V
ào thế kỷ XVIII, những người nghiên cứu bức tranh lịch sử bắt đầu nhận thấy một xu hướng khác thường trong việc phân chia quyền lực ở tầng cao nhất của xã hội hiện đại: Các quan chức dân sự, khi có quyền, có thể kiểm soát được giới quân sự ưa bạo lực mà quyền lực của họ đang bị giảm sút, vô hiệu hóa. Tất nhiên, ở nhiều nơi và nhiều thời gian khác nhau, giới quân sự là những người phục vụ quyết định dân sự, nhưng xu hướng này – đạt đỉnh vào thế kỷ XIX và kéo dài tới tận Thế chiến I – dường như lúc đó, và bây giờ có vẻ vẫn thế, đơn giản là khác thường vì trước nay nó chưa bao giờ diễn ra trên quy mô như vậy, hoặc chưa bao giờ ăn sâu bám rễ chắc đến thế.
Ở thế kỷ XX, trong số các quốc gia công nghiệp trên thế giới, thực tế rằng ưu thế dân sự lớn, ngắn ngủi và bất ổn bắt đầu lung lay; và hiện nay – sau giai đoạn hòa bình kéo dài từ thời Napoleon tới Thế chiến I – dòng chảy cũ của lịch sử thế giới một lần nữa tự khẳng định mình. Trên khắp thế giới, giới quân phiệt đang trở lại. Trên khắp thế giới, thực tại được định nghĩa theo điều kiện của họ. Và cũng ở Mỹ, giới quân phiệt đã tiến vào khoảng trống chính trị. Cùng với các giám đốc điều hành công ty và chính trị gia, tướng lĩnh và đô đốc, những người anh em không dễ tính này trong giới tinh hoa Mỹ đã giành được và được dành cho quyền lực ngày càng tăng để đưa ra và gây ảnh hưởng tới các quyết định có hệ quả nghiêm trọng nhất.
1.
Toàn bộ nền chính trị là một cuộc đấu đá, tranh giành quyền lực và loại quyền lực tối hậu chính là bạo lực. Vậy tại sao độc tài quân sự lại không phải là hình thức bình thường và thông thường của chính quyền? Trong phần lớn lịch sử nhân loại, con người trên thực tế sống dưới lưỡi kiếm, và ở bất kỳ sự xáo trộn nghiêm trọng nào trong công việc của con người, có thực hay tưởng tượng, xã hội thường có xu hướng quay lại chế độ cai trị quân sự. Thậm chí ngày nay, chúng ta thường bỏ qua những việc ít nhiều giống nhau của lịch sử thế giới vì chúng ta thừa hưởng một số giá trị nhất định, đã bùng nổ dưới chế độ dân sự độc đoán thế kỷ XVIII và XIX. Kể cả nếu hình thức quyền lực tối hậu là đe dọa bạo lực, thì toàn bộ những tranh giành quyền lực trong và giữa các quốc gia truyền thống của chúng ta vẫn không đạt tới điểm cuối cùng. Các lý thuyết khác của chúng ta về chính quyền đều giả định rằng hiến pháp của chúng ta đã dẫn tới những thiết chế trong đó bạo lực giảm tới mức tối đa và chịu sự kiểm tra hữu hiệu để cân bằng với ưu thế dân sự. Trong giai đoạn hòa bình lâu dài của phương Tây hiện đại, lịch sử nằm trong tay các chính trị gia, tầng lớp giàu có, và giới luật sư chứ không phải tướng lĩnh, trộm cướp, hay đô đốc. Nhưng nền hòa bình đó đã có kết quả thế nào? Bằng cách nào mà các quan chức dân sự, chứ không phải những kẻ thích bạo lực, chiếm ưu thế?
Khi bàn luận về quân sự, Gaetano Mosca1 đưa ra một giả thiết mà tôi không đồng tình, nhưng chẳng ảnh hưởng tới việc tôi chấp nhận cách lý giải tổng quát của ông. Ông cho rằng trong bất kỳ xã hội nào đều có một số người khi bị khiêu khích nhiều lần sẽ dùng đến bạo lực. Mosca nói, nếu chúng ta coi họ là thiên tài và nếu có cơ hội lịch sử, chúng ta sẽ có một Napoleon; nếu chúng ta cho họ một ý tưởng lớn, chúng ta sẽ có một Garibaldi; nếu chúng ta cho họ một cơ hội, và chỉ vậy thôi, chúng ta sẽ có một Mussolini, hoặc chúng ta có thể thêm một tướng cướp trong nền văn minh kinh doanh.
Nhưng, Mosca nói, nếu cho người đó một công việc trong một loại thang bậc xã hội nào đó, chúng ta sẽ có một người lính chuyên nghiệp và thường thì các quan chức dân sự có thể kiểm soát được anh ta.
Tất nhiên, có cơ sở về nền hòa bình trong nước hơn là đội quân thường trực chuyên nghiệp. Có “Hòa bình của Chúa” do linh mục áp đặt, và “Hòa bình của Vua” được dựng lên ở châu Âu thời trung cổ để chống lại những ai cảm thấy danh dự và quyền lực của họ phụ thuộc vào lưỡi kiếm. Nhưng thực tế lớn về hòa bình trong thời hiện đại, hoặc kể cả trong lịch sử thế giới – như người ta có thể mong đợi – là một thực tế mông lung: hòa bình là do quốc gia dân tộc thiết lập bằng sự tập trung và độc quyền bạo lực, nhưng sự tồn tại của một thế giới hiện nay được tổ chức thành khoảng 81 quốc gia dân tộc cũng là điều kiện chủ yếu dẫn tới chiến tranh hiện đại.
Trước khi có quốc gia dân tộc, những kẻ bạo lực có thể và đã thường dùng tới nó trên quy mô địa phương, và chế độ phong kiến ở châu Âu cũng như ở phương Đông là chế độ cai trị địa phương bằng nhiều cách của những kẻ bạo lực. Trước khi quốc gia dân tộc tập trung và độc quyền các phương tiện bạo lực, việc quyền lực có xu hướng liên tục tự tái tạo ở những trung tâm nhỏ, phân tán, và do các băng đảng địa phương nắm giữ thường là một thực tế diễn ra trong lịch sử nhân loại trước khi xuất hiện dân tộc. Nhưng dưới thời Ferdinand và Isabella đang tạo dựng một dân tộc, kẻ cướp đường của Tây Ban Nha đã trở thành người của vua, và có lúc là kẻ chinh phục, rồi sau đó lại trở thành chiến binh của hoàng hậu. Tóm lại, kẻ bạo lực địa phương bắt đầu là thành viên của quân đội quốc gia thường trực chịu ơn thủ lĩnh dân sự quốc gia.
Vậy đội quân thường trực này là kiểu thiết chế khác thường nào mà lại có thể huy động được những kẻ bạo lực thuộc xu hướng hiếu chiến, do đó họ phục tùng chính quyền dân sự, và trên thực tế chính họ chấp nhận tuân lệnh như một quy tắc danh dự? Vì nếu quân đội thường trực của một quốc gia hiện đại mà độc quyền bạo lực đủ mạnh để thống trị xã hội, thì tại sao nó lại không làm vậy? Tại sao, thay vì thế, nó lại thường nhẫn nhịn và chấp nhận chính quyền dân sự của thủ lĩnh dân sự quốc gia? Tại sao quân đội lại chịu quy phục? Bí mật của quân đội thường trực này là gì?
Chẳng có bí mật nào hết, chỉ có một số cơ chế hoàn toàn mở hoạt động ở bất kỳ nơi nào mà quân đội thường trực ở dưới quyền kiểm soát dân sự. Trước hết, quân đội này là loại thiết chế “quý tộc”. Cứ khi nào họ cố loại bỏ đặc điểm này thì họ đều thất bại. Trong quân đội thường trực tồn tại sự tách bạch tuyệt đối rõ ràng giữa sĩ quan và binh lính; đội ngũ sĩ quan thường được tuyển mộ từ các nhóm dân sự cầm quyền hoặc từ những người đồng tình với lợi ích của họ, vì vậy cân bằng lực lượng trong tầng lớp cai trị được phản ánh trong quân đội thường trực này. Và cuối cùng, trong quân đội thường trực hoặc trong nhiều bộ phận của nó, đã phát triển chế độ ban thưởng mà ngay cả những kẻ bạo lực cũng thường mong muốn: công việc bảo đảm, nhưng hơn thế, là vinh dự đầy tính toán được sống theo quy tắc danh dự cứng rắn.
Vào cuối thế kỷ XVIII, John Adams đã hỏi, “Có phải người ta cho rằng, quân đội chính quy thường trực của châu Âu, phục vụ là vì động cơ yêu nước trong sáng? Có phải các sĩ quan đầy toan tính và tận tụy của nó, hy vọng được đền đáp một cuộc sống tương lai? Có phải vì ý thức về bổn phận đạo đức, hay tôn giáo mà họ mạo hiểm mạng sống của mình, và chấp nhận những vết thương?” Có thể thấy nhiều ví dụ về tất cả những vấn đề này. Nhưng nếu ai đó cho rằng tất cả, hoặc một bộ phận lớn hơn của những vị anh hùng này, bị các nguyên tắc như vậy chi phối, thì chỉ chứng tỏ anh ta chẳng hiểu gì về họ. Liệu họ có được trả công phù hợp như một sự khuyến khích thỏa đáng? Nó không nhiều hơn mức tồn tại rất đơn giản và khiêm nhường, nên sẽ chẳng bao giờ là một cám dỗ để từ bỏ cơ hội kiếm tiền trong các lĩnh vực khác cùng những thú vui của cuộc sống gia đình, chấp nhận công việc khó khăn và nguy hiểm nhất này. Không, nó là sự cân nhắc và là các cơ hội vinh quang mà việc tại ngũ mang tới cho họ.
“Người lính so sánh mình với các bạn đồng ngũ, và cạnh tranh để được thăng cấp thành một hạ sĩ; hạ sĩ lại ganh đua với người khác để là trung sĩ; trung sĩ sẽ muốn đeo lon thiếu úy, và thế là mọi người trong quân đội luôn khao khát để có được thứ cao hơn, như mọi công dân trong cộng đồng thường xuyên tranh đấu vì một thứ hạng tốt hơn, nên có thể anh ta sẽ bị nhiều người để ý theo dõi hơn.”2
Uy tín đi cùng danh dự, và toàn bộ những gì liên quan đến nó đã và đang là một sự đền bù cho việc giới quân sự từ bỏ quyền lực chính trị. Việc từ bỏ này là hoàn toàn: nó được ghi trong quy tắc danh dự của quân đội. Trong hệ thống hành chính thường là ngăn nắp, nơi mọi thứ dường như được kiểm soát rành mạch, các sĩ quan quân đội cảm thấy “chính trị” là loại trò chơi bẩn thỉu, không thực, không quân tử; và trong cách hiểu của mình về quy tắc địa vị, họ thường cảm thấy các chính trị gia là những sinh vật không đủ tư cách đang sống trong một thế giới không thực.
Cơ chế địa vị của quân đội thường trực không phải luôn hoạt động cho tới khi chính quyền dân sự kết thúc, và không có gì hiển nhiên là nó sẽ hoạt động đến khi kết thúc. Ví dụ, chúng ta biết tai họa cho các nước trong thế giới Tây Ban Nha là việc cứ khi nào các sĩ quan quân đội có chân trong hội đồng nhà nước là họ cố chi phối nó, và khi không có chân trong các hội đồng này, họ có thể kéo quân về thủ đô.
2.
Tất cả những phản ánh trên về các xu thế và thực tế của thế giới giống hệt tình hình của tổ chức quân đội Mỹ và đội ngũ tướng lĩnh và đô đốc cao cấp của nó. Giống như các nước khác, Mỹ ra đời trong bạo lực, nhưng nó ra đời vào lúc chiến tranh có lẽ không phải là một đặc tính vượt trội của xã hội loài người. Và nó ra đời ở nơi các cỗ máy chiến tranh không dễ dàng tới được, không dễ dàng bị chiến tranh tàn phá, không phải chịu nỗi lo lắng của những người sống với các nước láng giềng quân sự. Ở thời điểm và địa điểm của thời kỳ sơ khai, Mỹ ở vào tình thế rất tốt để xây dựng và duy trì một chính quyền dân sự, và để buộc giới quân sự dù có tham vọng cũng phải phục tùng.
Một đất nước non trẻ với cuộc cách mạng dân tộc chống lại đội quân tay sai, do Anh và 1/4 số gia đình ở Mỹ thuê, sẽ không thể yêu mến người lính chuyên nghiệp. Là vùng đất rộng và mở, xung quanh là các nước láng giềng yếu, người da đỏ và các đại dương rộng lớn, Mỹ bá chủ trong nhiều thập kỷ của thế kỷ XIX đã không phải chịu gánh nặng của một đội quân thường trực lớn quá mức. Hơn nữa, từ thời Học thuyết Monroe cho tới khi nó được áp dụng ở Anh vào nửa sau thế kỷ XIX, hải quân Anh đã đứng giữa Mỹ và các nước châu Âu lục địa để bảo vệ các thị trường của Anh ở Tây bán cầu. Thậm chí sau Thế chiến I, cho tới khi Đức Quốc xã trỗi dậy, Mỹ trở thành chủ nợ của các nước châu Âu phá sản và hầu như chẳng có mối đe dọa quân sự nào để phải lo lắng.3 Tất cả điều này cũng có nghĩa là, giống như ở các đảo của Anh, hải quân chứ không phải quân đội là công cụ quân sự chủ yếu trong lịch sử, và hải quân ít ảnh hưởng tới các cấu trúc xã hội của đất nước hơn là quân đội vẫn thường thế, vì nó không phải là một công cụ thật hữu ích để đàn áp sự nổi dậy của dân chúng. Các tướng lĩnh và đô đốc vì thế không đóng vai trò lớn trong các công việc chính trị và sự thống trị dân sự được xác lập một cách chắc chắn.
Một đất nước mà mối quan tâm lớn nhất của người dân là sự giàu có cá nhân thì đừng hy vọng họ sẽ ủng hộ việc trợ cấp cho một tổ chức gồm những người ăn bám, nói theo kiểu kinh tế. Một đất nước mà tầng lớp trung lưu coi trọng tự do và năng lực cá nhân sẽ không thể yêu quý những người lính có kỷ luật mà dường như họ liên tục được sử dụng một cách tàn bạo để hỗ trợ các chính phủ ít tự do hơn. Vì thế trong lịch sử các thế lực kinh tế và hoàn cảnh chính trị đã ủng hộ sự đánh giá dân sự về giới quân sự như một thứ tồi tệ đôi khi cần thiết nhưng luôn là một gánh nặng.
Hiến pháp Mỹ được xây dựng trong nỗi e ngại về một tổ chức quân sự hùng mạnh. Tổng thống, một người giới dân sự, được tuyên bố là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang, và trong chiến tranh, bao gồm cả lực lượng dân quân quốc gia. Chỉ Quốc hội mới có quyền tuyên bố chiến tranh, hoặc bỏ phiếu thông qua ngân sách sử dụng cho quân sự – và mỗi lần chỉ được hai năm. Từng bang duy trì lực lượng dân quân riêng, độc lập và tách biệt với quân đội quốc gia. Không có điều khoản nào cho phép giới quân sự làm cố vấn cho quan chức dân sự. Nếu có những điều khoản về bạo lực trong hiến pháp, thì chúng là những điều khoản bất đắc dĩ, và các tổ chức bạo lực chỉ giữ vai trò là công cụ một cách nghiêm ngặt.
Sau thế hệ cách mạng, tầng lớp thượng lưu không mang dấu ấn quân sự; giới tinh hoa Mỹ về mặt hệ thống không bao gồm trong nó thành viên là những nhân vật quân sự cao cấp; nó không phát triển truyền thống cứng nhắc về việc phục vụ trong quân đội; những người phục vụ trong quân đội không được coi là có uy tín. Uy thế của những người làm kinh tế đối với những người thuộc giới quân sự trong lĩnh vực “danh dự” trở nên hoàn toàn rõ ràng, khi vào thời Nội chiến và thực tế tới tận Thế chiến I, việc thuê người khác đi quân dịch hộ không bị coi khinh. Vì vậy, những người lính ở các vị trí thường biệt lập dọc theo biên giới nội địa cũ không vào được mấy giới cao hơn của quốc gia.
Bất chấp khó khăn là gì đi nữa và thường nghiêm trọng, đều bị chặn đứng bởi những người đã vượt cả nửa vòng Trái đất; bất chấp những cuộc viễn chinh và các đội quân của họ có thế nào đi nữa, và bằng nhiều cách trong nhiều giai đoạn mà họ rõ ràng là các bên tham chiến, những người đứng đầu quốc gia vẫn không bị dán mác là có đầu óc và nhãn quan quân sự.
Nhưng khi nghiên cứu toàn bộ lịch sử Mỹ, chúng ta đối mặt với một tình huống khá kỳ lạ: nghe nói chúng ta chưa bao giờ và sẽ không bao giờ là một quốc gia quân sự, rằng trên thực tế chúng ta không tin vào kinh nghiệm quân sự, nhưng chúng ta ghi nhận rằng Cách mạng Mỹ đã đem lại uy thế cho Tướng Washington khi ngồi lên ghế Tổng thống, và rằng có những sự trả giá trong số sĩ quan bị sa thải, theo Hiệp hội Cincinnati, để thành lập một hội đồng quân sự và dựng lên một ông vua quân sự. Rồi các cuộc xung đột và giao tranh biên giới cũng liên quan tới thành công chính trị của các Tướng Jackson, Harrison, và Taylor trong Chiến tranh Mexico. Và còn có cả Nội chiến, lâu dài, đẫm máu, và chia rẽ xã hội Mỹ thành hai nửa, để lại những vết sẹo vẫn còn rất rõ. Chính quyền dân sự ở cả hai phía vẫn nắm quyền kiểm soát trong và sau Nội chiến, nhưng nó đã thực sự đem lại uy thế của Tướng Grant với ghế Tổng thống, trở thành tấm bình phong thuận tiện cho các lợi ích kinh tế. Mọi Tổng thống từ Grant tới McKinley, trừ Cleveland và Arthur, đều là sĩ quan thời Nội chiến, mặc dù chỉ có Grant là chuyên nghiệp. Và nữa, với cuộc chiến tranh nhỏ Tây Ban Nha-Mỹ, chúng ta lại thấy một người cứng rắn nhất, mạnh tay nhất trong số họ – có lẽ vì ông không phải một quân nhân chuyên nghiệp – Theodore Roosevelt – đã xuất hiện đúng lúc ở Nhà Trắng. Trên thực tế, khoảng một nửa trong số 33 người từng là Tổng thống Mỹ có đôi chút kinh nghiệm quân sự; sáu người là sĩ quan chuyên nghiệp; chín người là tướng.
Từ Bạo loạn của Shays tới Chiến tranh Triều Tiên, không có giai đoạn dài nào mà không có bạo lực chính thức. Trên thực tế từ năm 1776, Mỹ đã tham gia bảy cuộc chiến ở nước ngoài, một Nội chiến bốn năm, những trận xung đột và giao tranh với người Da đỏ suốt một thế kỷ, những lần phô diễn bạo lực dai dẳng ở Trung Quốc, và việc chinh phục vùng Caribbean và các khu vực Trung Mỹ.i Tất cả những diễn biến này đều có thể được coi là thường xuyên gây phiền toái với việc kinh doanh sắp tới quan trọng hơn, nhưng ít ra cũng phải nói rằng bạo lực là một phương tiện và thậm chí là một giá trị hơi mơ hồ trong cuộc sống và văn hóa Mỹ.
i. Năm 1935, biên tập viên của Fortune viết: “Nhìn chung người ta cho rằng lý tưởng quân sự Mỹ là hòa bình. Nhưng không may cho sự kinh điển kiểu trường phổ thông, từ năm 1776 quân đội Mỹ đã đánh cắp nhiều dặm vuông của Trái đất bằng việc chinh phục quân sự thuần túy hơn bất kỳ quân đội nào trên thế giới, chỉ trử quân đội Anh. Và giữa Anh với Mỹ là một cuộc chạy đua sát nút, Anh chinh phục khoảng trên 3.500.000 dặm vuông từ hồi đó, còn Mỹ (nếu kể cả cuộc vật lộn Mua Lousiana từ người Da đỏ) cũng khoảng trên 3.100.000 dặm vuông. Những người nói tiếng Anh đã tự hào về việc này”.4
Manh mối cho sự mập mờ này nằm ở thực tế sau: trong lịch sử từng có nhiều bạo lực, nhưng phần lớn là do “nhân dân” trực tiếp thực hiện. Lực lượng quân sự phân tán thành dân quân bang gần như theo kiểu phong kiến. Các thiết chế quân sự, trừ một số ít, đã song hành cùng các phương tiện sản xuất kinh tế phân tán và các phương tiện quyền lực chính trị liên bang. Không giống người Cossack ở vùng thảo nguyên Á-Âu, ưu thế về kỹ thuật và quân số của lính biên giới Mỹ khi đối mặt với người Da đỏ Mỹ đã khiến tầng lớp chiến binh thực thụ và việc quản lý bạo lực lan rộng và chuyện có kỷ luật trở nên không cần thiết. Hầu như ai cũng có súng: căn cứ trình độ kỹ thuật chiến tranh, các phương tiện bạo lực vẫn bị phân tán. Thực tế đơn giản đó là hệ quả lớn nhất đối với chế độ dân sự cũng như đối với các thiết chế dân chủ và các đặc tính của những thời kỳ trước đây ở Mỹ.
Trong lịch sử, nền dân chủ ở Mỹ từng được tăng cường bằng hệ thống dân quân gồm các công dân được vũ trang vào lúc súng trường là vũ khí chủ yếu, một người có nghĩa là một súng trường và một phiếu bầu. Các sử gia viết sách giáo khoa vì thế không ngả theo suy nghĩ cho rằng những thay đổi trong thiết chế quân sự Mỹ và hệ thống vũ khí là nguyên nhân của những thay đổi về chính trị và kinh tế. Họ viết về các lực lượng quân sự trong một cuộc xung đột với người Da đỏ và một cuộc chiến tranh ở nơi xa, rồi họ lại giấu lực lượng này đi. Và có lẽ các sử gia đã đúng. Nhưng cần phải nhớ là những quân đội đầu tiên ở châu Âu dựa trên cơ sở cưỡng bức quân dịch đại trà đều là quân đội cách mạng. Các nước khác bất đắc dĩ phải vũ trang dân chúng; Metternich tại Hội nghị Vienna đã thúc giục xóa bỏ quân dịch đại trà; Phổ chỉ sử dụng nó sau khi quân đội chuyên nghiệp của mình bị đánh bại vì không dùng nó; Nga hoàng chỉ dùng sau chiến tranh Crimea; và Áo chỉ dùng sau khi lính mới tuyển mộ của Bismarck đánh bại quân của Franz Jozef.5
Việc sử dụng quân dịch đại trà ở châu Âu liên quan đến việc mở rộng các “quyền” khác với người đến tuổi đi lính trong một cố gắng nhằm tăng cường sự trung thành của họ. Ở Phổ, và sau này ở Đức, đây là một chính sách hoàn toàn có dụng ý. Việc xóa bỏ chế độ nô lệ và sau này là việc phát triển các kế hoạch an sinh xã hội đã đồng hành cùng việc thiết lập chế độ quân dịch đại trà. Mặc dù thông tin không chính xác, nhưng xem ra rõ ràng là việc mở rộng quyền mang súng cho dân chúng nói chung cũng liên quan đến việc mở rộng các quyền khác. Nhưng ở Mỹ, quyền mang súng không được giới có súng mở rộng tới dân chúng không vũ trang: dân chúng đã mang súng ngay từ đầu.
Cho tới Thế chiến I, các hoạt động quân sự không bao gồm việc huấn luyện quân sự bắt buộc thường xuyên, việc độc quyền các công cụ bạo lực của chính quyền liên bang, việc người lính chuyên nghiệp đứng đầu một cơ sở quân sự lớn và lâu dài. Từ Nội chiến đến Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ, trung bình quân đội có khoảng 25.000 người, được tổ chức ở cấp cơ sở trung đoàn, với các trung đoàn và đại đội chủ yếu phân tán ở những vị trí dọc theo biên giới trên bộ và xa hơn về phía tây. Qua Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ, quân đội Mỹ là lực lượng được tổ chức kiểu dân quân, nghĩa là không tập trung và với đội ngũ sĩ quan không chuyên nghiệp mang đậm ảnh hưởng địa phương.
Quân đội thường trực nhỏ bé được bổ sung bằng dân quân bang tổ chức thành quân Tình nguyện Mỹ; chỉ huy đội quân này do các thống đốc bang chỉ định. Trong tình trạng hoàn toàn thiếu chuyên nghiệp này, lính thường trực có thể và thường được phong tướng trong quân Tình nguyện. Chính trị, cũng có thể nói là sự kiểm soát dân sự, chiếm ưu thế tối cao. Xét bất kỳ thời gian nào, chỉ có rất ít tướng lĩnh, và đại tá là cấp bậc ngay cả học viên của West Point cũng khao khát.
3.
Quanh vị tướng già quân đội cuối thế kỷ XVIII trong bộ quân phục màu xanh gọn gàng vẫn còn vương mùi thuốc súng từ Nội chiến. Trong Nội chiến, ông đã thể hiện xuất sắc, và từ cuộc chiến đó đến những trận đánh trong Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ, ông đã chiến đấu với người Da đỏ theo cách mạo hiểm nhất. Nghị lực của kỵ binh đã không còn ở ông – thậm chí đôi lúc ông trông như một kẻ khờ dại hăng hái (hãy nhớ Custer và Little Big Horn!). Ông sống cuộc đời có phần khắc khổ, điều mà Theodore Roosevelt quý trọng. Ông thường để ria, đôi lúc để râu, và thường không cạo hẳn. Grant mặc bộ quân phục binh nhì với hàng cúc đã bị mờ, đi đôi ủng cổ lỗ và đeo kiếm. Người lính già này đi lên bằng con đường khá vất vả: mãi tới Thế chiến I mới có cố gắng chính thức để “bảo vệ những người được đào tạo”; nhiều tướng lĩnh và hàng chục đại tá đã chết trong các trận đánh thời Nội chiến hoặc sau đó trong các cuộc xung đột với người Da đỏ. Ông không được lính của mình kính trọng bằng việc lập kế hoạch hậu cần ở Lầu Năm Góc; ông giành được nó nhờ bắn giỏi hơn, cưỡi ngựa giỏi hơn, ứng phó nhanh hơn khi gặp sự cố.
Vị tướng điển hình của những năm 19006 là một người xuất thân trong một gia đình Mỹ gốc Anh lâu đời. Ông sinh vào khoảng năm 1840 ở vùng đông bắc Mỹ và có lẽ lớn lên ở đó hoặc ở vùng trung tâm phía bắc, tại một vùng nông thôn hoặc có lẽ là một thị trấn nhỏ. Cha ông là người có chuyên môn, và cơ hội khá tốt là cha ông có các mối quan hệ chính trị có thể hoặc không thể giúp ông trong sự nghiệp. Ông phải mất tới hơn 38 năm kể từ lúc vào lính hoặc vào West Point mới là một thiếu tướng. Khi trở thành người chỉ huy cao nhất, ông đã khoảng 60 tuổi. Nếu có đạo, có lẽ ông theo Trưởng lão. Ông lập gia đình, hình như hai lần, và bố vợ ông cũng là một nhà chuyên môn, có thể cũng có một vài mối quan hệ chính trị. Khi còn tại ngũ, ông không thuộc chính đảng nào, nhưng sau khi nghỉ hưu, có thể ông tham gia đôi chút vào chính trị của Đảng Cộng hòa. Khả năng ông viết thứ gì đó không nhiều như người khác viết rất nhiều về ông. Ông chính thức nghỉ ở tuổi 62, và mất lúc khoảng 77 tuổi.
Chỉ 1/3 số tướng lĩnh quân đội cũ này đã qua West Point và chỉ có bốn người khác đã hoàn thành bậc đại học; những người lính trong quân đội cũ không đi học. Nhưng chúng ta nên nhớ rằng nhiều người miền Nam – những cựu học viên West Point và chiếm ưu thế trong quân đội liên bang cũ – đã trở về chiến đấu trong quân đội miền Nam. Đôi khi vị tướng quân đội của năm 1900 được phong cấp sĩ quan trong Nội chiến, đôi lúc ông đi lên từ lực lượng tình nguyện của dân quân bang, đôi lúc tự mình tuyển mộ đủ người và thế là trở thành một đại tá. Sau khi ông vào quân đội thường trực, việc thăng chức của ông chủ yếu dựa vào thâm niên, được đẩy nhanh trong chiến tranh như khi ông nhảy từ cấp đại tá trong Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ. Ít nhất một nửa số tướng lĩnh quân đội cũ có những mối liên hệ cao hơn với các tướng lĩnh và chính trị gia. Ví dụ, Tướng Leonard Wood, hồi năm 1891 là đại úy quân y, đã trở thành bác sĩ của Nhà Trắng và sau đó dưới quyền của bạn mình là Theodore Roosevelt và William Howard Taft, đã trở thành Tổng Tham mưu trưởng vào năm 1900.
Trong hơn 30 tướng lĩnh quân đội chỉ có ba người (hai trong số đó không chính quy) bước vào con đường kinh doanh. Thương nhân địa phương ở các thị trấn biên giới thường yêu quý quân đội cũ này vì họ chiến đấu chống người Da đỏ và bọn ăn cắp gia súc, và đồn bốt quân đội đồng nghĩa với tiền bạc cho nền kinh tế địa phương. Và ở những thị trấn lớn hơn, quân đội đôi khi có quyền giải tán mấy vụ đánh lộn. Lũ trẻ cũng thích điều đó.
Từ Nội chiến tới lúc mở rộng hải quân dưới thời Theodore Roosevelt, quân đội được công chúng để mắt đến nhiều hơn và những đòi hỏi địa vị của nó được đổi chác trong các tầng lớp dưới. Nhưng hải quân giống như một câu lạc bộ của quý ông, thỉnh thoảng lại diễn ra các cuộc thám hiểm và viễn chinh cứu vớt, uy tín của hải quân cao ngang tầng lớp thượng lưu. Việc này giải thích và phần nào được giải thích bởi nguồn gốc và mức độ đào tạo chuyên nghiệp cao hơn của đội ngũ sĩ quan hải quân.
Ngoài sức mạnh trên biển được thừa hưởng từ Anh, uy tín học thuyết của Đô đốc Mahan đã gắn kết sự vĩ đại của quốc gia với sức mạnh trên biển của nó, và dễ dàng lọt vào tai Phụ tá Bộ trưởng Hải quân Theodore Roosevelt. Uy tín cao hơn của hải quân được công chúng biết đến nhiều hơn trong Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ là do thực tế rằng các kỹ năng của sĩ quan hải quân còn là điều bí ẩn với người thường hơn cả người trong quân đội – ít người giới dân sự dám thử chỉ huy một tàu chiến, nhưng một tiểu đoàn thì nhiều người có thể. Vì không có một hệ thống tình nguyện như trong quân đội, nên uy tín chuyên môn bắt đầu bằng uy tín của một sự giáo dục chính thức và chuyên sâu ở Annapolis (Học viện Hải quân). Cũng có một thực tế là vốn đầu tư lớn thể hiện ở chỗ có nhiều tàu chiến dưới quyền chỉ huy của sĩ quan hải quân. Và cuối cùng, có một quyền lực tuyệt đối được Thuyền trưởng của con tàu thực thi, đặc biệt theo quan điểm truyền thống trên biển là coi thường trước chuyện thủy thủ làm việc trên boong tàu, mà khi áp dụng cho lính hải quân lại thực sự nâng cao uy tín của các sĩ quan.
Một đô đốc điển hình của năm 1900 sinh vào khoảng năm 1892 trong gia đình gốc Anh thời thuộc địa. Cha ông là một người có chuyên môn theo kiểu nào đó, nhưng quan trọng hơn, ông thuộc tầng lớp thượng lưu vùng bờ biển đông bắc, nhiều khả năng không phải là một trung tâm đô thị. Vị đô đốc tương lai có trình độ học vấn hàn lâm cộng với hai năm trên con tàu được giao. Ông mới chỉ 14 tuổi khi gia nhập hải quân, và nếu ông có theo đạo thì đương nhiên phải là Tin Lành. Chừng 43 năm sau khi được nhận vào Học viện, ông trở thành một chuẩn đô đốc. Lúc đó ông 58 tuổi. Ông lấy vợ thuộc tầng lớp mình. Có thể ông đã viết một cuốn sách, nhưng khả năng cao hơn là có người viết một cuốn sách về ông; tuy nhiên, ông có thể đã nhận bằng danh dự sau chiến tranh năm 1898, và nghỉ hưu ở tuổi 62. Ông giữ cương vị chuẩn đô đốc chỉ có ba năm, và mất được 10 năm sau khi có chế độ nghỉ hưu bắt buộc ở độ tuổi trung bình 72.
Ngay từ năm 1900, giới chóp bu của hải quân toàn là các Annapolis, và cũng rất hào hoa. Được tuyển mộ từ tầng lớp cao hơn quân đội, sống nhiều hơn ở miền Đông, được đào tạo dự bị tốt hơn và rồi theo học tại Học viện, vị đô đốc cũng từng phục vụ trong Nội chiến, sau đó dần thăng tiến bằng cách tránh việc đổi mới, trong cuộc sống cá nhân hay trong các nhiệm vụ quân sự. Vì sự lê bước quá cẩn thận trong sự nghiệp, điều quan trọng là ông được thăng quân hàm sớm và sống lâu, để lên tới chức đô đốc trước khi phải nghỉ hưu bắt buộc ở tuổi 62. Thông thường phải mất 25 năm mới lên được đại úy. “Sĩ quan mất một thời gian dài ở các cấp bậc thấp hơn nên họ không bao giờ biết nghĩ cho mình. Họ thường đạt tới cấp chỉ huy muộn tới mức họ đã đánh mất cả tuổi thanh xuân lẫn khát vọng và chỉ để học tuân lệnh, chứ không phải để chỉ huy…”i
i. “Tháng 12 năm 1900, thời kỳ mà thuyền trưởng trẻ nhất trong Hải quân Mỹ là 55 tuổi và thời gian trung bình ở cấp bậc đó là 4,[5] năm; ở Anh thuyền trưởng trẻ nhất là 35 tuổi và thời gian trung bình ở cấp bậc đó là 11,[2] năm.” Các số liệu của Pháp, Đức, và Nhật cũng giống như của Anh. “Tình trạng này là đúng với các sĩ quan chỉ huy. Ở Mỹ thường thì họ chỉ ở cấp bậc đó trung bình 1,[5] năm trước khi nghỉ hưu”, nhưng ở Anh, Pháp, Đức và Nhật Bản là từ 6 đến 14 năm.7
Từ 1/3 đến 1/2 thời gian phục vụ của các sĩ quan cao cấp là ở trên biển, tất nhiên chủ yếu diễn ra khi ở cấp thấp hơn. Trong số 35 tướng lĩnh hải quân, chỉ khoảng một nửa đôi lúc trở lại Annapolis làm huấn luyện viên hoặc quan chức. Và một số theo các khóa sau đại học ở đó. Nhưng bí quyết cho sự lộn xộn về mặt hành chính thường làm nên đặc trưng của hải quân là dù tàu chiến, súng đạn, và hậu cần có phức tạp hơn về mặt kỹ thuật, thì người chỉ huy được thăng cấp không phải vì chuyên môn kỹ thuật mà vì thâm niên. Vì thế, thuyền trưởng trở nên hơi xa lạ với con tàu của mình và phải chịu trách nhiệm cho những vấn đề mà ông không hiểu hết. Những người đứng đầu ban bệ điều hành hải quân tiếp cận với Bộ trưởng và thường có nhiều quan hệ với giới nghị sĩ. Nhưng dù có các mối quan hệ nổi tiếng, thì chỉ có một đô đốc của giai đoạn này bước vào kinh doanh, và chỉ có hai người tham gia chính trị (địa phương).
Như vậy, nói ngắn gọn, đó là tổ chức quân sự do dân sự kiểm soát của Mỹ vào cuối thế kỷ XIX, với đội ngũ sĩ quan cao cấp bán chuyên nghiệp có các thành viên xét về tầm quan trọng không phải là tầng lớp thương gia và chính trị gia tinh hoa của Mỹ. Nhưng đây không phải là cuối thế kỷ XIX, và phần lớn các yếu tố lịch sử mà sau này đã định hình vai trò quân sự trong một quốc gia không còn ảnh hưởng dù nhỏ nhất đối với hệ thống cấp bậc quân đội cao cấp của Mỹ.
4.
Giữa thế kỷ XX, ảnh hưởng của những giá trị hòa bình và dân sự này tồn tại ở Mỹ – và cùng với chúng là sự thiếu tin tưởng và hạ thấp hiệu quả vai trò của giới quân sự chuyên nghiệp – cần được cân bằng bởi tình thế chưa từng có tiền lệ mà giới tinh hoa Mỹ bây giờ gọi là tình thế quốc gia:
1. Lần đầu tiên, giới tinh hoa Mỹ, cũng như các bộ phận công chúng bên dưới, bắt đầu nhận ra việc sống trong một khu vực có láng giềng quân sự nghĩa là thế nào, phải bộc lộ về mặt kỹ thuật trước cuộc tấn công thảm khốc trên phạm vi cả nước nghĩa là thế nào. Có lẽ họ cũng nhận ra Mỹ với tư cách một quốc gia đã có một thời gian không phải lo lắng về quân sự do biệt lập về địa lý, mở rộng và bình ổn thị trường trong nước, các nguồn tài nguyên thiên nhiên cho công nghiệp hóa, và đòi hỏi các hoạt động quân sự chỉ để chống lại một dân cư còn thô sơ về công nghệ. Tất cả giờ đây đều là lịch sử: Mỹ bây giờ là một láng giềng quân sự với Liên Xô – hoặc thậm chí hơn thế – như Đức với Pháp trong những thế kỷ trước.
2. Những ước tính cụ thể hơn, hiện đã được công khai, về hiệu quả vật chất của hệ thống vũ khí mới nhất, làm người ta lập tức hiểu ra một cách sâu sắc. Một cuộc tấn công cấp tập, không phải không có lý khi giả dụ như thế, sẽ làm khoảng 50 triệu hoặc gần 1/3 dân số thương vong.8 Việc Mỹ có thể lập tức trả đũa kẻ thù với hiệu quả tương đương hay không tất nhiên sẽ giảm bớt thiệt hại cho lãnh thổ và cư dân của mình.
Những khả năng kỹ thuật như vậy có thể được sử dụng theo kiểu chính trị và công nghiệp, hay theo nghĩa quân sự nghiêm ngặt. Giới tinh hoa Mỹ phụ trách quyết định đó đã thực hiện chúng trước hết theo nghĩa quân sự. Trong các điều kiện xác định về tình hình quốc tế, ưu thế nghiêng về phía quân sự. Kết quả là ở những giới chức cao, hiểu theo bất kỳ nghĩa nào đã được công nhận về mặt lịch sử, ngoại giao đã được thay bằng những đánh giá về khả năng chiến tranh và tính nghiêm trọng về quân sự của các mối đe dọa chiến tranh.
Hơn nữa, vũ khí mới được phát triển như một “tuyến phòng thủ đầu tiên”. Không giống hơi độc và vi trùng, nó không bị coi như một thứ dự phòng chống lại việc kẻ thù sử dụng nó, mà là thứ vũ khí tấn công quan trọng. Và chiến lược lớn được công khai ấy đã chính thức dựa trên giả định rằng những vũ khí như vậy sẽ được sử dụng trong những ngày đầu tiên của chiến tranh thông thường. Quả thực hiện nay nó là giả định phổ biến.
3. Những định nghĩa này về thực tế và hướng đi được đề xuất đã dẫn tới một đặc tính nữa về vị thế quốc tế của Mỹ: lần đầu tiên trong lịch sử Mỹ, những người cầm quyền đang nói về tình trạng “khẩn cấp” lại không thấy trước được sự kết thúc. Trong thời buổi hiện đại, và nhất là ở Mỹ, họ đã bắt đầu nhìn lịch sử như một khoảng yên bình bị chiến tranh làm gián đoạn. Nhưng hiện nay, giới tinh hoa Mỹ không có hình ảnh thực nào về hòa bình, mà chỉ là khoảng lặng tạm thời vì cả hai bên đều sợ như nhau. Kế hoạch duy nhất được nghiêm túc chấp nhận để có “hòa bình” là súng nạp đầy đạn. Tóm lại, chiến tranh hay một tình trạng chuẩn bị cao độ cho chiến tranh được cảm thấy là bình thường và đó có lẽ là tình hình thường xuyên của Mỹ.
4. Tôi sẽ đề cập đặc tính mới cuối cùng về tình hình Mỹ, như hiện nay đã chính thức được xác định, lại còn quan trọng hơn. Lần đầu tiên trong lịch sử của mình, giới tinh hoa Mỹ thấy mình phải đối mặt với khả năng có chiến tranh mà họ thừa nhận với nhau và thậm chí với công chúng, rằng sẽ không có bên tham chiến nào thắng. Họ không hình dung được “thắng lợi” nghĩa là gì, và họ không có ý kiến về con đường nào dẫn tới thắng lợi ấy. Chắc chắn các tướng lĩnh cũng không có ý kiến. Ví dụ ở Triều Tiên, thế bế tắc rõ ràng là do “sự tê liệt ý chí” của cấp lãnh đạo chính trị. Trung tá Melvin B. Voorhees báo cáo như sau từ một cuộc phỏng vấn Tướng James A. Van Fleet: “Phóng viên: ‘Thưa Trung tướng, mục tiêu của chúng ta là gì?’ Van Fleet: ‘Tôi không biết. Câu trả lời phải đến từ giới chức cao cấp hơn’. Phóng viên: ‘Thưa ông, làm sao chúng ta biết được khi nào và liệu chúng ta có chiến thắng hay không?’ Van Fleet: ‘Tôi không biết, trừ việc có người cao cấp hơn sẽ phải cho chúng ta biết’”. Một biên tập viên của tờ Time bình luận: “Câu này đã tóm tắt hai năm qua của Chiến tranh Triều Tiên”.9 Thời gian trước, giới lãnh đạo quốc gia khi chuẩn bị cho chiến tranh đã có những học thuyết về chiến thắng, các điều kiện đầu hàng, và một số trong họ ít nhất cũng tin vào các phương tiện quân sự áp đặt lên chúng. Tới Thế chiến II, mục tiêu chiến tranh của Mỹ trở nên hoàn toàn mơ hồ theo bất kỳ ý nghĩa chính trị hay kinh tế nào, nhưng vẫn có những kế hoạch chiến lược để giành thắng lợi bằng các biện pháp vũ lực. Nhưng giờ đây không có văn hóa chiến thắng. Khi các phương tiện bạo lực hiện đang tồn tại, “trả đũa ồ ạt” không phải là một kế hoạch chiến tranh hay một hình ảnh chiến thắng, mà chỉ là một cử chỉ ngoại giao bạo lực – nói theo kiểu chính trị – và là sự công nhận rằng chiến tranh tổng lực giữa hai quốc gia giờ đây trở thành những biện pháp tàn phá lẫn nhau. Lập trường này đưa tới điểm sau: với chiến tranh, mọi quốc gia đều gục ngã, vì vậy nếu cùng sợ chiến tranh thì họ sẽ sống sót. Hòa bình là nỗi sợ chung, là sự cân bằng của nỗi sợ vũ trang.
Ở thời điểm này, tôi không quan tâm đến việc bàn thảo bất kỳ định nghĩa nào về thực tế được sử dụng trong lập trường quốc gia hay chính sách của Mỹ. Nhưng xét các đặc điểm của tình hình thế giới như được chính thức nhìn nhận hiện nay, chúng ta phải nhận thức rằng chiến lược quân sự chính thống và ý kiến chuyên môn về quân sự đủ loại đã trở nên không thích hợp và sai lầm trong mọi quyết định về những công việc thế giới mà có thể đưa tới hòa bình. Rõ ràng mọi vấn đề mang tính quyết định, trong đó trước hết là các vấn đề về chiến tranh và hòa bình, giờ đây trở thành các vấn đề chính trị theo một nghĩa đầy đủ hơn trước đây. Theo quan điểm quân sự, việc NATO có 10 hay 30 sư đoàn cũng chẳng liên quan, giống như Đức cần hay không cần tái vũ trang. Do những thực tế hiện nay liên quan đến hiệu quả của chuyện ném bom tổng lực, nên các vấn đề như vậy đã không còn là những đề tài quân sự quan trọng lắm nữa. Chúng là các vấn đề chính trị liên quan đến khả năng Mỹ có đứng cùng chiến tuyến với các quốc gia châu Âu hay không.
Nhưng vì định nghĩa quân sự về thực tế chiếm ưu thế giữa những người có quyền quyết định, nên việc các tướng lĩnh và đô đốc vươn lên cao hơn trong giới tinh hoa Mỹ là hoàn toàn dễ hiểu và chính đáng, hoàn toàn thực tế và đáng ao ước. Vì vị trí quốc tế mới này của Mỹ và hoàn cảnh quốc tế mới – cả hai như giới tinh hoa định nghĩa – đã làm thay đổi tâm điểm chú ý. Việc leo lên vị trí chỉ huy được mở rộng và địa vị được tăng cường của các giới quân phiệt ở Washington là dấu hiệu rõ ràng nhất về việc mở rộng sự chú ý này. Những quyết định có hệ quả lớn nhất trở thành vấn đề quốc tế lớn. Với nhiều người trong giới tinh hoa, cũng hơi quá khi nói rằng, chính trị trong nước đã trở nên quan trọng chủ yếu như cách duy trì quyền lực ở trong nước để thực thi quyền lực của tổ chức quốc gia ở nước ngoài, chắc chắn đúng là các quyết định trong nước ở hầu hết mọi lĩnh vực đời sống ngày càng được giải thích hợp lý khi gắn liền với các mối đe dọa và cơ hội ở nước ngoài.
Đồng thời, cũng chẳng có gì lạ khi có sự cảnh báo từ các quan chức dân sự cao cấp về quyền lực đang gia tăng của giới quân phiệt. Việc cảnh báo này sẽ có trách nhiệm hơn nếu nó dẫn tới thách thức thực sự đối với định nghĩa của giới quân sự về thực tế có lợi cho hình ảnh chính trị, kinh tế, và con người trong các vấn đề thế giới. Nhưng rồi đây, việc cảnh báo về giới quân phiệt sẽ dễ dàng hơn, khi mà tất nhiên họ vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của những định nghĩa về thực tế đang chiếm ưu thế.
5.
Khi các phương tiện bạo lực của Mỹ được mở rộng và tập trung, chúng bắt đầu bao gồm một cấu trúc hành chính vô cùng phức tạp, vươn xa tới vùng bờ biển châu Á và tới cả bán đảo châu Âu với những công cụ quan sát của mình, và tới trung tâm Á-Âu với lực lượng không quân chiến lược của mình. Những thay đổi này về thiết chế và tầm với của các phương tiện bạo lực gây ra những thay đổi quan trọng không kém ở đám người thích bạo lực: giới quân phiệt Mỹ.
Biểu tượng mạnh mẽ nhất về quy mô và hình dạng của tổ chức quân sự mới này là Lầu Năm Góc.10 Cái mê cung bằng đá và xi măng cốt thép ấy chứa đựng bộ óc có tổ chức của các phương tiện bạo lực Mỹ. Capitol ở Mỹ, tòa nhà công vụ lớn nhất thế giới, có thể nằm gọn ở bất kỳ góc nào trong năm góc của nó. Ba sân bóng đá cũng chỉ bằng độ dài của một trong năm bức tường bao nơi đây. Hành lang dài 17,[5] dặm, 40.000 tổng đài điện thoại, 15 dặm ống thông gió, 2.100 điện thoại nội bộ, nối với nhau và với thế giới, với 31.300 nhân viên Lầu Năm Góc. 170 sĩ quan an ninh lảng vảng, với sự hỗ trợ của 1.000 người; có bốn nhân viên toàn thời gian không làm gì khác ngoài việc thay các bóng đèn, và bốn người khác theo dõi bảng mạch chủ đồng bộ của 4.000 đồng hồ. Phía dưới cửa sông là năm sân bóng ném và bốn sân bowling. Mỗi ngày nó thải ra 10 tấn giấy lộn không liệt vào loại mật, bán được khoảng 80.000 đô-lanăm. Nó sản xuất ba chương trình phát sóng toàn quốc mỗi tuần trong các phòng thu phát thanh và truyền hình của mình. Hệ thống liên lạc của nó cho phép bốn cuộc hội thoại nhóm cùng lúc giữa những người ở cách xa nhau như Washington, Tokyo, Berlin, và London.
Tòa nhà công vụ này, trong mê cung kiến trúc tinh vi và đông người ấy, là môi trường hằng ngày của giới quân phiệt hiện đại. Và trong số họ không thấy những chiến binh Da đỏ.
Đứng đầu bộ máy quân sự, dưới Tổng thống Mỹ và Bộ trưởng Quốc phòng do ông bổ nhiệm và đám trợ lý của ông, gồm Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân – ban chỉ huy quân sự – ngồi làm việc phía sau mấy bức tường văn phòng bằng thép. Ngay dưới nhóm này là một nhóm cao cấp gồm đám tướng lĩnh và đô đốc phụ trách các lực lượng trên bộ, trên biển, và trên không ở những nơi xa xôi phức tạp, cũng như các cơ quan liên lạc kinh tế và chính trị cần thiết để duy trì chúng và phụ trách bộ máy tuyên truyền.
Từ sau Trân Châu Cảng, trong một loạt đạo luật và chỉ thị, đã có nhiều cố gắng để thống nhất các lực lượng này lại. Kết quả của sự thống nhất ấy sẽ là việc kiểm soát dân sự dễ dàng hơn, nhưng không phải mọi thứ đều thành công. Đặc biệt là hải quân cảm thấy mình bị bỏ rơi, còn các lực lượng thì thỉnh thoảng lại qua mặt Bộ trưởng của mình để xuất hiện ở Quốc hội; thậm chí không quân đôi lúc còn giành được thắng lợi dù bị Bộ trưởng phản đối. Năm 1949, Ủy ban Hoover báo cáo rằng tổ chức quân sự thiếu quyền lực trung ương và thiếu các quy định về ngân sách, rằng nó không phải là một “đội” và mối liên kết giữa nghiên cứu khoa học và các kế hoạch chiến lược là yếu ớt. “Thiếu vắng quyền lực trung ương trong việc chỉ đạo tổ chức quân sự quốc gia, cấu trúc quy tắc cứng nhắc được xác lập theo luật, và trách nhiệm bị chia sẻ đã dẫn tới kết quả là thất bại khi khẳng định quyền kiểm soát dân sự rõ ràng đối với các lực lượng vũ trang.”11
Ở cấp cao nhất của giới dân sự và quân sự, kể từ Thế chiến II đã có những thay đổi nhân sự sâu rộng, mặc dù các kiểu người vẫn không thay đổi nhiều.12 Bộ trưởng có thể là một chính trị gia, một người môi giới, một vị tướng, một chủ ngân hàng, một giám đốc điều hành công ty. Trực tiếp tiếp xúc với các kiểu người này có bốn người cấp cao nhất “đều thuộc giới quân sự”.i Theo quan điểm của giới quân sự, có lẽ người thuộc phe dân sự lý tưởng ở vị trí cao nhất là người sẽ phải đối diện với Quốc hội nhưng lại sẵn sàng thực hiện quyết định của phe quân sự. Nhưng đây không phải kiểu người luôn chiếm ưu thế. Ví dụ, gần đây Bộ trưởng Hải quân đã loại một đô đốc khỏi vị trí cao cấp vì lý do “khác biệt chính sách”.14 Rõ ràng là có căng thẳng, người ở cả hai phía, giống như mọi người, ở mức độ nào đó đều là tù nhân của quá khứ của họ.
i. Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, Đô đốc Arthur W. Radford, là con trai của một kỹ sư dân sự; Tham mưu trưởng Hải quân, Đô đốc Robert B. Carney, là con trai của một chỉ huy hải quân; Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Matthew B. Ridgway, là con trai của một sĩ quan quân đội thường trực; và Tham mưu trưởng Không quân, Tướng Nathan F. Twinning, có hai người em từng học ở Annapolis.13
Tất nhiên, có những nhóm quân sự cao cấp có nhiều liên hệ đa dạng với nhau cũng như với giới làm chính sách và các nhóm dân sự. Những liên hệ này trở nên rõ ràng khi các căng thẳng được che giấu biến thành các tranh cãi công khai – như khi McArthur bị gạt khỏi bộ chỉ huy miền Đông. Vào lúc đó, ngoài trường phái Á châu Trên hết của McArthur đã bị giảm bớt ảnh hưởng, còn có trường phái Marshall dành ưu tiên cho châu Âu. Còn có nhóm Eisenhower-Smith có ảnh hưởng lớn nhưng không chỉ huy quân đội, và một nhóm chi phối nhưng không nắm quân đội là đội Bradley-Collins.15i Và cũng có sự chia rẽ khá chuẩn mực giữa những người cảm thấy cần phải phục vụ “lực lượng vũ trang thực sự chuyên nghiệp” do các sĩ quan đã qua chiến đấu chỉ huy và những người cảm thấy vui hơn về sự vươn lên của “các chuyên gia” mới và đội ngũ nhân viên.17
i. Ví dụ, Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân được bổ nhiệm vào năm 1953 đều nắm giữ các vị trí chỉ huy quan trọng ở Thái Bình Dương, và một số người cảm thấy mình thiên về châu Á hơn là những người thiên về châu Âu mà họ thay thế là Bradley, Collins, Vandenberg và Fechteler. Tất cả họ cũng được đưa tin là ủng hộ phe chiến thuật chiến tranh không quân hơn là phe chiến lược – ít ra họ không phải là những người chỉ thích sử dụng không quân “ném bom ồ ạt”. Trên thực tế, Đô đốc Radford với tư cách chỉ huy trưởng hạm đội Thái Bình Dương đã đứng đầu “cuộc nổi loạn của các đô đốc” chống lại việc sử dụng B-[36] trong cuộc tranh cãi ngân sách năm 1949.16
Khi quyền lực của phe quân sự tăng, sự căng thẳng giữa các nhóm có lẽ sẽ phát triển, mặc dù “thống nhất” tất nhiên không có nghĩa là trọn vẹn. Khi giới quân sự là một thiểu số chiến đấu vì sự sống còn, nhiều khả năng họ sẽ liên kết với nhau hơn so với khi họ là những thành viên chiếm ưu thế trong giới tinh hoa quyền lực, vì khi ấy không còn là vấn đề sống còn mà là mở rộng.
Đầu thế kỷ XX, hệ thống dân quân được tập trung hóa, và giờ đây các hệ thống vũ khí đã phát triển tới mức súng trường chỉ còn là thứ đồ chơi. Vũ trang cho công dân hiện nay thuộc một tổ chức có kỷ luật dưới sự kiểm soát tập trung chặt chẽ, còn các phương tiện trấn áp bạo lực bất hợp pháp tăng lên. Kết quả là những người ngoài giới quân sự đều bó tay về mặt quân sự. Nhưng đồng thời, hầu như toàn bộ cư dân đều can dự vào chiến tranh như lính tráng hoặc dân sự, có nghĩa là họ bị kiểm soát trong một nhóm mà đứng đầu là giới quân phiệt của Washington.
6.
Gần đây nhất, một trận đụng độ nhỏ giữa các tướng lĩnh hoặc đô đốc thời hiện đại là lần đi săn vịt trời ở công ty của các giám đốc điều hành tại cuộc rút lui của Continental Motors, Inc. Trên thực tế, một công ty bảo hiểm “đã bảo hiểm 15 năm cho các sĩ quan từng tham gia Thế chiến II… và sống sót… trong Chiến tranh Triều Tiên; tỉ lệ tử vong của các sĩ quan đang phục vụ trong vùng chiến sự được hưởng chính sách này còn thấp hơn tỉ lệ bình quân của toàn ngành công nghiệp”.18 Một thực tế nữa là các nghiên cứu của Thiếu tướng S. L. A. Marshall cho thấy rằng trong bất kỳ hoạt động nào của Thế chiến II, có lẽ chưa tới 25% số binh lính ở vị trí chiến đấu đã thực sự nhắm vào địch bóp cò súng.19
Tướng lĩnh và đô đốc là các giám đốc điều hành chuyên nghiệp hơn là kế thừa hình ảnh người lính chiến thường thấy. 2/3 số tướng lĩnh cao cấp của năm 195020 đã tốt nghiệp West Point (tất cả đô đốc của năm 1900 và 1950 đều tốt nghiệp Học viện Hải quân); hầu hết phục vụ trong Thế chiến I, và phần lớn sống qua thời kỳ hòa bình chống lại giới quân sự nói chung vào những năm 1920 và 1930, xin trợ cấp, phản đối việc buộc tội họ buôn bán cái chết. Treo lơ lửng trên đầu họ là hình ảnh còn tươi rói của Pershing.
Trong những năm chiến tranh, chẳng có gì thực sự xảy ra trong đời binh nghiệp của họ. Theo một cách nào đó, nó giống như một bác sĩ sống trong đời mà không gặp bệnh nhân, vì thực ra giới quân sự không được kêu gọi thực thi kỹ năng chuyên môn của mình. Nhưng họ có lực lượng. Có lẽ đó là bằng chứng cho sự phát triển của họ trong những giai đoạn ấy: ở họ là mong muốn mãnh liệt để thích nghi với kiểu người của mình, để không bị khác biệt, để không bị mất vị thế trước cấp dưới, và trên hết, để không cho mình quyền đảo lộn sự sắp xếp của hệ thống chỉ huy – tất cả đã bám rễ quá sâu khó mà tìm ra. Quan trọng là những người ở trên họ không thể tìm được bất kỳ điều gì để chống lại họ; và ở trong nước lẫn ngoài nước, cuộc sống của người lính chuyên nghiệp diễn ra tại các khu vực nhỏ bé của riêng họ, hoàn toàn biệt lập với đời sống kinh tế và chính trị của đất nước. Trong sự thiếu tin tưởng của giới dân sự đang thắng thế, giới quân sự được cho là “đứng ngoài chính trị”, và dường như họ hầu hết đều vui lòng làm vậy.
Đời binh nghiệp của sĩ quan trong chiến tranh xoay quanh cấp bậc của họ. Để tới cấp đại tá, việc thăng cấp phụ thuộc vào thâm niên, và trước mắt họ là “một đống người” – có tới 4.000–5.000 sĩ quan, phần lớn được phong hàm trong Thế chiến I. Bởi đống người này mà một người phải mất “22 năm để leo từ thiếu úy lên đại úy”. Anh ta “khó lòng hy vọng leo lên cấp đại úy trước tuổi 50”.21
Đời sống xã hội của sĩ quan thời chiến cũng xoay quanh cấp bậc của anh ta. Đối với thế giới dân sự, cũng như giữa những người không được đánh giá cao, có sự nhìn nhận căng thẳng về cấp bậc. Khi nhắc về giai đoạn đó, vợ của Tướng George C. Marshall nhớ lại nhận xét của vợ một sĩ quan: “Ở một tiệc trà như thế này thì bạn phải luôn đề nghị rót cà phê, chứ không phải trà cho vợ của sĩ quan cao cấp nhất, [vì] cà phê cao hơn trà”. Bà cũng nhớ về cuộc sống của đại tá ở doanh trại, như bà đã nói ở đâu đó, khi quân đội bị sức ép ngân sách thì các thông lệ bị cắt bớt. “Khu chúng tôi ở Pháo đài Moultrie không phải là nhà, mà là khách sạn. Nơi ở này từng được Pháo binh Bờ biển xây dựng trong những ngày êm ả, nhưng bây giờ nơi này cần phải sửa chữa nhiều. Nó có 42 cửa ra vào kiểu Pháp dẫn tới các hành lang bên dưới và bên trên, trải rộng ra cả ba phía.” Và khi Marshall trở thành một vị tướng, “đỗ trước căn nhà là một chiếc ô tô Packard mới rất đẹp thay cho chiếc Ford nhỏ. Nên ông ấy sướng run vì được lên tướng, vì vào lúc suy thoái thì một chiếc Packard thực sự là một thứ tuyệt vời. Tôi choáng ngợp vì vui mừng”.22
Phu nhân của một đại tá khác nhớ lại trật tự cấp bậc giữa các bà vợ: “Khi có người gợi ý về việc lựa chọn một ủy ban để mua sách, vợ của bác sĩ, biết điểm yếu của tôi, bèn gợi ý tên tôi, nhưng vợ của đại tá đã chỉ định ba phu nhân đang có mặt có chồng cao cấp nhất”. Và bà cũng nhớ cuộc sống ở nước ngoài của những nhân vật quân sự cao cấp hơn. “Ở Trung Quốc, đội nhân viên của chúng tôi gồm năm người… Việc đóng băng tiền lương [trong thời kỳ suy thoái], cắt bỏ tăng lương định kỳ này ảnh hưởng tới các sĩ quan cấp thấp hơn là sĩ quan cấp cao. Không vị tướng nào bị ảnh hưởng, trừ một đô đốc duy nhất. Việc cắt giảm 75% trong quân đội ảnh hưởng tới các trung úy, đại úy, chuẩn úy và hộ lý.”23 Chính trong thời chiến mà Trung tá Eisenhower đã gặp Mamie Doud, có người cha đủ giàu để lui về sống nhàn nhã ở Denver vào tuổi 36 và cùng với gia đình nghỉ đông ở San Antonio.
Vào năm 1953, có thông tin là “một sĩ quan chuyên nghiệp điển hình ở tuổi 45 hoặc 50 có thể tích lũy được tới 50.000 đô-la tiền bảo hiểm qua các năm”.24 Và về cuộc sống của sĩ quan hải quân thời chiến, người ta nói: “Các chuyến hải hành mùa hè thật hào hứng, và quân hàm vạch vàng cùng những đặc quyền của đời sống thượng lưu làm bạn bắt đầu cảm thấy hơn người. Và bạn… học cách ứng xử tốt, tới thăm nhà bạn cùng phòng ở Philadelphia vào một kỳ nghỉ Giáng Sinh, lần đầu tiên nếm trải mùi vị của sự nuông chiều xã hội dành riêng cho những chàng hải quân trẻ… bạn lắng nghe rất nhiều bài thuyết giảng cảnh báo bạn đừng coi mình cao hơn một người giới dân sự dù bạn cảm thấy mình thực sự ở bên trên, nhưng sẽ không lịch sự khi để người khác thấy bạn nghĩ như thế”.25
Nhưng điều này ở Mỹ lại thường không đúng, như Veblen đã nói, vì “chiến tranh là vinh quang, nên lòng dũng cảm kiểu chiến tranh là đáng kính”.26 Nó cũng không đúng với việc các sĩ quan quân đội thường xuất thân từ, hoặc trở thành, thành viên của tầng lớp nhàn tản của Veblen.i
i. “Trong khi thực tế thì sĩ quan quân đội được trả lương cao hơn những người khác trên thế giới”, người ta tuyên bố chắc nịch vào năm 1903, “nhưng tiền bạc không thuyết phục được mọi người theo đuổi binh nghiệp. Nếu họ không có các nguồn thu nhập bên ngoài, họ sẽ phải sống bằng đồng lương; 60% hoặc hơn không có thu nhập ngoài lương (chỉ 40% có)… Vinh dự nhất có lẽ là được làm tùy viên quân sự của một phái bộ Mỹ ở nước ngoài… Các sĩ quan chấp nhận những vị trí đó thường có nguồn thu nhập ngoài lương, hoặc thu nhập thông qua các mối quan hệ gia đình.”27
Điều này đúng với hải quân hơn là lục quân – không quân còn quá mới mẻ cho những sự kiện như vậy. Nhìn tổng thể, các sĩ quan cao cấp của lục quân và hải quân có số người thuộc tầng lớp thượng lưu nhiều hơn các tầng lớp thực sự cao hơn hoặc thấp hơn. Chỉ một tỉ lệ rất nhỏ có nguồn gốc xuất thân từ tầng lớp lao động. Họ là con cái của những nhà chuyên môn, doanh nhân, nông dân, quan chức nhà nước, và người trong quân đội. Đại đa số họ là Tin Lành, chủ yếu là Trưởng lão hoặc Tân giáo. Rất ít người trong họ có cấp bậc cao.28
Và với hầu hết họ hôm nay, Thế chiến II là sự kiện then chốt. Nó là then chốt của binh nghiệp hiện đại và của môi trường chính trị, kinh tế, và xã hội trong đó binh nghiệp diễn ra. Những người trẻ hơn trong số những người có cấp bậc cao nhất hiện nay thấy con đường thăng tiến khi thực hiện nhiệm vụ chiến đấu ở cương vị chỉ huy trung đoàn hay sư đoàn, còn những người nhiều tuổi hơn nhanh chóng thăng tiến trong những lần mở rộng lực lượng đã leo lên các vị trí chỉ huy cao nhất ở trong nước và nước ngoài.
7.
Nguồn gốc xã hội và nền tảng gia đình trước đây ít quan trọng đối với đặc điểm của người trong quân đội chuyên nghiệp hơn là đối với loại có địa vị xã hội cao hơn. Việc đào tạo đô đốc hay tướng lĩnh tương lai bắt đầu từ sớm, vì thế đã được xác định chắc chắn, và thế giới quân sự mà anh ta bước vào là vô cùng rộng lớn, tới mức lối sống của anh ta đều xoay trong phạm vi của nó. Ở mức độ mà các điều kiện này tồn tại, dù anh ta là con của một thợ mộc hay một triệu phú cũng không quan trọng lắm.
Tất nhiên cũng đừng đẩy điều này đi quá xa. Mặc dù quân sự là đủ loại hành chính giấy tờ nhất trong giới tinh hoa Mỹ, nhưng nó không hoàn toàn quan liêu, và so với mọi tình trạng quan liêu, thì các mức cao hơn của nó vẫn còn ở dưới mức thấp hoặc mức trung bình. Tuy nhiên, khi chúng ta xem xét binh nghiệp, có một thực tế dường như gần tới mức không cần tìm đâu xa. Thực tế là đối với phần lớn nghề nghiệp của mình, các đô đốc và tướng lĩnh đã theo một khuôn mẫu hoàn toàn nhất quán và được sắp đặt từ trước. Một khi chúng ta biết những nguyên tắc cơ bản và các giai đoạn mấu chốt của tiêu chuẩn được chuyên môn hóa này về nghề nghiệp, thì chúng ta cũng biết nhiều như khi chúng ta có thể biết từ những số liệu chi tiết về nhiều nghề khác.
Thế giới quân sự lựa chọn và tập hợp những người sẽ là một phần đội ngũ chuyên nghiệp của nó. Sự khởi đầu rất nặng ở West Point hay Học viện Hải quân – và ở mức thấp hơn trong quân ngũ khi huấn luyện cơ bản – cho thấy cố gắng đập bỏ những giá trị và nhạy cảm dân sự ngay từ sớm, để dễ dàng cấy một cấu trúc tính cách hoàn toàn mới vào họ như có thể.
Đây là cố gắng phá bỏ độ nhạy cảm có từ trước ẩn sau hành động “đập vỡ” tính cách của người mới tuyển và giao cho anh ta vị trí rất thấp trong thế giới quân đội. Anh ta sẽ buộc phải quên đi phần lớn nhân dạng cũ của mình để có thể hiểu về chính mình trong vai trò quân đội. Anh ta bị tách khỏi đời sống dân sự cũ để có thể sẵn sàng thay đổi những giá trị cao nhất cho hoàn toàn phù hợp với thực tế quân sự, chấp nhận sâu sắc nhãn quan quân sự và hiểu được lòng tự hào khi thành công trong nhóm và trong điều kiện của nó. Lòng tự trọng của anh ta trở nên hoàn toàn phụ thuộc vào lời khen ngợi mà mình nhận được từ đồng đội và cấp trên trong hệ thống chỉ huy. Vai trò quân đội của anh ta và thế giới mà nó là một bộ phận trong đó được giao phó cho anh ta như một trong những tầng lớp cao hơn của quốc gia. Có một sự nhấn mạnh vào toàn bộ các nghi thức xã hội, và theo nhiều cách khác nhau chính thức cũng như phi chính thức, anh ta được khuyến khích hò hẹn với các cô gái có địa vị cao hơn thay vì thấp hơn. Anh ta sẽ phải cảm thấy mình đang bước vào một lĩnh vực quan trọng của các tầng lớp cao hơn trong đất nước, và do đó cách nhìn nhận mình như một người tự tin dựa vào quan niệm của anh ta về bản thân như một thành viên trung thành của một tổ chức có thế lực. Công việc “giáo dục” thường lệ này ở Mỹ so với giới quân sự là công việc ở các trường tư của tầng lớp thị dân 400, và chúng không được đánh giá theo kiểu của bên quân sự.29
West Point và Annapolis mới là điểm bắt đầu của giới quân phiệt, và mặc dù nhiều nguồn tuyển mộ và những cách huấn luyện khác đã phải sử dụng trong các tình huống khẩn cấp về mở rộng, chúng vẫn là nơi huấn luyện giới tinh hoa của các lực lượng vũ trang.30 Hầu hết các tướng lĩnh cao cấp và mọi đô đốc của hôm nay đều học ở West Point và Annapolis, và họ rõ ràng cảm nhận được điều đó. Trên thực tế, nếu không có suy nghĩ về sự tồn tại này giữa chúng, thì các thiết chế lựa chọn tính chất và việc hình thành nhân cách sẽ phải coi là thất bại.
Suy nghĩ về đẳng cấp của giới quân sự là một đặc tính cơ bản của đội ngũ sĩ quan thực sự chuyên nghiệp, kể từ Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ, đã thay thế cho hệ thống chính trị quân sự phi tập trung và đôi chút địa phương cũ. Như Đại úy Hải quân L. M. Nulton đã viết: “Mục tiêu là hạm đội, học thuyết là trách nhiệm, và vấn đề là hình thành tính cách quân sự”.31 Hồi đầu khi phần lớn các đô đốc ngày nay là từ Annapolis, Tư lệnh Ralph Earle đã khẳng định: “Kỷ luật của Học viện Hải quân minh họa rõ nguyên tắc là kỷ luật của mỗi cộng đồng, đơn giản nghĩa là sống có tổ chức. Nó là điều kiện để sống cho đúng, vì nếu sống không văn minh thì không thể tồn tại. Con người sống không đúng thì buộc phải sống cho đúng, và đối với những cá nhân lầm đường ấy phải có những kiềm chế đúng chỗ. Đối với những người này, kỷ luật bao giờ cũng nặng, hoặc là một hình thức trừng phạt. Chắc chắn nó phải là như vậy. Thế giới sẽ tốt hơn nếu những cá nhân đó buộc phải cảm nhận được nắm đấm tàn bạo, không khoan nhượng, và cứng rắn để loại họ khỏi một tổ chức mà họ không có quyền tham gia”.i
i. Ông thêm: “Vào chủ nhật, bắt buộc phải dự lễ nhà thờ… (nó sẽ giúp) anh ta nhận thức được rằng mình không chỉ là một cá nhân mà còn là thành viên của một tổ chức mà anh ta tận tâm dâng hiến, như thấy rõ trong lời cầu nguyện của anh ta cho các bạn đồng ngũ trong hạm đội, trong lời cầu nguyện cho các thành viên đồng ngũ ở Học viện, cả hai anh ta đều nghe mỗi sáng chủ nhật…”32
Thế giới quân sự dựa nhiều vào cư dân bởi nó lựa chọn những người được tuyển mộ một cách cẩn thận và đập bỏ những giá trị mà họ có trước đây; nó tách họ khỏi xã hội dân sự và tiêu chuẩn hóa nghề nghiệp và thái độ của họ trong suốt cuộc đời. Trong phạm vi thế giới nghề nghiệp này, rõ ràng toàn bộ lối sống được phát triển dưới một hệ thống kỷ luật bao gồm nhiều mặt. Thấm nhuần trong những thang bậc hành chính mà anh ta sống, và từ đó anh ta rút ra được đặc điểm và hình ảnh của bản thân, người trong quân ngũ thường đắm mình trong đó, hoặc thậm chí còn ngập chìm trong nó như một người giới dân sự. Là một sinh vật xã hội, anh ta gần đây thường bị tách biệt với những lĩnh vực khác trong đời sống Mỹ; và như một sản phẩm tri thức của hệ thống giáo dục, với kinh nghiệm bản thân được kiểm soát bởi quy tắc và nhiều công việc, anh ta đã bị nhào nặn thành một kiểu rất nhất quán.
Hơn bất kỳ sinh vật nào trong giới cao cấp hơn, giới quân phiệt hiện đại, ở cấp hai sao hoặc hơn, giống nhau cả bên trong lẫn bên ngoài. Bên ngoài, như John P. Marquand đã nhận xét,33 quân phục của họ hình như thường gồm cả mặt nạ, và chắc chắn có những biểu hiện điển hình. Miệng mím chặt, mắt thường nhìn thẳng không chớp, và luôn có khuynh hướng không biểu lộ cảm xúc; lưng thẳng, vai ngang, và giữ bước đi đúng nhịp. Họ không bước nhẹ nhàng, mà sải dài. Bên trong, ở mức độ mà toàn bộ hệ thống huấn luyện cách sống đã thành công, họ cũng rất giống nhau trong phản ứng và cách nhìn nhận. Người ta nói họ có “đầu óc quân sự” không phải là nói vu vơ: nó cho thấy sản phẩm của sự huấn luyện chuyên sâu kiểu bàn giấy; nó cho thấy những kết quả của một hệ thống lựa chọn chính thức, kinh nghiệm, tình bằng hữu, và những hoạt động chung – tất cả gói gọn trong các công việc thường ngày giống nhau. Nó cũng cho thấy thực tế kỷ luật – nghĩa là tuân thủ ngay lập tức và đúng bài bản trong hệ thống chỉ huy. Đầu óc quân sự cũng cho thấy việc chia sẻ một nhãn quan chung mà cơ sở là định nghĩa về thực tại theo lối siêu hình như là thực tế quân sự cơ bản. Thậm chí trong lĩnh vực quân sự, đầu óc này không tin “những lý thuyết gia” chỉ vì họ có xu hướng khác: suy nghĩ kiểu bàn giấy mới là suy nghĩ đúng trình tự và cụ thể.
Việc leo cao thành công trên thang bậc quân sự mà họ coi trọng hơn mọi thứ đã làm giới quân phiệt thành công thêm tự tin. Sự bảo vệ quanh các vị trí cao nhất của họ thậm chí càng khiến họ yên tâm và tin tưởng. Nếu mất tin tưởng vào chính mình thì họ sẽ còn mất gì nữa? Trong một lĩnh vực hạn hẹp của cuộc sống, họ thường rất có năng lực, nhưng với họ, về mặt trung thành có kỷ luật, lĩnh vực này mới là lĩnh vực duy nhất của cuộc sống thực sự đáng sống. Họ nằm trong một bộ máy với những ưu tiên và đặc quyền theo thang bậc, ở đó họ an toàn về kinh tế và không phải lo nghĩ. Mặc dù thường không giàu, nhưng họ chẳng bao giờ phải đối mặt với những mối nguy hiểm khi phải kiếm sống theo cái cách giống như những người trung lưu và thấp hơn phải làm. Thang bậc theo trình tự của hệ thống chỉ huy, như chúng ta đã thấy, được đưa vào đời sống xã hội của họ: cố gắng để có vị trí, vì họ biết là trong phạm vi thang bậc địa vị rõ ràng và được tổ chức chặt chẽ, mỗi người đều biết rõ vị trí của mình và hành động trong phạm vi ấy.
Trong thế giới quân sự này, tranh luận không hẳn là quan trọng hơn thuyết phục: một người tuân thủ và một người ra lệnh, và thậm chí các vấn đề không quan trọng sẽ chẳng cần bỏ phiếu để quyết định. Vì thế, cuộc sống trong thế giới quân sự ảnh hưởng tới suy nghĩ và quan điểm của họ về các thiết chế khác, cũng như về thiết chế của chính họ. Giới quân phiệt thường coi các thiết chế kinh tế như các phương tiện cho sản xuất quân sự và các tập đoàn khổng lồ như một dạng cơ sở quân sự được điều hành kém cỏi. Trong thế giới của ông ta, lương được cố định, các nghiệp đoàn không thể thành lập. Ông ta coi các thiết chế chính trị như các trở ngại, thường xuyên tham nhũng và kém hiệu quả, đầy những sinh vật vô kỷ luật và thích gây chuyện. Và có phải ông ta rất không vui khi nghe nói giới dân sự và chính trị gia tự biến mình thành kẻ ngốc?
Chính những người với đầu óc và nhãn quan được hình thành bởi các điều kiện như vậy đã bắt đầu chiếm giữ những vị trí có tầm quyết định quan trọng ở Mỹ sau chiến tranh. Không thể nói – như sẽ được làm rõ ngay bây giờ – rằng họ cần phải tìm kiếm những vị trí mới; phần lớn tầm vóc ngày càng tăng của họ đến từ phẩm chất mặc định ở một bộ phận thuộc giới dân sự chính trị. Nhưng có lẽ, có thể nói như C. S. Forester khi nhận xét trong một liên hệ tương tự, rằng cần có những người không có trí tưởng tượng sinh động để thi hành các chính sách không cần tưởng tượng của một giới tinh hoa không có óc tưởng tượng.34 Nhưng cũng phải nói rằng, về quan niệm của Tolstoy về một vị tướng nơi trận mạc – như một người xây dựng lòng tin giả vờ như ông ta biết cuộc chiến hỗn loạn này là về cái gì, chúng ta phải thêm vào hình ảnh của vị tướng như một người quản lý quân lính và các bộ máy mà bây giờ trở thành các phương tiện bạo lực được khuếch đại vô cùng.
Trái với sự nghiệp và hoạt động diễn ra trong giai đoạn giữa hai cuộc Thế chiến, giới quân phiệt thời hậu Thế chiến II, ứng viên cho vị trí cao cấp nhất, sẽ phải thực hiện một chuyến công du quan trọng ở Lầu Năm Góc, nơi mà các cấp trung bình và thấp hơn luôn có cấp trên theo dõi, và là nơi mà phe dân sự và quân sự chóp bu nhòm ngó lẫn nhau. Một trung tá quân đội hoặc một chỉ huy hải quân ở tuổi 30 có lẽ sẽ nhảy cóc bằng mọi giá vào một vị trí ở Lầu Năm Góc hoặc rất gần. Ở đây, giống như một bánh răng trong một cỗ máy phức tạp, anh ta có thể lọt vào tầm ngắm của những người có thế lực, có thể được chọn vào vị trí tham mưu và sau đó trở thành chỉ huy. Vì vậy, trước kia, George C. Marshall đã gây ấn tượng với John J. Pershing; Forrest Sherman gây ấn tượng với Chester W. Nimitz; Lauris Norstad với Hap Arnold; Alfred M. Gruenther với Eisenhower; và Cortlandt Van R. Schuyler với Gruenther.
Giới quân phiệt tương lai sẽ làm gì ở Lầu Năm Góc, nơi dường như có nhiều đô đốc hơn lính hải quân, nhiều tướng lĩnh hơn thiếu úy? Ông ta sẽ không chỉ huy quân, hoặc thậm chí đôi lúc không có lấy một thư ký. Ông ta sẽ đọc các báo cáo và tóm tắt chúng như mấy bản ghi nhớ nội bộ; ông ta sẽ dùng các thẻ màu dán vào tập tài liệu – đỏ cho khẩn cấp, xanh cho hỏa tốc, vàng cho làm ngay. Ông ta sẽ phục vụ ở một trong 232 ủy ban. Ông ta sẽ chuẩn bị thông tin và ý kiến cho những người ra quyết định, cẩn thận quán xuyến việc cấp trên Đồng ý. Ông ta sẽ cố để được biết đến như một “người nổi bật”, và thậm chí giống trong thế giới công ty, như một người trẻ tuổi thông minh của ai đó. Và khi ở giữa những mê cung bàn giấy, ông ta sẽ cố sống theo sách (Standard Operating Procedure [Các thủ tục hành động tiêu chuẩn]) nhưng biết cần giải thích câu chữ của nó đến đâu để là một người xử lý công việc, một người điều hành, mà ở mức độ thấp hơn có thể có một thư ký nữa cho văn phòng mình, và ở mức độ cao hơn có thêm một phòng làm việc. Những hoạt động của giới quân phiệt vẫn ở mức độ cao mà tiếp đây chúng ta sẽ nghiên cứu.