T
rong mỗi thị trấn và thành phố nhỏ của Mỹ, có một tập hợp các gia đình thượng lưu đứng trên tầng lớp trung lưu và ngất ngưởng trên đám cư dân bên dưới gồm những thư ký và người làm công ăn lương. Các thành viên của tập hợp này sở hữu nhiều hơn các nhóm khác mọi thứ có ở địa phương; họ nắm giữ chìa khóa các quyết định địa phương; tên tuổi và diện mạo của họ thường được in trên báo địa phương; trên thực tế, họ sở hữu báo chí cũng như đài phát thanh; họ cũng sở hữu dăm ba nhà máy địa phương quan trọng và hầu hết các cơ sở thương mại nằm trên phố lớn; họ điều hành ngân hàng. Phối hợp chặt chẽ với nhau, họ hoàn toàn ý thức được việc mình thuộc giai cấp lãnh đạo của các gia đình hàng đầu.
Tất cả con trai và con gái họ đều học đại học, trước đó thường là trường tư; rồi chúng lấy nhau, hoặc lấy những chàng trai và cô gái của các gia đình giống mình ở mấy thị trấn giống mình. Sau khi yên bề gia thất, chúng bắt đầu sở hữu, nắm giữ, quyết định. Con trai của một trong những gia đình xưa cũ này, trước sự buồn phiền của người cha và sự tức giận của ông nội, giờ đây là giám đốc điều hành ở chi nhánh địa phương của một công ty quốc gia. Vị bác sĩ của một gia đình hàng đầu có hai con trai, một người hiện đang tập sự; người kia – không lâu nữa sẽ lấy con gái của chủ một xí nghiệp lớn thứ hai – có lẽ rồi sẽ là chưởng lý quận tiếp theo. Truyền thống xưa nay là vậy, và hiện giờ nó vẫn vậy ở những thị trấn nhỏ của Mỹ.
Ý thức về đẳng cấp không phải là đặc điểm giống nhau ở mọi tầng lớp của xã hội Mỹ: điều này rõ nhất ở tầng lớp thượng lưu. Trong dân cư bên dưới khắp nước Mỹ lại hay lẫn lộn và mơ hồ về ranh giới, về giá trị vị thế của trang phục và nhà cửa, về cách kiếm tiền và tiêu tiền. Những người ở tầng lớp trung lưu và thấp hơn dĩ nhiên được phân biệt qua giá trị, vật dụng, và kinh nghiệm mà tổng thu nhập khác nhau mang lại, nhưng họ thường không hay biết về những giá trị này cũng như cơ sở đẳng cấp của mình.
Mặt khác, những người ở tầng lớp thượng lưu, chỉ vì số lượng ít hơn nên có thể biết về nhau dễ dàng hơn nhiều, cùng nhau duy trì một truyền thống chung, và vì thế có ý thức về mảnh đất đứng chân của mình. Họ có tiền và thời gian cần thiết để đề cao tiêu chuẩn chung của mình. Là giai cấp hữu sản, họ cũng là một tập hợp ít nhiều nổi bật của đám người trộn lẫn với nhau, tạo nên các tầng lớp nhỏ gọn với đòi hỏi chung về sự công nhận như những gia đình dẫn đầu ở thành phố nơi họ sinh sống.
1.
Khi nghiên cứu thành phố nhỏ, cả các tiểu thuyết gia lẫn nhà xã hội học đều cảm nhận rõ nét nhất vở kịch về các tầng lớp thượng lưu mới và cũ. Cuộc tranh giành địa vị mà họ theo dõi diễn ra ở các thành phố này có thể được coi là một thước đo lịch sử về quá trình hiện đại của Xã hội phương Tây; vì nhiều thế kỷ nay những kẻ giàu xổi và hợm đời trong tầng lớp thượng lưu mới luôn căng thẳng với đám “vệ binh cũ”. Tất nhiên, có nhiều khác biệt khu vực, nhưng trên toàn quốc tầng lớp giàu có ở thành phố nhỏ lại được tiêu chuẩn hóa đáng kinh ngạc. Hiện nay ở các thành phố này có hai loại tầng lớp thượng lưu chiếm ưu thế, một loại gồm những người có lợi tức và những gia đình lâu đời hơn về mặt xã hội, loại kia gồm những gia đình mới hơn mà về mặt kinh tế và xã hội thì đa phần là dạng doanh nghiệp. Thành viên của hai tầng lớp chóp bu này đều hiểu giữa họ có sự khác biệt nào đó, mặc dù mỗi bên có cách nhìn riêng đặc biệt về mình.1
Không nên cho rằng tầng lớp thượng lưu cũ nhất thiết phải “cao hơn” tầng lớp mới, hoặc tầng lớp mới chỉ là những kẻ mới nổi, đang cố vật lộn dùng của cải mới kiếm được để khoác thành bộ trang phục uy tín mà với tầng lớp cũ thì thật dễ dàng. Tầng lớp thượng lưu mới có phong cách sống của riêng mình, và mặc dù thành viên của nó – đặc biệt là phụ nữ – vay mượn đáng kể từ phong cách sống của tầng lớp thượng lưu cũ, nhưng họ – đặc biệt là đàn ông – lại coi rẻ lối sống đó nhân danh những giá trị và khát vọng của riêng mình. Bằng nhiều cách, hai tập hợp của tầng lớp thượng lưu này tranh giành uy tín, và cuộc tranh giành ấy dẫn tới việc làm suy giảm lẫn nhau những tuyên bố về giá trị của họ.
Con người của tầng lớp thượng lưu cũ cảm thấy uy tín của mình có nguồn gốc lâu đời. Có lẽ anh ta sẽ nói “Đâu đó trước đây, Tổ tiên xa xưa của tôi trở thành Người sáng lập Dòng họ này tại địa phương, và giờ đây Dòng máu của ông đang chảy trong huyết quản tôi. Tôi thuộc về Gia đình tôi, và Gia đình tôi luôn ở trong số những người tài giỏi nhất”. Ở New England và ở miền Nam, so với những vùng khác thì có nhiều gia đình hơn ý thức sâu sắc về dòng họ và nơi ở cũ, và kháng cự mạnh hơn với việc tầng lớp mới nổi và mới đến lại leo cao trên nấc thang xã hội. Có lẽ có một ý thức mạnh hơn và bao trùm hơn về gia đình, đặc biệt ở miền Nam, của những đầy tớ trung thành lâu dài cũng như đám con cháu. Ý thức họ hàng có thể được mở rộng thậm chí tới cả những người dù chẳng có mối liên hệ hôn nhân hay huyết thống nào, nhưng vẫn được coi là “anh em họ” hoặc “cô dì chú bác” bởi họ “lớn lên cùng mẹ”. Vì vậy, các gia đình tầng lớp thượng lưu cũ có xu hướng tạo thành một cộng đồng họ hàng thuần nhất mà sự trung thành với dòng họ và ý thức gia tộc dẫn tới sự tôn sùng quá khứ, và thường dẫn tới sự quan tâm được nuôi dưỡng về lịch sử của khu vực trong đó dòng tộc từ lâu đã có một vai trò tôn kính đến vậy.
Dĩ nhiên, nói về “những gia đình cũ” là nói về “những gia đình cũ giàu có”, nhưng trong thế giới địa vị của tầng lớp thượng lưu cũ, tài sản và tiền bạc rủng rỉnh chỉ việc tiêu, và rồi giải thích nhẹ nhàng: “Tất nhiên, bạn luôn phải có đủ tiền bạc của thế giới này để chi trả thường xuyên, giải trí và cúng cho nhà thờ… nhưng chỗ đứng xã hội còn lớn hơn tiền bạc”. Người của tầng lớp thượng lưu cũ nói chung coi tiền bạc là một dạng tiêu cực – là thứ mà những người thuộc tầng lớp thượng lưu mới quá quan tâm. “Tôi lấy làm tiếc khi nói rằng các nhà công nghiệp lớn hơn của chúng ta ngày càng hám tiền”, họ nói, và khi nói vậy, họ nghĩ đến thế hệ các nhà công nghiệp già hơn nay đã nghỉ hưu, thường sống bằng lợi tức bất động sản; tầng lớp thượng lưu cũ tin rằng đám giàu có này đã và đang quan tâm đến chất lượng “xã hội và cộng đồng” hơn là chỉ tiền bạc.
Một chủ đề chính trong các cuộc bàn luận của tầng lớp thượng lưu cũ về những người kinh doanh nhỏ hơn là họ kiếm được rất nhiều tiền trong cuộc chiến tranh gần đây, nhưng về mặt xã hội họ lại không được đếm xỉa. Một chủ đề khác liên quan đến những cách kém đàng hoàng hơn mà những người mới nổi sử dụng để kiếm tiền. Họ nói đến giới chủ sòng bạc, chủ quán rượu, và đám kinh doanh vận tải. Và khi săm soi những người này, họ biết rõ về chợ đen thời chiến tranh.
Sự tiếp nối về dòng họ cũ là cơ sở uy tín bị thách thức trước lối sống bất cần cũng như tiền bạc của tầng lớp thượng lưu mới mà Thế chiến II đã mở rộng và làm giàu thêm, khiến họ mạnh dạn về mặt xã hội. Tầng lớp thượng lưu cũ cảm thấy lối sống của những người này đang thay thế lối sống cũ hơn và trầm lặng hơn. Ẩn sâu dưới tình trạng căng thẳng này thường là cơ sở kinh tế của nhiều gia đình tầng lớp thượng lưu cũ mà chủ yếu là bất động sản có xu hướng suy giảm ở nhiều thị trấn. Nhưng nhìn chung, tầng lớp thượng lưu cũ vẫn nắm giữ chặt các thiết chế tài chính địa phương: ở các trung tâm buôn bán của Georgia và Nebraska, các thị trấn công nghiệp và thương mại của Vermont và California, chủ ngân hàng thuộc tầng lớp thượng lưu cũ luôn là chúa tể trong lĩnh vực thuộc cộng đồng mình, cho giới làm ăn mà ông ta có quan hệ vay mượn khá uy tín, đặt tên cho Nhà thờ khi đơn thuần thuộc về nó. Vì là hiện thân của sự cứu rỗi, của địa vị xã hội và bền vững tài chính, nên anh ta được những người khác thừa nhận là có năng lực và khôn ngoan.
Ở miền Nam, căng thẳng giữa các tầng lớp thượng lưu cũ và mới thường kịch tính hơn những vùng khác, vì ở đây các gia đình cũ dựa trên cơ sở sở hữu đất đai và nền kinh tế nông nghiệp. Sự kết hợp giữa tài sản mới với địa vị cũ, vốn là quá trình diễn ra sau Nội chiến, đã tăng lên kể từ khủng hoảng và Thế chiến II. Giới quý tộc cũ miền Nam, trong hình ảnh hư cấu hay trong thực tế nghiên cứu, thực sự thường ở tình trạng suy giảm đáng buồn. Nếu không gia nhập tầng lớp mới nổi dựa trên công nghiệp và thương mại, thì chắc chắn nó sẽ ra đi, vì dù đã tồn tại lâu nhưng không còn giàu có, nó cũng sẽ vỡ vụn thành đám người lập dị bị lãng quên. Không đủ tiền bạc, tự trọng lặng lẽ và rút lui tự thỏa mãn có vẻ đơn thuần là suy tàn và suy thoái.
Việc nhấn mạnh dòng dõi gia đình, đi cùng sự rút lui có xu hướng làm tăng vị thế của người già, đặc biệt là phụ nữ lớn tuổi được thừa kế trở thành người đánh giá lối ứng xử của giới trẻ. Tình huống như vậy không có lợi cho hôn nhân của con gái tầng lớp thượng lưu cũ với con trai của tầng lớp giàu có mới nổi nhưng đang lớn mạnh. Song công nghiệp hóa ở các thành phố nhỏ hơn đã đập vỡ dần các cơ cấu địa vị cũ và dẫn tới các cơ cấu mới: sự nổi lên của giới công nghiệp và doanh nhân giàu có hiển nhiên dẫn tới sự suy giảm của giới quý tộc chủ đất. Ở miền Nam, cũng như ở các nơi khác, những đòi hỏi lớn hơn về vốn đầu tư cho nỗ lực nông nghiệp ở mức vừa đủ, cũng như thuế má và trợ cấp thuận lợi cho “các chủ trang trại”, đã đem tới những cấu trúc của tầng lớp thượng lưu mới ở vùng đất đó như ở thành phố.
Vì vậy, các tầng lớp thượng lưu cũ và mới sống ở các thành phố nhỏ hơn nhìn nhau với vẻ khá căng thẳng, khinh thị và thán phục pha lẫn ghen ghét. Tầng lớp thượng lưu mới nhìn thấy ở tầng lớp cũ thứ uy tín mà anh ta muốn có, nhưng, đồng thời, cũng là đối tượng hủ lậu cản trở việc kinh doanh và chính trị quan trọng, và như đám dân tỉnh lẻ, gắn chặt với thể chế địa phương, không có tầm nhìn để quyết tâm và nhiệt tình. Đổi lại, người ở tầng lớp thượng lưu cũ lại nghĩ tầng lớp mới là quá hám tiền, chỉ biết kiếm tiền và muốn kiếm được nhiều hơn, nhưng không có nền tảng xã hội hay lối sống văn hóa phù hợp với thứ hạng tài chính của họ, không thực sự quan tâm đến đời sống dân sự của thành phố, trừ việc anh ta có thể sử dụng nó cho những mục đích cá nhân và xa lạ.
Khi chống lại uy tín của tầng lớp thượng lưu cũ trong kinh doanh cũng như trong các vấn đề dân sự và chính trị, người ở tầng lớp thượng lưu mới thường cho uy tín là do “tuổi già”, điều mà trong suy nghĩ của họ luôn gắn với im lặng theo “kiểu cũ”, nhịp sống chậm hơn, và quan điểm chính trị còn rơi rớt của tầng lớp thượng lưu cũ. Họ cảm thấy người ở tầng lớp thượng lưu cũ không sử dụng uy tín của mình vào việc kiếm tiền như cách của người ở tầng lớp thượng lưu mới. Họ không hiểu uy tín cũ là thứ cần được tận dụng; họ chỉ nhìn nó trong mối quan hệ tương hỗ giữa chính trị và kinh tế: khi họ không có, nó trở thành vật cản đường họ.i
i. Phụ nữ ở tầng lớp thượng lưu mới lại có một hình ảnh phần nào khác biệt: họ thường coi uy tín của tầng lớp thượng lưu cũ là thứ cần được đánh giá có “văn hóa”. Họ thường cố gắn ý nghĩa “giáo dục” với địa vị của tầng lớp cũ: điều này đặc biệt đúng ở những phụ nữ trẻ hơn có chồng là những nhà chuyên môn và bản thân họ đã tốt nghiệp một “trường đại học danh tiếng”. Có học thức, thời gian và tiền bạc để tổ chức các sự kiện văn hóa cộng đồng, phụ nữ ở tầng lớp thượng lưu mới tôn trọng yếu tố “văn hóa” trong phong cách của tầng lớp cũ hơn là cánh đàn ông của họ. Vì ghi nhận sự ưu việt xã hội của tầng lớp cũ, nên phụ nữ ở tầng lớp thượng lưu mới nhấn mạnh những chủ đề mà họ cũng có. Những phụ nữ như thế ngày nay tạo thành khu vực tin cậy nhất, ở đó tiền được dùng để đổi lấy những yêu cầu về địa vị của tầng lớp thượng lưu cũ trong các thành phố nhỏ. Đối với tầng lớp trung lưu, nhìn chung những phụ nữ này thường hợm hĩnh khẳng định: Họ có thể quan tâm đến những vấn đề văn hóa nhưng họ không có cơ hội hay nền tảng gia đình và giáo dục. Họ có thể đưa ra hàng loạt rao giảng, nhưng họ không có nền tảng để dẫn dắt nó.
2.
Việc chia rẽ về xã hội và kinh tế của các tầng lớp thượng lưu cũng là sự chia rẽ về chính trị, dù vẫn chưa rõ ràng ở mọi địa phương, nhưng đó là một thực tế có xu hướng lan rộng cả nước từ Thế chiến II.
Các tầng lớp thượng lưu địa phương – mới và cũ, thấy và không thấy, chủ động và thụ động – tạo thành xương sống xã hội của Đảng Cộng hòa. Tuy nhiên, thành viên của tầng lớp thượng lưu cũ hình như không ồn ào hay tích cực về chính trị trong bối cảnh sau chiến tranh như nhiều người mới. Có lẽ vì họ cảm thấy không đủ khả năng để “thu hẹp khoảng cách xã hội giữa họ và cử tri”, như Allison Davis và những người khác đã nói về tầng lớp thượng lưu cũ ở miền Nam. Tất nhiên, địa vị xã hội của họ “rõ ràng được các quan chức công nhận ở khắp nơi. Họ không bị ràng buộc bởi những hạn chế pháp lý nhỏ, hầu như không bao giờ bị bắt vì say xỉn hay vì mấy vi phạm nhỏ về giao thông, ít khi phải hầu tòa, và thường nhận được mọi ưu ái mà họ yêu cầu”.2 Đúng là họ rất quan tâm đến thuế suất và định giá tài sản, nhưng những quan tâm này, vốn được tầng lớp thượng lưu mới hoàn toàn chia sẻ, cũng được đáp ứng đầy đủ mà không cần sự can thiệp cá nhân của tầng lớp cũ.
Tầng lớp thượng lưu mới thường bộc lộ cảm xúc chính trị ồn ào và sự thất vọng về địa vị trên quy mô toàn quốc dưới hình thức thái quá, điều có thể dễ dàng thấy trong bộ phim dài tập The Investigators (Những nhà điều tra). Mấu chốt của cảm xúc chính trị này, ở Quốc hội cũng như ở xã hội địa phương, nằm trong tâm lý về địa vị của người giàu mới nổi.i Tầng lớp giàu mới ấy – từ những triệu phú của Texas, tới những người trục lợi nhỏ bé của Illinois thời chiến tranh đã nắm giữ của cải từ hồi đó – cảm thấy họ hình như bị những tham vọng địa vị của các gia đình giàu có và lâu đời hơn níu giữ. Người bán bảo hiểm có thu nhập 30.000 đô-la một năm bỗng nhiên lái chiếc xe hơi 260 mã lực và mua những chiếc nhẫn kim cương thô kệch cho vợ để hối lỗi, những doanh nhân có thu nhập 60.000 đô-la một năm bỗng nhiên xây bể bơi dài hơn 15 mét và không biết đối xử với những người hầu mới thế nào – họ cảm thấy mình đã đạt được thứ gì đó, nhưng lại không được cho là họ đủ sức để có nó thực sự. Ngày nay ở Texas có những người mà tên tuổi chỉ nổi ở địa phương, nhưng lại có nhiều tiền hơn nhiều gia đình nổi tiếng toàn quốc ở miền Đông. Nhưng họ lại thường không nổi tiếng toàn quốc, mà dù có đi nữa, thì cũng không theo cách tương tự.
i. Xem Chương 14: Tâm lý bảo thủ.
Những cảm nhận đó tồn tại ở quy mô nhỏ hơn ở hầu hết các thành phố và thị trấn nhỏ hơn. Chúng thường không được nói ra, và chắc chắn chúng không trở thành cơ sở của bất kỳ phong trào chính trị thực sự nào. Nhưng chúng ẩn sau sự hả hê sâu rộng khi nghe người ta “quở trách” những người có uy tín, khi thấy vị tướng bị tầng lớp mới nổi trách móc, khi nghe tầng lớp giàu mới gọi tầng lớp giàu cũ bằng tên riêng như người thân quen, thậm chí xúc phạm trong các cuộc tranh cãi công khai.
Mục đích chính trị của nhóm cánh hữu nhỏ hình thành trong tầng lớp thượng lưu mới ở các thành phố nhỏ là phá hoại những thành tựu lập pháp của Chính sách Kinh tế Mới và Chính sách Kinh tế Công bằng. Hơn nữa, việc xuất hiện ngày càng nhiều các nghiệp đoàn lao động ở nhiều thành phố này trong chiến tranh, với việc ngày càng có nhiều lãnh đạo nghiệp đoàn đòi phải được tham gia các hội đồng dân sự địa phương; bảo đảm an sinh cho người làm công ăn lương mà trong chiến tranh đã phải dùng séc tuần nhiều hơn ở các cửa hàng, ngân hàng, và lê bước trên hè phố vào thứ bảy; những chiếc ô tô mới và to của những người nhỏ – tất cả những thay tầng đổi lớp này về tâm lý trong hai thập kỷ qua đã đe dọa tầng lớp thượng lưu mới vì làm giảm bớt cảm giác về tầm quan trọng, về ý thức của họ đối với một trật tự uy tín phù hợp.
Tầng lớp thượng lưu cũ cũng ít an toàn về mặt xã hội hơn do những việc này diễn ra trên đường phố, trong cửa hàng, và trong ngân hàng; nhưng sau cùng họ lý giải: “Những người này thực sự không động đến chúng ta. Tất cả những gì họ có là tiền”. Tuy nhiên, những người mới nổi ít vững chắc hơn người cũ về mặt xã hội lại cảm thấy mình có giá trị thấp hơn vì thấy đám khác cũng nổi lên trong thế giới kinh tế của các thành phố nhỏ.
Xã hội địa phương là một cấu trúc quyền lực cũng như một hệ thống địa vị; trên đỉnh của nó là một tập hợp các nhóm hoặc “các đám đông” mà thành viên của nó sẽ phán xét và quyết định những vấn đề cộng đồng quan trọng, cũng như nhiều vấn đề lớn hơn của bang và đất nước liên quan tới “cộng đồng”.3 Thông thường, nhưng không phải lúc nào cũng thế, các nhóm này gồm những người ở tầng lớp thượng lưu cũ; họ gồm các doanh nhân lớn hơn và người nắm quyền kiểm soát ngân hàng, thường có các mối liên hệ với giới chủ lớn về bất động sản. Được tổ chức không chính thức, mỗi nhóm này thường tập trung một số chức năng kinh tế: có nhóm công nghiệp, nhóm bán lẻ, nhóm ngân hàng. Các nhóm này chồng chéo nhau, luôn có một số người từ nhóm này chuyển sang nhóm khác, phối hợp quan điểm và quyết định. Cũng có các luật sư và quan chức chính quyền của những gia đình có nền tảng vững chắc; họ là những người sử dụng quyền lực ủy nhiệm và bằng nhiều tương tác giữa tầng lớp giàu cũ và mới mà họ đại diện, kết nối và tập trung vào việc quyết định quyền lực của đồng tiền, vào uy tín, vào việc tổ chức.
Ngay dưới các nhóm như vậy là những người có năng lực, chủ yếu thuộc tầng lớp thượng lưu mới, thực hiện các quyết định và chương trình của giới chóp bu – đôi khi thấy trước được chúng và luôn cố gắng làm như vậy. Đây là những người “tác nghiệp” – các phó chủ tịch ngân hàng, doanh nhân nhỏ thành công, quan chức có hạng, nhà thầu, và giám đốc điều hành của công nghiệp địa phương. Sau loại thứ hai này là loại thứ ba – những người thừa hành, các lãnh đạo cơ quan dân sự, quan chức tổ chức, lãnh đạo dân sự nhỏ hơn, nhà báo, và cuối cùng là loại thứ tư trong hệ thống quyền lực – những người bình thường thuộc giới chuyên môn và doanh nghiệp, các bộ trưởng, giáo viên đầu ngành, người hoạt động xã hội, giám đốc nhân sự.
Trong hầu như bất kỳ chủ đề nào được đưa ra về lợi ích hay quyết định, một nhóm chóp bu, hoặc thậm chí một người quan trọng nào đó, trở thành nhân tố chiến lược cho quyết định trước mắt và cho việc phối hợp phi chính thức sự ủng hộ trong các nhóm quan trọng. Giờ thì đó là người liên lạc của nhóm với thống đốc bang; giờ thì đó là nhóm các giám đốc ngân hàng; giờ thì đó là người được cả Câu lạc bộ Rotary lẫn Phòng Thương mại, cả Quỹ Phúc lợi Cộng đồng (Community Chest) lẫn Đoàn Luật sư yêu mến.
Quyền lực không nằm ở những tổ chức bậc trung; các thành viên không được ra những quyết định quan trọng. Những người ở vị trí cao nhất có quyền đó, nhưng lại không thường xuyên tích cực trong các tổ chức này. Là hội đoàn, chúng giúp thực hiện đường lối chính sách mà các tầng lớp quyền lực cao hơn đưa ra; chúng là nơi đào tạo, ở đó những tay chân tích cực trẻ hơn của giới chóp bu chứng tỏ bản thân, và đặc biệt ở các thành phố nhỏ hơn, đôi khi đó là nơi tuyển chọn thành viên mới của tầng lớp chóp bu.
“Chúng tôi sẽ không tham gia các ‘hiệp hội’ như ông gọi chúng – vì nó không đúng lắm”, một người có thế lực của một thành phố lớn vùng Trung Nam nói với Giáo sư Floyd Hunter. “Nhiều hiệp hội trong số đó, nếu ông muốn nói đến Phòng Thương mại hay Hội đồng Cộng đồng, chỉ ngồi lại và bàn luận về các ‘mục đích’ và các ‘lý tưởng’. Tôi không biết những thứ nhiêu khê này nghĩa là gì. Tôi phải nói thẳng với ông là tôi không tham gia vào mấy ủy ban này. Nhiều người khác ở thị trấn tham gia, nhưng tôi thì không… Charles Homer là người quan trọng nhất trong đám chúng tôi… Khi ông ấy nêu ý kiến, những người khác sẽ hiểu… gần đây ông ấy có ý kiến là Thành phố Khu vực nên là trụ sở quốc gia của một Hội đồng Thương mại Quốc tế. Ông ấy mời một số người trong chúng tôi [giới nòng cốt] tới và nói ngắn gọn về ý tưởng của mình. Ông ấy không nói nhiều. Chúng tôi không nói lan man về ‘lý tưởng’ của tình hình và tất cả những vấn đề khác. Chúng tôi đi thẳng vào vấn đề, đó là làm cách nào để Hội đồng này lắng nghe. Tất cả chúng tôi nghĩ đó là một ý kiến hay của tầng lớp mình. Có sáu người chúng tôi trong cuộc họp đó… Tất cả chúng tôi được phân công nhiệm vụ thực hiện. Moster sẽ thảo văn bản về việc sáp nhập. Ông ấy là luật sư. Tôi có một nhóm bạn mà tôi sẽ vận động tham gia. Mọi người ai cũng có một nhóm bạn và họ sẽ làm tương tự. Những người bạn này ông ấy có thể gọi là người đi theo.
Chúng tôi quyết định mình cần quyên góp 65.000 đô-la để giải quyết việc này. Chúng tôi có thể quyên được số tiền đó ngay trong đám chúng tôi, nhưng cuối cùng việc này lại trở thành một đề xuất cộng đồng, cho nên chúng tôi quyết định đưa các nhóm khác vào cùng tham gia. Chúng tôi quyết định sẽ có một cuộc họp với những thành viên được lựa chọn từ các nhóm khác ở Câu lạc bộ Grandview… Khi chúng tôi gặp mặt ăn tối tại đó với những nhóm khác, ông Homer liền thông báo ngắn gọn; với lại, ông ấy cũng chẳng cần dài dòng. Ông ấy kết thúc bằng việc nói ông ấy tin vào đề nghị của mình, năm đầu tiên ông ấy sẵn sàng ủng hộ 10.000 đô-la tiền riêng. Ông Homer ngồi xuống. Ông có thể thấy các nhóm khác chụm đầu trao đổi, và nhóm Ngân hàng Growers không chịu lép vế cũng ủng hộ số tiền tương tự với lời bảo đảm họ sẽ theo đuổi dự án này trong ba năm. Những người khác ủng hộ từ 5.000 đến 10.000 đô-la, cho tới khi – tôi xin nói là khoảng 30 đến 40 phút – chúng tôi có đủ số tiền mình cần. Trong ba tiếng, toàn bộ sự việc được giải quyết, kể cả thời gian ăn uống!
Có một chi tiết tôi quên, mà lại là một chi tiết quan trọng. Chúng tôi lôi cả ban lãnh đạo tới cuộc hợp. Nội dung được viết ra, và người đứng đầu hội đồng là giám đốc điều hành được nêu tên… một người thuộc nhóm thứ ba, sẽ ghi nhận lời tư vấn… Công chúng không biết gì về dự án cho tới khi nó đến giai đoạn mà tôi đang nói. Sau khi vấn đề tài chính có vẻ ổn, chúng tôi đến các tòa báo và nói có một đề nghị cần được xem xét. Tất nhiên, lúc ấy nó không phải là tin tức đối với nhiều người, nhưng các ủy ban của Phòng Thương mại và các tổ chức dân sự khác được đưa vào dự án. Họ đều nghĩ đó là một ý tưởng hay. Họ giúp thành lập và tìm địa điểm cho Hội đồng. Tất cả chuyện này là thế.”4
3.
Vở kịch về địa vị của tầng lớp thượng lưu cũ và mới; cấu trúc tầng lớp chống đỡ cho vở kịch đó; hệ thống quyền lực của các nhóm cao hơn – những thứ này giờ đây tạo nên một loại tiêu chuẩn mẫu hình, dù có đôi chút phức tạp, của các tầng lớp thượng lưu trong xã hội địa phương. Nhưng chúng ta không thể hiểu hình mẫu đó hay những gì đang xảy ra với nó, nếu chúng ta quên rằng tất cả những thành phố này chính là một phần của hệ thống địa vị, quyền lực, và của cải quốc gia. Mặc dù nhiều phát ngôn viên của Quốc hội đưa ra những lời rất hoa mỹ, nhưng không một xã hội địa phương nào lại thực sự là một địa phương có chủ quyền. Ở thế kỷ trước, xã hội địa phương trở thành một bộ phận của nền kinh tế quốc gia; địa vị và thang bậc quyền lực của nó là những bộ phận phụ thuộc vào thang bậc quốc gia lớn hơn. Ngay từ mấy thập kỷ sau Nội chiến, những người nổi tiếng ở địa phương nhiều hơn, nhưng vẫn chỉ là ở địa phương.5 Những người mà lĩnh vực ra quyết định tích cực và được công chúng hoan nghênh ở cả phạm vi địa phương lẫn quốc gia đang xuất hiện. Ngày nay, vẫn chỉ mang tính địa phương thì sẽ thất bại; nó sẽ bị của cải, quyền lực, và địa vị của những người quan trọng tầm quốc gia vùi dập. Để thành công thì phải bỏ xã hội địa phương lại sau – cho dù cần phải có danh tiếng ở địa phương để được lựa chọn vào các nhóm tầm quốc gia.
Tất nhiên, những giá trị, lối sống truyền thống thực sự ở Mỹ xuất phát từ nông thôn. Nhưng giá trị của xuất thân nông thôn và cư ngụ ở nông thôn đôi khi mơ hồ. Một mặt, thị trấn có truyền thống chống lại dân nhà quê, thành phố lớn chống dân tỉnh lẻ, và ở nhiều thành phố nhỏ, những người không phải các tầng lớp lao động, thấp hơn, sống ở thành phố suốt một thế hệ, cũng có được chút uy tín. Mặt khác, những người có danh tiếng thường khoe về gốc gác nhà quê của mình; điều này có thể do đặc điểm của thời Jefferson vốn coi đức hạnh nhà quê cao hơn lối sống thành phố, hoặc muốn cho người ta thấy họ đã tiến xa đến thế nào.
Nếu như trong đời sống công cộng, trang trại thường là một xuất phát điểm tốt, thì trong đời sống xã hội, nó lại luôn là một nơi tốt để sở hữu và về thăm. Tầng lớp thượng lưu ở thành phố nhỏ lẫn lớn hiện nay hầu như đều sở hữu và về thăm “chốn thôn quê” của họ. Việc này, đã nhen nhóm từ cuối những năm 1890 ở cả các vùng như Trung Tây, phần nào là một cách mà những người giàu có đơn thuần neo mình vào chốn xưa đáng trọng, nhằm bày tỏ lòng tôn kính của mình với quá khứ bằng tiền, bằng sự quan tâm đầy tình yêu, và đôi khi bằng cả những điều phiền nhiễu. Vì thế ở miền Nam có Dinh thự Đồn điền Cũ được khôi phục nguyên vẹn; ở Texas và California có những đàn gia súc khổng lồ trải rộng hoặc trang trại hoa quả được cắt tỉa; ở Iowa là trang trại kiểu mẫu nuôi gia súc thuần chủng và những chuồng ngựa hoành tráng. Động cơ mua trang trại cũng là để đầu tư và tránh thuế, tất nhiên còn như một thú vui được về sống ở đó theo mùa và thỏa mãn sở thích.
Đối với thị trấn nhỏ và vùng nông thôn xung quanh, việc này có nghĩa là các sắp xếp địa vị ở địa phương không còn mang tính địa phương nữa. Thị trấn nhỏ và vùng nông thôn đã được củng cố khá vững chắc, vì những chủ trang trại giàu có, đặc biệt là khi đã nghỉ hưu, thường chuyển tới thành phố nhỏ, và các gia đình thành phố giàu có lại mua nhiều đất đai ở nông thôn. Theo Ngài August B. Hollingshead cho biết, một cộng đồng vùng Trung Tây có khoảng 25 gia đình mà tổ tiên bao đời đã tích tụ hơn 60% của khoảng 160 dặm vuông đất nông nghiệp màu mỡ.6 Sự tích tụ này được tăng cường bởi hôn nhân giữa những gia đình nông thôn và thành phố tầng lớp thượng lưu. Ở địa phương, bất kỳ “giới quý tộc nông thôn” nào có thể chiếm ưu thế đều tập trung về ít nhất là thành phố nhỏ; các tầng lớp trên ở nông thôn và xã hội địa phương ở thành phố nhỏ hơn đều có quan hệ gần gũi, thực tế thường là họ hàng cùng tầng lớp trên.
Ngoài những trang trại thuộc các gia đình ở thành phố, những hoạt động và nhà ở tập trung tại thị trấn của các gia đình nông thôn, còn có sự thay đổi nơi ở theo mùa ngày càng tăng trong các tầng lớp thượng lưu ở nông thôn và thị trấn nhỏ. Phụ nữ và trẻ em thuộc tầng lớp thượng lưu nông thôn đi chơi “hồ” vào dịp hè, còn đàn ông thì đi vào dịp cuối tuần dài ngày, thậm chí các gia đình New York còn làm vậy ở Florida vào mùa đông. Việc dân chủ hóa kỳ nghỉ theo mùa tới các bờ biển, vùng núi hoặc hải đảo hiện giờ lan sang cả tầng lớp thượng lưu địa phương của các thành phố nhỏ và các khu vực nông thôn, những nơi mà 30 năm trước chỉ dành cho tầng lớp thượng lưu thành phố lớn.
Sự kết nối giữa thị trấn nhỏ với vùng nông thôn và với trung tâm của hai thế giới địa vị ở thành phố lớn hơn được bộc lộ rõ nhất khi những chủ trang trại hào hoa dọn về ở vùng nông thôn xung quanh một thị trấn nhỏ. Những cư dân theo mùa này mang theo lối ứng xử và các giá trị của thành phố lớn hơn mà họ sống; họ không biết gì và thường ít quan tâm tới đòi hỏi về danh vọng ở địa phương. Với bất động sản nông thôn của mình, họ chiếm giữ nấc thang trên cùng của cái từng được gọi là thang điền địa, mặc dù họ biết ít hoặc không biết gì về những nấc thấp hơn của chiếc thang đó. Trong một thị trấn vùng Trung Tây mà Evon Vogt từng nghiên cứu, các nhóm cư dân thành thị này sở hữu một nửa số đất đai.7 Họ không tìm kiếm mối liên hệ với xã hội địa phương và thậm chí thường không chào đón sự tiến bộ của nó, dù có chuyển bất động sản nông thôn này cho con cái và kể cả giờ đây là cho cháu chắt họ.
Thành viên của xã hội địa phương, nông thôn hay thành thị, có thể cố gắng theo một trong hai đường sau: họ có thể lùi lại và cố vạch trần cách làm đồi bại của những kẻ mới tới, hoặc họ có thể cố gắng nhập bọn, trong trường hợp đó, họ cũng sẽ bắt đầu tập trung vào lối sống xã hội ở khu vực thành phố lớn. Nhưng dù chọn đường nào, họ cũng nhanh chóng, thường là cay đắng, nhận ra rằng tầng lớp thượng lưu mới cũng như các tầng lớp trung lưu bậc trên đã dùng tiền để có được địa vị, đang dõi theo họ đầy chăm chú và đôi lúc với vẻ thích thú. Những gì từng là một lãnh địa nhỏ, một thế giới địa vị dường như tự cung tự cấp, đang trở thành một vệ tinh thỉnh thoảng được sử dụng của tầng lớp thượng lưu ở thành phố lớn.
Điều đang xảy ra trong và với xã hội địa phương là việc nó đã hợp nhất với khu vực nông thôn xung quanh, và dần sáp nhập vào hệ thống quyền lực và địa vị quốc gia. Muncie ở Indiana giờ đây gần với Indianapolis và Chicago hơn nhiều so với 50 năm trước; và tầng lớp thượng lưu của Muncie đi du lịch xa hơn, thường xuyên hơn các tầng lớp trung lưu và thấp hơn ở địa phương. Ngày nay, có rất ít thị trấn nhỏ mà ở đấy tầng lớp thượng lưu, cả cũ lẫn mới, lại không thể tới thăm một thành phố lớn gần đó ít nhất là hằng tháng hoặc đại loại vậy. Việc đi du lịch như thế ngày nay là hoạt động tiêu chuẩn của đời sống doanh nghiệp, giáo dục, và xã hội của tầng lớp giàu có ở thành phố nhỏ. Họ có nhiều bạn bè ở xa hơn và có các mối quan hệ thường xuyên hơn với họ. Thế giới của người ở tầng lớp thượng lưu địa phương đơn giản là rộng hơn hồi năm 1900 và lớn hơn thế giới của các tầng lớp trung lưu và thấp hơn hiện nay.
Xã hội địa phương ở thành phố nhỏ hơn nhìn lên tầng lớp thượng lưu nơi thành phố lớn; những thành viên mới hơn của nó ngưỡng mộ ra mặt, còn thành viên cũ hơn thì ít thể hiện điều này. Dù bạn có thể đi nữa, thì có gì đáng khoe một con ngựa hay một con chó ở một thành phố nhỏ có trăm nghìn dân khi bạn biết buổi Trình diễn sẽ được tổ chức ở New York vào mùa thu sau? Nói nghiêm túc hơn, dù có được thuận lợi về tài chính, nhưng uy tín nỗi gì khi biết ở địa phương có thỏa thuận 50.000 đô-la, còn ở Chicago cách đó 175 dặm, người ta có thỏa thuận 500.000 đô-la? Chính việc mở rộng khu vực địa vị của họ làm đàn ông và đàn bà ở thị trấn nhỏ không bằng lòng với việc phải vùng vẫy trong mấy chiếc ao nhỏ như vậy, làm họ khao khát những chiếc hồ của thành phố lớn đầy uy tín, nếu chưa nói là danh tiếng quốc gia thực sự? Vì thế, trong chừng mực mà xã hội địa phương còn duy trì vị trí của nó, dù ở cấp địa phương, nó bắt đầu hòa nhập và đồng nhất với đám đông ở thành phố lớn hơn, dễ dàng hơn khi nói đến những trường học phía đông và các hộp đêm ở New York.
Có một điểm khác biệt giữa các tầng lớp thượng lưu cũ và mới ở các thành phố nhỏ hơn khiến tầng lớp cũ rất lo lắng, vì nó làm tầng lớp mới trở nên ít sẵn sàng và ít tin cậy hơn khi dùng tiền bạc để đòi hỏi địa vị của tầng lớp cũ. Nói cho cùng, tầng lớp cũ chỉ cũ trong mối quan hệ với tầng lớp mới và vì thế cần tầng lớp mới để cảm thấy mọi việc vẫn ổn trong thế giới địa vị nhỏ bé của họ. Nhưng tầng lớp mới, cũng như nhiều người trong tầng lớp cũ, thừa biết xã hội địa phương bây giờ chỉ mang tính địa phương.
Đàn ông và phụ nữ của tầng lớp thượng lưu cũ đều hiểu địa vị của họ chỉ giới hạn trong thành phố mình. Vào mùa đông họ có thể đi chơi Florida hay California, nhưng họ luôn đi như du khách, chứ không phải người thăm dò những con đường mới hay người làm nên các quan hệ làm ăn mới. Họ cảm thấy chỗ của họ là ở thành phố của họ, và họ có xu hướng nghĩ thành phố này chứa đựng mọi nguyên tắc cần thiết cho việc xếp hạng của mọi người ở khắp nơi. Mặt khác, tầng lớp thượng lưu mới có xu hướng quý trọng người địa phương vì số lượng và các loại tương tác mà họ có với những nơi và những người ngoài thành phố – điều mà người ở tầng lớp thượng lưu cũ thực sự thường gạt ra vì đó là “đám ngoại đạo”. Hơn nữa, nhiều thành viên hoạt ngôn trong các tầng lớp trung lưu và thấp hơn nhìn lên tầng lớp thượng lưu mới vì những tương tác “bên ngoài” theo kiểu rõ ràng là hoàn toàn đối lập với “nơi ở cũ của gia đình”. Nơi ở cũ của gia đình là tiêu chí trung tâm của cộng đồng, các tương tác bên ngoài đều tập trung ở thành phố lớn hay thậm chí ở tầm quốc gia.i
i. Hung hăng hơn tầng lớp cũ, tiêu chí của tầng lớp thượng lưu mới dành cho giới chóp bu thực sự không chỉ là họ giàu, mà là họ “đi khắp nơi” và có mối liên hệ với những người cũng “đi khắp nơi” theo cái cách thậm chí còn lớn hơn cả họ. Trong một thành phố nhỏ điển hình, các anh hùng của tầng lớp thượng lưu mới được mô tả với tôi là “những chàng trai như thùng thuốc nổ… Họ ở đó, cùng nhau đi khắp nơi và làm mọi việc tốt cho [thành phố]. Hãy xem, họ hoạt động trên toàn quốc, và họ coi điều đó là rất quan trọng. Họ không tích cực lắm trong các vấn đề chỉ mang tính địa phương, nhưng họ là những người tích cực. Họ tích cực đầu tư khắp nơi, không để tiền chỉ nằm im một chỗ chẳng làm gì”. Những câu chuyện về các gia đình cũ sa sút và các gia đình mới tích cực đang nổi lên đã minh họa về tầng lớp thượng lưu mới “đang hoạt động dân chủ” và khả năng “bất kỳ ai có năng lực và đầu óc” đều có thể đi lên. Những câu chuyện như vậy góp phần bào chữa cho lập trường và phong thái riêng của họ, và cho phép họ rút ra từ dòng chảy quốc gia các huyền thoại trang trọng liên quan đến thành công hiển nhiên của những người biết cách làm việc khôn ngoan. Tầng lớp thượng lưu cũ không kể những chuyện như vậy, ít nhất là cho người lạ, vì với họ uy tín tự nó là một thứ tích cực, ít nhiều đã có trong lối sống của họ, và quả thực, trong chính họ. Nhưng với người ở tầng lớp thượng lưu mới, uy tín xem ra là thứ anh ta thực sự không có, nhưng có thể sử dụng tốt trong việc làm ăn và thăng tiến xã hội; anh ta có xu hướng coi địa vị xã hội của tầng lớp thượng lưu cũ là một công cụ để “chào bán” một dự án hoặc kiếm tiền nhiều hơn. “Bạn không thể làm được gì trong thành phố này mà không có họ [tầng lớp thượng lưu cũ]. Chức tước tên tuổi của họ rất quan trọng… Này nhé, nếu bạn và tôi thực hiện một dự án ở thị trấn này, hoặc ở bất kỳ thị trấn nào, chúng ta phải có tên tuổi của người có chức vụ. Giới đầu tư, buôn bán bất động sản, vv. chỉ chịu nghe khi chúng ta có điều đó. Nếu không, dù chúng ta có một dự án hay nhất thế giới, nó cũng sẽ chết yểu.”
4.
Ngày nay, “các tương tác bên ngoài” thường nằm trong lời nhắc nhở rất cụ thể và khó chịu về vị thế và quyền lực quốc gia tồn tại ngay tại thành phố địa phương: Vào cuối những năm 1930, và đặc biệt với việc mở rộng kinh doanh trong Thế chiến II, các công ty quốc gia đã vươn tới nhiều thành phố nhỏ này. Nó làm đảo lộn cán cân địa vị kinh tế cũ trong các tầng lớp thượng lưu địa phương; vì chi nhánh địa phương bắt đầu có các giám đốc điều hành đến từ thành phố lớn, họ có xu hướng coi thường và phớt lờ xã hội địa phương.8
Tất nhiên, uy tín đạt được vì “tham gia cùng” và bắt chước những người sở hữu quyền lực cũng như uy tín. Ngày nay, các tầng lớp thượng lưu ở địa phương, đặc biệt tầng lớp thượng lưu mới, có lẽ là chắc chắn đang ngày càng đạt được vị trí xã hội này thông qua sự liên kết với giới chức lãnh đạo của các công ty lớn, thông qua việc học theo lối sống của họ, thông qua việc dọn tới những khu ngoại ô ở ngoài thành phố, tham dự các cuộc gặp xã giao của họ. Vì thế giới địa vị của nhóm công ty không tập trung hết ở thành phố địa phương, nên xã hội địa phương có xu hướng xa dần uy tín dân sự, coi nó mang “bản chất địa phương”.
Trong con mắt của tầng lớp thượng lưu mới, giới lãnh đạo xã hội cũ của thành phố dần bị nhóm công ty thay thế. Tầng lớp thượng lưu địa phương đấu tranh để được mời dự bàn công việc của giới lãnh đạo mới, và thậm chí để con cái họ gia nhập tầng lớp mình. Một trong những biểu hiện rõ nhất của chiều hướng này là phong trào các gia đình tầng lớp thượng lưu địa phương chuyển về mấy khu ngoại ô dành riêng mà chủ yếu do các nhà lãnh đạo công ty xây nên. Tầng lớp thượng lưu mới có xu hướng bắt chước và hòa nhập với nhóm công ty; những “thanh niên sáng sủa” của các tầng lớp có học có xu hướng rời thành phố nhỏ và lập nghiệp trong thế giới công ty. Thế giới địa phương của tầng lớp thượng lưu cũ đơn giản là đã qua.
Các diễn biến này thường quan trọng với phụ nữ hơn là với nam giới. Phụ nữ luôn tích cực hơn trong các vấn đề xã hội và dân sự – đặc biệt là ở những người liên quan tới giáo dục, y tế, và từ thiện – nếu không phải vì lý do nào khác ngoài việc họ có nhiều thời gian hơn cho chúng. Họ chú trọng đời sống xã hội của mình ở các thành phố địa phương vì “nó là việc phải làm”, và nó là việc phải làm chỉ khi những người có uy tín cao nhất làm điều đó. Tuy nhiên, phụ nữ địa phương ít có hoặc không có chỗ đứng xã hội trong giới tinh hoa công ty, vì vợ của các giám đốc điều hành đều tập trung ở công ty và thành phố, không quan tâm tới xã hội địa phương, kể cả các vấn đề địa phương quan trọng như giáo dục; vì họ gửi con cái tới trường tư; những người điều hành cấp thấp hơn thì cho con học trường công ngay trong khu ngoại ô hoặc quận huyện nơi họ sống, nổi tiếng và tách biệt khỏi thành phố. Một phụ nữ địa phương điển hình có thể làm hết sức mình trong những vấn đề dân sự mà chẳng bao giờ được vợ của các giám đốc điều hành để ý hoặc chấp nhận. Nhưng nếu chị ta gặp may, tình cờ quen với một người nổi tiếng ở thành phố lớn, chị ta có thể được “vào trong”.
Phụ nữ địa phương thường tham gia vào công việc địa phương và dân sự để giúp đỡ việc làm ăn của chồng, nhưng từ “thành công” của giám đốc điều hành lại nằm trong công ty quốc gia của anh ta. Giới công ty có rất ít hợp đồng làm ăn với doanh nhân địa phương. Họ làm việc với mấy cá nhân xa lạ của các công ty khác, những người này mua sản phẩm của nhà máy hoặc bán nguyên liệu và phụ tùng cho nó. Ngay cả khi giám đốc điều hành ký hợp đồng nào đó với một doanh nhân địa phương, cũng không cần phải có tương tác xã hội – trừ phi đó là một phần trong chính sách “thiện chí” của công ty. Vì thế, hoàn toàn không cần thiết để vợ của giám đốc điều hành tham gia vào xã hội địa phương; quyền lực nhân danh công ty sẽ sẵn sàng cung cấp cho anh ta tất cả các tương tác mà sẽ có lúc anh ta cần đến trong một thành phố nhỏ.
5.
Có lẽ một lúc nào đó – trước Nội chiến – xã hội địa phương đã tạo thành xã hội duy nhất có ở Mỹ. Tất nhiên, vẫn đúng là mỗi thành phố nhỏ là một hệ thống địa vị ở địa phương, và trên chóp của nó vẫn có một giới tinh hoa địa phương về quyền lực, của cải, và uy tín. Nhưng hiện nay người ta không thể nghiên cứu các nhóm tầng trên cho dù có khá nhiều cộng đồng nhỏ hơn, và sau đó – như nhiều nhà xã hội học Mỹ định làm – khái quát các kết quả ở tầm quốc gia, với tư cách là Hệ thống Mỹ.9 Một số thành viên ở các tầng lớp cao hơn của đất nước sống trong các thị trấn nhỏ – dù không phải luôn như vậy. Hơn nữa, việc họ ngẫu nhiên có một ngôi nhà ở đó chẳng có ý nghĩa mấy: khu vực hoạt động của họ là toàn quốc. Tầng lớp thượng lưu xã hội ở tất cả các thị trấn nhỏ của Mỹ không thể đơn thuần cộng lại để tạo thành giới tinh hoa quyền lực quốc gia. Ở mỗi địa phương, có một tập hợp các gia đình thượng lưu, và ở mỗi tập hợp đó, ngoài sự khác biệt nhất định theo khu vực, chúng hoàn toàn giống nhau. Nhưng cấu trúc quốc gia của các tầng lớp không chỉ là số lượng các đơn vị địa phương quan trọng như nhau. Hệ thống đẳng cấp, địa vị, và quyền lực của các xã hội địa phương không thể cân đong như nhau; chúng không tự trị. Giống như hệ thống kinh tế và chính trị của đất nước, uy tín và hệ thống quyền lực không còn được các thang bậc thiết chế phi tập trung tạo nên nữa, mỗi thang bậc chỉ có các mối liên hệ mong manh và mờ nhạt với nhiều thang bậc khác, nếu có. Các loại quan hệ tồn tại giữa nông thôn với thị trấn, giữa thị trấn với thành phố lớn, và giữa các thành phố lớn khác nhau, tạo nên một cấu trúc mà giờ đây ở quy mô quốc gia. Hơn nữa, những thế lực nào đó, mà bản chất của chúng là không có gốc rễ ở bất kỳ một thị trấn hay thành phố nào, do cách thức kiểm soát trực tiếp cũng như gián tiếp hiện đã làm thay đổi các thang bậc địa phương về địa vị, quyền lực, và của cải vốn thường chiếm ưu thế ở đó.
Xã hội địa phương hiện đang trông chờ vào những người có tên trong Sổ Đăng ký Xã hộii và thuộc giới nổi tiếng, vào những người nắm quyền ở doanh nghiệp, vào các trung tâm nơi ra những quyết định chính trị và quân sự của đất nước – cho dù một số thành viên già dặn không phải lúc nào cũng thừa nhận sự tồn tại về mặt xã hội của những thị dân, doanh nghiệp và thế lực này. Nỗ lực của tầng lớp thượng lưu mới và ví dụ về giới tinh hoa quản lý của doanh nghiệp quốc gia biến xã hội địa phương ở khắp nơi thành vệ tinh của hệ thống địa vị, đẳng cấp và quyền lực mở rộng ra ngoài phạm vi địa phương của họ. Thị trấn nào ở New England sánh được với Boston về mặt xã hội? Ngành công nghiệp địa phương nào sánh được với General Motors về mặt kinh tế? Lãnh đạo chính trị địa phương nào sánh được với giới lãnh đạo chính trị của đất nước?
i. Nguyên văn: “Social Register”, cuốn danh bạ ghi tên và thông tin của những cá nhân có thế lực và giàu có nhất tầng lớp thượng lưu ở một vài thành phố lớn của Mỹ, lần đầu ra mắt vào năm 1880. (BT)