Giới Tinh Hoa Quyền Lực

Lượt đọc: 104 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5 - Nhóm Rất Giàu

❊ ❊ ❊

H

iện nayi, nhiều người Mỹ nghĩ rằng khối của cải khổng lồ của nước Mỹ đã được tích lũy từ trước Thế chiến I, hoặc chí ít cũng đã vỡ vụn trong cuộc sụp đổ năm 1929. Người ta cho rằng có lẽ trừ Texas, thì chẳng nơi nào còn nhóm rất giàu, và ngay cả nếu có đi nữa, họ cũng chỉ đơn giản là những người được thừa kế đã già chuẩn bị chết, để lại hàng triệu đô-la cho nhân viên sở thuế hoặc quỹ từ thiện được ưa thích. Ngày xưa ở Mỹ từng có tầng lớp giàu có như trong cổ tích; bây giờ thời ấy đã qua và mọi người đều chỉ là tầng lớp trung lưu.

i. Thời điểm tác giả viết tác phẩm này. (BT)

Những ý niệm như vậy không hoàn toàn chính xác. Là cỗ máy sinh ra các triệu phú, chủ nghĩa tư bản Mỹ ở trạng thái tốt hơn những gì chủ nghĩa bi quan yếu ớt đưa ra. Tầng lớp giàu có đậm màu cổ tích, cũng như các triệu phú đúng nghĩa, vẫn đang ở ngay giữa chúng ta; hơn nữa, từ khi Mỹ chuẩn bị cho Thế chiến II, những loại “người giàu” mới với các kiểu quyền lực và đặc quyền mới đã gia nhập hàng ngũ của họ. Họ cùng tạo nên giới điều hành giàu có của Mỹ mà của cải và quyền lực hiện nay có thể sánh với của cải và quyền lực của bất kỳ tầng lớp nào, ở bất kỳ đâu, vào bất kỳ thời gian nào trong lịch sử thế giới.

1.

Kể cũng vui khi quan sát thế giới học giả đã thay đổi cách nhìn của họ như thế nào về giới làm ăn lớn mà nhóm rất giàu là một bộ phận trong đó. Khi những người có thế lực lớn lần đầu tiên bị phát hiện, cánh báo chí soi mói đã có bản sao của mình trên sách báo hàn lâm; suốt những năm 1930, các Ông trùm Cướp bóci lao vào mấy chuyện làm ăn bỉ ổi, tác phẩm dài dòng của Gustavus Myers trở thành cuốn sách ăn khách nhất của Modern Library, còn lời của Matthew Josephson và Ferdinand Lundberg thì được trích dẫn. Ngay cả bây giờ, với xu hướng bảo thủ sau chiến tranh, các ông trùm cướp bóc đang biến thành giới chính khách công nghiệp. Những công ty lớn của họ, rất ý thức được việc quảng bá, đã cho viết về quá trình học tập của họ, và những hình ảnh đầy màu sắc của cánh có thế lực lớn đang biến thành hình ảnh của vị anh hùng xây dựng kinh tế, tất cả đều được hưởng lợi từ các thành tựu to lớn của ông, và từ nhân cách của ông, giám đốc điều hành công ty mượn quyền điều hành cùng những suy nghĩ đúng đắn, vững vàng và có lý của ông về việc phải làm như vậy. Cứ tựa như các nhà viết sử không thể ghi nhớ trong đầu lịch sử dài hàng trăm mét, mà chỉ cẩn thận nhìn chúng qua các lăng kính chính trị của mọi chính quyền.

i. Nguyên văn: “Robber Baron”, cách các nhà phê bình xã hội mỉa mai ẩn dụ dành cho giới doanh nhân Mỹ cuối thế kỷ XIX, những người bất chấp thủ đoạn để làm giàu. (BT)

Hiện nay cũng như trước đây, thường có hai cách giải thích được phổ biến rộng rãi về những người rất giàu. Cách thứ nhất, có nguồn gốc từ sự soi mói, được Gustavus Myers diễn tả rõ nhất; tác phẩm của ông là lời giải thích đầy đủ chi tiết kiểu mô phạm cho nhận định của Balzac là đằng sau mỗi tài sản lớn đều là một tội ác. Những ông trùm kẻ cướp, như cách gọi các tỉ phú thời hậu Nội chiến, đổ bộ vào đầu tư công hệt như đám phụ nữ tràn vào tầng hầm bán đồ hạ giá vào sáng thứ bảy. Họ khai thác tài nguyên quốc gia, tiến hành các cuộc chiến tranh kinh tế với nhau, cùng kết hợp với nhau, kiếm được tiền riêng từ lĩnh vực công, và sử dụng mọi cách để đạt được mục đích của mình. Họ thỏa thuận với ngành đường sắt để được giảm giá; họ mua đứt các tờ báo mới và biên tập viên; họ bóp chết các doanh nghiệp cạnh tranh độc lập, và thuê các luật sư có tiếng về kỹ năng và tài ăn nói để bảo vệ quyền lợi và đặc quyền của mình. Có gì đó thật đáng sợ về mấy vị chúa sáng thế này; việc gọi họ là những ông trùm kẻ cướp không đơn thuần là mỹ từ. Có lẽ chẳng có cách làm kinh tế ngay thẳng nào để kiếm được 100 triệu đô-la cho chi dùng cá nhân; dù tất nhiên là trong khi tiến hành, những cách không ngay thẳng sẽ do người khác thực hiện và tay của kẻ biển thủ vẫn được giữ sạch. Nếu toàn bộ số tiền lớn không phải là tiền dễ kiếm, thì mọi đồng tiền dễ kiếm mà an toàn đều là lớn. Vì thế sẽ tốt hơn cho hình ảnh của họ khi kiếm một xu từ mỗi người trên tổng số 10 triệu người của công ty còn hơn là 100.000 đô-la từ mỗi ngân hàng trên tổng số 10 ngân hàng với một khẩu súng. Nó cũng an toàn hơn.

Các hình ảnh khó coi như thế về những người giàu kếch xù thường bị thách thức, không hẳn trên cơ sở sai lầm nào đó trong những việc được đưa ra, mà trên cơ sở chúng là kết quả của các dự báo từ góc độ pháp lý, đạo lý, nhân cách, và cách đánh giá thích hợp hơn có lẽ là phải xem xét chức năng kinh tế mà các ông trùm giàu có thực hiện ở thời điểm và địa điểm của mình. Theo quan điểm này, vốn đã được Joseph Schumpeter tóm tắt rõ nhất, những người có tài sản khổng lồ được xem là những người đứng ở tâm điểm của “cơn gió cải cách bất diệt” quét qua thời hoàng kim của chủ nghĩa tư bản. Bằng sự nhạy bén cá nhân và nỗ lực phi thường, họ đã tạo ra và kết hợp các doanh nghiệp tư nhân, trong đó nổi bật là các kỹ thuật công nghệ và tài chính mới hoặc những cách sử dụng mới thay cho cách cũ. Những kỹ thuật này và các hình thức xã hội mà chúng mang lại chính là động cơ thúc đẩy sự tiến bộ tư bản chủ nghĩa, và những ông trùm lớn mà đã tạo ra và chỉ huy chúng là những người giữ nhịp cho bước đi tư bản chủ nghĩa. Bằng cách này, Schumpeter kết hợp lý thuyết về tiến bộ tư bản với lý thuyết về phân tầng xã hội để giải thích, và thực tế là để kỷ niệm “sự phá hủy sáng tạo” của các doanh nhân lớn.1

Những hình ảnh trái ngược này – kẻ cướp và nhà cải cách – không nhất thiết mâu thuẫn nhau: cả hai phần nhiều đều có thể là đúng, vì chúng khác biệt chủ yếu ở bối cảnh những người nắm giữ chúng lựa chọn cách đánh giá những kẻ tích lũy được tài sản lớn. Myers quan tâm nhiều hơn tới các điều kiện và vi phạm pháp lý, và tới các đặc điểm tâm lý tàn bạo của con người; Schumpeter quan tâm hơn tới vai trò của họ trong bộ máy công nghệ và kinh tế của các giai đoạn tư bản chủ nghĩa khác nhau, mặc dù ông cũng khá tự do và dễ dãi trong những đánh giá đạo đức của mình, khi tin rằng chỉ những người có năng lực và nhạy bén ưu việt ở mỗi thế hệ mới được đưa lên tầng cao nhất nhờ bộ máy mà họ được cho là đã sáng tạo ra và tập trung.

Vấn đề về nhóm rất giàu là ví dụ của một vấn đề lớn hơn trong việc các cá nhân liên quan thế nào đến các thiết chế, và đổi lại, cả các thiết chế đặc biệt lẫn các cá nhân này liên quan ra sao với cấu trúc xã hội trong đó họ thực hiện vai trò của mình. Mặc dù đôi khi con người định hình thiết chế, nhưng thiết chế luôn lựa chọn và định hình con người. Trong bất kỳ thời gian được xem xét nào, chúng ta đều phải cân bằng sức nặng của tính cách hay ý chí hoặc độ thông minh của mỗi người với cấu trúc thiết chế khách quan cho phép họ thực hiện những cách này.

Không thể giải quyết những vấn đề như vậy bằng cách chỉ dựa vào các giai thoại để cho rằng đó là lừa đảo hoặc thông thái, võ đoán hay xác định, thông minh bẩm sinh hay vận may kỳ diệu, cuồng tín hay siêu năng lực của nhóm rất giàu với tư cách là các cá nhân. Những thứ này khác nhau về từ vựng, nhưng mang các đánh giá đạo đức khác nhau, cùng với hành động của những người tích lũy có thể được mô tả. Không phải sự tàn ác và phi pháp mà Gustavus Myers đã đề cập trong nội dung còn lại, cũng không phải nghệ thuật chào hàng, tầm nhìn xa của các chính khách công nghiệp, mà với chúng, nhiều sử gia giờ đây tỏ ra thích hơn với các cách giải thích – chúng chỉ đơn thuần buộc tội hoặc biện hộ. Đó là lý do tại sao các nhà tâm lý xã hội học hiện đại không hài lòng khi giải thích sự trỗi dậy của bất kỳ tầng lớp kinh tế và xã hội nào bằng việc gắn đạo đức với các đặc điểm cá nhân ở các thành viên của nó.

Hoàn cảnh khách quan hơn luôn cung cấp chiếc chìa khóa có ích hơn, và là cái dễ xuất hiện hơn trong suy nghĩ hiện đại. Chúng ta phải hiểu cấu trúc khách quan của các cơ hội cũng như các đặc điểm cá nhân cho phép và cổ vũ con người khai thác những cơ hội khách quan mà lịch sử kinh tế cung cấp cho họ. Hiện nay, điều rất hiển nhiên là các đặc điểm cá nhân cần có để ngoi lên và giữ vững được chỗ đứng trong đám côn đồ sông nước sẽ khác với các đặc điểm cần có để thành công giữa những người chăn cừu hòa bình. Trong chủ nghĩa tư bản Mỹ, cũng rõ ràng là những tố chất khác biệt mà người muốn leo cao buộc phải có vào năm 1890, khác với tố chất của những người muốn leo cao tám thập kỷ sau đó. Vì vậy, dường như ngoài việc phải tìm cho được chìa khóa để lọt vào nhóm rất giàu, người ta còn cần những lò xo bí mật của nhân cách và phong cách ứng xử.

Hơn nữa, những giải thích về tầng lớp giàu như một thực tế xã hội bằng việc gắn với các đặc điểm cá nhân của họ như những cá thể thường là sự lặp lại. Ví dụ, trong một xã hội mà tiền là vua, thì phép thử “năng lực” được chấp nhận rộng rãi là thứ làm ra tiền. “Nếu bạn thông minh như vậy, tại sao bạn không giàu?” Và vì tiêu chuẩn của năng lực là làm ra tiền, nên tất nhiên năng lực được xếp theo tài sản, và nhóm rất giàu có năng lực cao nhất. Nhưng nếu đúng như thế, thì năng lực không thể được dùng để giải thích về tầng lớp giàu; sử dụng việc có nhiều tài sản như một dấu hiệu của năng lực và rồi dùng năng lực như một cách giải thích cho tài sản chỉ là chơi với hai chữ cho một thực tế: sự tồn tại của nhóm rất giàu.

Đối với các cơ hội của Carneige, hình hài của nền kinh tế hồi ông còn trẻ còn quan trọng hơn việc ông có một bà mẹ thực dụng. Cho dù Cornelius Vanderbilt có “lạnh lùng” tới mức nào, ông ta cũng khó mà nắm giữ được ngành đường sắt nếu hệ thống chính trị không hoàn toàn dễ bị mua chuộc. Giả như Đạo luật Sherman đã được thực thi theo cách thức phá vỡ chỗ dựa pháp lý của công ty lớn.2 Vậy, nhóm rất giàu ở Mỹ – cho dù đặc điểm tâm lý của họ là gì – hiện ở đâu? Để hiểu nhóm rất giàu ở Mỹ, hiểu được sự phân bố địa lý về dầu mỏ và cấu trúc thuế quan trọng hơn nắm bắt đặc điểm tâm lý của Haroldson L. Hunt; hiểu biết khuôn khổ pháp lý của chủ nghĩa tư bản Mỹ và tính dễ bị mua chuộc của các tổ chức của nó quan trọng hơn tìm hiểu thời thơ ấu của John D. Rockefeller; hiểu về sự tiến bộ công nghệ của bộ máy tư bản quan trọng hơn là biết đến năng lực vô hạn của Henry Ford I; hiểu về tác động của chiến tranh đối với nhu cầu dầu lửa và lỗ hổng làm thất thoát thuế quan trọng hơn biết về sự thông thái hiển nhiên của Sid Richardson; hiểu sự trỗi dậy của hệ thống phân phối quốc gia và thị trường đại chúng quan trọng hơn hiểu tính căn cơ của F. W. Woolworth. Có lẽ hồi nhỏ J. P. Morgan đã có những mặc cảm dữ dội; có lẽ cha ông tin rằng ông sẽ chẳng làm nên trò trống gì; có lẽ điều này đã làm nảy sinh trong ông một nỗ lực thái quá về quyền lực vị quyền lực. Nhưng tất cả đều sẽ hoàn toàn không thích hợp nếu ông sống tại một làng quê Ấn Độ vào năm 1890. Nếu muốn hiểu nhóm rất giàu, trước hết chúng ta phải hiểu cấu trúc kinh tế và chính trị của quốc gia mà ở đó họ trở thành nhóm rất giàu.

Việc này đòi hỏi nhiều loại người và lượng vốn quốc gia khổng lồ để vận hành chủ nghĩa tư bản như một cỗ máy hiệu quả và một chiếc máy in tiền. Không loại người nào có thể nắm giữ được tài sản lớn nếu như không có các điều kiện kinh tế, vật chất, và chính trị chắc chắn. Khối của cải khổng lồ của Mỹ là các khía cạnh của một loại công nghiệp hóa đặc biệt diễn ra ở một đất nước đặc biệt. Loại công nghiệp hóa này, có sự tham gia của doanh nghiệp tư nhân, cho phép nó có thể nắm giữ các vị trí chiến lược ấy để điều khiển các phương tiện sản xuất tuyệt vời của con người; kết nối sức mạnh khoa học và lao động; kiểm soát mối quan hệ của con người với tự nhiên – và kiếm được hàng triệu đô-la từ đó. Không phải sau này chúng ta mới chắc chắn về việc đó, mà chúng ta có thể thấy trước điều này ở những quốc gia chưa công nghiệp hóa, và chúng ta có thể thừa nhận nó bằng việc tôn trọng những cách công nghiệp hóa khác.

Công nghiệp hóa của nước Nga Xô-viết vừa rồi đã cho thế giới thấy rõ là có thể tiến hành công nghiệp hóa một cách nhanh chóng mà không cần phải có tầng lớp triệu phú tư nhân. Việc Liên Xô làm theo cách đó dù phải hy sinh tự do chính trị cũng không làm thay đổi thực tế công nghiệp hóa. Công ty tư nhân – và theo sau là sự tích tụ giới triệu phú – chỉ là một cách, chứ không phải cách duy nhất để công nghiệp hóa một quốc gia. Nhưng ở Mỹ nó lại là cách làm lục địa nông nghiệp rộng lớn này biến thành một mạng lưới công nghiệp vĩ đại. Và nó cũng là cách đã lôi cuốn và cho phép những người có nhiều tài sản lớn tích lũy thêm của cải từ quá trình công nghiệp hóa.

Các cơ hội để nắm giữ tài sản lớn có được từ công nghiệp hóa của Mỹ bao gồm nhiều việc và nhiều thế lực không bị và không thể bị phụ thuộc vào cách xử sự mà nhóm rất giàu đang thể hiện, hoặc vào bất kỳ việc gì mà họ đã làm hoặc không làm.

Về cơ bản thì trường hợp này khá đơn giản. Đây là một lục địa dồi dào tài nguyên thiên nhiên chưa được khai thác. Hàng triệu người đã di cư tới đó. Khi dân số tăng lên một cách vững chắc, giá trị đất đai liên tục tăng. Khi dân số tăng, nơi đây lập tức hình thành thị trường sản phẩm và hàng hóa ngày càng phát triển và là nơi cung cấp nhân công ngày càng lớn. Vì khu vực nông nghiệp của cư dân phát triển, nên nhà công nghiệp không còn phải phụ thuộc vào người lao động trong nhà máy và hầm mỏ của riêng mình để có thị trường.

Thực tế, dân cư và nguồn tài nguyên ấy không tự dẫn tới sự tích tụ lớn. Để làm việc này, cần phải có một quyền lực chính trị phù hợp. Không nhất thiết phải kể lể những chuyện vụn vặt về tình trạng bất hợp pháp và hành động phi pháp đơn giản đã giúp nhóm rất giàu của mỗi thế hệ trong ba thế hệ chúng ta thành công, vì mấy chuyện ấy ai cũng biết rõ. Không thể đánh giá về mức độ tác động của những việc này đối với sự tích tụ của cải lớn, vì chúng ta thiếu thông tin cần thiết. Tuy nhiên, thực tế chung là rõ ràng: nhóm rất giàu sử dụng luật pháp hiện hành, họ có người tạo ra luật pháp và thực thi vì lợi ích trực tiếp của họ.

Nhà nước bảo đảm quyền sở hữu tài sản tư nhân, bảo đảm sự tồn tại hợp pháp của công ty, và bằng nhiều luật khác, giải thích luật, và thiếu củng cố khiến nó có thể phức tạp thêm. Vì vậy, nhóm rất giàu có thể dùng quỷ kế của công ty để làm trò với nhiều dự án cùng lúc và đầu cơ bằng tiền người khác. Vì “niềm tin” bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, nên luật của công ty mẹ làm nó hợp pháp bằng các biện pháp khác đối với một công ty sở hữu cổ phiếu ở công ty khác. Không lâu sau, “cấu trúc và tài chính của các công ty mẹ tạo ra cách dễ nhất để làm giàu nhanh mà về mặt pháp lý chưa từng tồn tại ở Mỹ”.3 Trong những năm sau này khi thuế cao hơn, việc kết hợp “khai thấp mức chịu thuế” và lợi nhuận thu được đã giúp tích tụ của cải tư nhân trước khi chúng được hợp nhất.

Nhiều lý thuyết hiện đại về sự phát triển công nghiệp nhấn mạnh đến những bước phát triển công nghệ, nhưng số nhà phát minh sáng chế trong nhóm rất giàu lại nhỏ tới mức không đáng kể. Thực ra không phải nhà sáng chế có tầm nhìn xa hay thủ lĩnh công nghiệp, mà là người thống lĩnh tài chính mới trở thành một trong những người rất giàu. Đó là một trong những sai lầm trong suy nghĩ của Schumpeter về “cơn gió cải cách”: ông lẫn lộn một cách hệ thống giữa thành quả công nghệ với thao túng tài chính. Như Frederick Lewis Allen nhận xét, cái cần “không phải là kiến thức chuyên sâu, mà là nghệ thuật bán hàng đầy sức thuyết phục, cộng với khả năng chỉ huy hàng triệu người và bộ máy bán tiền đầu tư của một ngân hàng lớn, và cũng như điều hành các dịch vụ của những luật sư công ty nhiều mánh khóe và những người vận hành thị trường chứng khoán”.4

Để hiểu chuyện chiếm giữ tư nhân của những người rất giàu, chúng ta cũng phải nhớ rằng sự phát triển công nghiệp tư nhân của Mỹ đã được hỗ trợ nhiều bằng những món quà tặng công khai lấy từ lĩnh vực người dân. Các chính quyền địa phương, bang, và liên bang đã cấp không đất cho ngành đường sắt, trả chi phí cho ngành đóng tàu, cho việc chuyên chở thư tín quan trọng. Đất cấp không cho doanh nghiệp nhiều hơn hẳn đất cấp cho các chủ sở hữu nhỏ độc lập. Than đá và quặng sắt được xác định về mặt pháp lý là không thuộc diện quản lý của chính phủ về quyền sở hữu “khoáng sản” trên đất cho thuê. Chính phủ tài trợ cho công nghiệp tư nhân bằng cách duy trì tỉ suất thuế quan cao, và nếu người đóng thuế Mỹ không chi trả từ chính lao động của họ cho hệ thống đường trải nhựa, thì dù Henry Ford có ranh ma và tiết kiệm đến đâu cũng không thể khiến ông ta trở thành một tỉ phú của ngành công nghiệp ô tô.5

Trong các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, chiến tranh đưa tới nhiều cơ hội để tư nhân nắm giữ của cải và quyền lực. Nhưng thực tế phức tạp của Thế chiến II dường như đã làm cho việc tích lũy của cải trước đây thực sự trở nên quá nhỏ bé. Từ năm 1940 đến 1944, các hợp đồng cung cấp quan trọng trị giá khoảng 175 tỉ đô-la – chìa khóa để kiểm soát các phương tiện sản xuất của quốc gia – đã được giao cho các công ty tư nhân. Đúng 2/3 số hợp đồng này rơi vào tay 100 công ty lớn nhất – trên thực tế gần như 1/3 rơi vào tay 10 công ty tư nhân. Những công ty này sau đó kiếm tiền bằng cách bán mấy thứ họ sản xuất cho chính phủ. Họ được trao quyền ưu tiên và phân bổ nguyên vật liệu và phụ tùng; họ quyết định sẽ chuyển bao nhiêu trong số này cho nhà thầu phụ, cũng như nhà thầu phụ là ai và số lượng là bao nhiêu. Họ được phép mở rộng các cơ sở của mình theo hình thức trả dần cực kỳ ưu đãi (20%/năm) và ưu đãi thuế. Thay vì thông thường 20 đến 30 năm mới trả hết nợ, họ có thể trả hết trong năm năm. Đây cũng thường là các công ty sử dụng hầu hết phương tiện do chính phủ sở hữu và giành được những lựa chọn ưu ái nhất để “mua” chúng sau chiến tranh.

Vào năm 1939, chi phí để xây dựng toàn bộ trang thiết bị của ngành công nghiệp chế tạo Mỹ vào khoảng 40 tỉ đô-la. Tới năm 1945, cần thêm khoảng 26 tỉ đô-la để xây dựng nhà máy và trang thiết bị mới chất lượng cao – 2/3 số tiền đó được chi trả trực tiếp từ các quỹ của chính phủ. Khoảng 20 trong số 26 tỉ đô-la này có thể sử dụng cho việc sản xuất các sản phẩm thời bình. Nếu cộng 20 tỉ này vào số 40 tỉ trước đó, chúng ta có một kế hoạch sản xuất 60 tỉ đô-la để có thể sử dụng trong giai đoạn sau chiến tranh. Năm 1939, 250 công ty hàng đầu sở hữu khoảng 65% số trang thiết bị hiện có lúc đó, vận hành trong suốt thời gian chiến tranh 79% số phương tiện mới của tư nhân được xây dựng bằng tiền chính phủ, và nắm 78% tổng số hợp đồng cung cấp chiến tranh quan trọng cho đến tháng 9 năm 1944.6 Chẳng có gì ngạc nhiên khi trong Thế chiến II, tài sản nhỏ trở nên lớn và nhiều tài sản nhỏ mới được tạo dựng.

2.

Trước Nội chiến, chỉ có một nhóm nhỏ người giàu, nổi bật là Astor và Vanderbilt, là những triệu phú trên thang bậc Mỹ thực sự. Ít ai có tài sản vượt quá 1 triệu đô-la; trên thực tế, George Washington, người mà vào năm 1799 để lại tài sản trị giá 530.000 đô-la, được coi là một trong những người Mỹ giàu nhất thời ông. Tới những năm 1840, ở thành phố New York và toàn bộ Massachusetts chỉ có 39 triệu phú. Thực ra từ “triệu phú” chỉ được nghĩ ra vào năm 1843, sau cái chết của Peter Lorillard (kinh doanh thuốc lá hít, ngân hàng, bất động sản), khi báo chí cần một từ biểu thị sự rất giàu có.7

Sau Nội chiến, những người giàu hồi đầu đã được công nhận là các Gia đình Khai quốc, cái bóng xã hội của sự giàu có trước đây ảnh hưởng tới cuộc tranh giành địa vị trong tầng lớp thị dân 400, và tới một lúc nào đó tài sản của họ trở thành một phần của thế giới công ty cao hơn trong nền kinh tế Mỹ. Nhưng những tài sản thực sự lớn đầu tiên của Mỹ đã phát triển trong thời kỳ chuyển tiếp kinh tế giai đoạn sau Nội chiến, và từ tình trạng hối hộ mang tính quyết định mà dường như là một phần trong tất cả các cuộc chiến tranh của Mỹ. Chủ nghĩa tư bản nông nghiệp và thương mại sau đó chuyển thành nền kinh tế công nghiệp, trong khuôn khổ pháp lý về thuế quan, Luật Ngân hàng Quốc gia năm 1863, và Tu chính án 14 năm 1868, mà sau này được cho là đã thần thánh hóa cuộc cách mạng công ty. Trong suốt thời kỳ biến chuyển trong khuôn khổ chính trị và cơ sở kinh tế, thế hệ đầu tiên của nhóm rất giàu bắt đầu sở hữu các đơn vị của cải lớn tới mức làm cho những gì tích cóp được trước đây trở nên quá nhỏ bé. Đỉnh của kim tự tháp tiền bạc không chỉ cao hơn, mà đế của các tầng trên rõ ràng cũng dài rộng hơn. Tới năm 1892, một khảo sát cho thấy có ít nhất 4.[046] triệu phú người Mỹ.8

Trong thời kỳ chúng ta lâm vào suy thoái và chiến tranh, đã có cuộc tranh luận về số lượng và sự an toàn – và ngay cả sự tồn tại – của những tài sản lớn ở Mỹ. Nhưng khoảng cuối thế kỷ XIX, giới sử học dường như thống nhất rằng: từ Nội chiến đến Thế chiến I, những ông trùm có tài sản khổng lồ đã nhanh chóng vượt trội.

Chúng ta sẽ chọn thế hệ này, đủ độ chín vào những năm 1890, làm thế hệ thứ nhất của nhóm rất giàu. Nhưng việc sử dụng nó chỉ như một mốc tham chiếu cho hai thế hệ tiếp theo, với thế hệ thứ hai đạt độ chín vào năm 1925 và thế hệ thứ ba vào những năm giữa thế kỷ XX. Hơn nữa, chúng ta sẽ không chỉ nghiên cứu sáu, bảy người nổi tiếng nhất mà các nhà viết sách sử và giới viết tiểu sử có tính giai thoại dựa vào để phê phán hoặc tâng bốc họ. Với mỗi thế hệ trong ba thế hệ này, khoảng 90 cá nhân giàu nhất sẽ được thu thập thông tin. Nói chung, việc nghiên cứu ba danh sách này cho phép chúng ta mở rộng quan điểm của mình về tầng lớp giàu của Mỹ gồm 275 người cả nam lẫn nữ, mỗi người sở hữu tối thiểu khoảng 30 triệu đô-la.9i

i. Xem chú thích này về các tiêu chí được sử dụng khi lựa chọn những người rất giàu.

Trong nhóm rất giàu, người ta có thể tìm thấy những người xuất thân nghèo khổ và những người xuất thân giàu sang, họ đã – và đang – tỏa sáng trong việc thực thi sức mạnh của đồng tiền như khi họ tích lũy chúng, và những người khác trong cuộc sống tằn tiện từng đồng mà khó khăn lắm mới kiếm được. Đây là John D. Rockefeller – cậu con trai sùng đạo của một người Baptist bán hàng rong – người đã tạo ra, theo nghĩa đen, hàng tá triệu phú. Còn đây là Henry O. Havemeyer được ông nội để lại cho 3 triệu đô-la, và Henrietta Green từ nhỏ đã được dạy để nghiên cứu các trang tài chính trên báo chí và mất ở tuổi 92, để lại 100 triệu. Và chúng ta không được quên George F. Baker, Jr., tốt nghiệp Đại học Harvard, người thừa kế chức chủ tịch Ngân hàng Quốc gia Đệ nhất New York, thường tắm rửa, cạo râu và mặc đồ mỗi sáng trên chiếc du thuyền siêu tốc chạy từ Long Island tới phố Wall, và là người vào năm 1929 cùng sáu giám đốc ngân hàng khác đã huy động 250 triệu đô-la trong một nỗ lực vô ích nhằm ổn định khủng hoảng.10

Tầng lớp giàu kếch xù không phải tất cả đều giàu từ trước, cũng không phải tất cả họ đều đến từ Texas. Đúng là cứ 10 người giàu nhất trong chúng ta hôm nay thì năm người là từ nhóm Texas, nhưng trong số 90 đàn ông và phụ nữ giàu nhất của năm 1950 mà chúng ta biết đầy đủ, chỉ có 10% là người Texas.

Văn học dân gian giờ đây cung cấp nhiều cách nhìn về những cá nhân giàu đến khó tin ở các sắc thái khác nhau – oai nghiêm và lố bịch; có nguồn gốc khác nhau – thấp hèn và cao sang; có lối sống khác nhau – vui vẻ, buồn rầu, cô độc, thích đàn đúm. Nhưng tất cả những cái nhìn bề ngoài này nghĩa là gì? Một số xuất thân nghèo đói, một số sinh ra đã giàu có – nhưng đâu là trường hợp điển hình? Và chìa khóa thành công của họ là gì? Để tìm ra câu trả lời, chúng ta phải xem xét nhiều hơn sáu hoặc bảy ông trùm ở mỗi thế hệ mà các sử gia xã hội và người viết tiểu sử đã cung cấp vô vàn giai thoại. Phải nghiên cứu một số lượng cá nhân đủ lớn mới thấy được rằng chúng ta có một nhóm mang tính đại diện.

275 người mà tôi đã thu thập thông tin đại diện cho phần lớn những cá nhân được các sử gia, người viết tiểu sử, và nhà báo biết đến như những người giàu nhất sống ở Mỹ từ sau Nội chiến – 90 người giàu nhất của năm 1900, 95 của năm 1925, và 90 của năm 1950. Chỉ khi xem xét các nhóm như vậy ta mới có thể hỏi đáp với đôi chút chính xác trước những vấn đề có vẻ đơn giản mà chúng ta quan tâm về nguồn gốc và nghề nghiệp của nhóm rất giàu.

Đứng đầu nhóm năm 1900 là John D. Rockefeller với 1 tỉ đô- la; đứng đầu nhóm năm 1925 là Henry Ford I với 1 tỉ; và năm 1950 có thông tin (mặc dù không chắc chắn như ở các giai đoạn trước) là tài sản của H. I. Hunt đáng giá “1 hoặc 2 tỉ”. Tài sản của một người Texas khác, Hugh Roy Cullen, gần đây cũng nổi tiếng với 1 tỉ.[11] Ba hay bốn người này có lẽ là mấy người giàu nhất trong những người Mỹ giàu có; họ là những tỉ phú duy nhất mà các nhà viết tiểu sử tài chính nắm khá chắc.i

i. Tất nhiên, cùng một số tiền nhưng có giá trị khác nhau ở những giai đoạn khác nhau. Nhưng tôi không để thực tế này làm thay đổi danh sách của mình. Ở đây tôi không quan tâm tới vấn đề liệu 15 triệu vào năm 1900 có giá trị bằng 30 hoặc 40 triệu vào năm 1950 hay không. Quan tâm duy nhất là những người giàu nhất ở mỗi giai đoạn này, không cần biết cái giàu đó có thể so sánh thế nào với cái giàu của các giai đoạn khác, hoặc so với thu nhập và tài sản của cư dân nói chung. Vì vậy, tài sản của mỗi thế hệ được trình bày ở đây theo giá trị đồng đô-la vào thời gian mỗi thế hệ đạt tới độ chín, khoảng 60 tuổi. Vì không biết yếu tố lạm phát, nên cần phải cực kỳ thận trọng trong việc diễn giải những thực tế sau đây: ở thế hệ năm 1950, bao gồm tỉ phú Hunt, ước tính có khoảng sáu người sở hữu hơn 300 triệu đô-la, so với không quá ba người như thế vào năm 1900 và 1925. Từ các tầng cao xuống các tầng thấp hơn của kim tự tháp này, sự phân bổ theo quy mô tài sản là khá giống nhau ở mỗi thế hệ trong ba thế hệ. Đại khái, khoảng 20% của mỗi nhóm nằm trong nhóm sở hữu 100 triệu hoặc hơn; số còn lại phân chia khá đồng đều giữa các mức 50-99 triệu đô-la và 30-[49] triệu đô-la.

3.

Không thế hệ nào trong ba thế hệ gần nhất có đa số rất giàu bao gồm những người mới phất.

Trong tiến trình lịch sử Mỹ kể từ Nội chiến, tỉ lệ nhóm rất giàu mà có cha là nông dân hoặc thủ kho nhỏ bé, là nhân viên văn phòng hoặc người làm công ăn lương cứ giảm dần. Chỉ 9% nhóm rất giàu của thời chúng ta có xuất thân từ những gia đình thuộc tầng lớp thấp hơn – những gia đình mà chỉ đủ tiền để cung cấp các nhu cầu thiết yếu và đôi khi ít tiện nghi.

Lịch sử đóng góp của tầng lớp trung lưu vào nhóm rất giàu là lịch sử khá ổn định: ở thế hệ năm 1900, cứ 10 người thì nó cung cấp hai; năm 1923 là ba; và năm 1950 lại là hai. Nhưng sự đóng góp của tầng lớp thượng lưu và tầng lớp thấp hơn lại hoàn toàn ngược nhau. Ngay cả ở thế hệ nổi tiếng thế kỷ XIX mà giới sử gia uyên bác thường thảo luận với các chi tiết có tính giai thoại về huyền thoại tay trắng làm nên, nhóm rất giàu xuất thân từ tầng lớp thượng lưu cũng ngang với từ tầng lớp thấp hơn (39%). Nhưng vẫn có thực tế là ở thế hệ đó, 39% nhóm rất giàu là con trai của những người thuộc tầng lớp thấp hơn. Ở thế hệ năm 1925, tỉ lệ này giảm xuống còn 12%, và tới thế hệ năm 1950, như chúng ta đã thấy, còn 9%. Mặt khác, tầng lớp thượng lưu đóng góp 56% vào năm 1925 và 68% vào năm 1950.

Thực tế và xu hướng rõ ràng là tầng lớp thượng lưu chỉ tuyển mộ vào tầng lớp mình những người thực sự có tài sản lớn. Tài sản không chỉ có xu hướng tự trường tồn, mà như chúng ta thấy, còn có xu hướng độc quyền các cơ hội để có “tài sản lớn”. Hiện nay cứ 10 người rất giàu trong chúng ta thì có bảy người sinh ra từ các gia đình thượng lưu rõ rệt, còn tầng lớp trung lưu thì có hai, và tầng lớp thấp hơn chỉ có một.

Về mặt nghề nghiệp, “giới thượng lưu” trong nhóm rất giàu này là những doanh nhân lớn. Tất cả tầng lớp doanh nhân lớn hay nhỏ ở Mỹ chưa khi nào vượt mức 8 hoặc 9% lực lượng lao động nói chung; nhưng trong ba thế hệ của nhóm rất giàu như một tổng thể này, cứ 10 người thì có bảy người có cha là các doanh nhân thành phố; một người có cha thuộc giới chuyên môn, một người có cha là nông dân, và một người có cha là nhân viên văn phòng hoặc người làm công ăn lương. Qua các thế hệ, những tỉ lệ này hoàn toàn ổn định. Nhóm rất giàu – của năm 1900 cũng như 1950 – đều xuất thân từ giới doanh nhân; và như chúng ta sẽ thấy, theo kiểu khá tò mò, về giới thượng lưu, nhiều người trong họ tiếp tục hoạt động theo phong cách “doanh nhân”.

Khoảng 10% số người sở hữu tài sản lớn tại Mỹ sinh ra ở nước ngoài, mặc dù chỉ 6% lớn lên bên ngoài Mỹ, nhập cư sau khi họ trưởng thành. Tất nhiên, trong thế hệ cuối thế kỷ XIX đạt độ chín vào năm 1900, có nhiều người sinh ra ở nước ngoài hơn năm 1950. Khoảng 13% số người giàu của năm 1900 sinh ra ở nước ngoài so với khoảng 24% số đàn ông trưởng thành của Mỹ sinh ra ở nước ngoài cùng thời gian. Tới năm 1950, chỉ có 2% nhóm rất giàu được sinh ra ở nước ngoài (so với 7% của cư dân da trắng năm 1950).12

Tất nhiên, vùng ven biển phía đông là địa danh lịch sử của nhóm rất giàu: nhìn chung, cứ 10 người lớn lên ở Mỹ thì có khoảng tám người là ở vùng này. Có nhiều người từ miền Đông vào năm 1925 (82%) cũng như vào năm 1900 (80%). Tuy nhiên, tới năm 1950, tỉ lệ từ miền Đông – tính trên tổng dân số đất nước nói chung – đã giảm (xuống còn 68%), một kết quả trực tiếp của việc xuất hiện các triệu phú phía tây nam, chiếm khoảng 10% nhóm rất giàu của năm 1950, so với chỉ khoảng 1% vào năm 1900 và năm 1925. Tỉ lệ những người lớn lên ở khu vực Chicago-Detroit-Cleveland vẫn khá ổn định trong cả ba giai đoạn lịch sử, từ 16% vào năm 1900 tới 19% vào năm 1950.

Nhóm rất giàu đều đến từ các thành phố, đặc biệt từ các thành phố lớn miền Đông. Thậm chí vào năm 1900, có tới 65% dân số Mỹ nói chung sống ở khu vực nông thôn,13 và những người lớn lên nơi trang trại còn nhiều hơn số đó; nhưng chỉ 25% nhóm rất giàu của năm 1900 đến từ khu vực nông thôn. Và từ năm 1925, cứ 10 người rất giàu thì có hơn sáu người lớn lên ở khu vực thành phố lớn.

Sinh ra tại Mỹ, lớn lên ở thành phố, có gốc gác phía đông, nhóm rất giàu đến từ các gia đình có địa vị giai cao cấp hơn, và giống như mọi thành viên khác của các tầng lớp thượng lưu cũ và mới của xã hội địa phương và tầng lớp thị dân 400, họ đều là những người Tin Lành; hơn nữa, khoảng một nửa theo Tân giáo, và 1/4 theo Trưởng lão.14

Với những thực tế ấy trước mặt, chúng ta chờ đợi, và chúng ta sẽ thấy, rằng nhóm rất giàu luôn được giáo dục cao hơn mức thông thường của dân cư: ngay từ năm 1900, 31% nhóm rất giàu đã tốt nghiệp đại học; tới năm 1925, con số này là 57%, và tới năm 1950, 68% số người nắm giữ tài sản lớn ở Mỹ là những người tốt nghiệp đại học. Việc các lợi thế giáo dục thường là kết quả của các lợi thế gia đình được làm rõ bởi thực tế là trong mỗi thế hệ, những người thuộc tầng lớp cao hơn được giáo dục tốt hơn những người thuộc tầng lớp thấp hơn: vào năm 1900, 46% số người thuộc tầng lớp thượng lưu tốt nghiệp đại học, nhưng ở tầng lớp thấp hơn chỉ có 17%. Nhưng với thế hệ thứ ba được xem xét ở đây – nhóm rất giàu của năm 1950 – sự khác biệt về lượng của giáo dục theo nguồn gốc giai cấp đã giảm: 60% nhóm rất giàu có nguồn gốc từ tầng lớp thấp hơn hoặc tầng lớp trung lưu đã tốt nghiệp đại học, so với 71% số người thuộc tầng lớp thượng lưu.

Một nửa số người thuộc nhóm rất giàu đã qua bậc đại học đều theo học những trường thuộc Ivy League; trên thực tế, gần như 1/3 theo học hoặc Harvard hoặc Yale, số còn lại phân tán ở các trường Princeton, Columbia, Cornell, Darmouth, và Pennsylvania. Thêm vào đó là 10% theo học các trường nổi tiếng khác phía đông như Amherst, Brown, Lafayette, Williams, Bowdoin, và 10% khác từng là sinh viên của một trong nhóm trường kỹ thuật nổi tiếng. 30% còn lại theo học các trường cao đẳng và đại học trải rộng trên khắp nước Mỹ.

Tất nhiên, sự vượt trội của các trường thuộc Ivy League là một kết quả trực tiếp từ xuất thân gia đình cao hơn của nhóm rất giàu: vì tỉ lệ nhóm rất giàu từ giới thượng lưu tăng lên, nên tỉ lệ theo học tại các trường thuộc Ivy League cũng tăng theo. Trong số những người từng theo học đại học, 37% thuộc thế hệ năm 1900, 47% năm 1925, và 60% nhóm rất giàu năm 1950 theo học tại các trường này.

Trở lại năm 1900, khi chỉ có 39% nhóm rất giàu là con cái của các bậc cha mẹ thuộc tầng lớp thượng lưu, 88% xuất thân từ các gia đình thượng lưu như vậy nghe nói được thừa hưởng gia tài trên nửa triệu đô-la hoặc hơn – thường là hơn nhiều. Tới năm 1950, khoảng 93% nhóm rất giàu từ giới thượng lưu là những người được thừa kế. Người ta thường nói hiện nay thuế đã làm nhóm rất giàu không thể chuyển ngay khối tài sản 90 hoặc 100 triệu đô-la cho con cái họ, và điều này đơn giản là đúng luật. Nhưng nhóm rất giàu của năm 1950 lại chính là một sự tiếp nối của tầng lớp này năm 1925; trên thực tế, còn hơn cả sự tiếp nối của tầng lớp này năm 1925 so với thế hệ năm 1900. Trong khi 56% nhóm rất giàu năm 1925 xuất thân từ tầng lớp thượng lưu, chỉ 33% là có họ hàng trong nhóm rất giàu năm 1900. Nhưng 68% nhóm rất giàu năm 1950 xuất thân từ tầng lớp thượng lưu và 62% có họ hàng trong nhóm rất giàu của các thế hệ trước.

Hơn nữa, tới những năm giữa thế kỷ XX, việc chuyển giao địa vị và quyền lực cho con cái có vẻ dễ dàng hơn năm 1900 và 1925, vì lúc đó các tuyến quyền lực và địa vị không còn được tổ chức, gia cố, và tăng cường một cách phức tạp trong các giới đã được thiết lập vững chắc, việc chuyển giao quyền lực và vị trí dường như đã được bảo đảm chắc chắn bằng tài sản cá nhân khổng lồ. Tuy nhiên, trong nhóm rất giàu của năm 1950, như chúng ta sẽ có dịp thấy, có nhiều cách để chuyển cho con cái những vị trí chiến lược trong bộ máy chiếm hữu tạo thành cấp độ công ty cao hơn của doanh nghiệp tư nhân tự do ở Mỹ.

4.

Nhóm rất giàu ở Mỹ không phải là tầng lớp giàu có rỗi rãi chiếm ưu thế và chưa bao giờ là như thế. Tất nhiên, trong họ thì tỉ lệ những người sống bằng lợi tức và không có nguồn nào khác đã tăng mạnh: năm 1900 khoảng 14%; năm 1925 khoảng 17%, và năm 1950 là 26%. Tính theo cách họ sử dụng thời gian, khoảng 1/4 những người giàu nhất hiện nay có thể được gọi là thành viên của tầng lớp nhàn rỗi.

Nhưng các ý kiến cho rằng nhóm rất giàu là những kẻ keo kiệt sống bằng phiếu trợ giá hoặc những kẻ ăn chơi bạt mạng đều không đại diện cho sự thật. Người hà tiện nhàn rỗi cũng như người tiêu hoang bận rộn đều có mặt trong nhóm rất giàu của Mỹ, nhưng trong lịch sử các tài sản lớn ở Mỹ, những người hà tiện hoàn toàn không phải là đám chỉ sống bằng phiếu trợ giá; họ thường “làm việc” theo cách nào đó để làm tăng giá trị của những tấm phiếu mà họ sẽ phải cắt ra – hoặc chí ít cũng giả vờ làm như thế trong khi có những người khác quản lý cho họ.i Và những người tiêu hoang không phải chỉ có thế: một số đánh bạc cả triệu đô-la và thường lên tới 2 hoặc 3 triệu hoặc hơn, vì hành vi đốt tiền thường thuộc lĩnh vực những trò thích hợp của họ.

i. Quan niệm của Veblen cho rằng với tầng lớp thượng lưu thì lao động là điều đáng xấu hổ lại không khớp lắm với đức tính chăm chỉ của Thanh giáo vốn là đặc điểm của phần lớn lối sống Mỹ, kể cả nhiều người thuộc tầng lớp thượng lưu. Tôi cho rằng trong cuốn sách của ông về tầng lớp nhàn rỗi, Veblen chỉ nói về tầng lớp thượng lưu, chứ không nói tới trung lưu – chắc chắn ông không viết về tầng lớp trung lưu Thanh giáo giàu có. Ông không muốn gọi những gì mà các doanh nhân cao hơn làm là “công việc”, càng không phải là công việc sinh lời. Chính từ này – tầng lớp nhàn rỗi – ở ông đồng nghĩa với tầng lớp thượng lưu, nhưng đã và đang có một tầng lớp thượng lưu làm việc – trên thực tế, là tầng lớp tích cực đến kỳ lạ. Việc Veblen không chấp nhận công việc của họ, và trên thực tế đã từ chối gọi nó là công việc – một trong những từ có nghĩa tích cực với ông – là không phù hợp. Hơn nữa, trong trường hợp này nó làm chúng ta hiểu cấu trúc xã hội. Nhưng để Veblen hoàn toàn chấp nhận thực tế đơn giản này sẽ lại làm hỏng (hoặc làm phức tạp thêm rất nhiều) toàn bộ quan điểm của ông, và quả thực là một trong những cơ sở đạo đức chính cho các phê phán của ông.

Từ quan điểm khá chính thức, người ta nhận thấy Veblen là một người phê phán vô cùng bảo thủ về Mỹ: ông một mực chấp nhận một trong vài điều rõ ràng là những giá trị đặc Mỹ: giá trị của tính hiệu quả, tính thiết thực, và tính đơn giản thực dụng. Phê phán của ông về các thiết chế và nhân sự trong xã hội Mỹ dựa trên niềm tin không có ngoại lệ của ông là họ đã không hoàn thành đầy đủ giá trị Mỹ này. Tôi tin nếu ông là môn đồ của Socrates, thì ông vẫn đậm chất Mỹ theo cách của riêng mình, giống như Socrates theo cách Athens của mình. Là nhà phê phán, Veblen đã hoàn toàn đúng vì ông sử dụng giá trị Mỹ là tính hiệu quả để phê phán thực trạng Mỹ. Chỉ có điều ông quá coi trọng giá trị này và sử dụng nó với sức mạnh sắc bén có tính hệ thống. Đây là một cách nhìn kỳ lạ đối với một nhà phê phán người Mỹ của thế kỷ XIX, hoặc của thời đại chúng ta. Người ta từ đỉnh St. Michel nhìn xuống như Henry Adams, hoặc từ Anh nhìn qua như Henry James. Với Veblen, có lẽ toàn bộ tính chất của những phê phán xã hội Mỹ đã thay đổi. Nhân vật Mỹ thế hệ gần nhất mờ dần và nhân vật Mỹ thế hệ đầu tiên – con trai của những người nhập cư Na Uy, người Do Thái New York dạy văn học Anh ở một trường đại học phía trung tây, người miền Nam tới miền Bắc tràn vào New York – đã được tôn lên là nhà phê phán đích thực, chưa nói là Mỹ 100%.

Thuộc tầng lớp giàu nhàn rỗi của năm 1900 là nhà Astor thế hệ thứ ba hay thứ tư, hoặc nhà Vanderbilt thế hệ thứ ba: nơi điền trang của mình, họ thư giãn trên lưng ngựa, hoặc trên biển với du thuyền ngoài khơi, trong khi các bà vợ thường chơi những trò chơi ngoài xã hội điên rồ và luôn tốn kém. Tới năm 1925, chỉ có thêm một số ít thuộc nhóm rất giàu sống bằng lợi tức, nhưng trong đó phụ nữ nhiều hơn. Họ xài sang như những người của năm 1900, nhưng giờ đây họ lan rộng khắp nước Mỹ và ít được quảng bá hơn thế giới những người nổi tiếng đang xuất hiện. Rõ ràng là đã “thành đạt” về mặt xã hội, những phụ nữ rất giàu này thường bận rộn với “nghệ thuật” hơn là “hội hè”, hoặc làm ra vẻ bận rộn.15 Và trên thực tế, một số trong đó dành nhiều thời gian cho công việc từ thiện hơn là cho các trò giải trí xã hội hoặc đánh bóng cá nhân, một thực tế mà phần nào do đức tin Thanh giáo nghiêm túc của John D. Rockefeller, bởi phần lớn tiền bạc của họ đều nhờ vào sự giàu có của ông.

Ở thế hệ năm 1950, cả tỉ lệ những người sống bằng lợi tức (mà chúng ta đã biết là 26%) lẫn tỉ lệ phụ nữ trong đó (70%) tăng lên, nhưng họ dường như không tạo thành một kiểu xã hội nào. Có những nữ tay chơi hiện đại – như Doris Duke và Barbara Hutton bây giờ, chấp nhận tốn kém và thành thạo trong việc cố giữ gìn tuổi thanh xuân, nhưng cũng có những người như bà Anita McCormick Blaine có cuộc sống tích cực là dùng tiền và thời gian vào từ thiện và giáo dục, ít tham gia các việc xã hội. Và có Hetty Sylvia H. Green Wilks, bản sao hiện đại của người hà tiện sử dụng phiếu trợ giá, từ nhỏ đã phải sống qua những mùa hè trong “căn nhà tranh vách đất và phải đi ngủ lúc 7:[30] tối vì sau giờ đó Nhà Xanh sẽ không thắp đèn”.16

Lịch sử nhóm rất giàu ở Mỹ chủ yếu là lịch sử phụ hệ: đàn ông luôn nắm từ 80 đến 90% số tài sản lớn ở Mỹ. Qua các thế hệ, sự gia tăng tỉ lệ nhóm rất giàu là từ những người thừa kế gia sản lớn không có nghĩa rằng tất cả người giàu đều trở nên “nhàn rỗi”. Chúng ta đã thấy là 62% nhóm rất giàu của năm 1950 sinh ra trong các gia đình liên quan tới các thế hệ rất giàu trước đây; nhưng chỉ 26% nhóm rất giàu của năm 1950 là những người giàu nhàn rỗi trong lối sống của họ. Và nhiều người trong nhóm rất giàu được thừa kế tài sản vẫn làm việc suốt đời để giữ gìn hoặc gia tăng số tài sản đó. Trò chơi làm họ quan tâm nhất là trò chơi kiếm được những món tiền lớn.

Nhưng khoảng 26% nhóm rất giàu của hôm nay là những người sống bằng lợi tức và ít nhiều nhàn nhã về kinh tế; và 39% khác chiếm các vị trí cao ở những công ty do gia đình họ sở hữu hoặc kiểm soát.17

Vì thế, những người sống bằng lợi tức và những nhà quản lý gia đình chiếm 65% nhóm rất giàu của thời đại chúng ta. Vậy 35% còn lại đã leo lên được vị trí rất giàu thì sao?

5.

Nếu nhiều người sinh trong nhóm rất giàu làm việc suốt đời, thì rõ ràng những người từ tầng lớp trung lưu và thấp hơn đã vươn lên được nhóm rất giàu không thể là ăn không ngồi rồi. Việc vươn lên nhóm rất giàu xem ra liên quan đến một nghề nghiệp kinh tế với hai đặc trưng then chốt: cú nhảy vọt và tích lũy các lợi thế.

1. Theo chỗ tôi biết, chưa từng có ai bước vào hàng ngũ những người hữu sản lớn của Mỹ chỉ bằng cách tiết kiệm số tiền còn lại từ lương hoặc tiền công của mình. Bằng cách này hay cách khác, anh ta đi đến chỗ nắm được vị trí chiến lược, cho phép anh ta cơ hội kiếm được các món tiền lớn, và thường thì anh ta luôn có sẵn khá nhiều tiền để có thể liều lĩnh ném nó vào những vụ làm ăn thực sự lớn. Anh ta có thể làm việc và dần tích lũy cho tới cú nhảy vọt này, nhưng sẽ tới lúc anh ta phải tìm cho mình một vị trí để tận dụng cơ hội lớn mà anh ta luôn tìm kiếm. Với mức lương 200.000 hoặc 300.000 đô-la một năm, kể cả chưa thuế, và sống như một kẻ hà tiện trong túp lều làm bằng bìa, thì về mặt toán học mà nói vẫn không thể tiết kiệm để có được một tài sản lớn ở Mỹ.i

i. Giả sử bạn làm việc từ độ tuổi 20 tới khoảng 50 tuổi, tiết kiệm được 200.000 đô-la mỗi năm, với lãi suất kép 5%, bạn vẫn sẽ chỉ có 14 triệu đô-la, chưa bằng một nửa mức tiêu chuẩn sàn được coi là tài sản lớn ở Mỹ.

Nhưng nếu bạn mua số cổ phiếu General Motors trị giá 9.900 đô-la vào năm 1913, và, thay vì tự phán đoán, giả sử bạn rơi vào hôn mê – để số tiền lời cộng dồn ở General Motors, thì tới năm 1953, bạn sẽ có khoảng 7 triệu đô-la.

Và kể cả nếu bạn không cân nhắc chọn General Motors, mà chỉ bỏ 10.000 đô-la vào mỗi cổ phiếu trong tổng số 480 cổ phiếu đặt mua năm 1913 – tổng đầu tư khoảng 1 triệu đô-la – và rồi bị hôn mê cho tới năm 1953, thì cuối cùng bạn sẽ có 10 triệu đô-la và nhận thêm 10 triệu đô-la cổ tức và các quyền lợi khác. Việc tăng giá trị có thể sẽ lên tới khoảng 899%, cổ tức đạt 999%. Một khi bạn có tiền triệu, lợi thế sẽ tăng lên – kể cả với một người đang hôn mê.18

2. Một khi anh ta đã thực hiện cú nhảy vọt, một khi anh ta đã tìm được vận may lớn, anh ta sẽ có những lợi thế trên đà thăng tiến – chỉ là cách nói khác rằng anh ta đã được chấp nhận. Ném một số tiền đáng kể vào đống tiền thực sự lớn, anh ta phải ở một vị trí có lợi từ những lợi thế tích lũy được. Càng có nhiều lợi thế, vị trí kinh tế của anh ta càng mang tính chiến lược, và cơ hội để anh ta kiếm được nhiều hơn càng lớn và càng chắc chắn. Càng kiếm được nhiều, uy tín của anh ta càng lớn – cơ hội để anh ta sử dụng tiền của người khác càng lớn – và vì thế anh ta sẽ ít gặp rủi ro khi tích lũy nhiều hơn. Trong quá trình tích lũy lợi thế, trên thực tế, sẽ tới thời điểm rủi ro không còn là rủi ro, mà là chắc chắn như mức thuế của chính phủ.

Việc tích lũy lợi thế ở đỉnh cao song hành với cái vòng đói nghèo luẩn quẩn ngay dưới đáy. Vì vòng tròn lợi thế bao gồm sự sẵn sàng tâm lý cũng như các cơ hội khách quan, nên ngay khi giới hạn và vị thế của tầng lớp thấp hơn sinh ra sự thiếu quan tâm và thiếu tự tin, thì các cơ hội khách quan về tầng lớp và địa vị cũng đẻ ra sự quan tâm về thăng tiến và tự tin. Tất nhiên, cảm giác tự tin khiến người ta có thể đạt được những gì mình mong muốn có xu hướng gia tăng từ các cơ hội khách quan, để rồi cơ hội nối tiếp cơ hội. Một loạt thành công sẽ hun đúc những khát khao mạnh mẽ, và rồi những thất bại nhỏ lại chặt đứt dây thần kinh ý chí phải thành công.19

Hầu hết nhóm rất giàu của năm 1950, có quan hệ với nhóm rất giàu của các thế hệ trước, đều ra đời với cú nhảy vọt đã làm nên họ và việc tích lũy các lợi thế được tiến hành một cách chắc chắn. Con số 39% nhóm rất giàu của năm 1900 xuất thân từ tầng lớp thượng lưu được thừa hưởng cú nhảy vọt; và số ít trong họ, tiêu biểu là nhà Vanderbilt và nhà Astor, cũng được thừa kế những vị trí đã tích lũy lợi thế. Cha của J. P. Morgan đã để lại cho ông 5 triệu đô-la và sắp xếp cho ông là đối tác của một ngân hàng có quan hệ tài chính ở cả châu Âu lẫn Mỹ. Đó là cú nhảy vọt của ông. Nhưng việc tích lũy lợi thế thì đến sau, khi với tư cách là nhà tài phiệt và môi giới tài chính, J. P. Morgan có thể vay tiền của người khác để thúc đẩy việc bán cổ phiếu và trái phiếu ở các công ty mới, hoặc củng cố các công ty hiện có, và nhận tiền hoa hồng bằng cổ phiếu đủ để cuối cùng cho phép công ty ông kiểm soát công ty mới.20

Sau khi có kinh nghiệm và lợi nhuận trong kinh doanh gỗ xẻ, với sự hỗ trợ tài chính của người cha triệu phú, Andrew Mellon vào làm trong ngân hàng của cha và mở rộng nó ra quy mô toàn quốc. Sau đó, ông bắt đầu tích lũy lợi thế bằng cách đem tiền ngân hàng cho các doanh nghiệp trẻ vay – đặc biệt vào năm 1888, khi những người sở hữu bằng sáng chế cho việc tinh luyện nhôm bán một phần Công ty Tinh luyện Pittsburgh lấy 250.000 đô-la để xây một nhà máy. Andrew lo việc bảo đảm cho công ty nhôm này vẫn giữ độc quyền, còn gia đình Mellon nắm quyền kiểm soát.21

Theo chỗ tôi biết, chưa từng có ai bước vào hàng ngũ những người hữu sản lớn ở Mỹ chỉ bằng việc bò dần lên các bậc thang công ty qua công việc hành chính. Năm 1953, Benjamin F. Fairless, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Thép Mỹ đã nói: “Nhiều giám đốc điều hành cao cấp ở một số công ty lớn nhất của chúng tôi suốt đời làm việc trong lĩnh vực quản lý công nghiệp chưa bao giờ có thể tích lũy được tới 1 triệu đô-la. Và tôi biết đó là thực tế, vì tôi là một người trong đó”.22 Tuyên bố này không đúng nếu hiểu theo nghĩa những người đứng đầu các công ty lớn hơn không trở thành triệu phú điển hình: họ có đấy! Nhưng nó đúng theo nghĩa là họ không trở thành triệu phú vì họ là “các chuyên gia” trong lĩnh vực quản lý công nghiệp, và cũng đúng là không phải bằng công nghiệp mà bằng tài chính, không phải bằng quản lý mà bằng thúc đẩy và đầu cơ nên họ mới trở nên giàu hơn hẳn người khác. Những người vươn lên lọt vào nhóm rất giàu là giới chính trị gia làm kinh tế và thành viên của các nhóm quan trọng ở những vị trí cho phép họ có được lợi thế để sử dụng cho mục đích cá nhân.

Rất ít người trở nên vô cùng giàu có đã trải qua các vị trí cao trong suốt đời làm việc của họ thăng tiến vững chắc từ vị trí này lên vị trí khác trong các bậc thang của công ty. Chỉ có 6% nhóm rất giàu thực hiện cú trườn dài như thế vào năm 1900, và 14% vào năm 1950. Nhưng ngay cả những người này, rõ ràng là chuyển dịch chậm chạp trên bậc thang công ty, dường như cũng hiếm khi đạt được thứ bậc nhờ tài năng trong quản lý doanh nghiệp. Tài năng mà họ có thường là thứ tài năng mà luật sư, hoặc đôi khi là nhà sáng chế công nghiệp, cũng có.

Cú trườn dài có kết quả chỉ khi nó chuyển thành việc tích lũy lợi thế; sự chuyển đổi này thường là kết quả của việc sáp nhập các công ty. Thường thì việc sáp nhập ấy xảy ra khi các công ty còn tương đối nhỏ và hay liên kết với nhau qua hôn nhân – như khi gia đình du Pont mua đứt Laflin và Rand, kẻ cạnh tranh lớn nhất của họ, và Charles Copeland – trợ lý chủ tịch của Laflin và Rand – trở thành trợ lý giám đốc quỹ của du Pont và cưới Luisa D’Anbelot du Pont.23

Việc di chuyển chậm chạp qua một loạt vị trí ở công ty cũng có thể có nghĩa là bạn đã tích lũy đủ thông tin nội bộ và tình bằng hữu, có ít hoặc không có rủi ro để cân nhắc việc thúc đẩy hoặc thao túng chứng khoán. Đó là lý do tại sao thế hệ của năm 1925 chiếm tỉ lệ cao nhất trong nhóm rất giàu đã thực hiện cú trườn dài ấy; rồi thị trường mở rộng cho các loại lợi nhuận, và luật chống đầu cơ không gây khó khăn cho họ như sau này.

Bất kỳ loại mạo hiểm nào cũng đều cho phép người giàu liều bỏ vốn vào một dự án tài chính lớn, ở thời điểm này hay thời điểm khác những con người “hành chính” lại thường là “các doanh nhân” giống như những người tạo lập của cải kinh điển sau Nội chiến. Trên thực tế, nhiều người trong họ – như Charles W. Nash24 – đã tách ra để thành lập các công ty riêng của mình. Một khi đã bò, thì nhiều người trong số này, đặc biệt những người thuộc lứa 1925, tất thảy đều mang tinh thần đánh bạc và kể cả chút oai phong thường gắn với những ông trùm kẻ cướp cuối thế kỷ XIX.

Nghề nghiệp kinh tế của nhóm rất giàu không phải là “doanh nghiệp” cũng không phải là “hành chính”. Hơn nữa, trong số họ, nhiều người đứng ra quản lý các công ty gia đình chỉ là “doanh nhân” hay “viên chức” giống như những người không có tài sản thừa kế. “Doanh nhân” và “viên chức” là những từ để chỉ tầng lớp trung lưu với các mối liên kết của nó, và không thể mở rộng nghĩa để bao gồm cả những nghề nghiệp liên quan của đời sống kinh tế cao hơn ở Mỹ.

Từ “doanh nhân” gây hiểu lầm vì không đồng nghĩa khi áp dụng cho người buôn bán nhỏ giống như áp dụng cho người sở hữu tài sản lớn ở Mỹ. Việc thành lập một cơ sở kinh doanh của giới tư sản điềm đạm, việc dần mở rộng cơ sở này dưới sự hướng dẫn cẩn thận cho tới khi nó trở thành một công ty Mỹ lớn không phải là bức tranh đầy đủ về những người tạo lập tài sản ở các mức cao hơn.

Trong hình ảnh kinh điển, doanh nhân được cho là người chấp nhận rủi ro, không chỉ với tiền bạc của mình mà với cả nghề nghiệp của chính mình; nhưng khi người sáng lập của một cơ sở kinh doanh thực hiện được cú nhảy vọt, anh ta thường không gặp rủi ro nghiêm trọng vì anh ta đã bắt đầu có những tích lũy lợi thế để đưa anh ta tới khối tài sản lớn. Nếu có bất kỳ rủi ro nào, thường ai đó sẽ đứng ra xử lý. Gần đây, cái gọi là “ai đó”, như trong Thế chiến II và trong vụ Dixon-Yates, chính là chính phủ Mỹ. Nếu một doanh nhân tầng lớp trung lưu nợ 50.000 đô-la, anh ta rất có thể gặp rắc rối. Nhưng nếu một người nợ tới 2 triệu đô-la, các chủ nợ của anh ta, nếu họ có thể, sẽ thấy tốt hơn là tạo cơ hội để anh ta kiếm tiền trả cho mình.25

Những ông trùm kẻ cướp cuối thế kỷ XIX thường thành lập hoặc tổ chức các công ty, chúng trở thành bàn đạp để tích lũy tài chính đưa họ gia nhập nhóm rất giàu. Trên thực tế, 55% nhóm rất giàu của năm 1900 thực hiện bước đi đầu tiên tới việc sở hữu tài sản lớn bằng cú nhảy vọt nhằm thúc đẩy hoặc tổ chức các công ty riêng của họ. Tuy nhiên, tới năm 1925, và cả năm 1950 nữa, chỉ có 22% nhóm rất giàu thực hiện cú nhảy như vậy.

Rất hiếm ai của bất kỳ thế hệ nào trong các thế hệ này trở nên rất giàu chỉ bằng sự nâng đỡ mạnh mẽ của một công ty lớn. Việc tích lũy lợi thế thường đòi hỏi sáp nhập các cơ sở kinh doanh khác với cơ sở được thành lập đầu tiên – một hành động tài chính – cho tới khi một “tổ hợp” lớn được hình thành. Việc thao túng chứng khoán và những bước đi pháp lý nhanh chóng là chìa khóa thành công chính của những doanh nhân lớn hơn này. Vì với sự thao túng và bước đi như vậy, họ giành được những vị trí liên quan đến tích lũy lợi thế.

Một thực tế kinh tế cơ bản về nhóm rất giàu là việc tích lũy lợi thế: những người có tài sản lớn nắm giữ hàng chục vị trí chiến lược để giúp họ thu được nhiều tiền hơn. 65% số người giàu nhất ở Mỹ hiện nay là liên quan đến các doanh nghiệp mà gia đình họ chuyển lại cho họ, hoặc đơn giản là sống như những người hưởng lợi tức khổng lồ từ tài sản đó. 35% còn lại đang chơi trò kinh tế cao hơn một cách tích cực hơn, nếu không nói là liều lĩnh hơn những người thường được gọi là doanh nhân, nhưng vào thời kỳ tư bản sau này được gọi chính xác hơn là các chính trị gia kinh tế của thế giới công ty.

Có nhiều cách để trở nên giàu có. Vào giữa thế kỷ XX ở Mỹ, việc kiếm và gom đủ tiền để leo lên cao ngày càng trở nên khó khăn. Hôn nhân có yếu tố tiền bạc lúc nào cũng là một vấn đề tế nhị, và khi dính đến khối tiền lớn, nó thường không thuận tiện và đôi khi thiếu an toàn. Nếu bạn chưa có nhiều tiền thì ăn cắp là một việc nguy hiểm. Nếu bạn thực sự đánh bạc vì tiền, và làm việc đó đủ lâu, thì cuối cùng bạn sẽ hòa vốn; nếu chơi trò gian lận, bạn thực sự kiếm được hay ăn cắp tiền, hoặc cả hai, tùy thuộc vào việc bạn ngồi bên bàn phía nào. Tạo lập một tài sản lớn ở Mỹ chỉ bằng việc chăm chút cho một doanh nghiệp nhỏ thành một doanh nghiệp lớn không phải là việc bình thường, và không bao giờ là một thực tế chủ đạo. Cẩn thận tích lũy trên con đường bò lên đỉnh chậm chạp, kiểu bàn giấy không phải là việc bình thường, và không bao giờ là một thực tế chủ đạo. Leo lên đỉnh thật khó khăn, và nhiều người đã rơi xuống giữa đường. Nếu sinh ra trên đó thì dễ dàng hơn và an toàn hơn nhiều.

6.

Ở các thế hệ trước, cơ hội lớn – thường bằng tiền của người khác – là chìa khóa; ở các thế hệ sau, có nhiều lợi thế công ty dựa trên địa vị của ông và cha, thay thế cho cơ hội lớn. Qua ba thế hệ gần đây, có một xu hướng hoàn toàn không thể nhầm lẫn: hiện nay, chỉ 9% nhóm rất giàu đến từ tầng đáy; chỉ 23% xuất thân từ tầng lớp trung lưu; 68% đến từ tầng lớp thượng lưu.

Việc sáp nhập của nền kinh tế Mỹ diễn ra ở một lục địa dồi dào tài nguyên thiên nhiên, nhanh chóng có nhiều người di cư tới, trong một khuôn khổ pháp lý và chính trị sẵn sàng và có thể cho phép các cá nhân làm việc. Họ đã làm thế. Và để hoàn thành nhiệm vụ lịch sử là tổ chức công nghiệp hóa và sáp nhập vì lợi nhuận, họ giành được quyền sử dụng cá nhân những tài sản lớn ở Mỹ. Trong hệ thống công ty tư nhân, họ trở thành nhóm rất giàu.

Khi nhận ra sức mạnh của tài sản và có được các công cụ để bảo vệ nó, nhóm rất giàu bắt đầu dính líu, và hiện họ tham gia sâu vào thế giới công ty lớn hơn của nền kinh tế Mỹ thế kỷ XX. Không phải tài sản lớn, mà các công ty lớn mới là những đơn vị tài sản quan trọng mà các cá nhân hữu sản đều gắn liền với nhiều mức độ khác nhau. Công ty là nguồn tài sản, và là cơ sở duy trì quyền lực và đặc quyền tài sản. Tất cả những người và gia đình có tài sản lớn hiện nay đều dính đến các công ty lớn trong đó có tài sản của họ.

Về mặt kinh tế, như chúng ta đã thấy, cả người được thừa kế cũng như người tích lũy đều không trở thành tầng lớp giàu ăn không ngồi rồi gồm những người có học và nhàn nhã. Trong số họ có những người như thế, nhưng gần như 3/4 số người rất giàu của chúng ta hiện nay, ít hay nhiều, bằng cách này hay cách khác, đều tiếp tục hoạt động kinh tế. Tất nhiên, các hoạt động kinh tế của họ là các hoạt động công ty: xúc tiến và quản lý, chỉ đạo và cân nhắc.

Hơn nữa, khi gia đình hữu sản bước vào nền kinh tế doanh nghiệp, các nhà quản lý những tài sản này cùng tham gia với họ trong thế giới công ty; các nhà quản lý ấy như chúng ta vẫn thấy, bản thân họ không hẳn là không có tài sản, và trên thực tế thì họ không phải loại người khác biệt hẳn về kinh tế với nhóm rất giàu. Tất nhiên, trung tâm tổ chức của các tầng lớp hữu sản đã thay đổi để nắm giữ những quyền lực khác so với những quyền lực mà các gia đình hữu sản lớn nắm giữ. Hệ thống của cải, mà trong đó người giàu tạo lập nên một phần quan trọng, đã được tăng cường do tái tổ chức quản lý, và được bổ sung bằng đội ngũ giám đốc điều hành trong và giữa các công ty lớn, hăng say làm việc vì lợi ích chung của giới điều hành giàu có.

Về mặt xã hội, đàn ông và phụ nữ có tài sản lớn nắm giữ các vị trí lãnh đạo một số tầng lớp thị dân 400. Trong số 90 thành viên của nhóm rất giàu năm 1900, chỉ chín người có tên trong danh sách năm 1892 của Ward McAllister, song chừng nửa số gia đình trong danh sách năm 1900 có con cháu được vào Sổ Đăng ký Xã hội năm 1940 của Philadelphia, Boston, Chicago, hoặc New York. Nhóm rất giàu là những thành viên hàng đầu của tầng lớp thị dân 400. Họ thuộc về các câu lạc bộ của nó, nhiều người trong họ, và hầu như tất cả con cái họ, đều theo học ở trường Groton rồi Harvard, hoặc các trường khác kiểu vậy. 12 trong số 15 cậu con trai (tính đến tuổi vào đại học) của 10

người thuộc nhóm rất giàu năm 1900, mà Frederick Lewis Allen chọn là những nhà tài phiệt hàng đầu của năm 1905, hoặc học Harvard hoặc Yale; ba người khác theo học tại Amherst, Brown và Columbia.26

Tàng lớp rất giàu không thống trị cô độc trên đỉnh của hệ thống đơn giản và hữu hình. Nhưng việc họ được bổ sung bằng những nhà quản lý và các thang bậc trong cấu trúc công ty của nền kinh tế và của quốc gia không có nghĩa là họ đã bị thay thế. Về mặt kinh tế và xã hội, nhóm rất giàu không suy giảm. Sau suy thoái và sau Chính sách Kinh tế Mới, nhóm rất giàu đã phải làm việc với các chuyên gia pháp lý giỏi (cả trong lẫn ngoài chính phủ) mà dịch vụ của họ là rất quan trọng trong các lĩnh vực thuế và các quy định của chính phủ, việc tái tổ chức và sáp nhập công ty, các hợp đồng chiến tranh và quan hệ công chúng. Họ cũng thông qua mọi kiểu sơn bả có thể nghĩ ra được để bảo vệ cho bản chất vô trách nhiệm về cơ bản trong quyền lực của họ, dựng lên hình ảnh một cậu bé tỉnh lẻ có thể trở thành một “chính khách công nghiệp” tốt, nhà phát minh vĩ đại “cung cấp việc làm”, nhưng đồng thời vẫn chỉ là một kẻ trung bình.

Những gì xảy ra là nhóm rất giàu lại không hữu hình như họ có vẻ, trước giới quan sát của thời đại thích soi mói, ví dụ – họ cung cấp hình ảnh thực sự công khai gần đây của tầng lớp cao nhất trong xã hội Mỹ. Việc thiếu các thông tin có tính hệ thống và mấy trò tiêu khiển vụn vặt theo kiểu “người ta quan tâm” có xu hướng làm chúng ta nghĩ rằng họ không thực sự là vấn đề và thậm chí họ không thực sự tồn tại. Nhưng họ vẫn ở ngay giữa chúng ta – cho dù nhiều người, như họ đã, còn ẩn náu trong các tổ chức khách quan mà ở đó quyền lực, của cải, và đặc quyền của họ neo đậu.

Nguyễn Thành Châu dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 17 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.