K
hông muốn bất an với những vấn đề đạo lý của kinh tế chính trị, người Mỹ bám lấy ý kiến cho rằng chính phủ là một loại máy tự động, được điều chỉnh bằng cách cân bằng các lợi ích cạnh tranh. Hình ảnh này về chính trị đơn giản là mượn từ hình ảnh chính thức của kinh tế: ở cả hai trường hợp, thế cân bằng có được do nhiều lợi ích giằng co, mỗi bên chỉ bị giới hạn trong cách giải thích pháp lý và phi lý về tác động qua lại sẽ xuất hiện.
Ý tưởng về sự cân bằng tự động đã được chỉnh sửa công phu, có sức thuyết phục nhất trong bối cảnh kinh tế thế kỷ XVIII: thị trường là tối thượng, và trong nền kinh tế thần kỳ của các doanh nghiệp nhỏ không thể có một trung tâm độc tài nào. Và trong lĩnh vực chính trị cũng vậy, sự phân chia và thế cân bằng về quyền lực thắng thế, do đó không có cơ hội cho chế độ chuyên quyền. John Adams viết: “Đất nước không chấp nhận thế cân bằng quyền lực, sẽ phải chấp nhận chế độ chuyên quyền. Ngoài ra không có giải pháp nào khác”.1 Được người của thế kỷ XVIII phát triển, cân bằng, hay kiểm soát và cân bằng, trở thành cơ chế chính vì nó bảo đảm cho cả tự do kinh tế lẫn tự do chính trị và không có chế độ độc tài trong các nước có chủ quyền của thế giới.
Ngày nay, khái niệm về kinh tế chính trị tự điều chỉnh mà chúng ta biết rõ nhất chỉ là thứ chủ nghĩa bảo thủ thực tế của cánh chống Chính sách Kinh tế Mới những năm 1930. Nó được mang một dáng vẻ mới – mặc dù hoàn toàn giả dối – vì đưa ra những cảnh tượng đáng sợ về các quốc gia độc tài như Đức trước đây và Nga ngày nay. Và mặc dù hoàn toàn không phù hợp với nền kinh tế chính trị của Mỹ hiện đại, nhưng nó lại là những lời hoa mỹ duy nhất chiếm ưu thế rộng rãi trong giới tinh hoa quản lý của công ty và nhà nước.
1.
Rất khó để từ bỏ mô hình quyền lực cũ với tư cách một trạng thái cân bằng, với giả định về nhiều nhóm độc lập, tương đối bình đẳng, và xung đột trong xã hội cân bằng. Những giả định này rõ ràng tới mức đã xuất hiện tranh biếm họa thiếu ý thức về các tuyên bố “ai thống trị nước Mỹ” mới đây. Ví dụ, theo ông David Riesman, trong nửa thế kỷ qua đã có một sự chuyển đổi từ “thang bậc quyền lực của một giai cấp thống trị sang sự phân tán quyền lực” của “các nhóm có quyền phủ quyết”. Hiện nay không ai điều hành được gì: mọi thứ trôi dạt vô định. Ông Riesman tin rằng: “Theo một nghĩa nào đó, đây chỉ là một cách khác để nói rằng Mỹ là một nước của tầng lớp trung lưu… mà trong đó có lẽ mọi người sẽ sớm thức tỉnh trước thực tế rằng giờ đây không có một ‘chúng ta’ điều hành mọi thứ nữa và không có một ‘họ’ chẳng làm gì hoặc một ‘chúng ta’ không điều hành mọi thứ và một ‘họ’ mới là người điều hành, mà tất cả ‘chúng ta’ là ‘họ’ và tất cả ‘họ’ là ‘chúng ta’”.
“Các thủ lĩnh đã bị mất quyền lực, nhưng những người đi theo cũng chẳng có được nó”, và đồng thời, ông Riesman lại giải thích theo kiểu tâm lý học về quyền lực và về người có quyền lực tới chỗ hoàn toàn cực đoan, ví dụ, “nếu doanh nhân cảm thấy yếu và lệ thuộc, thì dù có thể cho họ nhiều nguồn vật chất đi nữa, họ vẫn yếu và lệ thuộc”.
Vì thế, “… Tương lai dường như sẽ nằm trong tay những người kinh doanh nhỏ và chuyên nghiệp đang kiểm soát Quốc hội: đó là giới buôn bán bất động sản địa phương, luật sư, buôn bán ô tô, dịch vụ tang lễ, vân vân; nằm trong tay giới quân sự kiểm soát quốc phòng và một phần chính sách đối ngoại; nằm trong tay giới quản lý doanh nghiệp lớn và các luật sư của họ, những người trong ủy ban tài chính, và các nhà tư vấn khác vốn quyết định việc đầu tư nhà máy và ảnh hưởng tới tỉ lệ thay đổi công nghệ; nằm trong tay giới lãnh đạo lao động kiểm soát năng suất và phiếu bầu của công nhân; nằm trong tay những người da trắng sống ở vành đai da đen đặt cọc lớn nhất vào chính trị phía nam; nằm trong tay người Ba Lan, người Ý, người Do Thái và người Ireland đặt cọc vào chính sách đối ngoại, công việc nơi thành phố, và các tổ chức tôn giáo sắc tộc và văn hóa; nằm trong tay những người viết xã luận và phóng sự vốn giúp đỡ việc xã hội hóa thanh niên, trêu đùa và huấn luyện người lớn, gây cười và chọc giận người già; nằm trong tay nông dân – đội chiến binh gồm những người chăn nuôi gia súc, trồng ngô, chăn nuôi bò sữa, trồng bông, vân vân – họ kiểm soát các bộ và ủy ban quan trọng, và những người đại diện đang sống của quá khứ bị bên trong định hướng, kiểm soát nhiều ký ức của chúng ta; nằm trong tay người Nga, và ở mức độ thấp hơn là các quyền lực đối ngoại khác kiểm soát phần lớn chương trình nghị sự đáng chú ý của chúng ta, vân vân. Người đọc có thể thêm vào danh sách này cho đầy đủ”.2
Đây quả thực là thứ được đánh giá là “các tiêu chuẩn hiện đại hoàn toàn tự động và hoàn toàn khách quan”.3 Nhưng có một chút thực tế trong tính đa nguyên lãng mạn ấy, thậm chí trong lối mô phỏng quyền lực ấy như ông Riesman sáng tạo: nó là một tuyên bố có thể công nhận mặc dù nhầm lẫn, về các cấp độ quyền lực tầm trung, đặc biệt bộc lộ ở những quận thuộc đơn vị bầu cử Quốc hội và ở chính Quốc hội. Nhưng nó hơi lẫn lộn, thực sự nó còn không phân biệt giữa các cấp độ cao nhất, trung bình, và thấp nhất của quyền lực. Trên thực tế, chiến lược của mọi sự đa nguyên lãng mạn này, với hình ảnh bế tắc của nó do tổ chức nửa vời, là khá rõ.
Bạn thử nghiên cứu kỹ số lượng các nhóm liên quan, theo kiểu bối rối, như Whitman hăng hái đi tìm sự khác biệt. Thực sự thì nhóm nào không đủ tiêu chuẩn là nhóm có quyền phủ quyết? Bạn không cố gỡ mớ bòng bong ấy bằng cách phân loại các nhóm này, nghề nghiệp, tầng lớp, tổ chức căn cứ sự phù hợp chính trị của chúng hoặc thậm chí căn cứ việc chúng có được tổ chức về mặt chính trị hay không? Bạn sẽ không cố hiểu họ có thể liên hệ với nhau bằng cách nào để tạo thành một cấu trúc quyền lực, vì theo quan điểm của họ, người theo trường phái lãng mạn bảo thủ tập trung vào sự phân tán của hoàn cảnh hơn là vào các mối liên hệ của chúng trong một cấu trúc quyền lực. Và bạn không xem xét khả năng liệu có cộng đồng lợi ích nào trong những nhóm ở trên cùng hay không. Bạn không kết nối mọi hoàn cảnh và mấy nhóm hỗn tạp này với các quyết định lớn: bạn không hỏi và trả lời cùng với các chi tiết lịch sử: chính xác thì “những người buôn bán nhỏ” hay “những thợ xây dựng” liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới một loạt quyết định và sự kiện dẫn tới Thế chiến II thế nào? Các “công ty bảo hiểm”, hay trong vấn đề này là Quốc hội, đã làm gì với việc ra hay không ra quyết định, ném hay không ném, thứ vũ khí mới chế tạo? Hơn nữa, bạn nghiêm túc xem xét những tuyên bố mang tính quan hệ công chúng của lãnh đạo tất cả các nhóm, tầng lớp, và khối, và vì thế lẫn lộn giữa tâm lý khó chịu với thực tế quyền lực và chính sách. Chừng nào quyền lực còn chưa bị phô diễn lộ liễu, thì nó chưa phải là quyền lực. Và tất nhiên bạn còn chưa tính đến những khó khăn ảnh hưởng đến bạn như một người quan sát trước thực tế về sự bí mật, chính thức và theo cách khác.
Tóm lại, bạn để cho góc nhìn sai lệch của mình làm méo mó những gì bạn thấy, và với tư cách người quan sát cũng như người diễn giải, bạn cẩn thận duy trì ở mức độ mô tả cụ thể nhất mà bạn có thể quản lý, xác định cái thực theo đúng các chi tiết hiện có.
Thuyết cân bằng quyền lực, như Irving Howe đã nhận xét, là một cách nhìn hẹp về nền chính trị Mỹ.4 Với nó, người ta có thể giải thích những liên minh tạm thời trong đảng này hay đảng kia. Nó cũng hạn hẹp trong việc lựa chọn độ dài thời gian: khoảng thời gian mà bạn quan tâm càng ngắn, thì thuyết cân bằng quyền lực càng có vẻ hữu ích hơn. Vì khi tới gần và xem xét các giai đoạn ngắn theo lối báo chí, ví dụ một cuộc bầu cử nào đó, người ta thường bị choáng ngợp bởi rất nhiều thế lực và nguyên nhân. Một điểm yếu thường xuyên của “khoa học xã hội” Mỹ, từ khi nó bắt đầu dựa quá nhiều vào chủ nghĩa kinh nghiệm, là nó giả định rằng cách khôn ngoan và khoa học để hiểu xã hội hiện đại là chỉ cần liệt kê ra nhiều nguyên nhân. Tất nhiên, không phải thế: nó là lối chiết trung nhằm né tránh nhiệm vụ phân tích xã hội thực sự: nhiệm vụ là phải vượt qua việc đơn thuần liệt kê tất cả thực tế có thể coi là liên quan và cân nhắc từng thực tế trong đó để hiểu làm thế nào chúng phù hợp với nhau, bằng cách nào chúng tạo nên một mô hình về những gì mà bạn đang cố tìm hiểu.5
Chú ý quá mức tới những cấp độ quyền lực trung bình sẽ làm lu mờ cấu trúc quyền lực nói chung, đặc biệt ở cấp cao nhất và thấp nhất. Chính trị Mỹ, như thường được bàn luận, bỏ phiếu, và vận động cho nó, chủ yếu liên quan đến các cấp độ trung bình, và thường chỉ liên quan tới chúng. Phần lớn tin tức “chính trị” là tin tức và chuyện đồn thổi về các vấn đề ở cấp độ trung bình và xung đột. Và ở Mỹ, nhà lý luận chính trị cũng thường chỉ là người theo dõi một cách hệ thống hơn các cuộc bầu cử, ai bầu cho ai. Gống như một giáo sư hay một trí thức làm nghề tự do, bản thân nhà phân tích chính trị nói chung cũng thường thuộc cấp độ quyền lực trung bình. Anh ta biết về giới chóp bu chỉ qua lời đồn thổi; nếu có biết gì về tầng đáy cũng chỉ qua “nghiên cứu”. Nhưng khi anh ta ở nhà với các lãnh đạo cấp trung bình, và giống như một người tự nói về mình, cùng với sự “mặc cả” của họ.
Vì vậy, các nhà bình luận và phân tích, trong và ngoài trường đại học, tập trung vào các cấp độ quyền lực trung bình và sự cân bằng của chúng vì chúng gần họ hơn, bản thân họ chủ yếu cũng thuộc tầng lớp trung lưu, vì các cấp độ này cung cấp nội dung “chính trị” sôi động như một thực tế rõ ràng và được thông báo, vì những quan điểm như vậy phù hợp với lề thói cũ của mô hình chính thức về cách mà nền dân chủ hoạt động, và vì chấp nhận mô hình đó là tốt, đặc biệt là về lòng yêu nước đầy khoe khoang hiện thời của họ, nhiều trí thức vì thế có thể luôn sẵn sàng thỏa mãn những ham muốn chính trị mà họ có thể cảm nhận được.
Khi nghe nói về một “sự cân bằng quyền lực”, điều đó có thể có nghĩa là không một nhóm lợi ích nào có thể áp đặt ý chí hoặc các điều kiện của nó lên những nhóm khác; hoặc không nhóm lợi ích nào có thể gây ra một thế bí; hoặc sẽ có lúc nhóm đầu tiên và sau đó là nhóm khác nhận ra, theo kiểu có đi có lại; hoặc mọi chính sách là kết quả của thỏa hiệp, rằng không ai có được tất cả những gì mình muốn, mà mỗi người chỉ có được một thứ mà thôi. Trên thực tế, tất cả những điều này có thể có nghĩa là, các cố gắng để mô tả những gì có thể xảy ra, thường xuyên hay tạm thời, khi nói tới “quyền mặc cả bình đẳng”. Nhưng, như Murray Edelman đã chỉ rõ,6 mục đích tranh giành lợi ích này không chỉ được chấp nhận, mà chúng còn phản ánh hiện trạng về hy vọng và chấp nhận. Theo đó, khi nói các lợi ích khác nhau được “cân bằng” là thường để đánh giá giữ nguyên hiện trạng là thỏa đáng hoặc thậm chí là tốt; ý tưởng hy vọng về sự cân bằng thường được ngụy trang như một mô tả thực tế.
“Cân bằng quyền lực” hàm ý bình đẳng về quyền lực, và bình đẳng về quyền lực có vẻ hết sức hợp lý và thậm chí đáng trọng, nhưng trên thực tế cân bằng đáng trọng của người này lại thường là không cân bằng và bất công của người khác. Tất nhiên, các nhóm thế lực có xu hướng sẵn sàng tuyên bố có một sự cân bằng quyền lực công bằng và một sự hòa hợp lợi ích thực sự, bởi họ thích việc thống trị của họ không gián đoạn và êm ả. Vì thế các doanh nghiệp lớn lên án lãnh đạo lao động nhỏ là “những kẻ cản trở trạng thái bình yên” và đảo lộn những lợi ích phổ biến vốn có trong hợp tác doanh nghiệp-người lao động. Cho nên các quốc gia có đặc quyền nhân danh chủ nghĩa quốc tế lên án các quốc gia yếu hơn, dùng quan niệm đạo lý để bảo vệ những gì đã giành được bằng vũ lực trước những người không có gì, những người mà sau này khi đòi phải có thế lực hoặc bình đẳng thì chỉ có thể hy vọng thay đổi hiện trạng bằng vũ lực.7
Quan niệm cho rằng thay đổi xã hội bắt đầu bằng thái độ cho và nhận đầy khoan dung, bằng thỏa hiệp và một hệ thống phủ quyết lợi ích này được cân bằng bởi lợi ích khác dựa trên giả định tất cả những việc này diễn ra trong một khuôn khổ tương đối ổn định, rằng bản thân nó không thay đổi, rằng mọi vấn đề đều có thể thỏa hiệp, và vì vậy hòa hợp tự nhiên hoặc có thể được tạo ra. Những người được lợi bởi khuôn khổ hiện trạng nói chung ấy có thể dễ chấp nhận nó như cơ chế thay đổi xã hội hơn là những người không thỏa mãn với thay đổi đó. Hơn nữa, “trong hầu hết các lĩnh vực… chỉ một nhóm lợi ích được tổ chức, chứ không có hoặc chỉ có một vài nhóm lớn”.8 Trong mấy trường hợp này, như ông David Truman đã nói, “các nhóm lợi ích vô tổ chức”[9] chỉ là dùng một từ khác cho những gì từng được gọi là “quần chúng”, một khái niệm chúng ta sẽ nghiên cứu ngay sau đây.i
i. Xem Chương 13: Xã hội đại chúng.
“Các nhóm áp lực” quan trọng, đặc biệt là các nhóm kinh doanh nơi nông thôn và đô thị, đã được kết hợp hoặc về nhân sự và tổ chức với chính quyền cả lập pháp lẫn hành pháp, hoặc trở thành công cụ của các nhóm nhỏ có thế lực mà đôi khi gồm cả những nhà lãnh đạo danh nghĩa, nhưng thường là không có. Những thực tế này vượt khỏi sự tập trung của các nhóm tự nguyện và sự chiếm đoạt quyền lực của những thành viên vô cảm bởi các giám đốc điều hành chuyên nghiệp. Chẳng hạn, chúng gồm các nhóm chi phối sử dụng NAM để làm các thành viên kinh doanh nhỏ thấy rằng lợi ích của họ đồng nhất với lợi ích của doanh nghiệp lớn, và rồi tập trung sức mạnh kinh-doanh-nói-chung thành một áp lực chính trị. Theo quan điểm của mấy giới cao hơn này, “hội tình nguyện”, “nhóm áp lực” trở thành một đặc tính quan trọng của chương trình quan hệ quần chúng. Bản thân một số công ty của những nhóm như vậy do các thành viên riêng lẻ chỉ huy là công cụ chỉ huy, quan hệ công chúng, và áp lực, nhưng thường mưu mô hơn khi công khai sử dụng các công ty như cơ sở quyền lực, và coi các hiệp hội quốc gia khác nhau như những nhánh hoạt động chung với mình. Các hiệp hội là các tổ chức hoạt động mà giới hạn quyền lực được những người sử dụng chúng đặt ra, thay vì là người phán xử cuối cùng về việc hành động hay không hành động.10
Kiểm soát và cân bằng vì thế có thể được hiểu như một tuyên bố mang tính giải pháp về “chia để trị” và như một cách ngăn cản việc thể hiện trực tiếp hơn nguyện vọng của quần chúng. Vì thuyết cân bằng thường dựa trên tư tưởng đạo đức về sự hòa hợp lợi ích tự nhiên, theo đó lòng tham và sự độc ác lại dung hòa với công bằng và tiến bộ. Một khi cấu trúc cơ bản của nền kinh tế chính trị Mỹ đã được xây dựng, và cho đến chừng nào nó còn có thể được ngầm hiểu là thị trường sẽ mở rộng vô hạn, thì sự hòa hợp lợi ích có thể và đã làm tốt vai trò ý thức hệ của các nhóm thống trị, bằng cách làm cho lợi ích của họ có vẻ đồng nhất với lợi ích của cộng đồng nói chung. Chừng nào học thuyết này còn chiếm ưu thế, thì bất kỳ nhóm thấp hơn nào bắt đầu tranh đấu có thể bị coi là không hài hòa, cản trở lợi ích chung. Như E. H. Carr nhận xét: “Học thuyết về sự dung hòa lợi ích vì thế là một công cụ đạo đức tài tình, được những nhóm đặc quyền với sự chân thật hoàn hảo viện dẫn để biện minh và duy trì vị trí thống trị của họ”.11
2.
Trọng tâm chính của thuyết cân bằng là Quốc hội Mỹ, và những diễn viên hàng đầu là giới nghị sĩ. Nhưng là các kiểu xã hội, nên 96 Thượng Nghị sĩ và 435 Hạ Nghị sĩ không đại diện cho tuyệt đại đa số công dân. Họ đại diện cho những người thành công trong các nỗ lực kinh doanh và chuyên môn. Những người già hơn đều là người Mỹ da trắng có đặc quyền, sinh ra ở Mỹ bởi cha mẹ người Mỹ, đều là người Mỹ Tin Lành. Họ là những sinh viên đã tốt nghiệp đại học, ít nhất về thu nhập và địa vị xã hội hoàn toàn thuộc tầng lớp thượng lưu. Nhìn chung, họ không phải trải qua cảnh lĩnh tiền công hoặc làm những việc lương thấp. Tóm lại, họ thuộc tầng lớp thượng lưu cũ và mới của xã hội bản địa.i
i. Ngày nay, một Thượng Nghị sĩ điển hình là người khoảng 57 tuổi đã tốt nghiệp đại học, mặc dù trong Quốc hội khóa 83 (1954) có một người đã 86 tuổi. Hạ Nghị sĩ điển hình, cũng chiếm dưới 10% số người trưởng thành đã tốt nghiệp đại học, khoảng 52 tuổi, mặc dù có một người chỉ mới 26 tuổi trong Quốc hội khóa vừa rồi. Hầu như toàn bộ Thượng Nghị sĩ và Hạ Nghị sĩ làm việc trong chính quyền địa phương hoặc bang, và khoảng một nửa trong đó là các cựu chiến binh của một trong mấy cuộc chiến tranh. Hầu hết họ đều làm việc trong các nghề phi chính trị, thường là các nghề thuộc 15% bậc trên của thang bậc nghề nghiệp: ví dụ, trong Quốc hội khóa 1949–1951, 69% Thượng Nghị sĩ và Hạ Nghị sĩ là người có chuyên môn, và 24% Thượng Nghị sĩ và 22% Hạ Nghị sĩ khác là doanh nhân hoặc quản lý. Không có người làm công ăn lương, không có nhân viên văn phòng lương thấp, không có người làm nghề nông trong Thượng viện, và chỉ có một hoặc hai người trong Hạ viện.12
Tất nhiên, nghề nghiệp chính của họ là luật pháp – chỉ 0,1% số người làm việc ở Mỹ theo đuổi, nhưng Thượng Nghị sĩ và Hạ Nghị sĩ là 65%. Việc họ chủ yếu là các luật gia cũng dễ hiểu. Tài ăn nói của các luật sư giống với cái tài mà các chính trị gia cần; cả hai đều liên quan đến việc điều đình, thương lượng, và tư vấn cho những người ra quyết định trong kinh doanh và chính trị. Luật sư cũng thường thấy rằng dù thắng hay thua, thì chính trị vẫn hữu ích cho nghề luật, vì nó quảng bá việc làm của họ. Hơn nữa, hành nghề luật sư riêng là một chuyện làm ăn có thể mang trong cặp, có thể xử lý gần như ở đâu cũng được. Vì vậy, luật sư cũng như chính trị gia có chỗ mà về mỗi khi anh ta không tái đắc cử cũng như có chỗ để dựa khi đắc cử nếu anh ta muốn. Trên thực tế, với một số luật sư, họ nghĩ tới một hay hai nhiệm kỳ trong chính quyền, và thực ra đó chỉ là bước đệm để đi tới một hãng luật lớn hơn, ở Washington hay quê nhà. Việc thực hành luật thường cho phép một người tham gia chính trị mà không gặp nhiều rủi ro và một số cơ hội lợi thế với một nguồn tiền chính không phụ thuộc vào những sở thích đồng bóng của cử tri.13 Hầu hết thành viên Quốc hội trong 15 năm qua – và có lẽ còn dài hơn thế – đều xuất thân từ những nghề nghiệp về chuyên môn và kinh doanh giống nhau mà họ đã theo đuổi trong thập kỷ qua. Từ 90% tới 95% trong số họ là con trai của giới chuyên môn hoặc doanh nhân hoặc nông dân – mặc dù lúc họ ra đời vào khoảng năm 1890, chỉ có 37% lực lượng lao động thuộc tầng lớp doanh nhân, và không phải tất cả những người này đều có vợ và con trai.14
Trong nửa thế kỷ qua, không có người da đen nào trong Thượng viện, và cũng chưa bao giờ có hơn hai người trong Hạ viện – mặc dù người da đen chiếm khoảng 10% dân số Mỹ. Từ năm 1945, tỉ lệ người sinh ra ở nước ngoài trong Thượng viện chưa bao giờ vượt quá 8%, và luôn nhỏ hơn nhiều so với tỉ lệ trong dân số – ví dụ giai đoạn 1949–1951 chưa tới 1/5 tỉ lệ đại diện. Hơn nữa, các thế hệ Nghị sĩ thứ nhất và thứ hai có xu hướng nhiều tuổi hơn, đến từ phía bắc và phía trung, thay vì những người nhập cư mới hơn từ phía nam và phía đông châu Âu. Người Tin Lành chiếm ưu thế ở địa vị cao hơn (Trưởng lão, Tân giáo, Nhất thể, và Tự quản) đã cung cấp số Nghị sĩ nhiều gấp đôi tỉ lệ đại diện của họ trong dân số. Những người Tin Lành bậc Trung (Dòng Giám lý và Baptist) trong Quốc hội đại khái ngang với tỉ lệ trong dân số, nhưng người Công giáo và Do Thái thì ít hơn: ví dụ, người Công giáo trong Quốc hội khóa 81, chỉ chiếm 16% trong Hạ viện và 12% trong Thượng viện, nhưng lại chiếm tới 34% dân số của năm 1950 nói chung.15
Một số thành viên Quốc hội là triệu phú, những người khác phải lăn lộn chốn đồng quê mới có tiền. Các chi phí cho văn phòng hiện nay rất nặng, thường gồm cả việc bảo dưỡng hai ngôi nhà và đi lại giữa chúng, những đòi hỏi của một đời sống xã hội thường bận rộn, và chi phí cho việc đắc cử và tái đắc cử ngày càng tăng cao. Đối với các nghị sĩ, thu nhập bên ngoài bây giờ gần như là không thể thiếu, và trên thực tế, năm 1952 cứ năm Hạ Nghị sĩ thì có bốn và cứ ba Thượng Nghị sĩ thì có hai thu nhập không chỉ từ lương của Nghị sĩ, mà còn “từ kinh doanh hay nghề nghiệp mà họ vẫn duy trì trong cộng đồng ở quê, hoặc từ những khoản đầu tư khác. Những người giàu có độc lập ngày càng nhiều ở Capitol Hill… Với những người không có cách riêng… cuộc sống với tư cách một thành viên Quốc hội có thể trên bờ tuyệt vọng”.i Robert Bendiner gần đây nhận xét, “Nếu luật Liên bang thực sự có nghĩa đúng như ý định của nó liên quan đến việc sử dụng tiền trong các chiến dịch bầu cử, thì sẽ có nhiều chính trị gia kết thúc ở Leavenworth hơn là ở Washington”.17
i. Từ cuối Thế chiến II đến năm 1955, các thành viên Quốc hội nhận được 15.000 đô-lanăm, trong đó có phụ cấp chi phí miễn thuế là 2.500 đô-la, nhưng thu nhập bình quân – kể cả đầu tư, kinh doanh, và các nghề khác cũng như viết bài và nói chuyện – của một thành viên Hạ viện vào năm 1952 là khoảng 22.000 đô-la, và của Thượng Nghị sĩ là 47.000 đô-la. Từ ngày 1 tháng 3 năm 1955, lương hằng năm của các thành viên Quốc hội được nâng lên 22.500 đô-la.16
Nghề làm chính trị không còn thu hút được đội ngũ những người có năng lực như trước đây. Từ góc độ tiền bạc, một luật sư khôn ngoan, có thể dễ dàng kiếm được 25.000 tới 50.000 đô-lanăm, rất có thể không đổi nó lấy một vị trí đầy nguy hiểm của Nghị sĩ, và nếu có ngoại lệ, nếu họ không phải là người giàu có, thì chắc chắn ứng viên Quốc hội sẽ là một luật sư của một hạt, một chánh án địa phương, hoặc một thị trưởng – mà lương của họ thậm chí còn thấp hơn lương Nghị sĩ. Nhiều nhà quan sát, cả trong lẫn ngoài Quốc hội, đều thống nhất rằng trong suốt 50 năm qua Quốc hội đã không còn được công chúng tôn trọng; và rằng kể cả ở các quận và bang quê hương của họ, các nghị sĩ không còn là những nhân vật quan trọng như trước đây.18 Trên thực tế, có bao nhiêu người biết tên Hạ Nghị sĩ của họ, hoặc thậm chí Thượng Nghị sĩ của họ?
50 năm trước, ở quận hay bang của mình, các nghị sĩ khi vận động tranh cử không phải cạnh tranh trong một thế giới của những người nổi tiếng đầy giả tạo, với các phương tiện giải trí và tiêu khiển. Người ta trông đợi các chính trị gia khi diễn thuyết sẽ nói trong vòng một tiếng về những gì đang diễn ra ở thế giới rộng lớn hơn, và trong các cuộc thảo luận anh ta chẳng có dịp cũng như có cơ hội để tham khảo người viết thuê. Nói cho cùng, anh ta là một trong những người được trả cao nhất ở địa phương mình và là vị tai to mặt lớn ở đó. Nhưng hôm nay, chính trị gia này phải dựa vào truyền thông đại chúng, và việc tiếp cận chúng lại rất tốn kém.i Thực tế đơn giản về chi phí vận động tranh cử thời hiện đại rõ ràng đã trói chặt Nghị sĩ, nếu anh ta không phải là người giàu có, vào các nguồn đóng góp cần thiết mà cũng hợp lý, thường được coi là những khoản đầu tư để hy vọng sẽ hoàn lại.
i. Một Nghị sĩ cựu trào mới đây thông báo là vào năm 1930, ông có thể chạy đua tranh cử với khoảng 7.500 đô-la, ngày nay là từ 25.000 tới 50.000 đô-la, và vào Thượng viện có thể còn tốn kém hơn. Có thông tin là John F. Kennedy (con trai của triệu phú Joseph P. Kennedy), đảng viên Dân chủ bang Massachussetts, đã tốn 15.866 đô-la trong chiến dịch tranh cử năm 1952, nhưng “các ủy ban nhân danh ông trong việc cải thiện ngành giày, đánh cá và các ngành công nghiệp khác của quốc gia đã chi 217.995 đô-la”.19
Là những người hành nghề luật tự do và là chính trị gia của đảng phải đối mặt với các cuộc bầu cử, giới chính trị gia chuyên nghiệp phải o bế nhiều nhóm người và loại người khác nhau ở các đơn vị bầu cử của họ. Họ là “những người tham gia” nổi tiếng trong các tổ chức xã hội, doanh nghiệp và bằng hữu, thuộc các câu lạc bộ Masons, Elks, và American Legion. Ở các đơn vị bầu cử, Nghị sĩ phải đối phó với những nhóm có tổ chức, và họ có được ủng hộ hoặc chấp thuận hay không là tùy thuộc vào thái độ của mình với các lợi ích và chương trình của mấy nhóm này. Chính trong phạm vi địa phương này mà các nhóm cướp sẽ hoạt động công khai nhất, đổi phiếu bầu lấy sự ưu đãi. Các chính trị gia bị những yêu cầu và đòi hỏi của các nhóm ấy, lớn và nhỏ, địa phương và toàn quốc, bao vây. Là người môi giới quyền lực, các chính trị gia phải thỏa hiệp với các nhóm lợi ích, và trong quá trình đó, bản thân họ thường phải thỏa hiệp, trở thành những người không có đường lối chính sách vững vàng.
Phần lớn chính trị gia chuyên nghiệp đại diện cho một sự cân bằng khôn khéo của các nhóm lợi ích địa phương, và sự tự do hành động khá nhỏ bé trong các quyết định chính trị mà họ rút ra được từ chính thực tế đó: nếu may mắn, họ có thể cân nhắc và chơi trò dùng nhóm lợi ích này chống nhóm lợi ích khác, nhưng có lẽ thường xuyên hơn là họ bắt đầu ngồi lên các vấn đề để tránh phải ra quyết định. Bảo vệ lợi ích của khu vực bầu cử của mình, Nghị sĩ vẫn hết sức trung thành với địa phương tối cao của mình. Trên thực tế, tính cục bộ của anh ta trong một số trường hợp mãnh liệt đến nỗi là ứng viên địa phương, anh ta thậm chí có thể yêu cầu và thu thập để trưng ra hàng loạt cuộc tấn công mình từ bang khác, vì thế biến chiến dịch tranh cử của mình thành một cuộc thánh chiến của địa phương tối cao chống lại những kẻ ngoài cuộc trên cả nước.20
Trong Quốc hội, cũng như ở đơn vị bầu cử của anh ta, chính trị gia thấy một mớ lộn xộn các lợi ích, và anh ta cũng thấy quyền lực được tổ chức theo đảng và theo thâm niên. Quyền lực của Quốc hội tập trung vào ủy ban; quyền lực của ủy ban thường tập trung vào chủ tịch, người trở thành chủ tịch vì thâm niên. Do đó, cơ hội đạt tới vị trí quyền lực của chính trị gia trong Quốc hội thường dựa vào khả năng giữ chức vụ của anh ta trong một giai đoạn dài và liên tục, và để làm điều đó, anh ta không được gây thù chuốc oán với các phần tử quan trọng trong cử tri. Điều chỉnh linh hoạt với một số nhóm lợi ích và chương trình này của họ, mềm dẻo thực hiện một số đường lối chính sách mà đôi khi có xung đột, nhưng làm tốt sẽ được đánh giá cao. Vì vậy, qua một quá trình lựa chọn máy móc, những “lính chính quy” tầm thường trong đảng, với trên dưới 20 năm neo chặt ở các địa phương tối cao của mình, rất có khả năng đạt được và duy trì được vị trí ở các trung tâm quyền lực của Quốc hội.
Ngay cả khi chính trị gia trở thành một chủ tịch – nếu có thể, của một ủy ban có ảnh hưởng tới lợi ích địa phương trong quận mình, anh ta thường sẽ không cố đóng vai trò của chính khách quốc gia. Vì cho dù uy tín đi kèm có thú vị đến mấy, thì nó vẫn phải xếp sau việc có được sự ủng hộ của dân chúng ở địa phương; trách nhiệm của anh ta không phải là quốc gia, mà là lợi ích chủ đạo của địa phương mình. Hơn nữa, như Stanley High đã nhận xét, “bộ máy Quốc hội tốt hơn không chữa được thói xấu của tính cục bộ; thực ra nó có thể cho các thành viên nhiều thời gian hơn và nhiều phương tiện tốt hơn để thực hiện nó”.21
Tuy nhiên, chủ tịch mấy ủy ban lớn là các thành viên tinh hoa của Quốc hội. Trong tay họ là những quyền lực quan trọng của Quốc hội, cả quyền lập pháp lẫn quyền điều tra. Họ có thể đề ra, thúc đẩy, ngăn cản, hoặc làm đảo lộn ngành lập pháp; họ thạo việc xâm nhập và ngăn chặn. Họ có thể ngăn chặn một đề xuất của Nhà Trắng để nó không bao giờ được đem ra thảo luận, nói gì tới chuyện bỏ phiếu. Và họ có thể nói với Tổng thống điều gì sẽ được và điều gì sẽ không được sự chấp thuận của dân chúng ở quận mình hoặc của các đồng nghiệp chịu ảnh hưởng của mình trong Quốc hội.
Trong thập kỷ thứ nhất và thứ hai của thế kỷ này, chỉ một ít dự luật được đệ trình trong sáu tháng của kỳ họp thứ nhất hoặc ba tháng của kỳ họp thứ hai. Các dự luật này được đưa ra xem xét trong thời gian kéo dài từ việc nghiên cứu của ủy ban tới các cuộc tranh luận ở Quốc hội. Thảo luận là quan trọng và diễn ra trước lượng thính giả rất đông ở phòng họp. Lập pháp chiếm hầu hết thời gian và sự chú ý của các nghị sĩ. Hiện nay hàng trăm dự luật được xem xét trong mỗi kỳ họp, và vì sẽ là bất khả thi trong việc các nghị sĩ thậm chí đọc hết – hoặc 1/10 số đó – nên họ phải dựa vào các ủy ban báo cáo về dự luật. Có rất ít thảo luận và nếu có thì thường diễn ra trước một phòng họp trống vắng. Các diễn văn chủ yếu là cho địa phương của nghị sĩ nghe, và nhiều bài không được đọc mà chỉ được đưa vào hồ sơ. Trong khi việc thảo luận dự luật còn đang diễn ra, thì các nghị sĩ bận rộn ở văn phòng của họ, quản lý một đội ngũ nhỏ xử lý các việc lặt vặt cho các đơn vị cử tri và việc in thư từ cũng như đánh máy là quan trọng đối với họ.22
Trong các chiến dịch tranh cử của chính trị gia chuyên nghiệp, các vấn đề quốc gia nhất quán thường không được đề cập, nhưng các vấn đề địa phương lại được đưa ra một cách cực kỳ khôn khéo. Ví dụ, trong 472 cuộc bầu cử Quốc hội của năm 1954, không có vấn đề quốc gia nào được trình bày một cách rõ ràng, kể cả những vấn đề địa phương liên quan đến chúng thực sự.i Các khẩu hiệu và sự công kích cá nhân về tính cách, khiếm khuyết riêng, rồi những phản đối và nghi ngờ là tất cả những gì cử tri có thể nhìn thấy hoặc nghe thấy, và như thường lệ, nhiều người chẳng buồn quan tâm. Mỗi ứng viên đều cố bôi nhọ đối thủ, đến lượt người này lại cố bôi nhọ anh ta. Những ứng viên bị lăng mạ dường như tự biến mình thành vấn đề, và về việc này hầu như tất cả họ đều thua. Cử tri chẳng thấy vấn đề nào hết, và họ cũng thua, mặc dù không hề biết điều đó.24
i. Ở bang này, vấn đề xóa bỏ tệ phân biệt chủng tộc có lẽ là quan trọng nhất; ở bang khác, một người Ý lấy vợ người Ireland thì tên của cả hai được dùng như nhau. Ở bang này, việc ghi âm cuộc nói chuyện đã hai năm của ứng viên về người mà cảnh sát định cưới có lẽ là quan trọng; ở bang khác lại là việc liệu ứng viên có đủ chu đáo, hay quá chu đáo với em gái mình. Ở bang này luật chơi bài bingo là quan trọng, còn ở bang kia vấn đề lớn là liệu một người có tuổi đang chạy đua vào Thượng viện có đủ nam tính. Ở một bang chủ chốt, lời cáo buộc của 20 năm trước rằng ứng viên từng gắn chặt với một công ty tàu hơi nước trả tiền cho một chánh án để được thuê cầu cảng là một vấn đề liên tục được trình chiếu trên tivi. Một trong những Thượng Nghị sĩ nổi tiếng nhất khẳng định về đối thủ của mình – cũng là một người đứng tuổi giàu có và nổi tiếng – là anh ta “hoặc không thật thà, hoặc ngớ ngẩn, hoặc ngu xuẩn và là một gã đại bịp”. Một ứng viên khác không chịu nổi sức ép nên thú nhận việc anh ta đã khai dối vào hồ sơ chiến tranh. Phe Dân chủ một lần nữa lại chiến đấu với suy thoái; phe Cộng hòa một lần nữa lại quyết tâm đưa Alger Hiss vào tù.23
Là một phần của đời sống công đơn điệu buồn chán, chiến dịch tranh cử chính trị Mỹ sẵn sàng đánh lạc hướng chú ý khỏi cuộc tranh luận có thể có về chính sách quốc gia. Nhưng không được nghĩ rằng cái ồn ào kia là tất cả những gì liên quan. Có những vấn đề ở mỗi quận và mỗi bang, có những vấn đề được các nhóm lợi ích có tổ chức mang tầm quan trọng địa phương đưa ra và theo dõi. Và đó là hàm ý chính rút ra từ đặc điểm của các chiến dịch tranh cử.
Không có đảng quốc gia nào là đảng của các chính trị gia chuyên nghiệp mà trong thảo luận lại tập trung vào các vấn đề quốc gia một cách rõ ràng, có trách nhiệm, và liên tục.
Theo định nghĩa, chính trị gia chuyên nghiệp là một chính trị gia đảng phái. Thế nhưng hai chính đảng ở Mỹ không phải là các tổ chức trung ương mang tính quốc gia. Như những cấu trúc nửa phong kiến, chúng hoạt động được là do giới doanh nghiệp đỡ đầu cùng các ưu ái khác về phiếu bầu và sự bảo vệ. Chính trị gia nhỏ hơn thì trao đổi phiếu bầu trong lĩnh vực của mình đổi lấy một phần bảo trợ và ưu ái lớn hơn. Nhưng không có ai là “trùm” quốc gia, lại càng không có một lãnh đạo có trách nhiệm quốc gia của đảng nào cả. Mỗi đảng là một chòm sao gồm các tổ chức địa phương kết hợp lại một cách kỳ lạ và tinh vi với các khối lợi ích đa dạng. Nghị sĩ thường độc lập với các lãnh đạo Quốc hội thuộc đảng mình khi sử dụng ngân sách tranh cử. Các ủy ban quốc gia của mỗi đảng lớn chủ yếu gồm những người không có tài năng chính trị; vì khi các đảng là liên minh của các tổ chức bang và địa phương, mỗi đảng lại phát triển khối thống nhất quốc gia này bởi bốn năm mới phải làm một lần cho việc bầu cử Tổng thống.25 Ở tầng đáy và tầng giữa, các đảng chủ yếu đều mạnh, thậm chí độc tài; nhưng ở trên cùng lại rất yếu. Chỉ với Tổng thống và Phó Tổng thống thì các đại cử tri của họ mới mang tính toàn quốc, và bằng các hành động và việc bổ nhiệm của mình mà họ đã giúp cho sự thống nhất của đảng thắng thế trên cả nước.
Những khác biệt giữa hai đảng trong các vấn đề quốc gia là rất hẹp và rất lộn xộn. Mỗi đảng dường như có tới 48 phe phái, mỗi bang một phe phái; do đó chính trị gia chuyên nghiệp, với tư cách là Nghị sĩ và là người vận động tranh cử, không quan tâm tới đường lối quốc gia của đảng, nếu có. Anh ta không bị phụ thuộc vào bất kỳ kỷ luật quốc gia có hiệu lực nào của đảng. Anh ta chỉ phát biểu vì địa phương của mình, và quan tâm tới các vấn đề quốc gia chỉ khi chúng ảnh hưởng tới địa phương mình, tới những lợi ích đã được tổ chức có hiệu quả ở đó, và tới các cơ hội tái đắc cử của mình. Đó là lý do chính tại sao khi anh ta nói về các vấn đề quốc gia, ngôn từ chính trị của chính trị gia lại mỹ miều sáo rỗng đến thế. Có vị trí cao nhất ở địa phương, chính trị gia chuyên nghiệp không thuộc quyền lực chính trị quốc gia thượng đỉnh: anh ta chỉ loanh quanh ở mức trung bình.
3.
Ngày càng nhiều vấn đề cơ bản chẳng bao giờ đi tới chỗ quyết định ở Quốc hội, hoặc ở các cơ quan quyền lực nhất của nó, lại càng ít đưa ra trước cử tri trong các chiến dịch tranh cử. Ví dụ, việc phải quyết định Mỹ có tham gia Thế chiến II hay không đã hoàn toàn qua mặt Quốc hội. Nó chưa bao giờ là một vấn đề được bàn luận rõ ràng và tập trung để công chúng quyết định. Theo quyền hành pháp khẩn cấp, Tổng thống có thể ra quyết định tham chiến gần như độc đoán, rồi sau đó mới trình Quốc hội như một sự đã rồi. “Các thỏa thuận hành pháp” có sức mạnh của các hiệp ước nhưng chẳng cần Thượng viện phê chuẩn: việc thỏa thuận về khu trục hạm với Anh và cam kết gửi quân tới châu Âu dưới danh nghĩa NATO mà Thượng Nghị sĩ Taft đấu tranh quyết liệt là những ví dụ rõ ràng về thực tế này. Và trong trường hợp các quyết định về Formosai hồi mùa xuân năm 1955, Quốc hội đơn giản đã từ bỏ mọi quyền thảo luận các sự kiện và quyết định liên quan đến bờ vực chiến tranh với nhánh hành pháp.
Khi các vấn đề cơ bản được mang ra thảo luận tại Quốc hội, chúng có thể được cấu trúc sao cho hạn chế việc xem xét, và thậm chí bị lâm vào ngõ cụt thay vì giải quyết. Vì không có các đảng trung ương có trách nhiệm, nên khó hình thành một phe đa số trong Quốc hội – và cùng với chế độ thâm niên, ủy ban điều lệ, khả năng cản trở việc thông qua dự luật, thiếu thông tin và chuyên môn – Quốc hội cũng rất có khả năng lạc trong mê hồn trận lập pháp. Không có gì ngạc nhiên khi Quốc hội thường trông chờ vào sáng kiến cứng rắn của Tổng thống trong các vấn đề phi địa phương, và trong những gì được xác định là trường hợp khẩn cấp, quyền lực được trao cho bên hành pháp khá dễ dàng, nhằm tháo gỡ bế tắc nửa vời. Thực sự thì một số nhà quan sát tin rằng “việc từ bỏ và trở ngại của Quốc hội, chứ không phải sự tiếm quyền của Tổng thống, là nguyên nhân chính của tình trạng chuyển giao quyền lực cho người đứng đầu hành pháp”.26
i. Nghị quyết Formosa năm 1955, một dự luật được Quốc hội Mỹ ban hành tháng 1 năm 1955 nhằm thiết lập cam kết bảo vệ Formosa, tức Đài Loan ngày nay. (BT)
Tất nhiên, giữa các chính trị gia chuyên nghiệp đều có những mẫu số chung giống nhau về trạng thái tâm lý và lợi ích, nằm ngay trong xuất thân hoàn toàn đồng nhất, nghề nghiệp, các mối giao thiệp; và tất nhiên, còn có lối nói khoa trương chung mà họ thường mắc phải trong suy nghĩ. Vì thế, khi theo đuổi một vài lợi ích địa phương của mình, các nghị sĩ thường giống nhau trong việc phải phù hợp với lợi ích quốc gia. Các lợi ích như thế hiếm khi trở thành những vấn đề rõ ràng. Nhưng nhiều vấn đề nhỏ được quyết định bởi lợi ích địa phương, và bởi mặc cả, bởi kiểm soát và cân bằng, lại có những kết quả tầm quốc gia mà thường không một tổ chức có gốc rễ địa phương liên quan nào có thể tiên liệu. Vì vậy, khi thế bế tắc được khai thông, luật pháp đôi khi được thực hiện sau lưng những nhà lập pháp liên quan. Vì Quốc hội là nơi chủ yếu tập trung các cấp độ quyền lực tầm trung, nên chính ở các cấp độ tầm trung này mà kiểm soát và cân bằng thường thắng thế.
Các lợi ích thực sự được ban cho là những gì mà các Hạ Nghị sĩ và Thượng Nghị sĩ công khai thúc đẩy và bảo vệ. Chúng là các lợi ích cục bộ của những xã hội địa phương ở mỗi quận và bang có Nghị sĩ đại diện. Khi được trao cho một Thượng Nghị sĩ hay Hạ Nghị sĩ, chúng sẽ được thỏa hiệp và cân bằng với các lợi ích cục bộ khác. Cái chính mà một nghị sĩ cần tìm là sự ưu ái anh ta có thể làm cho nhóm lợi ích này nhưng không làm hại đến nhóm lợi ích khác – anh ta phải giữ cân bằng.
Các “nhóm áp lực” không cần thiết phải “hối lộ” các chính trị gia trong Quốc hội. Trên thực tế, những người vận động hành lang, theo cách riêng của mình, đôi lúc tỏ ra là những người thật thà, trong khi nghị sĩ có thể là giới vận động hành lang trá hình. Các thành viên của xã hội địa phương không cần thiết phải hối lộ chính trị gia chuyên nghiệp để lợi ích của mình được bảo đảm. Do chọn lọc xã hội và rèn luyện chính trị, anh ta là người của, do, và vì những nhóm quan trọng trong quận và bang của mình.27 Các nghị sĩ lại là những người gây áp lực hữu hình trong chính quyền hơn là các chủ thể của những áp lực vô hình ở ngoại vi. 50 năm trước, hình ảnh bới móc kiểu cũ về việc Thượng Nghị sĩ tha hóa vì tiền thường là thật,28 và tiền dĩ nhiên vẫn luôn là một yếu tố trong chính trị. Nhưng tiền giờ đây chủ yếu được dùng để tài trợ cho các cuộc bầu cử hơn là để hối hộ trực tiếp các chính trị gia nhằm đổi lấy lá phiếu và sự ưu ái của họ.
Nếu chúng ta biết rằng trước lúc tham gia chính trị, một trong nửa tá nhà lập pháp có quyền lực nhất và là Chủ tịch Ủy ban Chuẩn chi Ngân sách, nổi tiếng vì cổ vũ và tổ chức các Phòng Thương mại ở nửa tá thành phố tầm trung của đất nước, có nói là “không cần đến một xu trợ giúp của Liên bang”, thì chúng ta có thể hiểu ngay tại sao ông ta chống lại sự mở rộng việc đánh thuế lợi nhuận phụ trội mà không nhắc tới những áp lực hậu trường vô hình mà mình phải gánh chịu.29 Daniel Reed 78 tuổi là một người có đặc điểm giống Thanh giáo và nguyên tắc cứng nhắc, nhưng nguyên tắc lại đến từ nhân cách và làm nó mạnh thêm, nhân cách ấy còn được chọn lọc và hình thành bởi toàn bộ nghề nghiệp của con người. Hơn nữa, như một thành viên Quốc hội nhận xét mới đây, “sẽ có lúc trong đời hoạt động của mỗi nghị sĩ, anh ta phải vượt lên trên nguyên tắc”.30 Với tư cách một diễn viên chính trị, nghị sĩ là một phần của những cân bằng được thỏa hiệp ở các xã hội địa phương, cũng như ở các đảng quốc gia thiếu trách nhiệm nào đó. Kết quả là anh ta bị kẹt trong thế bí nửa vời của các cấp độ quyền lực quốc gia tầm trung.
Quyền lực chính trị đã trở nên rộng khắp và mang tính quyết định, nhưng không phải là quyền lực của chính trị gia chuyên nghiệp trong Quốc hội. Các quyền lực đáng kể vốn vẫn nằm trong tay các nghị sĩ quan trọng giờ đây phải chia sẻ với các kiểu diễn viên chính trị khác. Có sự kiểm soát của lập pháp, tập trung vào những người đứng đầu ủy ban, nhưng ngày càng là đối tượng chịu sự chi phối có tính quyết định từ nhà cầm quyền. Có quyền điều tra như một vũ khí tích cực và tiêu cực, nhưng quyền này ngày càng liên quan đến các cơ quan tình báo cả công lẫn tư, và ngày càng liên quan tới những gì chỉ có thể được gọi là các mức độ tống tiền và chống tống tiền khác nhau.
Thiếu vắng những khác biệt về hệ quả chính sách giữa các đảng lớn, chính trị gia chuyên nghiệp của đảng phải sáng tạo những chủ đề để nói về. Về mặt lịch sử, việc này liên quan đến sự trống rỗng thường gặp trong “những lời vận động tranh cử hoa mỹ”. Nhưng từ Thế chiến II, một vài chính trị gia nản chí bắt đầu sử dụng rộng rãi hơn lối cáo buộc và công kích về tính cách của phe đối lập cũng như phe trung lập ngây thơ. Tất nhiên, điều này dựa trên việc khai thác thực tế lịch sử mới rằng người Mỹ bây giờ sống cạnh láng giềng quân sự; nhưng nó cũng dựa trên cơ sở chính trị gia làm chính trị mà không có vấn đề thực sự, một nền chính trị bậc trung mà các quyết định thực sự, kể cả các quyết định bảo trợ, đều được những người cao cấp hơn đưa ra. Săn tìm các tiêu đề trong bối cảnh này, với sự bảo trợ ít ỏi và không có các vấn đề hấp dẫn lớn, một số nghị sĩ tìm cách đạt thành công tạm thời, hoặc ít nhất là thu hút sự chú ý từ công chúng trong bối cảnh mất niềm tin tràn lan.
Có một cách khác để có được và thực thi quyền lực, đó là lôi kéo chính trị gia chuyên nghiệp vào hoạt động của các nhóm trong và giữa các cơ quan kiểu hành chính của chính quyền. Ngày càng nhiều chính trị gia chuyên nghiệp nhập hội với nhà quản lý đứng đầu một cơ quan, một ủy ban, hay một vụ để cùng anh ta phát huy quyền lực chống lại những nhà quản lý và chính trị gia khác, thường theo kiểu giáp lá cà. Sự phân biệt truyền thống giữa “lập pháp” là quá trình làm chính sách với “quản lý” là thực hiện chính sách đã bị đổ vỡ từ cả hai phía.31
Trong chừng mực khi chính trị gia tham gia vào quá trình ra chính sách liên tục của nhà nước chính trị hiện đại, anh ta làm vậy không chỉ bằng cách bỏ phiếu ủng hộ hay chống lại một dự luật, mà còn bằng cách tham gia một nhóm ở vào thế phát huy ảnh hưởng đối với và thông qua các vị trí chỉ huy của chính quyền hành pháp, hoặc bằng việc không điều tra những lĩnh vực nhạy cảm với một số nhóm lợi ích nhất định.32 Chính vì là một thành viên của các nhóm rất phức tạp mà chính trị gia chuyên nghiệp, đại diện cho một số nhóm lợi ích, đôi khi trở nên hoàn toàn thích hợp trong những quyết định có hệ quả tầm quốc gia.
Nếu chính sách chính phủ là kết quả của một sự tác động qua lại giữa các nhóm lợi ích, thì chúng ta phải đặt câu hỏi: lợi ích nào bên ngoài chính phủ là quan trọng và cơ quan nào trong đó phục vụ cho chúng? Nếu có nhiều lợi ích kiểu ấy và nếu chúng xung đột nhau, thì rõ ràng từng nhóm sẽ mất quyền lực và cơ quan liên quan hoặc có được một sự độc lập nhất định hoặc lâm vào thế bí.33 Trong nhánh lập pháp, nhiều nhóm lợi ích cạnh tranh, nhất là các nhóm địa phương, khi bế tắc thường trở thành tâm điểm. Các lợi ích khác, ở cấp độ quyền lực công ty quốc gia thì chưa bao giờ trở thành tâm điểm, nhưng nghị sĩ, với tư cách một sinh vật chính trị và xã hội mang đặc tính của mình, sẽ thực hiện chúng. Song ở cơ quan hành pháp, một số lợi ích nhỏ và cố kết lại thường chỉ là những lợi ích đang hoạt động, và thường thì chúng có thể nằm trong cơ quan nhà nước hoặc vô hiệu hóa hành động chống lại chúng của cơ quan này. Vì thế, như John Kenneth Galbraith đã nhận xét, các cơ quan điều hành “trừ một số ngoại lệ, trở thành một cánh tay hoặc nô lệ của ngành công nghiệp mà chúng đang điều hành”.34 Hơn nữa, thế lực hành pháp hoặc phải giảm bớt hành động lập pháp – và không hành động – xuống vai trò thứ yếu trong việc hoạch định chính sách, hoặc buộc nó phải khuất phục ý chí hành pháp. Vì việc tăng cường hành động này hiện nay rõ ràng liên quan đến chuyện hoạch định chính sách, và thậm chí văn bản lập pháp thường được thành viên của nhánh hành pháp soạn thảo.
Trong tiến trình lịch sử Mỹ, có một vài dao động giữa quyền lãnh đạo của Tổng thống và Quốc hội.35 Ví dụ, quyền tối cao của Quốc hội hoàn toàn đơn giản trong một phần ba cuối cùng của thế kỷ XIX. Nhưng trong một phần ba giữa của thế kỷ XIX mà tôi quan tâm, quyền lực của người đứng đầu hành pháp và các phương tiện quyền lực được sử dụng ngày càng tăng một cách tùy tiện, nhiều hơn hẳn so với bất kỳ giai đoạn nào trước đó, và không có dấu hiệu quyền lực giảm sút. Quyền hành pháp tối cao đồng nghĩa với việc hạ thấp lập pháp xuống cấp độ quyền lực chính trị trung bình, cũng có nghĩa là quyền lực của chính trị gia chuyên nghiệp giảm đi, vì địa hạt chính của chính trị gia đảng phái là lập pháp. Nó cũng là một chỉ số quan trọng cho thấy sự suy giảm của xã hội cân bằng kiểu cũ. Vì sự cân bằng kiểu cũ không phải tự dưng mà có, đó là chính trị gia, với tư cách một chuyên gia về cân bằng và là một người môi giới giữa các áp lực cạnh tranh, đã điều chỉnh cân bằng, đi tới thỏa hiệp, và duy trì thế quân bình đẹp đẽ. Chính trị gia nào đáp ứng được nhiều nhất hoặc ngăn cản được một loạt nhóm lợi ích khác có thể sẽ giành được quyền lực nhiều nhất và nắm giữ được nó. Nhưng hiện giờ chính trị gia chuyên nghiệp của xã hội cân bằng kiểu cũ đã bị rơi xuống địa vị “có mặt như những người khác”, thường ồn ào, hoặc khó chịu, hoặc hữu ích với những người bên ngoài có thế lực, nhưng không nắm giữ chìa khóa ra quyết định. Vì xã hội cân bằng kiểu cũ mà anh ta đã thăng hoa không còn chiếm ưu thế nữa.36
4.
Ra đời trước thuyết kiểm soát và cân bằng với tư cách mô hình quyết định chính trị là thuyết giai cấp rất nổi tiếng từ thời Aristotle và được các Tổ phụ Lập quốc thế kỷ XVIII rất coi trọng, nó cho rằng nhà nước là, hoặc phải là, một hệ thống kiểm soát và cân bằng vì xã hội là một sự cân bằng giai cấp, và bởi xã hội là một sự cân bằng giai cấp nên bộ phận trụ cột và giữ ổn định của nó là tầng lớp trung lưu mạnh mẽ và độc lập.
Nước Mỹ thế kỷ XIX là một xã hội trung lưu, trong đó nhiều tổ chức nhỏ và có quyền lực tương đối bình đẳng nở rộ. Trong xã hội cân bằng này có một nền kinh tế trong đó doanh nghiệp nhỏ là trung tâm, một chính sách trong đó việc phân chia chính thức quyền lực là một thực tế đang diễn ra, và một nền kinh tế chính trị trong đó các trật tự chính trị và kinh tế hoàn toàn độc lập. Nếu có lúc nào đó nó không phải là một thế giới của các doanh nghiệp nhỏ, thì ít nhất nó cũng luôn là một thế giới trong đó các doanh nghiệp nhỏ có một vai trò thực sự ở thế cân bằng quyền lực. Nhưng xã hội mà chúng ta hiện đang sống là một nền kinh tế trong đó ở các lĩnh vực quan trọng, các doanh nghiệp nhỏ đã được thay bằng một nhóm nhỏ công ty tập trung, thuộc một tổ chức trong đó sự phân chia về mặt quyền lực đã trở nên thiếu cân bằng theo kiểu nhánh hành pháp là tối cao, lập pháp bị hạ thấp xuống cấp độ quyền lực trung bình, và tư pháp, do khoảng cách thời gian, đã bị buông trôi theo chính sách không phải do nó khởi xướng; và cuối cùng, xã hội mới rõ ràng là một nền kinh tế chính trị trong đó các vấn đề chính trị và kinh tế kết hợp với nhau sâu sắc và phức tạp.37
Chủ nghĩa đa nguyên lãng mạn theo ý tưởng Jefferson đã thắng thế trong một xã hội mà có lẽ 4/5 dân số da trắng tự do là những chủ sở hữu độc lập, hiểu theo một cách nào đó. Nhưng trong giai đoạn sau Nội chiến, việc tầng lớp trung lưu cũ gồm những chủ sở hữu độc lập bắt đầu suy giảm, vì trong ngành này ngành kia, các đơn vị kinh tế lớn hơn và tập trung hơn trở nên có thế lực; và trong phần lớn kỷ nguyên tiến bộ, tầng lớp trung lưu độc lập gồm nông dân và người buôn bán nhỏ đấu tranh chính trị – và đánh mất cơ hội thực sự cuối cùng của mình đối với vai trò quyết định trong cán cân chính trị.38 Những lời kêu gọi họ của David Graham Phillips là sự thần thánh hóa đầy hoài niệm về quá khứ tưởng tượng mà dường như họ đã hy vọng sẽ xua đi cái thế giới thực tại của thế kỷ XX.39 Những tình cảm ấy đã lại lóe lên phút chốc trong chiến dịch La Follette năm 1924, và chúng là một trong những nguồn sức mạnh phô trương của Chính sách Kinh tế Mới. Nhưng hai thực tế về tầng lớp trung lưu và một thực tế về người lao động – vốn đã trở nên quan trọng về chính trị trong những năm 1930 – lại bắt đầu có tính quyết định trong thời đại chúng ta.
1. Tầng lớp trung lưu, độc lập về chính trị cũng như kinh tế, trở nên phụ thuộc vào bộ máy nhà nước. Ví dụ, nhiều người cảm thấy “vận động hành lang” thành công nhất ở Mỹ là Khối Trang trại. Trên thực tế, nó đã thành công tới mức khó thấy đây là một lực lượng độc lập hành động dựa trên một vài cơ quan chính phủ. Nó đã hòa trộn vững chắc với mấy cơ quan này, đặc biệt với Thượng viện mà trong đó vì nguyên tắc đại diện theo địa lý kỳ quặc khiến nó đúng là có quá nhiều đại diện. Về ý thức hệ, do việc khai thác những điều huyền bí Jefferson về nông trại như một lối sống, nên các chủ trang trại thương mại lớn với tư cách thành viên một ngành được chấp nhận như thành viên nhóm lợi ích quốc gia được các chính sách rất đặc biệt phục vụ, hơn cả với tư cách một nhóm lợi ích đặc biệt trong các nhóm khác. Chính sách đặc biệt này là chính sách ngang giá, nó cho rằng chính phủ phải bảo đảm một mức giá cho các sản phẩm của khu vực này thuộc hệ thống tự do kinh doanh, điều đó sẽ cho phép các chủ trang trại thương mại hưởng quyền mua bán tương xứng với quyền lực mà nó từng có trong giai đoạn phồn thịnh nhất của mình trước Thế chiến I. Theo mọi nghĩa của từ này, đây dĩ nhiên là “lập pháp mang tính giai cấp”, nhưng cũng là “lập pháp theo tầng lớp trung lưu”, và nó mới ăn sâu bám rễ làm sao như cái thực tế chính trị trong lĩnh vực của chủ nghĩa hiện thực lập dị thì những ý kiến như vậy nở rộ, điều đó đơn thuần được cho là chính sách công hợp lý.
Các chủ trang trại giàu có, những người thụ hưởng chế độ trợ cấp doanh nghiệp chính ở nông thôn, là các doanh nhân chỉ nghĩ đến mình. Đám quê mùa và nổi loạn của những năm 1890 đã bị các doanh nhân nông thôn của những năm 1850 thay thế. Việc nông dân nắm giữ chính trị vẫn còn mạnh, nhưng khi đòi nắm giữ chóp bu chính trị thì lại đáng lo ngại hơn là quyết định. Phải tính đến cả các chủ trang trại nếu đúng là liên quan đến lợi ích đặc biệt của họ, nhưng những thứ này không bao gồm mấy vấn đề lớn như hòa bình và chiến tranh mà ngày nay những người đứng ngoài chính trị có vai vế phải đối mặt, và các vấn đề về suy thoái và bùng nổ, vốn rất phù hợp với nông dân, hiện không còn là sự quan tâm trước hết của những người đứng ngoài chính trị.
2. Cùng với tầng lớp trung lưu độc lập cũ, trong xã hội công ty nổi lên một tầng lớp trung lưu phụ thuộc mới gồm các nhân viên văn phòng. Đại để là trong hai thế hệ gần đây, trong tỉ lệ các tầng lớp trung lưu nói chung, tầng lớp trung lưu cũ đã giảm từ 85% xuống 44%, tầng lớp trung lưu mới tăng từ 15% lên 56%. Vì nhiều lý do mà tôi đã cố gắng làm rõ đâu đó – tầng lớp này không hẳn là trụ cột chính trị của một xã hội cân bằng, mà là người bọc hậu của khuynh hướng xã hội đại chúng chiếm ưu thế.40 Không giống như nông dân và người buôn bán nhỏ – và không như người làm công ăn lương – nhân viên văn phòng ra đời quá muộn nên ngay cả một ngày độc lập ngắn ngủi cũng không có. Vị trí nghề nghiệp và xu hướng địa vị tạo nên cách nhìn của giới văn phòng đã biến các nhân viên ăn lương thành người bọc hậu thay vì người tiên phong thay đổi lịch sử. Họ không hề thống nhất hay gắn kết về chính trị. Việc nghiệp đoàn hóa họ như hiện nay trở thành một xu hướng và là sự suy giảm chủ yếu của tổ chức lao động, góp phần biến họ thành đám ăn theo nhóm lợi ích mới nhất đang cố gắng có vai trò trong nhà nước nhưng không thành công.
Tầng lớp trung lưu cũ đã có lúc hành động như một cơ sở quyền lực độc lập, điều mà tầng lớp trung lưu mới không thể làm được. Tự do chính trị và an ninh kinh tế nằm trong thực tế gồm các tài sản quy mô nhỏ và độc lập; chúng không nằm trong thế giới công việc của tầng lớp trung lưu mới. Tài sản phân tán và chủ sở hữu chúng hòa nhập về kinh tế nhờ thị trường tự do và tự trị; việc làm của tầng lớp trung lưu mới lại hòa nhập nhờ quyền lực công ty. Tầng lớp trung lưu cổ cồn không tạo thành một cơ sở quyền lực độc lập: về kinh tế, họ cũng ở trong tình trạng tương tự với những người làm công ăn lương không có tài sản; về chính trị, họ còn trong hoàn cảnh tồi tệ hơn, vì họ không có tổ chức.
3. Cùng với tầng lớp trung lưu cũ – đang ngày càng có vai trò trong bộ máy nhà nước – và tầng lớp trung lưu mới – ra đời không có hình hài chính trị độc lập và phát triển theo cách chẳng bao giờ có được nó – một lực lượng chính trị mới xuất hiện trên chính trường của những năm 1930: lực lượng lao động có tổ chức. Trong một thời gian ngắn, có vẻ như người lao động sẽ trở thành một khối quyền lực độc lập với công ty và nhà nước nhưng lại dựa vào họ để chống lại họ. Tuy nhiên, sau khi trở nên lệ thuộc vào hệ thống chính quyền, thì quyền lực của các nghiệp đoàn lao động giảm sút nhanh chóng và hiện nay ít có vai trò trong các quyết định lớn của quốc gia. Mỹ giờ đây không có các nhà lãnh đạo lao động mà có thể có tiếng nói đáng kể trong những quyết định quan trọng đối với những người đứng ngoài chính trị hiện phụ trách chính phủ hữu hình.
Nhìn từ một góc độ đặc biệt, các nghiệp đoàn lao động đã trở thành các tổ chức bầu chọn và lập ra lãnh đạo, những người mà khi thành công sẽ có chỗ bên cạnh các giám đốc điều hành công ty trong và ngoài chính quyền, và bên cạnh các chính trị gia ở cả hai đảng, thuộc giới tinh hoa quyền lực quốc gia. Vì một chức năng của các phong trào xã hội kiểu như nghiệp đoàn lao động và các chính đảng là cố gắng đóng góp vào việc hình thành ban lãnh đạo này. Là những người mới có quyền lực, giới lãnh đạo nghiệp đoàn lao động mới chỉ xuất hiện gần đây trên chính trường quốc gia. Samuel Gompers có lẽ là người lao động đầu tiên, cho dù tạm thời và hoàn toàn không dễ dàng, trở thành một thành viên của giới tinh hoa quyền lực quốc gia. Nỗ lực tự thân để có chỗ trong giới tinh hoa này, và từ đó làm lợi ích của người lao động hòa nhập với lợi ích quốc gia, đã biến ông thành một khuôn mẫu và kiểu mẫu của nhà hoạt động trong lực lượng lao động quốc gia. Sidney Hillman dĩ nhiên không chỉ là người lao động đi theo đường hướng này trong những năm 1940, mà chính sự lãnh đạo của ông trong những năm đầu chiến tranh, ý thức mình là một thành viên của giới tinh hoa quốc gia, và việc thừa nhận trên thực tế cũng như trong hình dung mà ông được coi như một thành viên (“Hãy làm rõ điều đó với Sidney”), là tín hiệu cho thấy – sau khi mở rộng các nghiệp đoàn trong thời kỳ Chính sách Kinh tế Mới – cửa vào giới tinh hoa chính trị đã rộng hơn cho các nhà lãnh đạo lao động. Với sự ra đời của chương trình Chính sách Kinh tế Công bằng của Truman và Đại Thập tự chinh của Eisenhower, không nhà lãnh đạo lao động nào có thể dễ dàng thỏa mãn ý tưởng nghiêm túc về việc trở thành, chính thức hoặc không chính thức, một thành viên. Việc Durkin, một đại diện không quan trọng của người lao động sớm rời khỏi vị trí yếu ớt của mình trong nội các cho thấy khá rõ tình thế phải đối mặt của giới lãnh đạo lao động với tư cách thành viên tương lai cũng như vị trí của các nghiệp đoàn lao động với tư cách một khối quyền lực. Họ thuộc cấp độ quyền lực trung bình, ở dưới các hội đồng chóp bu.
Đa phần lối hành xử và thủ đoạn thường là kỳ quặc của giới lãnh đạo lao động trong hai thập kỷ qua có thể giải thích được bằng việc họ tìm kiếm địa vị trong giới tinh hoa quyền lực quốc gia. Trong bối cảnh ấy, họ đã cực kỳ nhạy cảm với những việc nhỏ nhặt về uy tín. Họ cảm thấy mình đã thành công, họ muốn các vị trí quyền lực có vai vế. Ở những thành phố cỡ trung bình và nhỏ, giới lãnh đạo lao động giờ đây ngồi cùng với các quan chức Phòng Thương mại bàn về doanh nghiệp dân sự, và ở tầm quốc gia, họ hy vọng và họ lấy ghế trong các hội đồng sản xuất và các cơ quan kiểm soát giá cả.
Họ đòi hỏi địa vị và sức mạnh dựa vào quyền lực đã tăng lên của mình – không phải dựa vào tài sản, thu nhập, hay dòng dõi; và quyền lực trong những tình huống như của họ là một nguồn gốc của sự lo lắng cũng như là cơ sở của các hoạt động. Nó vẫn chưa phải là một cơ sở lâu bền, nền móng vững chắc mang sức mạnh của lợi ích, thói quen, và luật pháp. Sự nhạy cảm của họ về vấn đề uy tín, đặc biệt trên sân khấu quốc gia, là vì (1) tính cách họ tự tạo cho mình, và vì thực tế (2) là việc họ tự làm mà không được sự hỗ trợ của chính quyền và bầu không khí do nó tạo ra trong thập kỷ sau năm 1935. Họ là người được chính quyền đưa lên, và họ sợ – và hóa ra là đúng – việc họ có thể bị chính quyền đưa xuống. Họ bị căng thẳng về địa vị cũng do thực tế (3) là họ đơn giản còn mới mẻ với giới tinh hoa quyền lực và cách thức của nó, và (4) họ cảm thấy một sự căng thẳng giữa công chúng của mình: trước các thành viên nghiệp đoàn – những người mà sẽ là mối nguy hiểm về chính trị nếu trở thành một “ông trùm” quá lớn hoặc quá gần gũi với kẻ thù truyền kiếp – và những bạn đồng hành mới cùng mấy chuyện thường lệ trong cuộc sống.
Nhiều nhà quan sát đã nhầm lẫn khi cho các vị trí có vai vế của lãnh đạo lao động là bằng chứng về quyền lực của người lao động. Theo một cách nào đó thì đúng, nhưng theo cách khác thì lại không phải. Chúng đúng khi chúng dựa trên quyền lực và dẫn tới quyền lực. Chúng không đúng khi chúng trở thành những chiếc bẫy địa vị đối với giới lãnh đạo vì không đưa tới kết quả là quyền lực. Trong những vấn đề như vậy, tốt nhất nên nhớ đây không phải vấn đề con-gà-và-quả-trứng. Con gà là quyền lực, và phải có trước, quả trứng là địa vị.i
i. Giống như giới điều hành giàu có, lãnh đạo lao động là một nhóm không hoàn toàn thống nhất. Nhưng xu hướng thường thấy về việc “phía bên kia” coi bất kỳ hành động nào của một đơn vị nào đó ở phía bên này là quan trọng hiểu theo nghĩa tổng thể, cho thấy rõ cách nhìn nhận, hy vọng, và đòi hỏi của những người này, họ tạo nên các khối, dù miễn cưỡng. Họ coi nhau như thành viên của các khối, và trên thực tế thì gắn kết chặt chẽ theo những cách khác nhau rất phức tạp. Các nghiệp đoàn riêng lẻ có thể vận động hành lang cho các lợi ích đặc thù, nó là chìa khóa cho tình trạng thiếu thống nhất của lực lượng lao động với tư cách một tổ chức. Nhưng họ ngày càng phải đối mặt với nhiều vấn đề, và các bối cảnh mà họ phải đối mặt lại ở phạm vi và ảnh hưởng tầm quốc gia, do đó họ phải điều chỉnh đường lối hoạt động của người lao động theo hoàn cảnh quốc gia, dù phải chịu nỗi đau bị mất quyền lực.
Giám đốc điều hành công ty, giống như lãnh đạo lao động, là một người có đầu óc thực tế và là một kẻ cơ hội, nhưng anh ta lại có các biện pháp lâu dài, được phát triển cho các mục đích khác để thực hiện các vấn đề chính trị cũng như vấn đề doanh nghiệp-lao động của mình. Công ty bây giờ là một cơ sở rất ổn định để hoạt động; trên thực tế, việc tiếp tục sắp xếp ở Mỹ còn ổn định hơn và quan trọng hơn việc sắp xếp công việc gia đình suốt đời. Thành viên doanh nghiệp thuộc giới tinh hoa quyền lực có thể dựa vào công ty để theo đuổi các mục tiêu ngắn hạn và thủ đoạn cơ hội. Nhưng nghiệp đoàn lại thường trong tình trạng đối kháng; nó ở thế phòng ngự trong một xã hội đôi khi là thực tại và luôn thù địch tiềm năng. Nó không cung cấp các biện pháp lâu dài, sẵn có và tùy ý sử dụng như giới tinh hoa kinh doanh. Nếu anh ta muốn có các biện pháp ấy, kể cả cho các mục tiêu nhỏ của mình, lãnh đạo lao động phải tự mình xây dựng và duy trì chúng. Hơn nữa, sự tăng mạnh đột ngột về tổ chức của những năm 1930 cho thấy những quan chức không đáp ứng đầy đủ các đòi hỏi của công nhân công nghiệp có thể sẽ mất quyền lực. Mặt khác, quản lý công ty mình trong bối cảnh ở đó mình không phải là quan chức được bầu ra hiểu theo nghĩa tương tự. Quyền lực của anh ta không phụ thuộc vào lòng trung thành của những người làm việc cho mình, và anh ta thường không mất việc nếu một nghiệp đoàn thành công trong việc xâm nhập các nhà máy của anh ta. Sự gia tăng đột biến của những năm 1930 không hất cẳng các nhà quản lý; trách nhiệm của họ không phải là với công nhân mà họ thuê mướn, mà là với chính mình và với những cổ đông phân tán.
Sự khác biệt này về tình trạng quyền lực đồng nghĩa với việc quyền lực của lãnh đạo doanh nghiệp có thể liên tục hơn và an toàn hơn quyền lực của lãnh đạo lao động: lãnh đạo lao động nhiều khả năng mất việc nếu anh ta không “làm được những việc tốt”.
Tuy nhiên, có thể với công ty và giới tinh hoa chính trị thì có, chứ với tôi hình như không có gì trong thành phần lãnh đạo lao động hiện thời với tư cách cá nhân và một nhóm khiến chúng ta tin là họ có thể và sẽ vượt xa chiến lược điều chỉnh tối đa. Ý tôi là họ phản ứng hơn là lãnh đạo, và họ làm vậy để duy trì và mở rộng vị trí của mình trong chòm sao quyền lực và lợi thế. Nhiều việc có thể xảy ra sẽ dẫn tới sự sụp đổ của giới lãnh đạo lao động hiện nay hoặc từng phần của nó, và lúc đó các kiểu người lãnh đạo khác có thể sẽ có được quyền lực của nghiệp đoàn; nhưng lứa lãnh đạo lao động hiện thời khá giống một biến số độc lập trong xu hướng chính, nhưng không có vai trò trong giới tinh hoa quyền lực. Lãnh đạo lao động cũng như các nghiệp đoàn lao động đều không phải đang trong tình thế có thể là những “biến số độc lập” trên bình diện quốc gia.41
Trong những năm 1930, lao động có tổ chức lần đầu tiên xuất hiện trên bàn cân Mỹ; nó không cần đường hướng chính trị nào ngoài khẩu hiệu “tổ chức những người vô tổ chức”. Việc này không còn đúng nữa, nhưng người lao động – không còn nhiệm vụ của thời kỳ suy thoái – vẫn không có đường hướng chính trị, hay trong trường hợp này là kinh tế. Giống như các doanh nghiệp nhỏ, lãnh đạo lao động đã cố gắng học theo cách của nông dân. Nông dân từng là một nguồn cơn nổi loạn; gần đây, lao động hình như cũng thế. Giờ đây nông dân làm ăn lớn là một đơn vị trong một khối có tổ chức, được củng cố từ bên trong và tạo áp lực lên nhà nước phúc lợi. Mặc dù nó chống lại chủ nghĩa tư bản với tư cách một chế độ làm công ăn lương một cách khách quan mạnh mẽ, nhưng người lao động hiện nay thất bại khi đấu tranh theo cách tương tự.
5.
Trong xã hội tự do cũ, một hệ thống cân bằng và thỏa hiệp chiếm ưu thế trong lãnh đạo Quốc hội, nhánh hành pháp của chính quyền, và trong các nhóm sức ép khác nhau. Hình ảnh về quyền lực và về việc ra quyết định là hình ảnh của một xã hội cân bằng, trong đó không có đơn vị quyền lực nào đủ mạnh chỉ để nhích nhiều hơn về phía trước mỗi lần một chút khi thương lượng thỏa hiệp với các thế lực khác, và vì thế ở đó không có sự thống nhất, lại càng không có sự điều phối giữa các tầng lớp cao hơn. Hình ảnh đó, kết hợp với học thuyết về công luận, vẫn là quan điểm chính thức về hệ thống quyền lực dân chủ chính thức, là lý thuyết tiêu chuẩn của phần lớn các nhà khoa học xã hội hàn lâm, và là giả định cơ bản của những công dân có học thức nhất, vốn không phải các phát ngôn viên và nhà phân tích chính trị.
Nhưng khi tình hình lịch sử thay đổi, thì ý nghĩa và hệ quả chính trị của các cơ chế quyền lực cũng thay đổi. Không có gì là thần kỳ hay bất biến về kiểm soát và cân bằng. Vào thời cách mạng, kiểm soát và cân bằng có thể quan trọng như một sự kiềm chế đối với quần chúng vô tổ chức và có tổ chức. Ở thời độc tài khắt khe, chúng có thể quan trọng như một kỹ thuật chia để trị. Chỉ dưới một nhà nước đã hoàn toàn cân bằng và dưới một cơ cấu xã hội cân bằng, thì kiểm soát và cân bằng mới có nghĩa là kiềm chế giới cai trị.
Các lý thuyết gia chính trị thế kỷ XVIII nghĩ rằng mỗi công dân là một đơn vị quyền lực, còn các nhà kinh tế học cổ điển thì nghĩ đó là hãng nhỏ hoạt động dưới sự điều hành của một cá nhân. Từ lúc ấy, các đơn vị quyền lực, mối quan hệ giữa các đơn vị này, và do đó nghĩa của kiểm soát và cân bằng đã thay đổi. Trong chừng mực hiện nay có một sự phân tán mạnh của các đơn vị cân bằng tương đối bình đẳng, ở cấp độ quyền lực trung bình, nằm ở những địa phương độc lập và các nhóm áp lực không liên tục, đạt tới đỉnh cao trong Quốc hội. Vì thế chúng ta phải xem xét và xác định lại khái niệm đã có về sự phân tán cực lớn của các nhóm lợi ích khác nhau, vì khi nhìn gần hơn và trong những giai đoạn dài hơn, chúng ta sẽ thấy phần lớn các nhóm lợi ích tầm trung này chỉ quan tâm đến sự cắt giảm cụ thể, đến lĩnh vực cụ thể nào của mình được bảo đảm lợi ích, và thường những thứ này không có tầm quan trọng chính trị quyết định, dù nhiều cái lại rất vô giá trị với phúc lợi xã hội. Vượt lên trên sự đa dạng này về lợi ích, các đơn vị quyền lực – kinh tế, chính trị, và quân sự – vốn quan trọng trong bất kỳ sự cân bằng nào dù ít về số lượng lại có sức nặng hơn cả những nhóm lẻ tẻ ở cấp độ trung và thấp hơn của cấu trúc quyền lực.
Những người vẫn cho rằng hệ thống quyền lực phản ánh xã hội cân bằng thường nhầm lẫn thời đại hiện nay với những thời đại trước đây trong lịch sử Mỹ, và lẫn lộn giữa cấp độ cao nhất và thấp nhất của hệ thống hiện nay với các cấp độ trung bình. Khi được khái quát thành một mô hình gốc của hệ thống quyền lực, thuyết cân bằng trở nên không cụ thể về lịch sử, trong khi trên thực tế với tư cách một mẫu hình, nó cần phải được vạch rõ là chỉ áp dụng với một số giai đoạn phát triển nhất định của Mỹ – nhất là thời Jackson, và trong những hoàn cảnh hoàn toàn khác nhau, thời kỳ đầu và giữa của Chính sách Kinh tế Mới.
Ý kiến cho rằng hệ thống quyền lực là một xã hội cân bằng cũng cho rằng các đơn vị cân bằng độc lập với nhau, vì chẳng hạn nếu giới kinh doanh và người lao động hoặc giới kinh doanh và chính quyền không độc lập với nhau, thì họ không thể được coi là các nhân tố của một sự cân bằng tự do và mở. Nhưng như chúng ta đã thấy, các nhóm lợi ích chính thường ít cạnh tranh lẫn nhau trong nỗ lực thúc đẩy một số lợi ích của họ hơn là đồng nhất về nhiều vấn đề lợi ích, và thực ra đều ở dưới cái ô của chính phủ. Các đơn vị quyền lực chính trị và kinh tế không chỉ trở nên lớn hơn và tập trung hơn; chúng còn trở nên tương đồng về mặt lợi ích và tạo thành những liên minh công khai cũng như ngấm ngầm.
Chính phủ Mỹ ngày nay không chỉ là một khuôn khổ trong đó các nhóm áp lực cạnh tranh phải luồn lách để có vị trí và làm chính trị. Dù chuyện đó là dĩ nhiên, thì chính phủ này hiện nay vẫn có các nhóm như thế nằm trong cấu trúc phân cấp của riêng nó, trong đó một số nhóm này cao hơn và có thế lực hơn những nhóm khác. Không có quyền lực đối trọng hiệu quả với liên minh của các doanh nhân lớn – những người đứng ngoài chính trị hiện nắm giữ các vị trí chỉ huy – và những người thuộc giới quân sự có thế lực – giọng thường xuyên nghiêm nghị khi nói ở các hội đồng cao hơn. Những người có quyền lực thực sự trong nhà nước Mỹ hôm nay không chỉ là những người môi giới quyền lực, người giải quyết xung đột, hoặc người dung hòa các lợi ích khác nhau và va chạm, mà họ đại diện và thực sự là hiện thân cho các lợi ích và chính sách quốc gia hoàn toàn cụ thể.
Trong khi các chính trị gia đảng phái chuyên nghiệp đôi lúc vẫn có thể là những người môi giới quyền lực, người dung hòa lợi ích, người thương thảo các vấn đề, nhưng họ không còn vị trí đứng đầu nhà nước nữa, hoặc ở đỉnh cao của hệ thống quyền lực nói chung.
Ý kiến cho rằng hệ thống quyền lực là một xã hội cân bằng dẫn chúng ta tới chỗ cho rằng nhà nước là chiếc mặt nạ hữu hình che giấu quyền lực tự trị, nhưng trên thực tế, quyền quyết định hiện nay lại nằm chắc trong tay nhà nước. Vận động hành lang kiểu cũ, hữu hình hay vô hình, giờ đây là chính quyền hữu hình. Việc “chính quyền hóa vận động hành lang” này đã diễn ra ở cả hai lĩnh vực lập pháp lẫn hành pháp, cũng như ở giữa chúng. Bộ máy hành pháp không chỉ trở thành trung tâm quyền lực, mà còn là vũ đài trong đó và theo đó mọi xung đột quyền lực được giải quyết hoặc không được giải quyết. Chính quyền thay thế cho nền chính trị bầu cử; vận động nhóm thay thế cho va chạm đảng phái.
Cuộc nổi loạn nông nghiệp những năm 1990, cuộc nổi loạn của doanh nghiệp nhỏ đôi lúc gián đoạn kể từ những năm 1980, cuộc nổi loạn của người lao động những năm 1930 – tất cả đều thất bại và tất cả đều đã thành công. Chúng thất bại với tư cách là phong trào tự trị của tầng lớp hữu sản nhỏ hoặc của những người lao động có tổ chức mà có thể đối lập với quyền lực của giới điều hành giàu có, và chúng thất bại với tư cách là các đảng phái thứ ba tự trị về chính trị. Nhưng chúng đã thành công ở nhiều mức độ khác nhau, với tư cách là các nhóm trong nhà nước mở rộng, chúng đã thành công với tư cách là các nhóm lợi ích địa phương khác nhau nằm ở các quận và bang cụ thể, nơi chúng không xung đột với các nhóm lợi ích lớn hơn. Chúng là những đặc điểm đã được xác lập của các cấp độ quyền lực cân bằng trung bình.
Trên thực tế, trong số rất nhiều quyền lực trung bình này, là mọi tầng lớp và nhóm lợi ích mà trong diễn trình lịch sử Mỹ đã bị đánh bại ở những lần cố gắng giành quyền lực chóp bu, hoặc chưa bao giờ cố làm như vậy. Chúng gồm: hữu sản nhỏ ở nông thôn, hữu sản nhỏ ở thành thị, nghiệp đoàn người làm công ăn lương, tất cả người tiêu dùng, và tất cả các nhóm cổ cồn chủ yếu. Những người này thực ra vẫn trong tình trạng phân tán chẳng hề lãng mạn; vì về mặt cấu trúc họ không thể tự thống nhất được, nên thực tế họ cân bằng lẫn nhau trong một hệ thống bế tắc được tổ chức nửa vời. Họ “làm vướng chân” giới chóp bu thống nhất, nhưng không ai trong họ có cơ hội vào được giới chóp bu, nơi những người đứng ngoài chính trị thuộc thiết chế công ty và trật tự quân sự nắm chắc quyền chỉ huy.
Khi các tầng lớp trung lưu khác nhau là một bánh xe cân bằng chính trị, thì chính trị gia chuyên nghiệp là người ra quyết định có thế lực. Khi các tầng lớp trung lưu suy giảm như một tập hợp các thế lực chính trị tự trị, xã hội cân bằng như một hệ thống quyền lực suy giảm, thì các chính trị gia đảng phái của các địa phương độc lập bị hạ xuống cấp độ quyền lực quốc gia trung bình.
Các xu thế cơ cấu này đã định hình về chính trị trong thời kỳ Chính sách Kinh tế Mới, dĩ nhiên đó là thời kỳ khủng hoảng. Giai đoạn trước mắt của chúng ta là một thời kỳ phồn thịnh vật chất đã làm lu mờ những thực tế này, nhưng không làm chúng thay đổi, và thực tế, chúng là quan trọng để hiểu được giới tinh hoa quyền lực hôm nay.