeller II. Ở Pháp, C. Douglas Dillon là người đã tốt nghiệp trường Groton, và cũng như Aldrich tốt nghiệp Harvard, là con trai của người sáng lập ngân hàng Dillon, Read & Co. Đại diện cho các lợi ích ngân hàng và doanh nghiệp vùng Trung Tây ở Canada là R. Douglas Stuart. Amos J. Peaslee, Đại sứ ở Úc, là một chuyên gia về luật quốc tế, một người Cộng hòa nổi tiếng, con trai của một chủ ngân hàng và là hậu duệ của một gia đình từ thời thuộc địa cũ; Robert M. Guggenheim ở Bồ Đào Nha là con trai của một trong những người dựng lên cơ đồ nhà Guggenheim; và ở Ý, bà Clare Booth Luce.

29. Những nước mà các nhà ngoại giao chuyên nghiệp được bổ nhiệm là: Nhật Bản, Triều Tiên, Israel, Ba Lan, Liên bang Nam Phi, Việt Nam, Ấn Độ, Hy Lạp, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ, Formosa, Tiệp Khắc, Mexico, Indonesia, Iran, Nam Tư, Tây Ban Nha và Áo. Chỉ có một nước quan trọng là Nga thì một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, Charles E. Bohlen, thiếu chút nữa đã không được Thượng viện phê chuẩn. Giống như hầu hết các nhà ngoại giao chuyên nghiệp khác, Bohlen thuộc một gia đình tầng lớp thượng lưu, cha ông là một “nhà thể thao nổi tiếng”; Bohlen theo học tại trường St. Paul và là hội viên của Câu lạc bộ Porcellian ở Harvard. Xem The New York Post, 8-3-1953.

21. Xem Marquis Childs trong The New York Post, 16-1-1955; và William V. Shannon, The New York Post, 13-3-1955, các trang 5, 8.

22. C. L. Sulzberger trích trong “Foreign Affairs”, The New York Times, 8-11-1954.

23. Charlotte Knight, “What Price Security”, Colliers, 9-7-1954, trang 65.

24. Theodore H. White, Fire in the Ashes (New York: William Sloane Associates, 1953), trang 375.

25. Xem The New York Times, 7-11-1954, trang 31; 13 và 14-12-1954; và The Manchester Guardian, 11-11-1954, trang 2.

26. Louis J. Halle, trong thư gửi ban biên tập The New York Times, 14-11-1954, trang 8E.

27. George F. Kennan, trích trong The New York Post, 16-3-1954.

28. Thông tin và các trích dẫn về các tùy viên quân sự ở cả bài lẫn chú thích lấy từ Hanson W. Baldwin, “Army Intelligence -I”, The New York Times, 13-4-1952, trang 12.

29. Xem Burton M. Sapin và Richard C. Snyder, “The Role of the Military in American Foreign Policy” (New York: Doubleday & Co., 1954), các trang 33-34.

30. The Economist, 22-11-1952.

31. Xem Edgar Kemler, “No. 1 Strong Man”, The Nation, 17-7-1954, từ trang 45.

32. Xem Time, 23-8-1954, trang 9.

33. Xem Thomas J. Hamilton, The New York Times, 15-8-1954, trang E3.

34. Arthur Maass, Muddy Waters: The Army Engineers and the Nation’s Rivers (New York: Harper, 1951), trang 6. Xem thêm bài của ông cùng Robert de Roos, “The Lobby That Can’t Be Licked” (“Hành lang không thể qua”), Harpers, 8-1949.

35. C. E. và R. E. Merriam, The American Government (New York: Grinn & Co., 1954), các trang 774-75.

36. Mục của Eric Sevareid trong The Reporter, 10-2-1955. Xem The New York Times, 14-2-1954. Tới 1954, chỉ riêng Bộ chỉ huy Không quân chiến lược (SAC) đã “đại diện cho khoản đầu tư trực tiếp cố định tăng tới mức 8,5 tỉ đô-la. Khoản tiền này chỉ dành cho chi phí về máy bay và các cơ sở. Tập đoàn công nghiệp Mỹ lớn nhất xét về tài sản là Tập đoàn Xăng dầu Standard của New Jersey với khoảng 5,4 tỉ đô-la. Và 175.000 ‘nhân viên’ của SAC xem ra cũng không hơn 119.000 của Standard của New Jersey tính theo tỉ lệ nhân viên trên tổng tài sản. Giống như dân xăng dầu, người của SAC vận hành nhiều trang thiết bị đắt tiền. (Trường hợp cực độ là phi đội ba máy bay B-47 đã phải chi tới hơn 2 triệu đô-la.) Tuy nhiên, so sánh tài sản không thể đi quá xa vì con số 8,5 tỉ đô-la cũng chỉ là một phần chi phí thực của SAC, nếu tính đầy đủ thì còn phải tính cả tỉ lệ của trang thiết bị và thiết lập các bộ chỉ huy khác (Lực lượng không quân Mỹ ở châu Âu, Vận tải quân sự đường hàng không, Bộ chỉ huy nguyên liệu cho Không quân, Nghiên cứu và Phát triển, và các bộ phận khác) hỗ trợ hoạt động của SAC. Con số thực sẽ là trên 10 triệu đô-la.” John McDonald, “General LeMay’s Management Problem”, Fortune, 5-1954, trang 102.

37. Levin H. Campbell, The Industry-Ordnance Team (New York: Whittlesey House, 1946), các trang 3-4.

38. “The SOS.”, Fortune, 9-1942, trang 67.

39. Thiếu tướng Lucius D. Clay, Bộ Tổng tham mưu, Trợ lý Tổng Tham mưu trưởng về vật chất, “The Army Supply Program”, Fortune, 2-1943, trang 96.

40. “The US. Military Mind”, Fortune, 2-1952, trang 91.

41. Để biết chi tiết về sự trùng hợp trong thay đổi quan điểm của giới quân sự và kinh tế, xem Bruce Catton, The Warlords of Washington, (New York: Harcourt, Brace, 1948), đặc biệt các trang 245-88.

42. “Generals—Then and Now”, The New York Times Magazine, 7-3-1954, các trang 78-79; Ủy ban Năng lượng nguyên tử Mỹ, In the Matter of J. Robert Oppenheimer: Transcript of Hearing Before Personnel Security Board, từ 12-4-1954 tới 6-5-1954 (US. Government Printing Office, 1954), các trang 163 và 176, The New York Times, 20-8-1954 và 15-2-1955; Business Week, 19-12-1953, 9-10-1954, 27-6-1955. Để có nhiều tên và cấp bậc khác, xem “The Military Businessmen”, Fortune, 9-1952, trang 128.

43. Xem đã dẫn và Business Week, 9-8-1952.

44. “The US. Military Mind”, sđd.

45. Arthur Krock, The New York Times, 5-4-1953, phần Tin trong tuần.

46. John Blair và cộng sự, Economic Concentration and World War II (Washington: US. Government Printing Office, 1946), từ trang 31. Xem thêm “Special Report to Executives: Science Dons a Uniform”, Business Week, 14-9-1946, từ trang 19, và “The New World of Research”, Business Week, 28-5-1954, từ trang 105.

47. The New York Times, 5-10-1954.

48. Xem “Government and Science”, The New York Times, 18-10-1954, trang 24.

49. Trích trong The New York Times, 19-10-1954, trang 12.

50. Trong một bức thư gửi ban biên tập của The Reporter, 18-11-1954, trang 8.

51. Xem Theodore H. White, “US. Science: The Troubled Quest— II”, The Reporter, 23-9-1954, từ trang 26. Để so sánh với số lượng các nhà khoa học ở Nga, xem The New York Times, 8-11-1954.

52. Xem Theodore H. White, “US. Science: The Troubled Quest—II”, từ trang 27; và Phillip Rieff, “The Case of Dr. Oppenheimer”, The Twentieth Century, tháng 8 và 9-1954.

53. Benjamin Fine, “Education in Review”, The New York Times, 8-3-1953, phần Tin trong tuần.

54. Xem John M. Swomley Jr., “Militarism in Education” (Washington, DC., National Council Against Conscription, 2-1950), các trang 65-67.

55. Xem The New York Times, 22-8-1953, trang 7.

56. Xem John M. Swomley Jr., “Press Agents of the Pentagon”, (Washington, DC.: National Council Against Conscription, 7-1953), các trang 16-18.

57. Như trên, các trang 13 và 9.

58. Trích trong Time, 29-6-1953.

59. Về những yếu tố làm nên thành công của các nhà tuyên truyền quân sự, xem Swomley Jr., “Press Agents of the Pentagon”, sđd, các trang 53-54.

60. Alfred Vagts, The History of Militarism (New York: Norton, 1937).

61. Trích trong Samuel E. Morison và Henry S. Commager, Growth of the American Republic, tái bản lần bốn (New York: Oxford University Press, 1951), tập 2, trang 468.

62. Wm. O. Douglas và Omar N. Bradley, “Should We Fear the Military?”, Look, II 3-1952.

CHƯƠNG 10. GIỚI LÃNH ĐẠO CHÍNH TRỊ

1. Phần dẫn dắt tới chương này theo Robert Bendineer, “Portrait of the Perfect Candidate” , The New York Times Magazine, 18-5-1962, từ trang 9.

2. Về việc quyền lực là động cơ chính của chính trị gia, xem Harold D. Lasswell, Power and Personality (New York: Norton, 1948), trang 20.

3. Trừ những trường hợp trích dẫn, tất cả dữ liệu thống kê trong phần 1 của chương này đều từ một nghiên cứu gốc về xuất thân và nghề nghiệp của những người nắm giữ các vị trí được liệt kê dưới đây từ năm 1789 đến tháng 6-1953. Về việc công bố sớm những tài liệu trong nghiên cứu này không có thời kỳ chính quyền Eisenhower, xem C. Wright và Ruth Mills, “What Helps Most in Politics”, Pageant, 11-1952. Xem thêm H. Dewey Anderson, “The Educational and Occupational Attainments of our National Rulers”, Scientific Monthly, tập xxxx, từ trang 511; và Richard B. Fisher, The American Executive (Học viện và Thư viện Hoover về Chiến tranh, Cách mạng và Hòa bình; Standford University Press).

30. Nếu chúng ta muốn hiểu về chính trị gia cao cấp, chúng ta phải thu thập thông tin không chỉ về một hay hai, hoặc kể cả 50, mà phải khoảng vài trăm chính khách nắm giữ các chức vụ chính trị cao nhất, và theo nghĩa đơn giản ấy thì đó là giới tinh hoa chính trị. Các số liệu đưa ra trong tài liệu này liên quan đến 513 người từ năm 1789 đến tháng 6-1953 nắm giữ các vị trí sau đây: Tổng thống, Phó Tổng thống, Chủ tịch Hạ viện, Phát ngôn viên Hạ viện, Thành viên Nội các, và Thẩm phán Tòa án Tối cao. Việc gọi bất kỳ người được chọn nào là “chính khách” hoặc “tinh hoa chính trị” sẽ mời gọi những bất đồng về việc lựa chọn họ. Trong cách chọn này, tôi đã cố gắng chỉ đưa vào những nhân vật cao cấp nhất của chính phủ Mỹ. Các nhà lập pháp bị bỏ qua, vì ngay cả việc đưa các chủ tịch ủy ban của Hạ viện và Thượng viện vào trong một giai đoạn dài là ngoài tầm nghiên cứu của tôi. Nhưng những người như vậy lại là nguyên mẫu của các “chính trị gia.” Tuy nhiên, trong phần này, tôi không quan tâm đến chính trị gia Mỹ nói chung, mà quan tâm tới những người từng chính thức đứng đầu chính phủ. Liệu họ có là chính trị gia đảng phái hay không là một việc tôi đang cố gắng tìm hiểu. Hoàn toàn đúng là thỉnh thoảng những thành viên đứng đầu Thượng viện, và thậm chí thống đốc các bang quan trọng đã thực thi quyền lực chính trị quốc gia nhưng chưa bao giờ đảm nhận một vị trí chính quyền cao nhất được nghiên cứu ở đây. Nhưng nhiều thượng nghị sĩ và thống đốc bang bị dính vào cái lưới mà tôi đã giăng ra: trong số 513 người, có 94 người từng là thống đốc bang và 143 người là Thượng Nghị sĩ Mỹ. Tất nhiên, tôi không cho rằng những người nắm giữ các vị trí này, và sau đó họ giữ một trong các chức vụ mà tôi đã chọn trong số 513 người này là những thượng nghị sĩ và thống đốc bang quyền lực và quan trọng nhất. “Chính trị gia đảng phái” kiểu đó sẽ được bàn ở Chương 11: Thuyết cân bằng.

31. Trong hơn 500 người lên tới vị trí cao nhất của chính quyền trong suốt lịch sử Mỹ, cứ 10 người thì có sáu người có hoàn cảnh gia đình hoàn toàn sung túc, là những cậu con trai sống phóng khoáng có cha thường là những người rủng rỉnh tiền bạc và thường là những người giàu có của xã hội địa phương. Gia đình của họ – nằm trong số 5% người Mỹ giàu có nhất – hoàn toàn có thể cho họ lợi thế rõ ràng trong việc lựa chọn và theo đuổi nghề nghiệp: 28% thuộc tầng lớp thượng lưu giàu có thật sự từ đất đai, các thương gia lớn, nhà công nghiệp, nhà tài phiệt nổi tiếng toàn quốc, hoặc các gia đình chuyên môn có của cải và địa vị lớn tầm quốc gia; 30% từ các gia đình sung túc thuộc tầng lớp thượng lưu gồm các doanh nhân, chủ trang trại, và nhà chuyên môn, những người dù không có địa vị tầm quốc gia nhưng hoàn toàn thành công và nổi tiếng ở địa phương nơi họ sinh sống.

32. Cứ 10 thì có hai hoặc ba người (24%) từ tầng lớp trung lưu không giàu cũng chẳng nghèo; cha họ thường là những thương nhân hay chủ trang trại đáng kính, hoặc hành nghề luật và y – hoặc đã mất vào lúc các chính khách tương lai tốt nghiệp phổ thông, rời gia đình vẫn sung túc tuy trong hoàn cảnh không còn chi tiêu thoải mái nhưng vẫn ổn.

33. Cứ 10 người thì hai người (18%) xuất thân từ gia đình tầng lớp thấp – 13% từ các gia đình buôn bán nhỏ hoặc trang trại nhỏ vốn làm ăn không tốt lắm, nhưng vẫn có thể ngẩng đầu ở trên mức nghèo khổ cùng cực, và 5% từ tầng lớp lao động làm công ăn lương hoặc những người buôn bán và chủ trang trại nhỏ nghèo túng.

34. Về nghề nghiệp, trong mỗi và mọi thế hệ chính khách đến từ các gia đình buôn bán và chuyên môn có tỉ lệ cao hơn rất nhiều tỉ lệ những gia đình như vậy trong dân số nói chung. Những người làm chuyên môn trong số có địa vị chưa bao giờ vượt quá 7%, và trong nhiều năm trung bình khoảng 2%; nhưng 44% giới tinh hoa chính trị này đến từ những gia đình có cha như vậy. Các doanh nhân chưa bao giờ vượt quá 10% tổng lực lượng lao động Mỹ, nhưng 25% giới tinh hoa chính trị lại là con trai của doanh nhân. Chủ trang trại chưa bao giờ tụt dưới 18% và trung bình là trên 50% lực lượng lao động, nhưng chỉ 27% giới tinh hoa chính trị đến từ đó. Hơn nữa, “các chủ trang trại” mà con trai của họ bước vào giới tinh hoa chính trị thường là những người làm ăn phát đạt hơn nhiều.

35. Một người có cha là thống đốc bang hoặc thượng nghị sĩ ở Washington hiếm khi bị bất lợi trong việc phải uốn mình bước vào chính trị. Thậm chí có chú bác hay bố vợ ở những vị trí như vậy có thể rất hữu ích. Ít nhất 25% số chính trị gia cao cấp có cha là một dạng quan chức chính trị nào đó vào lúc con trai họ rời trường phổ thông, và khi xem xét mối quan hệ chính trị của tất cả họ hàng, chúng tôi thấy rằng ít nhất 30% số chính khách được biết là có các mối quan hệ chính trị như vậy vào lúc họ đang khởi nghiệp. Có sự sụt giảm nào đó trong việc này: trước khi kết thúc Nội chiến, cứ khoảng bốn trong 10 người và sau Nội chiến cứ khoảng ba trong 10 người có liên hệ chính trị với họ hàng.

36. Tất nhiên, có các triều đại trong nền chính trị Mỹ. Nhưng có thể an toàn khi nói rằng trong suốt lịch sử Mỹ có tới hơn một nửa số chính trị gia cao cấp đến từ những gia đình xưa nay không dính dáng gì tới chính sự. Họ thường đến từ những gia đình có vị trí xã hội và kinh tế cao hơn thay vì có ảnh hưởng chính trị.

37. Vì rất nhiều chính trị gia cao cấp đến từ các gia đình có những lợi thế rõ ràng, nên chẳng ngạc nhiên là không dưới 67% trong số họ đã tốt nghiệp đại học. Ngay cả hiện nay – đỉnh cao lịch sử của nền giáo dục Mỹ – trên thực tế, chỉ 6 hoặc 7% trong tổng số người ở Mỹ đủ tuổi là theo học đại học. Nhưng trong 25 năm đầu tiên của thế kỷ XIX, khi rất ít người thực sự đã qua đại học, 54% trong đó nắm giữ các vị trí chính trị cao đã tốt nghiệp đại học. Thường thì mỗi thế hệ chính trị gia cao cấp đều có tỉ lệ tốt nghiệp đại học lớn hơn, do vậy ở mức độ cao hơn nhiều so với lịch sử giáo dục của người Mỹ nói chung.

38. Hơn nữa, những trường họ theo học thường thuộc Ivy League hơn là trường hợp tốt nghiệp trường đại học thường. Dẫn đầu là Harvard và Princeton với 8% số chính trị gia cao cấp thuộc cựu sinh viên của trường; Yale đứng thứ ba với khoảng 6%. Nhỉnh hơn 1/4 theo học các trường thuộc Ivy League, và hơn 1/3 những người theo học các trường đại học khác từng học tại các trường thuộc Ivy League. Nếu kể cả những trường nổi tiếng khác như Dartmouth và Amherst, thì 1/3 trong tổng số chính trị gia cao cấp, và 44% số người đã từng có thời gian học đại học, đều theo học tại các trường đỉnh ở miền Đông.

39. Quá nửa số người này lớn lên ở vùng bờ biển Atlantic, và theo học ở miền Đông. Bất chấp việc mở rộng miền Tây, tỉ lệ rất lớn này phản ánh những vùng dân cư đông đúc của đất nước như mấy bang miền Trung Atlantic gồm New York, Pennsylvania, và New Jersey vẫn là nguồn cung cấp các chính trị gia chóp bu. Mặc dù từ năm 1820 đến 1953 có tới 40 triệu người sinh ra ở nước ngoài nhập cư vào Mỹ, nhưng chỉ 4% chính khách Mỹ sinh ra ở nước ngoài. Chỉ 2% trong số họ lớn lên bên ngoài Mỹ, và một phần của nhúm nhỏ này là thế hệ của các Tổ phụ Lập quốc.

40. Chính trị gia cao cấp ở Mỹ không chỉ đơn thuần là chính trị gia; trên thực tế, chỉ năm trong 513 người này không theo nghiệp gì khác ngoài chính trị trước khi lên tới những vị trí chóp bu. Trong suốt toàn bộ lịch sử Mỹ, khoảng 3/4 số họ là luật sư, gần 1/4 là doanh nhân, một ít – khoảng 4% – đi theo các nghề khác. Công nghiệp hóa nền kinh tế Mỹ được trực tiếp phản ánh trong thực tế là ngay sau Nội chiến, số doanh nhân nhiều gấp ba lần trước Nội chiến. Kể từ đó, thực tế này hầu như không thay đổi: gần 1/3 số chính trị gia cao cấp từ sau Thế chiến I là doanh nhân; trong số những người gần đây nhất thuộc chính quyền Eisenhower, trên 40% từng là doanh nhân.

4. Sau đây là những người và vị trí thuộc “phụ trách các quyết định hành pháp” tính tới 2-5-1953: Tổng thống Dwight D. Eisenhower, Phó Tổng thống Richard M. Nixon. Nội các: Ngoại trưởng John Forster Dulles; Bộ trưởng Tài chính George M. Humphrey; Bộ trưởng Quốc phòng Charles Erwin Wilson; Bộ trưởng Tư pháp Herbert Brownell, Jr.; Bộ trưởng Bưu điện Arthur Sommerfield; Bộ trưởng Nội vụ Douglas McKay; Bộ trưởng Nông nghiệp Ezra Taft Benson; Bộ trưởng Thương mại Sinclair Weeks; Bộ trưởng Lao động Martin P. Durkin; Bộ trưởng Y tế, Giáo dục và Phúc lợi Oveta Culp Hobby.

41. Cấp dưới nội các – các bộ ngành: Thứ trưởng Ngoại giao Walter Bedell Smith; Giám đốc Văn phòng Hoạch định chính sách của Bộ Ngoại giao Robert R. Bowie; Cố vấn Bộ Ngoại giao Douglas MacArthur II; Thứ trưởng Ngoại giao H. Freeman Matthews; Trợ lý Ngoại trưởng về Quan hệ Quốc hội Thurston B. Morton; Thứ trưởng Tài chính Marion B. Folsom; Thứ trưởng Quốc phòng Roger M. Keyes; Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng về Luật pháp Fred Seaton; Bộ trưởng Lục quân Robert T. Stevens; Thứ trưởng Lục quân Earl D. Johnson; Bộ trưởng Hải quân Robert B. Anderson; Thứ trưởng Hải quân Charles S. Thomas; Bộ trưởng Không quân Harold E. Talbott; Thứ trưởng Không quân James H. Douglas Jr.; Thứ trưởng Tư pháp William P. Rogers; Giám đốc Cục Điều tra Liên bang John Edgar Hoover; Thứ trưởng Bưu điện Charles R. Hook Jr.; Thứ trưởng Nội vụ Ralph A. Tudor; Thứ trưởng Nông nghiệp True D. Morse; Thứ trưởng Thương mại W. Walter Williams; Thứ trưởng Lao động Lloyd A. Mashburn; Thứ trưởng Y tế, Giáo dục và Phúc lợi Nelson A. Rockefeller; Chủ tịch Ủy ban Năng lượng Nguyên tử Leswis Strauss; Chủ tịch Ủy ban Công vụ Philip Young; Giám đốc Cơ quan An ninh Tương hỗ Harold E. Stassen.

42. Cấp dưới Nội các – Văn phòng Hành pháp của Tổng thống: Giám đốc Cục Ngân sách Joseph M. Dodge; Phó Giám đốc Cục Ngân sách Percival F. Brundage; Giám đốc Văn phòng Huy động Phòng vệ Arthur S. Fleming; Phó Giám đốc Văn phòng Huy động Phòng vệ Victor E. Cooley; Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Kinh tế Arthur F. Bums; Giám đốc Cục Tình báo Trung ương Allen W. Dulles; Chủ tịch Hội đồng Tài nguyên An ninh quốc gia Jack Gorrie.

43. Nhân sự Nhà Trắng: Trợ lý Tổng thống Sherman Adams; Phó Trợ lý Tổng thống Wilton B. Persons; Thư ký Tổng thống Thomas E. Stephens; Thư ký Báo chí Tổng thống James C. Hagerty; Cố vấn Đặc biệt Tổng thống Bernard M. Shanley; Trợ lý Đặc biệt Tổng thống về Các vấn đề An ninh quốc gia Robert Cutler; Trợ lý Đặc biệt Tổng thống C. D. Jackson; Trợ lý Hành chính Tổng thống Emmet J. Hughes.

44. Khi thu thập thông tin về những người này, tôi hầu như liên tục phải dựa vào các tóm tắt liên quan đến họ trong mấy số của nguyệt san Current Biography những tháng đầu năm 1953. Tôi muốn cảm ơn ông Boy Shotland vì đã cung cấp cho tôi bản ghi nhớ sơ bộ về những người này.

45. Xem Fletcher Knebel, “Ike’s Cronies”, Look, 1-6-1954, trang 61.

46. “What goes on at Ike’s Dinners”, US. News and World Report, 4-2-1955.

47. Theodore Roosevelt như Matthew Josephson trích trong The President-Makers, (New York: Harcourt, Brace, 1940), trang 142; xem thêm đánh giá của William H. Lawrence về Merriman Smith, Meet Mister Eisenhower (New York: Harper, 1955) trong mục Điểm sách của The New York Times, 10-4-1955, trang 3.

48. Herman Finner, “Civil Service”, Encyclopedia of the Social Sciences, tập III, trang 522.

49. Các bộ của chính phủ dân sự khác nhau rất nhiều trong việc chúng có thuộc lĩnh vực công vụ theo quy định hay không. Một số cơ quan – như Dịch vụ Rừng, Cục Điều tra Liên bang, Cục Tiêu chuẩn, Ủy ban Thương mại Giữa các bang – được chuyên môn hóa cao. “Như một quy tắc chung, cơ quan càng chuyên môn hóa thì nhân sự của nó càng an toàn trước các chính trị gia khát việc.” Xem James MacGregor Burns, “Policy and Politics of Patronage”,The New York Times Magazine, 5-7- 1953, trang 24. Tất nhiên, ngoại lệ của quy tắc này hiện là Bộ Ngoại giao. Hơn nữa, việc thăng chức theo chế độ dân sự được cho là căn cứ vào thành tích đo bằng các báo cáo tiến độ. “Tuy nhiên, hệ thống này không loại trừ được ưu ái cá nhân một khi sĩ quan cấp trên vẫn là người phán xét”, Finer, sđd, trang 521.

50. Encyclopedia Britannica, tái bản lần 11, tập 6, trang 414.

51. Khoảng 88% tổng số nhân viên chính phủ có thời gian làm việc theo quy định công vụ; khoảng 7% còn lại được bảo vệ theo Sắc lệnh Hành pháp 1947 quy định, nếu một nhân viên, sau khi đã làm việc trong lĩnh vực dân sự, mà chuyển sang làm một công việc phi dân sự, thì vẫn tiếp tục được bảo vệ không bị thôi việc; những người được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ công tác vẫn tiếp tục làm việc trong chính quyền mới. Time, 20-7-1953, trang 14. Xem thêm Burns, sđd, trang 8; và “On US. Jobholders”, The New York Times, 28-6-1953.

52. Vào năm 1953, có 2,1 triệu nhân viên dân sự toàn thời ở Mỹ và gần 200.000 nhân viên ngoài lục địa Mỹ. Khoảng 1,2 triệu trong số đó làm việc ở Bộ Quốc phòng; nửa triệu làm việc ở Bộ Bưu điện, nhóm tiếp theo lớn nhất (178.402) làm trong bộ phận Quản lý Cựu chiến binh, tiếp theo là Bộ Tài chính (85.490) và Bộ Nông nghiệp (78.097). Theo The World Almanac, 1954, trang 64.

53. Vể 1.500 “quan chức quan trọng” trong chính phủ, xem nghiên cứu về họ của Jerome M. Rosow American Men in Government (Washington, DC.: Public Affairs Press, 1949). Số liệu về 1.500 người trên lấy từ nghiên cứu này.

54. Xem Time, 12-1-1953, trang 18.

55. Business Week, 27-9-1952, trang 84.

56. Xem bài viết khá thẳng thắn, “The Little Oscars and Civil Service”, Fortune, 1-1953, từ trang 77.

57. Xem Time, 20-7-1953, trang 14. Không chỉ những người chuyên nghiệp đi lên qua con đường công vụ tới những việc không thuộc quyền quản lý của nó mới mất an ninh việc làm, mà còn nhiều loại người lao động trong chính quyền như người gác đèn biển thuộc lực lượng tuần duyên và phiên dịch viên tiếng Hindi “không thuộc diện được đưa vào hệ thống đánh giá thành tích công vụ thường xuyên.”

58. Burns, sđd, trang 8.

59. Business Week, 23-10-1954, trang 192.

CHƯƠNG 11. THUYẾT CÂN BẰNG

1. John Adams, Discourses on Davila (Boston: Russell and Cutler, 1805), các trang 92-93.

2. David Riesman, cộng tác cùng Reuel Denney và Nathan Glazer, The Lonely Crowd (New Haven: Yale University Press, 1950), các trang 234-39, 260, 281, 250, 254-55.

3. George Graham, Morals in American Politics (New York: Random House, 1952), trang 4.

4. Trích từ Irving Howe, “Critics of American Socialism”, New International, tháng 5-tháng 6-1952, trang 146.

5. Về phương pháp này, xem Gerth và Mills, Character and Social Structure (New York: Harcourt, Brace 1953).

6. Murray Edelman, “Government’s Balance of Power in Labor- Management Relations”, Labor Law Journal, 1-1951, trang 31.

7. Xem E. H. Carr, The Twenty Years’ Crisis (London: Macmillan, 1949), trang 82-83.

8. Edelman, sđd, trang 32.

9. Xem David B. Truman, The Governmental Process New York: Knopf, 1951), từ trang 506.

10. Xem Floyd Hunter, “Structures of Power and Education”, Conference Report: Studying the University’s Community (New Orleans: Trung tâm Nghiên cứu giáo dục tự do cho người lớn, 4-1954), để thấy thành phần của những nhóm như vậy trong một thành phố, và các ghi chép sơ bộ trong cuốn sách sắp xuất bản của ông về toàn cảnh quốc gia.

11. E. H. Carr, sđd, trang 80.

12. Về các thành viên của Quốc hội khóa 83 (1954), xem Cabell Phillips “A Profile of Congress”, The New York Times Magazine, 10-1-1954, từ trang 16. Về các thành viên Quốc hội 1949-1951, xem Donald R. Matthews, The Social Background of Political Decision-Makers (Garden City, New York: Doubleday, 1954), trang 29. Xem thêm Madge M. McKinney, “The Personnel of the Seventy-seventh Congress”, American Political Science Review, tập xxxvi (1942), từ trang 67.

13. Matthews, sđd, các trang 30 và 23. Xem thêm Mills, White Collar (New York: Oxford University Press, 1951), các trang 127-28.

14. Matthews, sđd.

15. Như trên, các trang 24 và 26-27. Người Công giáo chỉ chiếm 9% số Thượng Nghị sĩ trong Quốc hội khóa 83. Xem báo cáo của Hội đồng Quốc gia Giáo hội, trích trong Time, 19-1-1953.

16. Trích dẫn ở đoạn này là từ Cabell Phillips, “The High Cost of our Low-Paid Congress”, The New York Times Magazine, 24-2-1952, trang 42, 44. Franklin Delano Roosevelt thậm chí đã nói về chức vụ chính trị nhìn chung là “hoặc cá nhân phải có đủ tiền của mình để đầu tư an toàn nhằm lo cho mình khi không nắm giữ chức vụ… hoặc anh ta phải có các mối liên hệ làm ăn, có một nghề hoặc một việc mà anh ta đôi khi có thể dùng nó để xoay xở.” Trong một bài tạp chí năm 1952 được in lại của Harold F. Gosnell, Champion Campaigner: Franklin D. Roosevelt (New York: Macmillan 1952), và được trích dẫn trong The New York Times, 15-10-1952. Xem thêm George B. Galloway, The Legislative Process in Congress (New York: Crowell, 1953).

60. Về tổng thu nhập trung bình của các thành viên Quốc hội năm 1952, xem Phillips, “The High Cost of our Low-Paid Congress”, sđd; và về việc tăng lương hàng năm của các nghị sĩ năm 1955, xem “Congress Take-Home”, The New York Times, 6-3-1955, trang 2E.

17. Robert Bendiner, “Spotlight on a Giant Hoax”, The Progressive, 6-1955, trang 5.

18. Ví dụ, xem Martin Dies, “Congressman-at-large from Texas, ‘The Truth About Congressmen,’” Saturday Evening Post, 30-10-1954, từ trang 31.

19. Xem Martin Dies, sđd, trang 138; về John F. Kennedy, xem The New York Times, 1-12-1952, trang 16.

61. Trong chiến dịch tranh cử năm 1952, Thượng Nghị sĩ quá cố bang Michigan “Blair Moody và một số ủy ban làm việc cho ông báo cáo đã quyên góp được 98.940 đô-la. Báo cáo cá nhân của Thượng Nghị sĩ khai chi phí 37.224 đô-la, trong khi Ủy ban hạt Wayne trong chiến dịch tranh cử của ông chi 36.224 đô-la.” Trong toàn bộ chiến dịch tranh cử năm 1952, những người Cộng hòa bang New York báo cáo là họ đã chi 227.290 đô-la cho các công ty quảng cáo Batten, Barton, Dustine, Osbone và thêm một khoản 20.844 đô-la cho các công ty khác (như trên).

20. 50 năm trước, Thượng Nghị sĩ, cho dù có thể là “đại diện ngành đường sắt”, vẫn thực sự là bề trên so với Hạ Nghị sĩ, vì ông ta có trách nhiệm với các nhóm lợi ích có quyền lực đủ mạnh để ảnh hưởng quyết định tới cơ quan lập pháp của bang đã bầu ông. Nhưng từ năm 1913, Thượng Nghị sĩ được bầu trực tiếp cũng đã xử lý các nhóm lợi ích đa dạng mà thường làm phân tán sự chú ý và thỏa hiệp chính sách của Hạ Nghị sĩ.

62. Về chủ nghĩa địa phương của chính trị gia chuyên nghiệp nói chung, xem cuốn sách rất hay của James MacGregor Burns, Congress on Trial: The Legislative Process and the Administrative State (New York: Harper, 1949), các trang 8, 14, 59, 142, 143.

21. Stanley High, được trích trong Stephen K. Bailey và Howard D. Samuel, Congress at Work (New York: Henry Holt, 1952), trang 8.

22. Có một mô tả rất hay về một ngày làm việc điển hình trong đời của một thượng nghị sĩ lớn và một hạ nghị sĩ quan trọng trong Bailey và Samuel, sđd.

23. Để có một tóm tắt tốt về những “vấn đề” địa phương trong chiến dịch tranh cử năm 1954, xem Life, 1-11-1954, các trang 30, 20, và 21. Vị Thượng Nghị sĩ gọi đối thủ của mình là “gian trá hoặc đần độn hoặc ngu xuẩn và dễ bị lừa” là Irving Ives, được trích trong The New York Times, 29-10-1954, trang 22.

24. Có thông tin là 60% cử tri không nghĩ gì về chiến dịch tranh cử năm 1954. Thăm dò dư luận của Viện Gallup ngày 4-10-1954, được đưa tin trong Business Week, 30-10-1954, trang 29.

25. Xem Burns, sđd, các trang 198 và 36. Không phải Norman Thomas, mà là Arthur Krock đã nói rằng “sự pha trộn đã tới mức ở một số bang và về một số vấn đề quốc gia, cử tri đã gặp khó khăn rất nhiều trong việc tìm ra sự khác biệt về đường lối giữa các đảng lớn… một lý do nổi bật là… chính quyền và cương lĩnh tranh cử của các chính đảng được cho là quan điểm quốc gia nhưng thực tế lại không phải quốc gia… vì trong nhiều bộ phận của đất nước, những người trong cùng một đảng lại chống đối lập trường này của đa số quốc dân”, The New York Times, 15-6-1954.

26. Burns, sđd, trang 181. Xem thêm các trang 123, 124, 182,

27. Như trên, các trang 18, 19, 24.

28. Xem David G. Phillips, The Treason of the Senate, 1906 (Sự phản bội của Thượng Nghị sĩ, năm 1906) (Standford, California: Academic Beprints, 1953).

29. Xem John D. Morris, “The Ways and Means of Dan Beed”, The New York Times Magazine, 5-7-1953, trang 29.

30. Thành viên vô danh của Quốc hội, trích dẫn của Dies, sđd, trang 141.

31. Xem Murray Edelman, “Government’s Balance of Power in Labor-Management Relations”, sđd, trang 35; và “Governmental Organization and Public Policy”, Public Administration Review, tập XII, số 4, Thu 1952, từ trang 276.

32. Xem ghi chép rất hay của Tiểu ban Tư pháp Chống độc quyền của Thượng viện, dự tính sẽ xem xét vụ Dixon-Yates và điều tra quyền lực của Elizabeth Donahue, “The Prosecution Bests”, New Republic, 23-5-1955, từ trang 11.

33. Xem Edelman, “Governmental Organization and Public Policy”, sđd, từ trang 276-83.

34. John K. Galbraith, The Great Crash (Boston: Houghton Mifflin, 1955), trang 171.

35. Để có tuyên bố của lãnh đạo chính phủ và Quốc hội, xem Burns, sđd, từ trang 166.

36. Trích trong Otto Kirchheimer “Changes in the Structure of Political Compromise”, Studies in Philosophy and Social Science (Viện Nghiên cứu Xã hội, thành phố New York), 1941, từ trang 264.

37. Những ai muốn hiểu hệ thống quyền lực hiện nay như một xã hội cân bằng đồng thời sẽ phải (1) hoặc buôn lậu trong xã hội cũ phi tập trung, (2) hoặc cố gắng tìm một sự cân bằng mới ở mức cao hơn trong cái mới đó. Để biết bình luận về điểm (2), xem Chương 6: Tổng giám đốc điều hành và Chương 12: Giới tinh hoa quyền lực.

38. Xem Mills, White Collar (New York: Oxford University Press, 1951), từ trang 54.

39. Trích từ Kenneth S. Lynn, The Dream of Success (Giấc mơ thành công) (Boston: Little Brown, 1955), từ tramg 148.

40. Trích từ Mills, sđd, trang 65 và các chương 13, 14, 15.

41. Trích từ Mills, “The Labor Leaders and the Power Elite”, Industrial Conflict (Arthur Kornhauser, Robert Dubin, và Arthur M. Ross biên tập) (New York: McGraw-Hill, 1954), từ trang 144; và Mills, The New Men of Power: America’s Labor Leaders (New York: Harcourt, Brace, 1948). Xem thêm Saul D. Alinsky, Reveille for Radicals (Chicago: University of Chicago Press, 1946).

CHƯƠNG 12. GIỚI TINH HOA QUYỀN LỰC

1. Trích từ Elmer Davis, But We Were Born Free (Indianapolis: Bobbs-Merrill, 1953), trang 187.

2. Để có những điểm được sử dụng nhằm mô tả điểm thứ nhất và thứ hai trong các đoạn này, tôi lấy từ Robert Lamb, “Political Elites and the Process of Economic Development”, The Progress of Underdeveloped Areas (Bert Hoselitz biên tập) (Chicago: The University of Chicago Press, 1952).

3. Henry Cabot Lodge, Early Memoirs, Dixon Wecter trích dẫn, The Saga of American Society (New York: Scribner’s, 1937), trang 206.

4. Huân tước James Bryce, The American Commonwealth (New York: Macmillan, 1918), tập I, các trang 84-84. Ở Mỹ trước cách mạng, sự khác biệt vùng miền tất nhiên là quan trọng, nhưng xem William E. Dodd, The Cotton Kingdom (tập 27 trong Chronicles of America Series, Allen Johnson biên tập) (New Haven: Yale University Press, 1919), trang 41; Louis B. Wright, The First Gentlemen of Virginia (Huntinton Library, 1940), Chương 12; Samuel Morison và Henry S. Commager, The Growth of the American Republic (New York: Oxford University Press, 1950), các trang 177-78; James T. Adams, Provincial Society, 1690–1763 (New York: Macmillan, 1927), trang 83.

5. Ví dụ, xem David Riesman, cộng tác với Reuel Denney và Nathan Glazer, The Lonely Crowd (New Havan: Yale University Press, 1950).

6. Xem Hearings of the Pujo Committee, trích trong Richard Hofstadter, The Age of Reform (Thời đại cải cách) (New York: Knopf, 1955), trang 230; và Louis D. Brandeis, Other People’s Money (New York: Stokes, 1932), các trang 22-23.

7. Richard Hofstadter, sđd, trang 305.

8. Whitaker Chambers, Witness (New York: Random House, 1952), trang 550.

9. Để biết phần giới thiệu tuyệt vời về sự thống nhất quốc tế các lợi ích công ty, xem James Stewart Martin, All Honorable Men (Boston: Little Brown, 1950).

10. Gerald W. Johnson, “The Superficial Aspect”, New Republic, 25-10-1954, trang 7.

11. Xem Hearings before the Committee on Armed Services, Thượng viện Mỹ, Quốc hội khóa 83, kỳ họp thứ nhất, On Nominees Designate Charles E. Wilson, Roger M. Keyes, Robert T. Stevens, Robert B. Anderson, and Harold E. Talbott, 15, 16, và 23-1-1953 (Washington, DC.: US. Government Printing Office, 1953).

12. Hearings before the Subcommittee on Study of Monopoly Power of the Committee on the Judiciary, Hạ viện, Quốc hội khóa 81, kỳ họp thứ nhất, số 14, phần 2A (Washington, DC.: US. Government Printing Office, 1950), trang 468.

13. Trích từ The New York Times, 6-12-1952, trang 1.

14. Floyd Hunter, “Pilot Study of National Power and Policy Structures”, Viện Nghiên cứu Khoa học Xã hội, University of North Carolina, Research Previews, tập 2, số 2, 3-1954 (Bản rô-nê-ô), trang 8.

15. Như trên, trang 9.

16. Richard Hofstadter, sđd, các trang 71-72.

17. Trích từ Gerth và Mills, Character and Social Structure (New York: Harcourt, Brace , 1953).

18. Trích từ Mills, “The Conscription of America”, Common Sense, 4-1945, từ trang 15.

19. Trích trong “Twelve of the Best American Schools”, Fortune, 1-1936, trang 48.

20. Bài nói của Thống chế Viscount Montgomery tại Đại học Columbia, đăng trên The New York Times, 24-11-1954, trang 25.

21. Trích từ Dean Acheson, “What a Secretary of State Really Does”, Harper’s, 12-1954, trang 48.

CHƯƠNG 13. XÃ HỘI ĐẠI CHÚNG

1. Xem E. H. Carr, The New Society (London: Macmillan, 1951), các trang 63-66, người mà tôi phải dựa nhiều trong chương này và các đoạn sau.

2. Về những cuộc bầu cử trong các nền dân chủ chính thức hiện đại, E. H. Carr đã kết luận: “Ngày nay nói về việc bảo vệ nền dân chủ cứ như chúng ta đang bảo vệ thứ mà chúng ta đã biết và đã sở hữu từ nhiều thập kỷ hoặc nhiều thế kỷ là tự dối mình và lừa gạt – dân chủ đại chúng là một hiện tượng mới, một sáng tạo của nửa thế kỷ qua – việc nghiên cứu theo triết học của Locke hoặc của nền dân chủ tự do thế kỷ XIX là không thích hợp và lừa dối. Chúng ta cần đến gần mục tiêu hơn, và cần có một khẩu hiệu thuyết phục hơn, nếu chúng ta nói về sự cần thiết, không phải về bảo vệ nền dân chủ, mà phải tạo dựng nó.” (như trên, các trang 75-76).

3. Trích Hans Speier, Social Order and The Risks of War (New York: George Stewart, 1952), các trang 323-39.

4. Gustave Le Bon, The Crowd (London: Ernest Benn Ltd., 1952 – xuất bản lần một bằng tiếng Anh, 1896), trang 207. Xem thêm các trang 6, 23, 30, 187.

5. Sergei Chakhotin, The Rape of the Masses (New York: Alliance, 1940), các trang 289-91.

6. Charles Horton Cooley, Social Organization (New York: Scribner’s, 1909) trang 93. Xem thêm Chương 9.

7. Xem Walter Lippmann, Public Opinion (New York: Macmillan, 1922), vẫn là mô tả rõ nhất về khía cạnh này của truyền thông. Đặc biệt xem các trang 1-25 và 59-121.

8. Trích Gerth và Mills, Character and Social Structure (New York: Harcourt, Brace, 1953), từ trang 84.

9. J. Truslow Adams, The Epic of America (Boston: Little, Brown, 1931), trang 360.

10. Trích Mills, “Work Milieu and Social Structure”, bài nói tại “Hội nghị Asilomar” của Hội Sức khỏe tâm thần bang North Carolina, 3-1954, in lại trong bản tin People At Work: A Symposium (Người đang làm việc: Một hội thảo), từ trang 20.

11. A. E. Bestor, Educational Wastelands (Urbana, III: University of Illinois, 1953), trang 7. Xem thêm trang 80.

CHƯƠNG 14. TÂM LÝ BẢO THỦ

1. Trích Karl Mannheim, Essays on Sociology and Social Psychology (Paul Kecskemeti biên tập và dịch) (New York: Oxford University Press, 1953), Chương II: “Suy nghĩ bảo thủ”, từ trang 74.

2. Xem Russell Kirk, The Conservative Mind (Chicago: Henry Regnery, 1953), đặc biệt Chương I. Để biết thêm thảo luận về ông Kirk, xem Mills, “The Conservative Mood”, Dissent, Đông 1954. Để có hướng dẫn đồng tình với chủ nghĩa bảo thủ ở Mỹ, xem cuốn sách cùng tên của Clinton Rossiter (New York: Knopf, 1955).

3. Trích Mills, The New Men of Power: America’s Labor Leaders (New York: Harcourt, Brace, 1948), Chương 6: “Lối hùng biện tự do”, từ trang III.

4. Trích Kenneth S. Lynn, The Dream of Success (Boston: Little, Brown, 1955), trang 216.

5. Thượng Nghị sĩ Taft trước khi chết được hỏi đã đọc cuốn sách của Russell Kirk chưa, ông trả lời là không có nhiều thời gian cho sách. Xem “Robert Taft’s Congress” và “Who Dares to Be a Conservative?”, Fortune, 8-1953, các trang 95, 136.

6. Xem Peter Viereck, Conservaftism Revisited (New York: Scribner’s, 1950); và Jose Ortega y Gasset, The Revolt of the Masses, 1932 (New York: New American Library, 1950).

7. Mặc dù diễn giải về “chủ nghĩa McCarthy” như là có nguồn gốc trong địa vị không đạt được giờ đây được truyền bá rộng rãi, bài báo gốc của Paul Sweezy và Leo Huberman vẫn là mô tả thẳng thắn nhất về nó, “The Roots and Prospects of McCarthyism”, Monthly Review, 1-1954. Xem thêm các bài của Peter Viereck, ví dụ “Old Slums plus New Rich: The Alliance Against the Elite” và “The Impieties of Progress”, The New Leader, 24-1 và 31-1-1955. Để có một tuyên bố tinh tế hơn, xem Richard Hofstadter, “The Pseudo-Conservative Revolt”, The American Scholar, Đông 1954-1955. Về chủ đề chung là địa vị của tầng lớp trung lưu, xem Chương 11: “Hoảng loạn địa vị”, trong Mills,White Collar (New York: Oxford University Press, 1951).

8. Xem bài viết rất hay của Robert Bendiner, “The Liberals’ Political Road Back”, Commentary, 5-1953, từ trang 431.

9. Archibald MacLeish, “Conquest of America”, The Atlantic Monthly, 8-1949.

10. Những ví dụ về Tán dương Mỹ có sẵn tới mức rối rắm. Không may là chẳng cái nào trong chúng thực sự đáng xem xét chi tiết: để những gì mà tôi có trong đầu có thể rõ ràng, hãy tìm đọc Jacques Barzun, God’s Country and Mine (Boston: Little, Brown, 1954). Để có một ví dụ ít khoa trương hơn, xem Daniel J. Boorstin, The Genius of American Politics (Chicago: University of Chicago Press, 1953); về một số nhân vật được vinh danh, xem America and The Intellectuals (New York: loạt bài trong Partisan Review, số 4, 1953).

11. Trích Mills, “Liberal Values in the Modern World”, Anvil and Student Partisan, Đông 1952.

12. Xem kiểm tra định nghĩa của David Riesman và tác phẩm của ông trong Elizabeth Hardwick, “Riesman Considered”, Partisan Review, tháng 9,10-1954, từ trang 548.

13. Xem Business Week, 18-9-1954, trang 32; và Time, 12-7-1954, các trang 80-81.

14. The New York Times, 7-12-1952, trang 3F.

15. Về các doanh nghiệp thành công bất hợp pháp, xem những báo cáo khác nhau về các phiên điều trần vụ Kefauver năm 1950, đặc biệt Third Interim Report of the Special Committee to Investigate Organized Crime in Interstate Commerce, Quốc hội khóa 82, kỳ họp thứ nhất, Báo cáo 307.

16. Alfred R. Lindesmith, “Organized Crime”, Annals of the American Academy of Political and Social Science, 9-1941, được rút gọn và sắp xếp trong Leonard Broom và Philip Selznick, Sociology: A Text with Adapted Readings (Evanston, Illinois và White Plains, New York: Row, Peterson, 1955), trang 631.

17. Về những mục ở trên, xem Time, 28-6-1954, các trang 21-22; The New York Times, 19-9-1954, các trang 1, 8; như trên, 20-2-1954, các trang 1, 15; như trên, 24-2-1954, các trang 1, 15; và Time, 3-3-1952; Look, 9-3-1954, từ trang 38; The New York Times, 12-2-1954, các trang 1, 17; như trên, 16-3-1954; Time, 12-7-1954, trang 24 và The New York Times, 26-6-1954, trang 1, và 30-6-1954, các trang 1, 28.

CHƯƠNG 15. SUY THOÁI ĐẠO ĐỨC CAO HƠN

1. Trích Mills, “A Diagnosis of Our Moral Uneasiness”, The New York Times Magazine, 23-11-1952.

2. James Reston, The New York Times, 10-4-1955, trang 10E.

3. Sophie Tucker, trích trong Time, 16-11-1953.

4. Trích Mills, White Collar (New York: Oxford University Press, 1951), từ trang 259.

5. Trích Mills, “The Contribution of Sociology to Industrial Relations”, Biên bản Hội nghị thường niên thứ nhất của Hiệp hội Nghiên cứu Quan hệ công nghiệp, 12-1948.

6. James Reston, The New York Times, 31-1-1954, mục 4, trang 8.

7. The New York Times Book Review, 23-8-1953. Nhưng xem thêm Time, 28-2-1955, từ trang 12.

8. Các phiên điều trần trước Ủy ban về Ngân hàng và Tiền tệ, Thượng viện Mỹ, Quốc hội khóa 84, kỳ họp thứ nhất (US. Government Printing Office, Washington, 1955), trang 1001.

9. John Adams, Discourses on Davila (Boston: Russell and Cutler, 1805).

10. Trong Perspectives, USA, số 3, ông Lionel Trilling đã viết một cách lạc quan về “các tầng lớp trí thức mới.” Để có một mô tả đầy đủ thông tin về các tầng lớp văn hóa mới do một người trong cuộc tự ý thức viết ra, xem thêm Louis Kronenberger Company Manners (Indianapolis: Bobbs-Merrill, 1954).

11. Leo Egan, “Political ‘Ghosts’ Playing Usual Quiet Role as Experts”, The New York Times, 14-10-1954, trang 20.

12. Charles E. Wilson, trích trong The New York Times, 10-3-1954, trang 1.

13. John Adams, sđd, các trang 57–58.

14. Trích William Harlan Hale, “The Boom in American History”, The Reporter, 24-2-1955, từ trang 42.

15. Xem Walter Bagehot, Physics and Politics (New York: D. Appleton, 1912), các trang 36, 146–47, 205–06.

Nguyễn Thành Châu dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 17 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.