N
ếu nước Mỹ hiện đại là một xã hội dân chủ thì chúng ta phải nhìn vào cộng đồng trí thức để hiểu về giới tinh hoa quyền lực và những quyết định của họ. Vì dân chủ có ý nói tới những người chịu hệ quả của các quyết định có đủ hiểu biết, chứ không nói tới quyền lực, để buộc người ra quyết định có trách nhiệm. Mọi người đều phải dựa vào kiến thức mà người khác cung cấp, vì từ kinh nghiệm của riêng mình ai cũng chỉ có thể hiểu một phần nhỏ xã hội hiện đang ảnh hưởng tới bản thân. Phần lớn kinh nghiệm của chúng ta là gián tiếp, và như chúng ta đã thấy, phần nhiều bị méo mó. Các dư luận viên thuộc mọi lứa tuổi đều cung cấp những hình ảnh về giới tinh hoa trong thời đại và nơi chốn của mình. Giống như hiện thực mà họ được cho là đại diện, những hình ảnh này thay đổi; trên thực tế, trong thời đại chúng ta đang sống, nhiều hình ảnh cũ đã được chỉnh sửa và nhiều hình ảnh mới xuất hiện.
Gần đây, việc này xảy ra không phải là để cố gắng hiểu hiện thực rõ hơn, mà là để phục vụ một trạng thái tâm lý bảo thủ kỳ lạ bắt đầu chiếm ưu thế trong những người tạo dựng hình ảnh. Những hình ảnh mà họ hiện giờ đưa ra cho chúng ta không phải là về một giới tinh hoa điều khiển vô trách nhiệm các phương tiện quyền lực và thao túng chưa từng thấy, mà là một sự phân tán của những người biết điều bị các sự kiện nhấn chìm, cố hết sức trong tình thế khó khăn. Trạng thái tâm lý từ đó những hình ảnh trên xuất hiện giúp biện minh cho quyền lực thực sự của giới tinh hoa thực sự, hoặc sự thông minh của các quyết định ít hơn là giúp các phát ngôn viên của họ. Những hình ảnh mà chúng ta mong đợi được thấy một cách nghiêm túc nhất hoặc không phù hợp với thực tế quyền lực và thực tế về giới tinh hoa quyền lực, hoặc chỉ là các mơ mộng hão huyền riêng tư như những miếng đệm cảm xúc cho các nhóm nhỏ nhà văn, được trả hay không được trả tiền mà vẫn phong lưu, hơn là một biểu đồ về mọi lực lượng của giới tinh hoa quyền lực Mỹ trong thời đại chúng ta bắt đầu đạt đỉnh rõ ràng.
Nhưng các học giả, biết hay không biết, đã và đang tìm kiếm những ý kiến thích hợp về giới tinh hoa này. Họ vẫn chưa tìm thấy chúng và họ không đủ sức tạo ra chúng. Những gì họ tìm được là một sự thiếu vắng về trí tuệ và đạo đức trong đời sống công chúng của thời đại chúng ta, và những gì họ tìm cách tạo ra chỉ là sự tinh chỉnh trạng thái tâm lý bảo thủ của họ. Nó là một tâm trạng hoàn toàn thích hợp với những người sống trong thời kỳ bùng nổ vật chất, ca tụng chủ nghĩa dân tộc và khoảng trống chính trị. Sâu thẳm trong đó là biết bất lực nhưng không chua cay, và cảm giác về quyền lực giả tạo chỉ dựa trên sự tự mãn. Bằng cách làm dịu bớt ý chí chính trị, tâm trạng này cho phép con người chấp nhận sự suy thoái của công chúng mà không cảm thấy tức giận, và từ bỏ mục đích trung tâm của chủ nghĩa nhân văn phương Tây, vốn rất mạnh trong trải nghiệm của người Mỹ thế kỷ XIX: kiểm soát táo bạo vận mệnh con người bằng lý trí.
1.
Những người lần mò tìm kiếm các ý thức hệ để giải thích trạng thái tâm lý bảo thủ của họ thường gắn nó cũng như bản thân họ vào một truyền thống vững chắc nào đó. Họ cảm thấy dẫu sao mình cũng đã bị chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa tiến bộ, chủ nghĩa cấp tiến lừa bịp, và họ hơi hoảng sợ. Có vẻ như cái mà nhiều người trong họ muốn là một xã hội bảo thủ cổ điển.
Chủ nghĩa bảo thủ trong hình thức cổ điển của nó dĩ nhiên là truyền thống tự ý thức và tinh tế, có luận chứng và hợp lý.1 Nó cũng có chút “quý tộc tự nhiên”. Sớm hay muộn tất cả những ai cố làm dịu nỗi căng thẳng lớn trong lý trí con người phải theo quan điểm tân Burke bảo vệ giới tinh hoa truyền thống, vì cuối cùng một giới tinh hoa như vậy là triển vọng chính của ý thức hệ thực sự bảo thủ.
Các nghiên cứu cho thấy những cố gắng tìm kiếm hoặc tạo ra một giới tinh hoa truyền thống rõ ràng hơn và do đó cũng ít thành công hơn đối với Mỹ hôm nay hình như chỉ là những khẳng định có tính hy vọng, và không phù hợp với thực tế hiện đại cũng như những hướng dẫn dùng cho hành xử chính trị. Ông Russell Kirk cho chúng ta biết, người bảo thủ tin rằng (1) “ý định của Chúa thống trị xã hội”, con người bằng lý trí không thể nắm bắt được các thế lực vĩ đại đang chiếm ưu thế. Vì thế, thay đổi phải chậm vì “Chúa là công cụ thay đổi phù hợp”, và thử thách đối với một chính khách là “khả năng nhận thức được xu hướng thực sự của các lực lượng xã hội của Chúa”. Người bảo thủ (2) yêu thích “sự đa dạng và huyền bí của đời sống truyền thống”, có lẽ trước hết vì anh ta tin là “truyền thống và định kiến hợp lý” kiềm chế ý chí cực đoan và bốc đồng cổ lỗ của con người. Hơn nữa, (3) “Xã hội mong muốn có lãnh đạo”, và người bảo thủ cho rằng có “những khác biệt tự nhiên” giữa con người và hình thành một trật tự giai cấp và quyền lực tự nhiên.2
Truyền thống là thiêng liêng; qua đó các xu hướng xã hội thực sự của Chúa được thể hiện; vì thế, truyền thống phải dẫn lối cho chúng ta. Bất kỳ cái gì thuộc truyền thống đều đại diện cho tri thức tích lũy được qua các thời đại, và hơn thế, nó tồn tại bởi “ý định của Chúa”.
Đương nhiên chúng ta phải hỏi làm sao chúng ta biết truyền thống nào là công cụ của Chúa? Sự kiện và thay đổi nào quanh chúng ta là do ý định của Chúa? Vào lúc nào những tiên liệu có ý thức cao độ của các Tổ phụ Lập quốc trở thành truyền thống và được thần thánh hóa như vậy? Và người ta phải tin rằng xã hội ở Mỹ – trước cả phong trào tiến bộ và trước cả những cải cách thời Chính sách Kinh tế Mới – đại diện cho cái gì đó giống với thứ mà người bảo thủ cổ điển gọi là trật tự và giai cấp dựa trên “phân biệt tự nhiên”? Nếu không, thì cái gì và ở đâu là mô hình mà người bảo thủ cổ điển nói chúng ta phải coi trọng? Và những người hiện điều hành các thiết chế chính trị và kinh tế của Mỹ có đại diện cho ý định của Chúa đang được tìm kiếm không? Và làm sao chúng ta biết được họ tìm hay không tìm?
Người bảo thủ bảo vệ cái phi lý của truyền thống trước sức mạnh ý chí của con người; anh ta phủ nhận tính hợp pháp của cố gắng cá nhân để kiểm soát vận mệnh của mình và cùng mọi người xây dựng thế giới riêng của mình. Rồi anh ta làm thế nào để có thể đem lý trí làm phương tiện chọn lọc truyền thống và con người, như một phương tiện quyết định thay đổi nào là do Thượng đế và thay đổi nào là do các thế lực ma quỷ. Anh ta không thể có chỉ dẫn hợp lý để chúng ta lựa chọn được lãnh đạo nào thấu hiểu Chúa và hành động còn ai là người cải cách và chủ trương công bằng? Không có hướng dẫn nào trong quan điểm này giúp chúng ta quyết định cái nào mới thực sự là khác biệt tự nhiên.
Thế nhưng câu trả lời, dù không phải lúc nào cũng rõ ràng, lại luôn ở đó: nếu chúng ta không phá hủy trật tự giai cấp tự nhiên và thang bậc quyền lực, thì sẽ có cấp trên và lãnh đạo bảo chúng ta phải làm. Nếu chúng ta đề cao những khác biệt tự nhiên này, và trên thực tế làm sống lại những khác biệt cũ hơn, thì các nhà lãnh đạo sẽ quyết định. Cuối cùng, người bảo thủ cổ điển chỉ còn lại mỗi nguyên tắc này: nguyên tắc chấp nhận với thái độ biết ơn sự lãnh đạo của một số người mà anh ta coi là giới tinh hoa được thần thánh hóa. Nếu những người như vậy đều ở đó cho mọi người thấy, thì ít ra người bảo thủ cũng phải tỏ ra rõ ràng về mặt xã hội. Thế là mong ước có một truyền thống cổ điển và một thang bậc bảo thủ có thể đã được đáp ứng. Vì chúng rõ ràng gắn với quyền lực của tầng lớp quý tộc, và tầng lớp quý tộc này hoàn toàn có thể cảm nhận bằng các giác quan như hình mẫu của ứng xử cá nhân và quyết định chung.
Chính ở đây mà các chuyên gia nghiên cứu trạng thái bảo thủ của Mỹ đã trở nên lúng túng và nhầm lẫn. Lúng túng của họ một phần do sợ phải đối mặt với đầy rẫy những lời hoa mỹ của trường phái tự do; nhầm lẫn của họ chủ yếu do hai thực tế đơn giản về tầng lớp thượng lưu Mỹ nói chung, và các tầng lớp quyền lực cao hơn nói riêng:
Những người trên cao không thích hợp để làm hình mẫu cho cái tuyệt vời của chủ nghĩa bảo thủ. Họ cũng không đề cao ý thức hệ nào thực sự thích hợp để công chúng sử dụng.
Nhóm rất giàu ở Mỹ lại nằm trong số những người rất nghèo về văn hóa; trải nghiệm duy nhất làm họ trở thành hình mẫu là trải nghiệm vật chất về kiếm tiền và giữ tiền. Thành công vật chất là cơ sơ quyền lực duy nhất của họ. Tất nhiên, người ta có thể hoài niệm về những gia đình cũ và những nơi nghỉ dưỡng gần nhất của họ, nhưng mấy hình ảnh ấy thường không được để ý nhiều, vì nó là quá khứ hào nhoáng hơn là hiện tại nghiêm túc. Cùng với tầng lớp giàu có cũ và thay thế họ là những nhân vật nổi danh toàn quốc do con người dựng lên, thường tận dụng tình trạng nghèo văn hóa và mù chính trị. Chính vì bản chất của họ, giới nổi tiếng chuyên nghiệp chỉ là những nhân vật mau tàn được dùng làm phương tiện đánh lạc hướng công chúng hơn là những người có uy tín của giới cầm quyền vì họ là hiện thân của sự tiếp nối truyền thống. Và trong tầng lớp mới giàu, những ông lớn Texas lại quá đơn giản, còn giới chức sắc điều hành giàu có lại quá bận tâm vào những gì chúng ta gọi là phi đạo đức cao độ. Các tổng giám đốc điều hành của các công ty, ý thức hệ bảo thủ hay kiểu gì khác lại là quá viển vông đối với họ: hơn nữa, những người họ thuê có thể dễ dàng nói năng theo kiểu tự do – vậy thì việc gì họ lại phải chịu gánh nặng của các nguyên tắc bảo thủ? Hơn nữa, nó gần như không phải là điều kiện thành công trong nền kinh tế chính trị Mỹ mà người ta học cách sử dụng và sử dụng thường xuyên, không phải những lời hoa mỹ của phái tự do vốn là đặc điểm chung của tất cả những phát ngôn viên chính xác và thành công đó sao?3
Vì thế, không có các nhân vật có vị trí xã hội cao hơn mà giới học giả bảo thủ có thể ca ngợi như những hình mẫu của sự tuyệt hảo, ngược hẳn với sự lầm lẫn của phái tự do mà họ sẽ lấy làm tiếc, và những người sẵn sàng, có thể, và sốt sắng chấp nhận các tín điều bảo thủ mới. Không có các giới tinh hoa tiền tư bản, tiền tự do mà họ có thể dựa vào ngay cả chỉ trong ký ức đáng yêu; họ không thể, như các nhà văn châu Âu đã có thể làm, là so sánh những tàn dư phong kiến dù đã sửa đổi với cái thông tục của những người thành công ở xã hội tư bản.
Kết quả là vấn đề lớn nhất của phát ngôn viên cho chủ nghĩa bảo thủ Mỹ đơn giản là xác định một tập hợp những người mà ý thức hệ bảo thủ sẽ phục vụ lợi ích của họ, và đến lượt họ sẽ chấp nhận nó. Chủ nghĩa bảo thủ cổ điển đòi hỏi phải có ảnh hưởng của truyền thống trong những nhân tố còn sót lại của các xã hội tiền công nghiệp, đó là tầng lớp quý tộc gồm những người quý phái, tầng lớp nông dân, tầng lớp tiểu tư sản xuất thân phường hội, và đây chính xác là những gì mà Mỹ chưa bao giờ có. Vì ở Mỹ, tầng lớp tư sản đã nổi bật ngay từ khi xuất hiện – về đẳng cấp, địa vị, và quyền lực. Ở Mỹ, không có và không thể có ý thức hệ bảo thủ kiểu cổ điển.
Những người ở vị trí cao và quyền lực ở Mỹ không tán thành các ý kiến bảo thủ và mấy lời hoa mỹ bảo thủ thực sự tởm lợm. Còn khi có manh mối về thói bốc đồng cơ bản của phát ngôn viên phái bảo thủ, người ta cho đó là mưu đồ hy sinh chính trị như một lĩnh vực tự trị của ý chí con người với sự thống trị tự do và độc đoán của các thiết chế công ty và đội ngũ nhân sự quan trọng của chúng. Chúng không liên quan gì tới nguồn gốc của tư tưởng bảo thủ hiện đại mà nhiều trí thức Mỹ sử dụng với hy vọng tìm cách liên kết với chúng. Burke cũng như Locke đều không phải là nguồn gốc của ý thức hệ mà giới tinh hoa Mỹ thấy thực sự thích hợp. Nguồn gốc ý thức hệ của họ là Horatio Alger.4 Châm ngôn làm-và-thắng, cố-gắng-và-thành-công đã giúp họ trụ được trong trò chơi chộp giật cao quý của mình. Họ không tinh chỉnh hiểu biết về quyền lực mới hơn của họ thành ý thức hệ có ý thức nào. Họ không phải đối diện với sự chống đối nào dựa trên các ý kiến thách thức những lời hoa mỹ tự do mà họ lạm dụng như tiêu chuẩn của quan hệ công chúng. Có lẽ dễ nhất là trở thành “bảo thủ” khi không có ý thức thực sự về hiện tại bảo thủ như một giải pháp thay thế cho những gì có thể có trong tương lai. Nếu không thể nói chủ nghĩa bảo thủ Mỹ, mà đại diện là những người giàu và quyền lực, là vô ý thức, thì chắc chắn giới bảo thủ thường là những người hạnh phúc vì vô ý thức.
Vì vậy, các nhà văn bảo thủ của những năm 1940 và 1950 có tiếp xúc gần gũi với giới lãnh đạo hoặc những người ra quyết định mà họ có ảnh hưởng hoặc biện hộ còn ít hơn cả các nhà văn cấp tiến của những năm 1930.5 Về phía cánh tả hoặc ở trung tâm, quan hệ công chúng đáp ứng sự cần thiết phải có “ý thức hệ”, và quan hệ công chúng là thứ mà bạn thuê. Ngay bây giờ, giới tinh hoa giàu có và quyền lực cảm thấy không cần bất kỳ ý thức hệ nào, lại càng không cần ý thức hệ của chủ nghĩa bảo thủ cổ điển.
Nhưng dù vậy, người ta có thể bước tiếp và bảo vệ giới tinh hoa Mỹ cùng các tầng lớp thượng lưu nói chung và hệ thống trong đó họ thành công. Không còn nữa sự ưa chuộng đối với các nhà văn vốn không phải chuyên gia được thuê hay người viết thuê hàn lâm, mặc dù mọi xu hướng hoặc cơ hội nhỏ đều sẽ được những người này chộp ngay. Hơn nữa, các khái niệm về ủy thác vẫn rất được đón nhận, đặc biệt trong số tổng giám đốc điều hành của thế giới công ty, và qua thăm dò dư luận và biểu đồ hàng tuần, lại chứng tỏ rất thuyết phục là nền kinh tế Mỹ tốt nhất thế giới. Tuy nhiên, việc bảo vệ công khai như vậy không thỏa mãn những người khao khát chủ nghĩa bảo thủ cổ điển; để hữu dụng, việc bảo vệ như thế phải làm rõ được giới tinh hoa là năng động và do đó không bó buộc đối với truyền thống. Ngược lại, giới tinh hoa tư bản phải luôn gồm những người tự thân vận động phá vỡ truyền thống để vươn lên đỉnh bằng các thành tựu hoàn toàn cá nhân.
2.
Nếu ở Mỹ hiện nay hoàn toàn có thể có chủ nghĩa bảo thủ cổ điển trong giới tinh hoa được công nhận, thì điều đó không có nghĩa là các học giả với những mong ước bảo thủ không tìm thấy các cách khác để thực hiện việc đó. Cần phải có chất quý tộc, nhưng họ lại thường hết sức mơ hồ về tầng lớp quý tộc. Khi khái quát hóa khái niệm này, họ thể hiện nó cụ thể và vững chắc về mặt đạo đức hơn là về mặt xã hội. Với danh nghĩa “dân chủ thực sự” hoặc “bảo thủ tự do”, họ mở rộng nghĩa của quý tộc – “dân chủ tự nhiên” không liên quan gì tới trật tự xã hội, giai tầng, hay các thang bậc quyền lực hiện hành; quý tộc là nhóm những người ưu việt về đạo đức hơn là một tầng lớp được công nhận về mặt xã hội. Những khái niệm như vậy hiện nay rất được ưa chuộng, vì chúng thỏa mãn tâm lý bảo thủ mà không đòi hỏi phải trung thành với “giới quý tộc” hiện nay. Ortega y Gasset và Peter Viereck đều nghĩ thế. Ví dụ, Viereck viết rằng không phải “tầng lớp quý tộc” mà “tinh thần quý tộc” mới quan trọng, thứ tinh thần với những quy định bắt buộc về lối xử sự đúng mực và quý phái này “rộng mở với tất cả, không phân biệt giai cấp”.6 Một số người cố tìm cách bám lấy quan điểm đó gần như bí mật chứ không tuyên bố trực tiếp, nhưng cho nó là một giả định ngầm trong khi nói về không phải giới tinh hoa mà là “quần chúng”. Tuy nhiên, điều này nguy hiểm, vì một lần nữa nó đi ngược lại với những lời hoa mỹ tự do, đòi hỏi phải liên tục vỗ về các công dân.
Khái quát những nét đặc trưng của tầng lớp quý tộc và tước bỏ nội dung xã hội của nó thực sự là không thỏa đáng, vì chúng không cung cấp tiêu chuẩn được chấp nhận rộng rãi về việc đánh giá ai là tinh hoa và ai không. Một giới tinh hoa tự xưng không thể là chỗ dựa. Hơn nữa, khái quát như vậy không không đúng với thực tế quyền lực hiện thời và do đó không phù hợp về chính trị.
Việc dứt khoát bảo vệ những người có thế lực trong chính quyền hiện thời cũng như bảo vệ các đặc điểm quý tộc tưởng tượng, trên thực tế không đưa tới kết quả là một giới tinh hoa cố định về truyền thống và thang bậc, mà là một giới tinh hoa năng động và luôn thay đổi, vật lộn ở tầng chóp bu trong một xã hội rộng mở. Đơn giản là không có giới tinh hoa truyền thống được công nhận về mặt xã hội, về mặt chính trị lại càng ít hơn, và không có truyền thống nào dù là tưởng tượng có thể đủ bao quanh giới tinh hoa. Ngoài ra, dù thế nào đi nữa, truyền thống là thứ không thể tạo ra; người ta chỉ có thể giữ gìn khi nó tồn tại. Ngày nay không có phép thuật nào của truyền thống còn nguyên vẹn là cơ sở, hoặc có thể là cơ sở chắc chắn cho một xã hội hiện đại. Vì thế, vĩ đại không được nhầm lẫn với độ dài tồn tại, hoặc với cạnh tranh về mặt giá trị được quyết định bằng việc thử thách sức chịu đựng.
3.
Nhưng trạng thái tâm lý bảo thủ là mạnh, mạnh gần bằng những lời hùng biện tự do đang lan rộng, và có một cách để thỏa mãn cả hai. Người ta từ chối công nhận và đối mặt với trạng thái này khi nó lên đến đỉnh, và từ chối tưởng tượng ra trạng thái tâm lý nào có khả năng phòng vệ tốt hơn. Đơn giản là người ta phủ nhận có một giới tinh hoa hoặc kể cả một tầng lớp thượng lưu nào đó, hoặc bằng mọi cách khẳng định rằng nếu nó tồn tại, họ cũng không thực sự cho đó là lối sống của người Mỹ. Nếu cho rằng thực sự có trường hợp này, thì người ta có thể duy trì tâm lý bảo thủ đó mà không gắn nó với giới tinh hoa có thực hoặc với tầng lớp quý tộc tưởng tượng nào.
Khi viết về tầng lớp thượng lưu, giới bảo thủ thuộc trường phái tự do vô cảm thường lẫn lộn hình ảnh mong ước với thực tế. Họ hoặc có xu hướng cho giới tinh hoa chỉ tồn tại trong quá khứ, hoặc đa dạng các yếu tố của nó trong hiện tại. Vào thế kỷ XIX, phái tự do với thiên hướng tương lai đã đưa giới tinh hoa vào quá khứ; ở thế kỷ XX, do rất quan tâm tới hiện tại ổn định, họ đã coi giới tinh hoa bị đa dạng hóa tới mức không có quyền lực.i Trong chừng mực liên quan đến vấn đề này, không ai thực sự ra các quyết định; chúng ta hãy trở lại với những hình ảnh trang trọng và chính thức của chính quyền đại diện. Về mặt của cải hoặc thu nhập cao mà nói, suy cho cùng nó không có hệ quả quyết định, mặc dù có lẽ có ảnh hưởng tới giọng điệu của xã hội nói chung. Ngoài ra, mọi người ở Mỹ hiện nay đều giàu có. Chủ nghĩa tự do thiếu nghiêm túc này là não bộ cùa trạng thái tâm lý bảo thủ hiện nay.
i. Tôi đã trình bày và phân tích về chủ nghĩa đa nguyên lãng mạn này. Xem lại Chương 11: Thuyết cân bằng.
Đối với tâm trạng của phái bảo thủ, chắc không gì có ý nghĩa quan trọng bằng thắng lợi của thuật hùng biện cùng sự sụp đổ về tri thức và chính trị của chủ nghĩa tự do Mỹ, vì cả hai có mối quan hệ nhân quả. Tất nhiên, rõ ràng thứ chủ nghĩa tự do chiếm ưu thế trong những năm 1930 đã mất đi tính chủ động chính trị ở thời kỳ hậu chiến. Trong thời kỳ bùng nổ kinh tế và khiếp sợ quân sự của giai đoạn này, một nhóm nhỏ người hoạt động chính trị từ đầu, ở cấp độ quyền lực trung bình, đã khai thác những nỗi lo sợ mới của người Mỹ, lột bỏ nội dung lý trí của chính trị đối nội, và dứt khoát hạ thấp độ nhạy cảm của công chúng. Họ tấn công các chính sách của thời Chính sách Kinh tế Mới và Công bằng, cố viết lại lịch sử của các chính quyền mấy thời kỳ đó, và công kích chính tiểu sử của những người đã tham gia trong đấy. Cái cách mà họ làm tất cả những việc này cho thấy họ công khai kích động nỗi tức giận đang dồn nén về địa vị của những tầng lớp mới phất mà đã thu được khá nhiều của cải trong và sau Thế chiến II, không có được uy tín hoặc quyền lực mà họ cảm thấy mình đáng có.i
i. Xem lại Chương 2: Xã hội địa phương.
Cánh hữu nhỏ ít thu hút được đám bất mãn kinh tế hơn là đám thất vọng về địa vị. Họ làm việc này bằng cách công kích những biểu tượng, con người, và thiết chế uy tín đã được xác lập.7 Ngay khi bắt đầu các đợt như thế, họ hầu như thành công với việc phá hoại một trong những thành lũy trong cùng của tầng lớp thượng lưu cũ – lực lượng đối ngoại – và giữa cao trào chiến dịch, thành viên lãnh đạo của họ công kích thẳng thừng một tướng lĩnh quân đội, làm công chúng cả nước được chứng kiến Bộ trưởng Lục quân, cũng là một người thuộc gia đình giàu có cũ, bị mất mặt khi cãi lộn công khai với đám không có uy tín đòi thay đổi chế độ.
Họ đã tạo nên sự chú ý rộng rãi tới một khái niệm mới về trung thành dân tộc, giống như trung thành với các băng đảng cá nhân vốn đặt mình cao hơn tính hợp pháp đã được xác lập của nhà nước và kêu gọi người khác cũng làm như vậy. Họ đã làm rõ vị trí trung tâm hiện có được trong quy trình chính phủ bằng việc sử dụng cảnh sát ngầm và “những cuộc điều tra” bí mật, đến mức mà những người có đầu óc quan sát cũng phải nói rất thực về một nội các bóng ma phần lớn dựa trên các cách sử dụng quyền lực mới như nghe trộm, theo dõi, sử dụng và đe dọa tống tiền. Họ kịch tính hóa vùng trũng của sự nhạy cảm trong dân chúng mà suốt một thế hệ đã đều đặn và ngày càng chịu sự soi mói của các phương tiện giải trí và đánh lạc hướng. Họ đã đưa vào công luận những thứ phi đạo lý cao độ cũng như sự thiếu quan tâm của các tầng lớp thượng lưu và trung lưu được lựa chọn. Và họ tiết lộ một thứ chủ nghĩa tự do thối nát hoảng loạn đang yếu ớt bảo vệ mình trước cơn thịnh nộ đáng sợ và tàn độc của các băng nhóm chính trị.
Trong khi chủ nghĩa tự do của những năm 1930 chịu khó lắng nghe thời hậu chiến, thì phái tự do đôi lúc cũng biết họ đang đến gần mép của tình trạng thiếu quan tâm tới mức nào. Cấu trúc địa vị của xã hội tư sản đã được xác lập đang bị tấn công, nhưng vì ở Mỹ không có thứ gì trong quá khứ đứng trên cấu trúc đó, và vì những gì phái tự do và cánh tả từng thuyết phục không thấy gì ở tương lai dưới nó, nên họ trở nên vô cùng hoảng loạn trước sự công kích dữ dội, và đời sống chính trị của họ đã bị thu hẹp xuống mức phòng vệ đầy lo lắng.
Chủ nghĩa tự do thời hậu chiến đã bị hao mòn về mặt tổ chức: những năm chủ-nghĩa-tự-do-cầm-quyền trước chiến tranh đã làm cạn kiệt sinh lực của các nhóm tự do độc lập, làm khô cạn các đơn vị cơ sở, làm các lãnh đạo lớn tuổi hơn phụ thuộc vào mấy trung tâm liên bang và không đào tạo lãnh đạo mới trên cả nước. Chính sách Kinh tế Mới không để các tổ chức tự do thực hiện bất kỳ chương trình tự do nào; thay vì thành lập một đảng mới, công cụ của nó là một liên minh lỏng lẻo ở trong một liên minh cũ, và nhanh chóng tan vỡ vì những ý kiến tự do. Hơn nữa, Chính sách Kinh tế Mới đã sử dụng hết di sản của tư tưởng tự do, làm chúng trở nên tầm thường khi đưa vào luật, biến chủ nghĩa tự do thành một tập hợp các việc quản lý thường nhật phải bảo vệ hơn là một chương trình nhất định phải có.8
Trong nỗi lo tinh thần, phái tự do thời hậu chiến đã không bảo vệ cánh tả hoặc kể cả lập trường tự do chiến đấu: thế phòng ngự của họ trước hết đã dẫn họ tới việc ca ngợi “các quyền tự do dân sự”, trong khi chúng vắng bóng ở Nga Xô-viết. Trên thực tế, nhiều người đã quá bộn rộn ca tụng những quyền tự do dân sự nên họ ít có thời gian bảo vệ chúng, và quan trọng hơn, phần lớn bận rộn bảo vệ tự do dân sự tới nỗi họ hoặc không có thời gian hoặc không có xu hướng sử dụng chúng. Archibald MacLeish nhận xét vào cuối những năm 1940, tự do “là thứ bạn sử dụng trước đây… nay [nó] trở thành thứ bạn bảo vệ – một thứ bạn để sang bên và bảo vệ giống như các thứ khác của bạn – giống như một việc làm hoặc một trái phiếu trong ngân hàng”.9
Ca tụng các quyền tự do dân sự thì an toàn hơn là bảo vệ chúng; bảo vệ chúng như một quyền chính thức thì an toàn hơn là sử dụng chúng theo một cách hữu hiệu về chính trị. Ngay cả những người rất sẵn sàng xóa bỏ các quyền tự do này vẫn thường làm vậy dưới chính danh nghĩa của chúng. Bảo vệ cái quyền lẽ ra đã sử dụng từ nhiều năm trước của ai đó lại càng dễ hơn việc bạn nói cái gì đó hiện nay và nói một cách mạnh mẽ. Bảo vệ các quyền tự do dân sự – thậm chí được thực hiện một thập kỷ trước – đã trở thành mối quan tâm chính của nhiều học giả tự do từng theo cánh tả. Tất cả đều là một cách an toàn để chuyển hướng cố gắng của giới trí thức khỏi lĩnh vực suy ngẫm và đòi hỏi chính trị.
Thái độ phòng vệ của phái tự do thời hậu chiến cũng làm họ tham gia vào chính trung tâm đầu não của giới tinh hoa và của những lo lắng tầm thường về vị trí của Mỹ trên thế giới hôm nay. Ẩn sâu dưới những lo lắng này không chỉ đơn giản là căng thẳng quốc tế và sợ hãi, cảm giác bất lực của nhiều người là không có giải pháp nào ngoài một cuộc chiến tranh khác. Cũng còn một nỗi lo cụ thể mà nhiều người Mỹ đang nghiêm túc quan tâm. Hiện nay, Mỹ cùng với nhiều quốc gia khác, đặc biệt là Nga, tham gia vào cuộc cạnh tranh quy mô toàn diện giành uy tín văn hóa trên cơ sở quốc gia. Trong cuộc cạnh tranh này, vấn đề tranh cãi là âm nhạc, văn học, và nghệ thuật Mỹ, theo nghĩa cao hơn một chút thì thường gán cho những từ này là Lối sống Mỹ. Sức mạnh kinh tế, quân sự, và chính trị của Mỹ vượt xa sức thu hút văn hóa của nó. Thứ mà Mỹ có ở nước ngoài là sức mạnh; thứ nó không có trong nước hay ở nước ngoài là uy tín văn hóa. Thực tế này dẫn nhiều người tự do đến chỗ ca ngợi nước Mỹ mới,10 không chỉ do họ cảm thấy cần phải dựa vào để bảo vệ họ về mặt dân tộc trước cánh hữu nhỏ, mà còn dựa trên tâm lý phải làm ngay để nâng cao uy tín văn hóa của Mỹ ở nước ngoài.
Nhưng thái độ phòng thủ và hao mòn tổ chức không phải là toàn bộ câu chuyện về những gì đã xảy ra làm chủ nghĩa tự do Mỹ không gây đau đớn cho những người giàu và người có quyền lực. Trong nửa thế kỷ qua, chủ nghĩa tự do đã suy thoái về đạo đức và tri thức với tỉ lệ nghiêm trọng. Với tư cách một tuyên bố về lý tưởng, chủ nghĩa tự do cổ điển, giống như chủ nghĩa xã hội cổ điển, vẫn là một phần của truyền thống lâu đời của xã hội phương tây. Nhưng với tư cách hùng biện, những cụm từ quan trọng của chủ nghĩa tự do trở thành đặc điểm chung của từ vựng chính trị. Trong thắng lợi của lối hùng biện này, nơi các lập trường bất đồng nhất đều được nêu ra và bảo vệ bằng những từ ngữ tự do giống nhau, chủ nghĩa tự do như một cách xác định các vấn đề và tuyên bố chính sách đã vượt xa tính hữu dụng của nó.
Phạm vi và tính đa dạng khá lớn trong lối sống Mỹ không bao gồm phạm vi và sự đa dạng khá lớn của tuyên bố chính trị, lại càng không phải giải pháp chính trị. Trong lối nói hoa mỹ của mình, các phát ngôn viên của mọi nhóm lợi ích đều giống nhau nhiều hơn là khác biệt. Mặc dù chỉ phái tự do mới bị thu hút, nhưng tất cả họ đều sử dụng lối nói hoa mỹ của phái tự do. Khuôn mẫu Mỹ với tư cách một quốc gia cơ bản là tiến bộ và thậm chí cấp tiến lại chỉ có trong lĩnh vực công nghệ của nó,i theo những cách kỳ lạ và theo kiểu của ngành công nghiệp giải trí. Các ngành này rất “năng động” và “cấp tiến” nên chúng dẫn tới những trò tiêu khiển sôi động đặc chất Mỹ. Hai mặt này của đời sống thường bị diễn giải không đúng, ở cả trong nước lẫn ngoài nước, như một nước Mỹ năng động và tiến bộ, thay vì thực tế Mỹ là một đất nước bảo thủ mà không có ý thức hệ bảo thủ nào. Sự trì trệ về tri thức của đời sống chính trị lại làm nó rất hợp với mấy lời hoa mỹ của phái tự do. Với tư cách một kiểu hùng biện, chủ nghĩa tự do đã trở thành chiếc mặt nạ che giấu mọi lập trường chính trị; nếu là một lý thuyết về xã hội thì nó không phù hợp, và nếu là tâm lý hy vọng thì lại sai lầm. Chủ nghĩa tự do như một lý thuyết về cơ chế thay đổi xã hội hiện đại mà dù thế nào cũng không vượt qua được dấu ấn thương hiệu thế kỷ XIX của nó. Là lý thuyết về xã hội, chủ nghĩa tự do dựa trên quan niệm về một xã hội tự cân bằng.11
i. Tôi không có ý ám chỉ là Mỹ không dẫn đầu về tài năng công nghệ; trên thực tế, tôi tin rằng các sản phẩm của nó thường không giống với các sản phẩm của Đức và Anh về thiết kế hoặc chất lượng.
Ý kiến về sự cân bằng lớn, dưới mọi hình thức khác nhau, giờ đây là quan điểm về các vấn đề công mang ý thức chung đang chiếm ưu thế. Nó cũng là thuyết về sức mạnh của các nhà nghiên cứu khoa học xã hội hàn lâm nhất, và là nơi dừng nghỉ của trạng thái tâm lý bảo thủ mà giới trí thức tự do vẫn duy trì. Trạng thái này không thể coi là chủ nghĩa bảo thủ cổ điển; nó không thể có cơ sở tiền tư bản, tiền công nghiệp lại càng không; và nó không thể dùng hình ảnh của một xã hội trong đó uy quyền được hợp pháp hóa bởi chủ nghĩa truyền thống như tầng lớp quý tộc có tổ chức giải thích.
Là một sự khớp nối tri thức, tâm lý bảo thủ chỉ là sự tái tạo chủ nghĩa tự do cổ điển trong thời đại hoàn toàn không cổ điển của thế kỷ XX; đó là hình ảnh về một xã hội trong đó uy quyền ở mức tối thiểu vì nó được các thế lực tự trị của thị trường đầy ma lực dẫn lối. “Thượng đế” của chủ nghĩa bảo thủ cổ điển trở thành sự khái quát của chủ nghĩa tự do về “bàn tay vô hình” của thị trường, vì ở cõi trần, Thượng đế hàm ý đức tin mà những hệ quả không mong muốn của nhiều ý chí tạo thành khuôn mẫu, và khuôn mẫu này phải được phép thể hiện mình. Vì vậy, có thể nói là không có giới tinh hoa, không có tầng lớp thống trị, không có các trung tâm quyền lực nào cần được bảo vệ. Thay vì bào chữa cho quyền lực của giới tinh hoa bằng cách ưu ái khắc họa chân dung nó, người ta phủ nhận bất kỳ nhóm người nào, tầng lớp nào, tổ chức nào có quyền lực thực sự đầy đủ. Chủ nghĩa tự do Mỹ vì thế sẵn sàng duy trì tâm lý bảo thủ. Trên thực tế, vì sự vượt trội của các điều kiện và giả định tự do ấy mà giới tinh hoa quyền lực và giàu có cảm thấy không cần phải có một ý thức hệ bảo thủ rõ ràng.
4.
Sức thu hút lớn nhất của chủ nghĩa đa nguyên lãng mạni với những người khao khát chủ nghĩa bảo thủ là nó công khai bào chữa một cách không cần thiết cho những người có vẻ đang đảm nhận việc công. Vì nếu họ đều ở thế cân bằng, mỗi người thực sự hoàn toàn bất lực, thì không ai tập hợp nổi tầng lớp cao hơn và không hệ thống sắp xếp thiết chế nào có thể quản lý được đối với các sự kiện và quyết định của thời đại chúng ta. Vì thế, mọi cố gắng chính trị nghiêm túc thực ra đều là ảo tưởng khiến những người nhạy bén có thể quan tâm theo dõi nhưng họ chắc chắn không để bị lôi cuốn tham gia về mặt tinh thần.
i. Xem lại Chương 11: Thuyết cân bằng.
Đó là ý nghĩa chính trị của tâm lý bảo thủ ngày nay; cuối cùng, nó là lối kiêu căng tự mãn thiếu trách nhiệm. Cũng lạ, khi mà tâm lý bảo thủ không phải là một thói hợm mình gắn với hoài cổ, mà trái lại, gắn với những gì mới là bước-tiến-gần-nhất, ý muốn nói nó là thói hợm mình không dựa trên truyền thống mà là trên kiểu cách và mốt nhất thời.12 Những người liên quan không nghĩ cho quốc gia, hoặc thậm chí về quốc gia; họ nghĩ về mình và nghĩ cho mình. Trong các hội đoàn tự chọn, họ khẳng định trạng thái tâm lý của nhau, vì thế trở nên khép kín một cách hợm hĩnh, hoàn toàn nằm ngoài dòng chảy chính của việc thực hành quyết định và thực tế quyền lực.
Vì thế, hoàn toàn đúng khi người ta có thể nghĩ rằng tâm lý bảo thủ là một trò đùa nhỏ của một số ít người cầm bút phong lưu trong thời kỳ dồi dào vật chất. Nó chắc chắn không phải là một cố gắng nghiêm túc để tìm ra quan điểm rõ ràng mạch lạc về thế giới mà chúng ta đang sống và đòi hỏi chúng ta phải dựa vào nó với tư cách những con người chính trị – bảo thủ, tự do hay cấp tiến. Một cộng đồng trí thức hoặc một tập hợp công chúng tự do đều không cho biết phạm vi của các vấn đề và các cuộc xung đột này, các quyết định và các chính sách làm nên lịch sử của thời đại chúng ta. Sự kết hợp giữa hùng biện tự do với tâm lý bảo thủ, trên thực tế, đã làm rối các vấn đề khó và làm lịch sử có thể tiến triển mà không có lợi về tư tưởng. Sự phổ biến về tâm lý và hùng biện này đồng nghĩa với việc ý nghĩ, hiểu theo bất kỳ nghĩa rộng nào của từ này, trở nên rất không phù hợp với nền chính trị xưa nay, và ở Mỹ thời hậu chiến suy nghĩ đã tách rời thực tế.
Tất nhiên, những người bảo thủ nhỏ bé đã không giành được quyền lực chính trị như những người tự do trong chính quyền nắm giữ nó. Trong khi hai phe này tham gia vào cuộc đấu võ mồm ở cấp độ quyền lực trung bình, thì ở cấp độ cao hơn, những người bảo thủ ít ồn ào và tinh tế hơn đã nắm giữ quyền lực chính trị. Do đó, trong tình huống khó xử với cánh hữu to mồm, các thế lực tự do và từng là cánh tả về mặt thực tế đã bảo vệ những người bảo thủ đã định hình này, kể cả khi họ lún sâu vào cuộc xung đột với quá khứ tả khuynh của mình, và mất khả năng bảo vệ hiệu quả trước những lời cáo buộc giận dữ của cánh hữu nhỏ bé. Giới tinh hoa trong công ty, quân đội, và nhà nước thì đắc lợi về chính trị và kinh tế và quân sự nhờ các trò hề của cánh hữu nhỏ bé, thường là không tình nguyện trở thành những chiến binh chính trị.
Trong bối cảnh đầy sự kiện này, cánh tả mị dân tỏ ra nhạy cảm công khai; những người bảo thủ tinh vi hơn âm thầm giành được quyền lực đã có bằng một chiến thắng rộng khắp không cần tranh cãi; các ý kiến chính thức của phái tự do trong những năm 1930, hiện giờ đã bị đánh cắp và tầm thường hóa bằng cách sử dụng lạ lẫm; các hy vọng tự do được cẩn thận điều chỉnh thành những lời hoa mỹ thuần túy do 30 năm thắng lợi của lối nói này; cùng với đó là chủ nghĩa cấp tiến xẹp xuống và hy vọng cấp tiến bị ném đá đến chết vì 30 năm thất bại – chính trong bối cảnh ấy mà tâm lý bảo thủ bắt đầu xuất hiện trong các học giả hay quan sát. Họ không đòi hỏi, bất mãn, hay chống đối những quyết định quái đản đang được đưa ra mà không có sự tranh luận sâu sắc hoặc rộng rãi, trên thực tế là không hề có tranh luận. Không có sự chống đối trước cách làm trơ tráo thiếu dân chủ trong các chính sách được giới cầm quyền quân sự và dân sự đơn giản đưa ra như việc đã rồi. Không có sự chống lại việc thiếu suy nghĩ công khai dưới mọi hình thức hoặc tất cả các thế lực và những người kéo dài tình trạng đó. Nhưng trên tất cả, ở những người ít hiểu biết hoặc không chống lại việc tách rời tri thức khỏi quyền lực, sự nhạy cảm về những người có quyền lực không đi ngược lại với việc tách rời suy nghĩ khỏi thực tế.i Vì thế, những người đương thời đang nắm giữ quyền lực có thể chỉ huy mà không cần đội lốt ý thức hệ, các quyết định chính trị diễn ra không cần thảo luận chính trị hoặc các ý kiến chính trị, và các tầng lớp cao hơn của Mỹ bắt đầu trở thành hiện thân của hệ thống thiếu trách nhiệm có tổ chức của Mỹ.
i. Xem thêm ở Chương 15: Suy thoái đạo đức cao hơn.
5.
Không nên cho rằng vẫn tồn tại một số ít nhóm nhỏ công chúng như vậy, hay kể cả quần chúng Mỹ, chia sẻ tâm lý bảo thủ của tầng lớp trí thức. Nhưng cũng không nên nghĩ họ đã ghi sâu trong đầu những hình ảnh đầy đủ về giới tinh hoa Mỹ. Những hình ảnh họ có rất mờ nhạt; chúng chủ yếu là về địa vị và của cải hơn là về quyền lực, và chúng hoàn toàn đạo đức về mặt chính trị nhỏ bé.
Thiếu lòng tin đạo đức đối với tầng lớp cao và có quyền lực tất nhiên là một tập quán cũ của Mỹ. Đôi khi, trong những năm 1930, chủ yếu ở giới điều hành giàu có được gọi là những người trung thành kinh tế; đôi khi giữa các cuộc chiến tranh là các đô đốc hải quân và tướng lĩnh, và gần như luôn có các chính trị gia, dù ít.
Tất nhiên, người ta phải trừ hao kiểu giả vờ ngoạn mục và những cáo buộc dễ dãi của lối diễn thuyết hùng hồn trong chiến dịch tranh cử. Thế nhưng, người ta gần như thường xuyên chú ý tới các vấn đề như “tham nhũng” trong kinh doanh, chính quyền thể hiện mối quan tâm lớn tới tinh thần công chúng, sự liêm chính cá nhân ở những vị trí cao, và báo hiệu đó là nỗi lo lắng sâu sắc trong hầu như mọi lĩnh vực đời sống của Mỹ.
Những lĩnh vực này gồm các thiết chế quân sự và kinh tế cũng như các thiết chế kinh tế trực tiếp; chúng bao gồm giới tinh hoa đứng đầu các thiết chế lớn này cũng như giới tinh hoa với tư cách một tập hợp các cá nhân riêng lẻ. Nhiều tiết lộ nhỏ, kích động nỗi lo tinh thần của những người còn có thể quan tâm đến mấy việc như thế, cho thấy tình trạng suy thoái đạo đức công chúng lớn tới mức nào.i
i. Mấy năm trước ở West Point – trung tâm của đời sống quân sự cao cấp ở Mỹ – một số thanh niên được lựa chọn cẩn thận đã bị phát hiện là lừa dối để vượt qua các kỳ thi. Ở các trường đại học cao hơn khác, cầu thủ bóng rổ được trả tiền để chơi không trung thực theo yêu cẩu của giới cá cược. Ở thành phố New York, trong các phi vụ ma cô, đám giám đốc điều hành công ty là giới tay chơi thuộc gia đình rất giàu có khi đi nghỉ có thể bỏ vài trăm đô-la để mua các cô gái con nhà lành. Ở Washington, cũng như ở các thành phố lớn khác, những người có chức vụ cao nhận hối lộ và bị xỏ mũi. Tính đến tháng 9 năm 1954, khoảng 1.400 trường hợp lợi nhuận cao bất thường, kiếm được vào cuối những năm 1940, hóa ra là: các công ty tham gia xây dựng hoặc đầu tư vào nhà ở cho thuê của Cục Quản lý Nhà Liên bang đã bắt thế chấp cao hơn chi phí của khu nhà, bỏ túi chênh lệch lên tới hàng trăm triệu đô-la.13 Quan chức chính quyền và nhà thầu, cũng như các cô gái tiệc tùng – 400 đô- la cho ba cô – và các chuyến đi câu được trả tiền là một phần của quy trình hoạt động. Tất nhiên, trong cuộc chiến số phận, ai đầu tư khôn ngoan và có các mối quan hệ tốt có thể có tất cả thịt và xăng dầu thị trường chợ đen mà anh ta cần. Và trong một chiến dịch tranh cử tổng thống gần đây, sự thiếu tin tưởng của công chúng đã tới mức hoài nghi ầm ĩ, khi bằng một cử chỉ chưa từng thấy, mỗi ứng viên dẫn đầu trong cuộc đua vào chức vụ cao nhất đất nước cảm thấy cần phải công bố số liệu thu nhập cá nhân của mình.
Trong các doanh nghiệp bất hợp pháp, chi phí nhỏ thu hồi nhanh, trở nên nở rộ. Hàng chục ngành như vậy đua nhau ra đời ở thời kỳ thành phố bùng nổ, ngập tràn tội ác ngày càng tăng sau Chiến tranh Triều Tiên. Các chủ ngân hàng trên thế giới thành lập một hiệp hội để chống tình trạng tham ô trỗi dậy. Tờ New York Times đưa tin: “Nói toạc ra là nhiều người đang ăn cắp tiền từ các ngân hàng”.14 Ma túy và bắt cóc, tham ô và làm hàng giả, khai man thuế và trộm cắp – tất cả đều đem lại rất nhiều tiền.
Nói thẳng ra, tội ác nếu được tổ chức trên cơ sở phù hợp như kinh doanh sẽ hái ra tiền. Hiện giờ chúng ta biết các băng đảng Mỹ là giới chuyên nghiệp đặc biệt của mạng lưới làm ăn toàn quốc, liên kết chặt chẽ với nhau và với giới công quyền địa phương. Nhưng quan trọng hơn việc giới kinh doanh bất hợp pháp hiện được tổ chức chặt chẽ, là việc “đám lưu manh” của những năm 1920 vào những năm 1940 và 1950 đã trở thành đám doanh nhân sở hữu các khách sạn và nhà máy rượu, các khu nghỉ dưỡng và công ty xe tải. Trong các thành viên của hội thành công này, có tên trong hồ sơ cảnh sát không đồng nghĩa với việc bạn biết đó là người xấu.15
Tội phạm có tổ chức trong thế giới ngầm đã đề cao quá mức triết lý cá nhân chủ nghĩa về thành công bằng mọi giá, thờ ơ với lợi ích chung, tôn sùng động cơ lợi nhuận và tình trạng tự do kinh tế. Là một phần không thể thiếu của văn hóa Mỹ, “thế giới ngầm… góp phần đáp ứng nhu cầu hàng hóa và dịch vụ được xác định là phi pháp, nhưng tuy nhiên lại là nhu cầu lớn của những người khả kính… Nó ngầm ngầm trong tổ chức kinh tế, chính trị, pháp luật, và xã hội của chúng ta… theo nghĩa đó, chúng ta có những tên tội phạm mà chúng ta xứng đáng có.”16
Với chủ ngân hàng New Jersey, Harold G. Hoffman, tội ác cũng đáng giá. Ông ta trở thành Thị trưởng, Hạ Nghị sĩ, Thống đốc bang; chỉ khi ông ta mất vào năm 1954 mới phát hiện ra qua một thập kỷ ông ta đã biển thủ 300.000 đô-la từ ngân sách bang, và thêm vào đó, trong trò chơi đạo đức của nền chính trị bang, ông ta tham gia sâu vào hệ thống tham những gồm các ngân hàng lớn, công ty bảo hiểm và các cá nhân ở vị trí cao. Cục Quân nhu đã bán “những vật dụng phi quân sự như áo lông chồn và trang sức đắt tiền” với giá thấp hơn giá bán lẻ. Các hội từ thiện bị phát hiện là mạng lưới phục vụ lợi nhuận tư nhân. Tháng 2 năm 1954, 18 người và bảy công ty đã bị tuyên án về tội lừa đảo chính quyền trong các hợp đồng tàu biển quá dư thừa, trong đó có Julius C. Holmes, cựu Công sứ Sứ quán Mỹ tại London và là trợ lý đặc biệt của Ngoại trưởng. Các ông trùm nghiệp đoàn lao động địa phương thì làm giàu bằng trò bóp nặn và tống tiền người lao động, bằng hối lộ và các quỹ phúc lợi nghiệp đoàn. Những quản lý đáng kính của các bệnh viện tư đã mua sỉ thuốc aspirin với giá 9,83 đô-la rồi bán lại cho bệnh nhân với giá 600 đô-la. Thiếu tướng Roderick Allen vào tháng 3 năm 1954 đã dùng 1.200 đô-la tiền của quân đội để xây chuồng cho lũ chó Husky giống Siberia của mình. Những ai đã đọc sách hướng dẫn kinh doanh, bên cạnh báo chí, đều biết rằng, tính đến năm 1954, khoảng 214 nhân viên sở thuế nội địa cùng bạn bè hồi giữa những năm 1940 đã bị kết tội, 100 người trong đó bị phạt tù, có cả lãnh đạo sở thuế của chính phủ Liên bang.17 Và trên toàn quốc, những kẻ trốn thuế thuộc tầng lớp thượng lưu và trung lưu đều coi mùa xuân là lời mời gọi tham gia trò chơi dối trá tài tình và lừa bịp khéo léo. Những tiết lộ từ tầng lớp trên lên tới đỉnh điểm vào mùa xuân năm 1954 khi Bộ trưởng Lục quân và các trợ lý của mình đã cấu kết với một Thượng Nghị sĩ và các trợ lý của ông ta: các phiên điều trần McCarthy-Lục quân, như chúng ta thấy, đã tước bỏ mọi cấp hàm và địa vị của các sĩ quan cao cấp và một số Thượng Nghị sĩ. Mọi mặt nạ chính thức đã bị lột bỏ và hai nhóm ở vị trí chóp bu đã được lấy làm ví dụ chính cho tình trạng suy thoái đạo đức bộ phận, những cáo buộc chính về tội trạng của cả hai nhóm đều hoàn toàn đúng.
Những nhân vật nào trong tầng lớp cao hơn mà tình trạng suy thoái đạo đức ấy chưa chạm đến? Có lẽ tất cả những trường hợp bị công chúng chú ý trong một thời gian ngắn chỉ là không đáng kể, hoặc cùng lắm là những kẻ đã bị bắt. Nhưng rồi, lại có cảm giác càng tai to mặt lớn càng ít khả năng bị bắt. Có cảm giác mọi trường hợp nhỏ hình như báo trước cái gì đó lớn hơn, gốc còn sâu hơn và rễ của chúng giờ đã bám chặt vào lối sống cao và trung bình của Mỹ. Nhưng trong số những thứ làm quần chúng phân tâm, cảm giác này nhanh chóng qua đi một cách vô hại. Vì người Mỹ không tin tưởng tầng lớp cao và có quyền lực là thiếu lòng tin mà không cần học thuyết và tâm điểm chính trị; nó là sự thiếu tin tưởng mà công chúng cảm thấy trước hàng loạt tiết lộ mà ít nhiều đều bị nghi ngờ chờ đợi. Tham nhũng và suy thoái, nhỏ hay lớn, là thực tế về các tầng lớp cao hơn, thậm chí còn là thực tế đặc trưng về nhiều người trong họ. Nhưng giọng điệu vô luân của xã hội Mỹ hôm nay có cả sự thiếu nhạy cảm chung khi phải đối mặt với những thực tế này. Đời sống công cộng đồi bại của thời đại chúng ta không đưa tới sự công phẫn hiệu quả về tinh thần; đạo đức của tầng lớp trung lưu cũ ở Mỹ đã được thay bằng tình trạng suy thoái cao hơn.
Hình ảnh giới tài phiệt bóc lột và bộ máy tham những của những năm 1890 trong mắt công chúng đã bị thay bằng đám dân ngu dốt và tỉnh lẻ thiếu giáo dục của những năm 1920, mà đến lượt họ hồi những năm 1930 lại bị thay bằng đám có máu mặt về kinh tế và đồng bọn. Những hình ảnh này toàn là tiêu cực; hình ảnh thứ nhất là về thói háo danh của dân thành thị qua cách nhìn mang tính đạo đức đầy công phẫn của người nông thôn; hình ảnh thứ hai là về những kẻ nặng đầu óc vật chất qua con mắt của các tầng lớp thị dân mà nguyên tắc đạo đức của họ đã bị thay bằng lối sống thành phố lớn; và hình ảnh thứ ba ít rõ hơn về tầng lớp tài phiệt cũ hành động có hệ thống và vô cảm hơn.
Nhưng giới điều hành giàu có của những năm 1940 và 1950, từ các góc độ kinh tế và chính trị của họ, lại không theo khuôn mẫu như vậy; họ được chấp nhận kiểu khá hoài nghi, thậm chí còn được thành viên của xã hội đại chúng thầm ngưỡng mộ. Không có những khuôn mẫu tiêu cực nào được lan truyền rộng rãi về giới điều hành giàu có và người đứng ngoài chính trị; và nếu một hoặc hai người nổi lên như hình tượng được quần chúng ưa chuộng, thì họ sẽ nhanh chóng bị chàng giám đốc điều hành Mỹ “hãnh tiến”, mạnh mẽ, và sáng sủa đánh bại.
Trong bối cảnh xã hội đại chúng, chúng ta không nên mong đợi gì thêm. Phần lớn thành viên của nó đều bị lạc hướng vì địa vị, vì sự tiết lộ về những hành động đồi bại nhỏ hơn, và vì con-người-nhỏ-bé- kiểu-Machiavelli sẽ khai tử cho sự nổi loạn chính trị. Có lẽ đã có thể khác nếu cộng đồng trí thức không có tâm lý bảo thủ đến thế, không dễ nhút nhát như vậy, không bị lôi cuốn bởi vẻ hào hoa của nhiều thành viên của nó. Nhưng với các điều kiện này của xã hội đại chúng và cộng đồng trí thức, chúng ta có thể dễ dàng hiểu tại sao giới tinh hoa quyền lực Mỹ lại không có ý thức hệ và cảm thấy không cần phải có, tại sao sự thống trị của nó không có tư tưởng, sự thao túng của nó không có cố gắng biện minh. Việc thiếu quan tâm của những kẻ có quyền lực chính là tình trạng đồi bại thực sự cao hơn của thời đại chúng ta, vì cùng với nó là tình trạng vô trách nhiệm có tổ chức hiện đang là đặc điểm quan trọng nhất trong hệ thống quyền lực công ty của Mỹ.