60
gia đình bè cánh, hào nhoáng không điều hành nền kinh tế Mỹ, cũng không diễn ra cuộc cách mạng thầm lặng nào của các nhà quản lý – những người đã tước đoạt quyền lực và đặc quyền của những gia đình này. Sự thật là cả hai đặc điểm này được thể hiện qua Sáu mươi Gia đình Mỹ hoặc Cuộc Cách mạng Quản lý không đầy đủ bằng qua sự tái tổ chức quản lý tầng lớp hữu sản, biến họ thành tầng lớp ít nhiều thống nhất của giới điều hành giàu có.1
Với tư cách những gia đình hay cá thể, nhóm rất giàu vẫn là một phần đáng kể trong đời sống kinh tế cao hơn của Mỹ, và các tổng giám đốc điều hành của các tập đoàn lớn cũng thế. Tôi cho rằng điều đang diễn ra là sự tái tổ chức tầng lớp hữu sản, cùng với những người nhận lương cao hơn, thành một thế giới công ty mới có đặc quyền và đặc lợi. Ý nghĩa của việc tái tổ chức quản lý tầng lớp hữu sản là ở chỗ bằng cách này, lợi ích về lợi nhuận và trong ngành hẹp của các công ty, ngành và gia đình cụ thể chuyển thành lợi ích kinh tế và chính trị rộng lớn hơn của một loại tầng lớp thuần nhất hơn. Hiện nay, vị trí trong công ty của những người giàu có bao gồm mọi quyền lực và đặc quyền cố hữu trong các thiết chế tài sản tư nhân.
Lịch sử xã hội gần đây của chủ nghĩa tư bản Mỹ không cho thấy sự đứt đoạn rõ rệt nào trong tính liên tục của tầng lớp tư bản cao hơn. Chắc chắn trong mỗi thế hệ đều có sự tăng thêm, và một tỉ lệ biến động nhân sự không được biết; các tỉ phần về loại người nào đó cũng khác nhau qua các thời kỳ. Nhưng hơn nửa thế kỷ qua, trong nền kinh tế cũng như trong trật tự chính trị, có một sự tiếp nối rõ ràng về lợi ích thuộc về các kiểu con người kinh tế cao hơn, những người canh giữ và thúc đẩy chúng. Dòng chảy chính của tầng lớp thượng lưu, gồm một số xu hướng nhất quán, cho thấy rõ tính liên tục của một thế giới mà hoàn toàn tương thích với sự tiếp nối của giới điều hành giàu có. Vì quyền lực tối hậu của tầng lớp hữu sản lớn hiện đang nằm trong tay giới này, dù về mặt luật pháp chúng có dựa trên quyền sở hữu hay trên sự kiểm soát nặng tính quản lý hay không.
Những người giàu kiểu cũ đơn giản là tầng lớp hữu sản, được tổ chức trên cơ sở gia đình và nằm ở một địa phương, thường là một thành phố lớn. Ngoài những người này, giới điều hành giàu có bao gồm những người mà “thu nhập” cao của họ gồm cả đặc quyền đặc lợi – các thứ bắt đầu là đặc trưng của vị trí giám đốc điều hành cao cấp. Vì vậy, giới điều hành giàu có bao gồm thành viên của nhóm người giàu nơi thành phố lớn thuộc tầng lớp thị dân 400, của nhóm người giàu trên quy mô toàn quốc – nhóm sở hữu đa số tài sản ở Mỹ, cũng như các tổng giám đốc điều hành của các công ty lớn. Trong thời đại tài sản công ty, tầng lớp hữu sản đã trở thành giới điều hành giàu có, và việc đó lại củng cố quyền lực của giới này và thu hút những người mới có lập trường chính trị hơn và có quyền điều hành hơn đứng ra bảo vệ nó. Thành viên của nó ngày càng tự ý thức về thế giới công ty mà họ đại diện. Là những người có địa vị, họ có được đặc quyền đặc lợi ở các thiết chế tư nhân ổn định nhất của xã hội Mỹ. Họ là giới điều hành giàu có vì họ trực tiếp cũng như gián tiếp dựa vào nó để có tiền, có đặc quyền, an ninh, lợi thế, tiếp đó là quyền lực trong thế giới các công ty lớn. Tất cả những người giàu kiểu cũ giờ đây ít nhiều thuộc về giới điều hành giàu có, và những loại người mới hơn có đặc quyền cũng thuộc về đó. Trên thực tế, hiện nay ở Mỹ không ai có thể trở nên giàu hoặc tiếp tục giàu mà lại không liên quan, bằng cách này hay cách khác, với thế giới của giới điều hành giàu có.
1.
Trong suốt những năm 1940 và 1950, hình dạng của việc phân phối thu nhập quốc gia không còn là một kim tự tháp đáy phẳng, mà là một viên kim cương lớn phình to ở giữa. Tính đến giá cả thay đổi và thuế má tăng cao, thì tỉ lệ gia đình có thu nhập chưa tới 3.000 đô-la năm 1929 nhiều hơn năm 1951 (65% so với 46%), tức là ít hơn tỉ lệ gia đình hiện nay có thu nhập từ 3.000 đến 7.500 đô-la (từ 29% đến 47%), nhưng tỉ lệ có thu nhập 7.500 đô-la của năm 1929 và 1951 thì vẫn gần như nhau (6% và 7%).2i
i. Sự thay đổi này – tất nhiên còn rõ rệt hơn cả giai đoạn 1936–1951 – thường do một số thực tế về kinh tế:3 (1) Nhân công đã khá đủ – trong và sau chiến tranh hầu như tất cả những ai muốn làm việc đều đưa vào tầng lớp được nhận lương tháng. (2) Trong các gia đình, thu nhập đã tăng gấp đôi. Năm 1951, chưa tới 16% số gia đình ở một trong hai thái cực, dưới 2.000 đô-la và trên 15.000 đô-la, bao gồm các gia đình có vợ cũng đi làm; nhưng trong khoảng thu nhập từ 3.000 tới 9.999 đô-la thì tỉ phần người vợ đi làm tăng đáng kể cùng với thu nhập của gia đình, từ 16% lên 38%.4 (3) Trong những năm 1920 và 1930, nông dân chiếm tỉ phần lớn trong tầng lớp rất nghèo, nhưng hiện nay, số nông dân còn rất ít, và chính phủ có nhiều loại hỗ trợ về kinh tế cho những người làm việc ở trang trại. (4) Sức ép nghiệp đoàn – từ cuối những năm 1930 đã ra sức ép buộc chủ doanh nghiệp tăng lương liên tục. (5) Các chương trình phúc lợi của chính phủ được ban hành vào những năm 1930 đã quy định mức thu nhập sàn – lương tối thiểu, an sinh xã hội cho người già, trợ cấp cho người thất nghiệp và tàn tật. (6) Tất nhiên, bên dưới sự phồn thịnh của những năm 1940 và 1950 là cơ chế của nền kinh tế chiến tranh.
Nhiều lực lượng kinh tế hoạt động trong suốt chiến tranh, và sau đó là giai đoạn bùng nổ tăng trưởng do việc chuẩn bị cho chiến tranh đã làm một số người từng ở tầng đáy vươn lên mức thu nhập trung bình, và một số người từng ở mức thu nhập trung bình gia nhập tầng lớp trên trung lưu hoặc thượng lưu. Việc phân phối thu nhập thực thay đổi đã tác động tới mức trung bình và thấp hơn của dân cư mà tất nhiên chúng ta không trực tiếp xem xét ở đây. Quan tâm của chúng ta là các mức cao hơn, và những lực lượng tác động đến cơ cấu thu nhập không làm thay đổi thực tế mang tính quyết định của giới lắm tiền.
Trên đỉnh của nền kinh tế Mỹ giữa thế kỷ, có khoảng 120 người mỗi năm nhận được 1 triệu đô-la hoặc hơn. Dưới họ là 379 người khác kiếm được xấp xỉ từ 500.000 tới 1 triệu đô-la. Khoảng 1.383 người kiếm từ 250.000 tới 499.999 đô-la. Và phía dưới tất cả những người này là đường đáy rộng hơn gồm 11.490 người nhận từ 100.000 đến 249.999 đô-la.
Tổng cộng, vào năm 1949, có 13.822 người khai với nhân viên thuế thu nhập của họ là 100.000 đô-la hoặc hơn.5 Chúng ta hãy vẽ đường phân chia giới điều hành giàu có công khai tuyên bố thu nhập ở mức đó: từ 100.000 đô-la-năm trở lên. Đó không phải là con số hoàn toàn tùy tiện. Vì có một thực tế về viên kim cương lớn vẫn còn đúng cho dù có bao nhiêu người ở mỗi mức của nó: ở mức giữa và đặc biệt là những mức cao hơn, thu nhập hằng năm càng lớn, tỉ lệ của nó so với tài sản càng lớn, và tỉ lệ càng nhỏ so với lương, tài khoản doanh nghiệp, hoặc tiền công. Tóm lại, những người giàu thu nhập cao hơn vẫn thuộc tầng lớp hữu sản. Những người thu nhập thấp hơn thì chỉ từ lương mà thôi.i
i. Khoảng 86% số tiền mà những người nộp thuế ít hơn 10.000 đô-la nhận được vào năm 1949 là từ lương và tiền công; 9% từ lợi nhuận kinh doanh hoặc đối tác; chỉ 5% là từ tài sản họ có. Theo tỉ phần số tiền nhận được, thu nhập doanh nghiệp [thực tế] góp phần lớn nhất của những người có thu nhập từ 10.000 đến 99.999 đô-lanăm – 34% thu nhập của những người ở mức thu nhập này là từ lợi nhuận kinh doanh; 41% từ lương và tiền công; và 23% từ tài sản. (2% còn lại là nhóm “thu nhập linh tinh”, trợ cấp hằng năm hoặc lương hưu.)
100.000 đô-lanăm là mức thu nhập mà theo đó tài sản hiện ra rõ nét trong bức tranh thu nhập: 2/3 (67%) số tiền mà 13.702 người nhận được thuộc nhóm kê khai trong khoảng từ 100.000 đô-la tới 999.999 đô-la đến từ tài sản – từ cổ tức, lãi đầu tư, bất động sản, và các quỹ ủy thác. 1/3 còn lại phân chia giữa tổng giám đốc điều hành và các doanh nhân cao cấp.
Bạn càng lên cao trong hàng ngũ cao cấp này, lượng tài sản càng quan trọng, và thu nhập ít có ý nghĩa đối với sự phục vụ mà bạn thể hiện. Vì thế, 94% số tiền của 120 người nhận được 1 triệu đô-la hoặc hơn vào năm 1949 đến từ tài sản, 5% từ lợi nhuận doanh nghiệp, 1% từ lương. Giữa 120 người này có sự khác biệt đáng kể trong những loại tài sản mang lại cho họ tiền bạc.6 Nhưng, bất chấp sự dàn xếp pháp lý có liên quan, những người có thu nhập cao đều nhận được nó khá nhiều từ tài sản công ty. Đó là lý do đầu tiên cho thấy toàn bộ tầng lớp giàu hiện nay là giới điều hành giàu có, và đó là sự khác biệt kinh tế quan trọng giữa tầng lớp giàu với hơn 99% dân cư có mức thu nhập dưới 100.000 đô-la.
Trong các tầng lớp thu nhập cao khai thuế này, người đến người đi, nên hằng năm số người chính xác thay đổi. Năm 1929, khi thuế chưa cao tới mức làm nó trở nên nguy hiểm như bây giờ để khai thu nhập cao, số người khai như vậy cao hơn năm 1949 khoảng 1.000 người – tổng số có 14.816 người khai thu nhập từ 100.000 đô-la trở lên. Năm 1948 có 16.280 người, năm 1939 chỉ có 2.921 người.7 Nhưng ở các mức cao nhất trong suốt những năm này vẫn là một nhóm cốt lõi của nhóm rất giàu. Ví dụ, 4/5 của số 75 người thu nhập từ 1 triệu đô-la trở lên năm 1924 cứ cách một năm lại có thu nhập từ 1 triệu đô-la trở lên trong giai đoạn 1917–1936. Vì cơ hội tốt nên những người làm được điều đó năm nay thì một hoặc hai năm sau lại có thu nhập như thế.i Thấp dần xuống đáy kim tự tháp, chỉ 3% hoặc 4% số dân cư trong thập kỷ sau Thế chiến II có được nhiều lắm là 10.000 đô-la động sản.9
i. Tất nhiên, những số liệu này chỉ sơ bộ cho thấy ý nghĩa của những khoản tiền lớn, vì chúng không tính đến yếu tố lạm phát. Số người của giới điều hành giàu có ở bất kỳ năm nào, cũng như số người có thu nhập triệu đô-la, liên quan đến thuế suất và mức lợi nhuận của thế giới công ty. Những giai đoạn thuế thấp và lợi nhuận cao là lúc người khai thu nhập triệu đô-la nhiều hơn hẳn: vào năm 1929 lý tưởng, 513 người, sở hữu bất động sản, hoặc quỹ ủy thác, khai với chính quyền họ có thu nhập 1 triệu đô-la hoặc hơn. Bình quân thu nhập của những người khai ở mức triệu đô-la này là 2,[36] triệu đô-la, và sau thuế thì bình quân mỗi người còn lại 1,99 triệu đô-la. Trong năm 1932 suy thoái, vẫn có 20 người thông báo thu nhập 1 triệu đô-la hoặc hơn; tới năm 1939, khi 3/4 tổng số gia đình ở Mỹ có thu nhập chưa tới 2.000 đô-lanăm, vẫn có thông tin về 45 người thu nhập triệu đô-la. Tuy nhiên, cùng với chiến tranh, số người thu nhập triệu đô-la tăng vì mức thu nhập chung tăng. Năm 1949, khi cả lợi nhuận lẫn thuế đều cao, mức thu nhập bình quân của 120 người đã khai với chính quyền là họ có thu nhập từ 1 triệu đô-la là 2,[13] triệu đô-la; sau thuế họ còn lại 910.000 đô-la. Tuy nhiên, vào năm 1919, khi thuế và lợi nhuận đều cao dù lợi nhuận có giảm một chút, chỉ 65 người kiếm được 1 triệu đô-la hoặc hơn, bình quân là 2,[3] triệu đô-la trước thuế, nhưng chỉ còn 825.000 đô-la sau thuế.8
2.
Hầu như toàn bộ số liệu về thu nhập đều dựa vào lời khai của người nộp thuế, chúng không lột tả được đầy đủ các khác biệt trong “thu nhập” giữa giới điều hành giàu có và những người Mỹ khác. Trên thực tế, một khác biệt lớn lại liên quan đến các đặc quyền được cố tình tạo ra để loại “thu nhập” khỏi hồ sơ thuế. Các đặc quyền này phổ biến tới mức khó có thể xem xét một cách nghiêm túc điều mà đa phần dư luận nói là “cuộc cách mạng thu nhập”, được cho rằng đã diễn ra hơn 20 năm qua. Một sự thay đổi, như chúng ta vừa được thông báo, đã diễn ra trong việc phân phối tổng thu nhập của Mỹ, nhưng tôi không thấy nó thuyết phục lắm khi căn cứ hồ sơ khai thuế thu nhập để đánh giá là phần mà người giàu nhận được trong toàn bộ của cải của đất nước đã sụt giảm.10
Thuế suất cao, giới điều hành giàu có hết sức nhanh nhạy trong việc tìm ra những cách để có thu nhập, hoặc những việc và kinh nghiệm đem lại thu nhập, sao cho tránh được thuế. Giới điều hành giàu có nộp thuế theo kiểu linh hoạt hơn và cung cấp nhiều cơ hội hơn cho những giải thích khôn ngoan về luật thay vì đúng đối với tầng lớp trung lưu hoặc thấp hơn. Những người có thu nhập cao hơn tính toán tỉ lệ khấu trừ thuế của họ, hoặc thông thường hơn là thuê các chuyên gia tính toán cho họ. Những người có thu nhập từ tài sản hoặc từ công việc kinh doanh và chuyên môn có lẽ cũng thật thà – hoặc gian trá – như người nghèo hơn khi khai tiền lương và tiền công của mình, nhưng về mặt kinh tế họ cũng dạn dày hơn, họ có các cơ hội lớn hơn và nhiều kỹ năng hơn, thậm chí quan trọng hơn, họ có cách tiếp cận với những kỹ năng tốt nhất sẵn có trước những vấn đề như vậy: các luật sư hoàn hảo và kế toán viên tài giỏi, có chuyên môn về thuế như một môn khoa học và một trò chơi. Về bản chất của trường hợp này, sẽ chưa thể chứng minh chính xác, nhưng không thể không tin rằng như một quy tắc chung là thu nhập càng cao và nguồn thu càng đa dạng, thì càng dễ có khả năng hoàn thuế khôn ngoan. Phần lớn thu nhập, hợp pháp hay bất hợp pháp, đều bị khai man với thuế vụ; phần lớn số tiền bất hợp pháp đơn giản là không khai báo.
Có lẽ lỗ hổng về thuế quan trọng nhất trong việc duy trì mức thu nhập hiện thời là tiền lời đầu tư dài hạn. Khi một người trong giới quân sự viết một cuốn sách bán chạy hoặc có người viết nó cho mình, khi một doanh nhân bán trang trại hoặc hơn chục con lợn của mình, khi một giám đốc điều hành bán cổ phiếu của mình – lợi nhuận thu được không được coi là thu nhập mà là tiền lời đầu tư, nghĩa là lợi nhuận cá nhân sau thuế được nhận sẽ gần gấp đôi số tiền như thế nếu là lương hoặc cổ tức được chia. Các cá nhân khai tiền lời đầu tư dài hạn chỉ phải đóng thuế cho 50% số lợi ích đó. Nửa còn lại bị đánh thuế được tính theo tỉ lệ lũy tiến áp dụng cho tổng thu nhập của một người, nhưng thuế tối đa đánh trên tiền lời này là 52%. Điều này có nghĩa là thuế đánh vào tiền lời đầu tư không khi nào có thể vượt quá 26% tổng tiền lời được nhận, và nó sẽ nhỏ hơn nếu tổng thu nhập, gồm cả tiền lời đầu tư của cá nhân thuộc vào nhóm thuế thu nhập thấp hơn. Nhưng khi dòng tiền đổi chiều ngược lại, thua lỗ đầu tư trên 1.000 đô-la (mức dưới 1.000 đô-la sẽ được trừ vào thu nhập bình thường) có thể tính lùi hoặc tính tiến trong thời gian năm năm để bù đắp tiền lời đầu tư.
Ngoài tiền lời đầu tư, lỗ hổng thuế có lợi nhất có lẽ là “trợ cấp hao hụt” cho các giếng dầu, khí đốt, và các mỏ khoáng sản. Từ 5 tới 27,5% tổng thu nhập thu được trên một giếng dầu được miễn thuế mỗi năm, nhưng không vượt quá 50% thu nhập ròng từ tài sản đó. Hơn nữa, toàn bộ chi phí khoan và phát triển một giếng dầu có thể được khấu trừ vì chúng vẫn giữ nguyên giá trị đầu tư và giá trị của giếng dầu giảm dần qua các năm khai thác.11 Mức độ quan trọng về đặc quyền ít liên quan tới tỉ lệ phần trăm cho phép hơn là tới việc giếng dầu tiếp tục hoạt động lâu dài sau khi tài sản này đã hoàn toàn hết giá trị.
Những người có đủ tiền để hoạt động cũng có thể khấu trừ thuế bằng cách dùng tiền mua trái phiếu miễn thuế của thành phố; họ có thể chia nhỏ thu nhập của mình cho các thành viên khác trong gia đình để thuế phải nộp ở tỉ lệ thấp hơn lẽ ra phải nộp cho thu nhập tổng hợp. Những người giàu trong đời không thể cho bạn bè hoặc họ hàng tổng cộng 30.000 đô-la cộng với 3.000 đô-la mỗi năm mà lại không phải đóng thuế quà tặng, nhưng nếu là vợ chồng thì họ có thể tặng nhau gấp đôi số đó. Người giàu cũng có thể được khấu trừ thuế quà tặng (từ 20% thu nhập hằng năm trở lên được thừa nhận là làm từ thiện sẽ không bị đánh thuế thu nhập), việc này sẽ bảo đảm an sinh cho anh ta trong quãng đời còn lại. Anh ta cũng có thể hiến tặng một quỹ từ thiện có tên tuổi phần lớn tiền bạc, mà vẫn tiếp tục được nhận thu nhập từ đó.i
i. Ví dụ một người có thể tặng số cổ phiếu trị giá 10.000 đô-la cho một trường dòng, mà vì tiết kiệm được thuế nên thực tế anh ta chỉ chi ra 4.268,[49] đô-la. Cứ cho là trong vòng 10 năm, số cổ phiếu đó tăng theo giá thị trường lên tới 16.369,[49] đô-la, và anh ta nhận 6.629 đô-la thu nhập, tức là nhiều hơn 50% giá trị món quà của mình. Tất nhiên khi anh ta chết, trường dòng sẽ sở hữu cổ phiếu và nhận được tiền từ nó.12
Vì thế anh ta lập tức khấu trừ khi hoàn thuế thu nhập, và cắt nó khỏi tài sản phải chịu thuế thừa kế.13
Có những thủ thuật khác giúp người giàu bảo tồn được tiền của mình sau khi chết cho dù thuế tài sản cao. Ví dụ, có thể thành lập một quỹ ủy thác cho một đứa cháu, và ra điều kiện là đứa cháu được nhận thu nhập từ quỹ ủy thác này chừng nào nó còn sống, dẫu tài sản về mặt luật pháp thuộc về đứa cháu. Chỉ khi đứa cháu chết (thay vì cả chủ sở hữu gốc lẫn đứa cháu) thì mới phải đóng thuế tài sản.
Quỹ ủy thác gia đình tiết kiệm được thuế – cả thuế thu nhập hiện thời lẫn thuế tài sản phải nộp sau khi chết – vì thu nhập của quỹ ủy thác bị đánh thuế riêng. Hơn nữa, quỹ ủy thác cũng cấp cho người nắm giữ tài sản sự quản lý chuyên nghiệp liên tục, loại bỏ những lo lắng về trách nhiệm, giữ cho tài sản nguyên vẹn trong một khoản tiền có thể quản lý được, xây dựng hàng rào luật pháp có lẽ là vững chắc nhất để bảo vệ tài sản, và trên thực tế, cho phép chủ sở hữu tiếp tục kiểm soát tài sản của mình sau khi chết.i
i. Một tạp chí dành cho các giám đốc điều hành đã giải thích cẩn thận: “Ví dụ trường hợp một người đã kết hôn có thu nhập trước thuế là 30.000 đô-la, trong đó có 1.000 đô-la tiền lời từ số tiền đầu tư 25.000 đô-la. Sau khi nộp thuế, 1.000 đô-la đó chỉ còn 450 đô-la. Giả dụ trong 10 năm, mỗi năm lãi suất kép 4% sẽ cho nhiều lắm là một khoản tiền khoảng 5.650 đô-la cho gia đình anh ta. Nhưng giả sử người đó chuyển số tiền đầu tư 25.000 đô-la vào một quỹ ủy thác ngắn hạn. Nếu dàn xếp này thỏa mãn một số yêu cầu nào đó, quỹ ủy thác sẽ trả khoảng 200 đô-la thuế cho mỗi 1.000 đô-la thu nhập, còn lại 800 đô-la. Trong 10 năm, số tiền đó sẽ đem lại khoảng 9.600 đô-la – một khoản tiền lời cao hơn 70% so với việc tích lũy không qua quỹ ủy thác… [Việc này không phải bang nào cũng cho phép.] Khi ủy thác kết thúc, anh ta sẽ thu lại 25.000 đô-la của mình, cộng với giá trị chênh lệch của cổ phần. Thu nhập tích lũy được sẽ thuộc người thụ hưởng ủy thác, là người có khung thuế nhẹ trong gia đình”.14
Có nhiều kiểu ủy thác, và việc áp dụng luật thì khá phức tạp và nghiêm khắc; nhưng theo một kiểu ủy thác ngắn hạn “những gì bạn làm là trao quyền sở hữu tài sản cho một người nhận ủy thác – và thực ra là từ bỏ thu nhập – ở một thời kỳ đã định nào đó (chừng hơn 10 năm). Rồi nếu người nhận ủy thác đáp ứng mọi yêu cầu khác, bạn không phải nộp thuế cho thu nhập đó”.15
25 năm trước, có chưa đến 250 quỹ tài trợ trên toàn nước Mỹ; hiện nay có tới hàng ngàn. Nói chung một quỹ tài trợ được định nghĩa là “thực thể tự trị, phi lợi nhuận nào đó được thành lập để ‘phục vụ phúc lợi của nhân loại’. Nó quản lý tài sản được chuyển giao cho nó bằng việc tặng hay hiến tặng miễn thuế”. Thực sự thì việc thành lập các quỹ này thường trở thành một cách trốn thuế thuận tiện, “hoạt động như ngân hàng tư nhân cho những người hiến tặng; nhìn chung, cái ‘nhân loại’ mà các quỹ phục vụ hóa ra là một vài người thân nghèo khổ”. Luật Thuế thu nhập năm 1950 đã cố gắng “bịt một số lỗ hổng lớn hơn”, nhưng “các quỹ thiếu minh bạch vẫn có lợi thế – nhân viên thuế vụ rất mất thời gian mới có được thông tin về chúng… họ phàn nàn không có thời gian hoặc nhân lực để kiểm tra dù chỉ một số nhỏ trong những báo cáo mà các quỹ đã đệ trình. Họ đành phải theo bản năng là chính khi quyết định cần điều tra các quỹ nào”, và thậm chí bộ luật năm 1950 không đòi hỏi tất cả số liệu liên quan trực tiếp đến các quỹ phải được cung cấp đầy đủ cho chính quyền.
Trong mấy năm gần đây, số doanh nghiệp thành lập các quỹ nhiều hơn, vì thế được địa phương và quốc gia mời chào thiện chí trong khi khuyến khích nghiên cứu ở các ngành của họ. Công ty liên quan sẽ không phải đóng thuế 5% trên số lợi nhuận hằng năm được hiến tặng cho các quỹ của nó. Các gia đình rất giàu cũng có thể giữ được quyền kiểm soát công việc làm ăn của họ sau khi có người trong gia đình chết, bằng cách giao nhiều cổ phần của công ty cho một quỹ (ở khía cạnh này, Ford tỏ ra bất thường khi liên quan đến những số tiền rất lớn). Số tiền phải nộp thuế thừa kế, mà lẽ ra phải bán cổ phiếu cho người ngoài để đóng thuế, cũng ít đi. Một tạp chí kinh doanh tỏ ra cảnh giác khi khuyên người đọc là các giám đốc điều hành: “Nếu mối quan tâm chính của một người là giơ cao chiếc ô miễn thuế để che đi một phần thu nhập và tạo việc làm cho những người tùy tùng thiếu thốn, bằng mọi cách anh ta nên thành lập một quỹ riêng của mình cho dù nhỏ thế nào. Sau đó anh ta thậm chí nên dùng toàn bộ thu nhập cho chi phí hoạt động”.16
Khi mà hầu như các khoản tiền lớn đều phải nộp thuế theo luật, vẫn có một cách để những người nhiều tiền có thể né được hoặc tối thiểu hóa thuế. Nhưng những cách hợp pháp và bất hợp pháp ấy chỉ là một phần trong đặc quyền về thu nhập của giới điều hành giàu có: hoạt động theo đúng luật lệ và quy định của chính phủ, các công ty tìm cách để trực tiếp bổ sung thu nhập của giám đốc điều hành giàu có. Nhiều hình thức “lót ổ” kiểu này hiện nay khiến các thành viên là giám đốc điều hành thuộc giới điều hành giàu có sống sang trọng bằng các thu nhập có vẻ khiêm tốn, trong khi nộp thuế thấp hơn theo luật, có vẻ công bằng và không gian lận. Những đặc quyền ấy được dàn xếp như sau:
Theo hợp đồng trả lương định kỳ, công ty ký thỏa thuận trả lương trong một số năm, và đồng ý trả một khoản trợ cấp hằng năm sau khi nghỉ hưu chừng nào giám đốc điều hành không làm cho bất kỳ công ty cạnh tranh nào. Do đó giám đốc điều hành gắn bó trung thành với công ty, và anh ta có thể rải đều thu nhập của mình sang những năm mà thu nhập thấp hơn, kết quả sẽ là nộp thuế ít hơn. Ví dụ, một giám đốc điều hành gần đây được Chrysler ký hợp đồng với mức lương 300.000 đô-lanăm cho năm năm tới, sau đó là 75.000 đô-lanăm cho những năm về hưu. Một Chủ tịch mới nghỉ hưu của Ban lãnh đạo Tập đoàn Thép Mỹ, trước nhận lương 211.000 đô-la, nay có 14.000 đô-lanăm là lương hưu, cộng với 55.000 đô-lanăm “trả theo định kỳ”.17
Trường hợp trả dần kinh điển có lẽ là trường hợp của một nghệ sĩ giải trí nổi tiếng, người ở vào thế có thể đòi 500.000 đô-lanăm trong ba năm. Thế nhưng anh ta lại dàn xếp để nhận 50.000 đô-lanăm trong 30 năm tới. Không ai hy vọng nghiêm túc là anh ta vẫn còn hoạt động được trong giới giải trí khi anh ta tới ngưỡng 80 tuổi, nhưng bằng cách trải dài thu nhập của mình và giữ nó ở khung thuế thấp hơn mà anh ta có thể giảm thuế tổng thu nhập lẽ ra phải nộp là gần 600.000 đô-la, theo một ước tính.18 Những kiểu dàn xếp tinh quái ấy không chỉ giới hạn trong giới giải trí, cho dù ở đó chúng có thể được đưa tin nhiều hơn. Thậm chí các công ty đứng đắn và đáng kính nhất hiện nay cũng nằm trong nhiều ví dụ về việc chăm sóc giới chủ chốt của họ bằng những cách như vậy.
Các giám đốc điều hành được quyền lựa chọn nhất định để mua cổ phiếu bằng hoặc dưới giá trị thị trường hiện tại. Việc này sẽ giữ giám đốc điều hành ở lại công ty, vì anh ta chỉ có thể được lựa chọn sau một thời gian cụ thể là một năm, hoặc chỉ có thể dùng quyền đó để mua những lượng cổ phiếu hạn chế trong giai đoạn dài hơn – ví dụ năm năm.19 Với các giám đốc điều hành là doanh nhân ít rủi ro, vào lúc anh ta lựa chọn, đã có ngay lợi nhuận (sự khác biệt giữa giá khi lựa chọn trước đó và giá trị thị trường của cổ phiếu vào thời điểm anh ta mua nó). Phần lớn lợi nhuận anh ta kiếm được nếu sau đó anh ta bán cổ phiếu không bị một chính quyền hay giúp đỡ coi là thu nhập phải chịu thuế: nó bị đánh thuế theo tỉ lệ lợi ích đầu tư thấp hơn. Không có gì ngăn anh ta mượn tiền để thực hiện lựa chọn của mình, rồi sáu tháng sau bán số cổ phiếu đó theo giá thị trường cao hơn. Ví dụ vào năm 1954, chủ tịch một hãng hàng không được nhận khoảng 150.000 đô-la tiền lương, thưởng, và trợ cấp hưu trí, nhưng sau thuế anh ta chỉ mang về được khoảng 75.000 đô-la. Tuy nhiên, nếu anh ta muốn bán 10.000 cổ phiếu mình đã mua vài tháng trước đó theo chương trình lựa chọn của công ty, anh ta có thể mang về 594.375 đô-la, sau khi đã nộp tất cả các loại thuế.20 Khoảng một trên sáu công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán New York cho các giám đốc điều hành được lựa chọn mua cổ phiếu trong vòng trên dưới một năm vì chúng hấp dẫn sau khi luật thuế năm 1950 coi đó là lợi ích đầu tư. Từ đó, cách làm này đã lan rộng.21
3.
Giới điều hành giàu có là những người giàu hữu sản, nhưng tài sản lớn không phải là tất cả những gì họ sở hữu. Giới điều hành giàu có có thể tích lũy và duy trì được thu nhập cao, nhưng thu nhập cao không phải là tất cả những gì họ phải gìn giữ. Ngoài tài sản lớn và thu nhập cao, họ được hưởng những đặc quyền công ty vốn là một phần của hệ thống địa vị mới trong nền kinh tế doanh nghiệp của Mỹ. Những đặc quyền địa vị này của giới điều hành giàu có hiện nay là thông lệ tiêu chuẩn, là những đặc trưng cơ bản, dù dễ thay đổi, của công-việc-như- thường-lệ, một phần của việc chi trả cho thành công. Phê phán chúng cũng chẳng khiến ai ở cương vị nào đó công phẫn đến mức tự nguyện làm gì đó về chúng, và càng không với hệ thống tập đoàn trong đó họ neo đậu vững chắc.
Không một đặc quyền nào trong số này được lộ ra khi kiểm tra thu nhập hằng năm hoặc tài sản nắm giữ. Có thể nói, chúng là mấy lợi ích vụn vặt của các tầng lớp cao hơn. “Lợi ích vụn vặt” mà những người sống bằng tiền lương và tiền công thấp hơn kiếm được – chủ yếu là lương hưu cá nhân và các kế hoạch phúc lợi, an sinh xã hội và bảo hiểm thất nghiệp – đã tăng từ 1,1% trong bảng lương quốc gia năm 1929 lên 5,9% năm 1953.22 Không thể tính toán “lợi ích vụn vặt” của các doanh nhân ít rủi ro thuộc tập đoàn lớn với sự chính xác phù hợp, nhưng chắc chắn hiện nay chúng đã trở thành một phần chính trong những khoản lương thưởng cao hơn. Chính vì chúng mà giới điều hành giàu có có thể được xem xét để quyết định họ có phải là thành viên của một tầng lớp trực tiếp có đặc quyền hay không. Các công ty có khả năng mang lại tài sản và thu nhập cũng là những chỗ có đặc quyền, đặc lợi. Một loạt đặc quyền này làm tiêu chuẩn tiêu dùng của họ tăng lên rất nhiều, củng cố vị thế tài chính của họ trước những thăng trầm trong hệ thống kinh tế, định hình toàn bộ lối sống của họ, và đôn họ lên vị trí an toàn chẳng kém gì chính nền kinh tế doanh nghiệp. Được thiết kế để gia tăng tài sản và an ninh của những người giàu theo cách né thuế, chúng cũng tăng cường sự trung thành của họ với công ty.23
Trong số những phụ cấp thường gắn với công việc của giám đốc điều hành lớn nhưng không bao giờ khai báo với thuế vụ là mấy lợi ích vụn vặt như thế này: chăm sóc y tế miễn phí, trả phí câu lạc bộ, luật sư và kế toán của công ty trợ giúp về thuế, tư vấn về tài chính và luật pháp, các cơ sở cho khách hàng giải trí, các khu vui chơi giải trí riêng như sân gôn, bể bơi, phòng tập thể thao, các quỹ học bổng cho con cái giám đốc điều hành, ô tô công ty, và phòng ăn tối cho giám đốc điều hành sử dụng.24 Tính đến năm 1955, khoảng 37% của tổng số xe Cadillac đăng ký ở Manhattan, và 20% ở Philadelphia, là đứng tên công ty.25 Một nhà quan sát đáng tin cậy gần đây lưu ý: “Một công ty hết lòng lo cho quan chức của nó hạnh phúc, trong khối tài sản của nó có thể có một máy bay riêng của công ty dành cho các chuyến công du, một du thuyền và một nhà nghỉ dành cho các buổi đi câu đi săn ở các khu rừng phía bắc để chiêu đãi những khách hàng lớn nhất.i Nó cũng có thể thu xếp để tổ chức các hội nghị ở Miami vào giữa mùa hè. Đối với giám đốc điều hành công ty, tác động của việc này là cung cấp những chuyến đi tuyệt vời và các cơ sở nghỉ ngơi miễn phí. Quan chức công ty xuống phía nam nghỉ đông và lên phía bắc nghỉ hè, mang theo công việc đủ để xử lý hoặc đủ số lượng khách hàng để biện hộ cho chuyến đi, và bắt đầu có thời gian rất dễ chịu… Ở nhà, giám đốc điều hành cũng có thể đi xe công ty có tài xế riêng. Tất nhiên, công ty sẵn lòng trả phí cho họ ở câu lạc bộ đồng quê tốt nhất để khách hàng thư giãn trên sân gôn, và tới câu lạc bộ thị trấn tốt nhất để cùng dùng bữa trưa và bữa tối”.27 Bạn cứ kể tên là thấy liền. Và việc này ngày càng tăng: giám đốc điều hành thì không mất tiền, còn công ty thì được khấu trừ thuế như các khoản chi phí kinh doanh thông thường.
i. Các doanh nhân hiện nay bay gần 4 triệu giờ một năm bằng máy bay riêng – hơn tất cả các chuyến bay thương mại cộng lại.26
Mấy món bổng lộc cao hơn này cũng có thể mở rộng sang các loại quà tặng hậu hĩnh là những đồ chơi người lớn tuyệt vời như ô tô và áo khoác lông, những vật tiện dụng khác như tủ cấp đông cho đại lý mua hàng và đối tác làm ăn mà công ty không trực tiếp thuê. Tất cả những thứ này được quảng cáo rộng rãi và bị giới chính trị chỉ trích,i nhưng như bất kỳ giám đốc kinh doanh tầm cỡ nào cũng biết rõ, quà cáp mang tính làm ăn thân thiện đó đều là thông lệ tiêu chuẩn trong và đặc biệt là giữa các hãng lớn.
i. Ví dụ: “Trong hai năm qua, hơn 300 Nghị sĩ đã có những chuyến đi nước ngoài bằng chi phí từ tiền của người nộp thuế Mỹ, theo ước tính phi chính thức khoảng trên 3.500.000 đô-la. Nhiều chuyến đi rõ ràng là để tìm hiểu thực tế và kiểm tra có ích và hợp pháp. Các chuyến đi khác rõ ràng chỉ là để tham quan giải trí. Tuần rồi Ủy ban Quy chuẩn Hạ viện đã ra thông cáo là các chuyến đi loại này sẽ bị hạn chế. Ủy ban, cơ quan được quyền phê duyệt mọi cuộc kiểm tra, nói nó có kế hoạch chỉ thông qua các chuyến đi nước ngoài miễn phí dành cho thành viên Ủy ban Đối ngoại, Ủy ban Quân sự quốc phòng, và Ủy ban Về các vấn đề biển đảo”. Tờ New York Times kết luận: “Tuần trước có chuyện khôi hài ở Hạ viện là sẽ khó giữ đúng hạn ngạch thông thường về số lượng đại biểu ở Paris mùa hè này.”28
Ví dụ hồi năm 1910, White Sulphur Springs ở khu vực đồi núi bang West Virginia có danh tiếng xã hội ngang với Bar Harbor và Newport. Năm 1954, Chesapeake và Ohio Railroad (C&O), doanh nghiệp sở hữu khách sạn nghỉ dưỡng Greenbrier ở White Sulphur Springs, đã mời các giám đốc điều hành cấp cao nhất làm khách, họ vốn đang là, hay nhiều khả năng sẽ là, chủ các hãng tàu biển quan trọng và họ cảm thấy hãnh diện khi được mời. Năm 1948, C&O chịu mọi chi phí, nhưng đa số những người nổi tiếng trong các giới doanh nghiệp, xã hội và chính trị nhận lời mời phản hồi là giờ đây họ sẵn sàng trả phí bằng tiền túi. Khu nghỉ dưỡng hoạt động quanh năm, mà Lễ hội Mùa xuân là một sự kiện xã hội-kinh doanh lớn.29
Ở Florida, hiện đang xây dựng một thị trấn dành riêng cho nghỉ dưỡng, với dân số trung bình 3.000 người, sẽ cho các giám đốc điều hành và khách của họ thuê trên cơ sở loanh quanh một năm. Các công ty tham gia có thể cho nhân viên của họ thuê lại, hoặc tính chi phí này vào chi phí kinh doanh được trừ thuế trong thời gian họ sử dụng để tiếp đãi khách hàng, tổ chức các hội nghị hoặc hội thảo quan trọng.30
Công ty Continental Motors tổ chức các chuyến đi săn vịt trời ở Lost Island, Arkansas. Cho rằng chơi gôn, tiệc đứng, tiệc tối và hộp đêm thường lệ là “chiếc mũ đã cũ” đối với bất kỳ giám đốc điều hành nào lúc ấy đủ lớn để trở thành khách hàng quan trọng, Continental bèn tổ chức một “chương trình quan hệ khách hàng” kéo dài liên tục khoảng 15 năm. Những chuyến dã ngoại “kiểu nhà nghỉ” này tập trung vào các ngành sản xuất hàng hóa quan trọng, nơi những cuộc mua bán lớn được thực hiện giữa các chủ tịch với nhau, thay vì tập trung vào hàng tiêu dùng. Mọi người tham gia cuộc săn đều là “chủ tịch hoặc phó chủ tịch, hoặc một vị tướng hay đô đốc”. Trong cùng một vùng, ít nhất có ba công ty khác cũng đang vận hành các câu lạc bộ săn vịt trời dành riêng. Các nhân viên cao cấp cũng như khách hàng thường thuộc số khách mời trong các cuộc săn vịt trời, hươu nai hoặc bắt cá hồi.31
Được thừa nhận rộng rãi hơn, nhưng vẫn chưa được nghiên cứu nghiêm túc là một thực tế về các khoản chi rộng rãi và dài hạn. Không ai biết, và không có cách gì để biết chắc chắn, là làm thế nào để có thể tổ chức lối sống cao và thú tiêu khiển sôi động cho các tầng lớp đặc quyền mới chỉ vì để kê khai các khoản chi. Nhà kinh tế học Richard A. Girard gần đây thông tin, “phó chủ tịch một công ty mỗi năm được tặng hẳn 20.000 đô-la để trang trải mọi cuộc tiếp tân mà anh ta có thể quyết định làm. Hợp đồng của anh ta ghi rõ là anh ta không phải giải trình số tiền đó”.32 Các quan chức thuế vụ liên tục chơi trò chơi với các thành viên điều hành giàu có về những khoản chi phí nào được giảm thuế, nhưng thường đòi phải tính riêng từng trường hợp; điều này có nghĩa không có các quy định được lập sẵn và thuế vụ có quyền hạn rộng rãi.
“Những người quản lý nhà hát ước tính 30 tới 40% khán giả tới nhà hát New York là khán giả phải khai các khoản chi phí, và đây là phần trăm giữa sự sống và cái chết.”33 Hơn nữa, một nhà điều tra cảm thấy “ở những thành phố như New York, Washington và Chicago, không sai khi nói bất kỳ giây phút nào cũng có tới hơn một nửa số người trong các khách sạn tốt nhất, các hộp đêm tốt nhất và các nhà hàng tốt nhất ghi hóa đơn như một khoản chi phí cho công ty mình, và đến lượt các công ty lại tính với chính phủ dưới hình thức giảm thuế” – và tiếp tục khẳng định những gì đã được biết rõ: “Có điều gì đó về bản khai chi phí mà đã lột tả hết cái bất lương, tham lam và ma giáo ở những người lẽ ra đáng trọng nhất. Các dạng bản khai chi phí từ lâu đã được những người yêu quý nó trìu mến gọi là ‘mấy tờ giấy ma thuật’. Điền các khoản chi trong tờ khai chi phí được coi là một kiểu thử thách trí thông minh với kiểm toán công ty, trong đó hoàn toàn hợp lý để sử dụng những nửa sự thật phi lý nhất, những lời nói dối vô hại nho nhỏ và những chuyện hoàn toàn tưởng tượng, thứ gì cũng được miễn là kiểm toán, dù anh ta có thể cáu giận thế nào, cũng tuyệt nhiên không thể phát hiện ra trò gian dối”.34
Tôi không có ý thông tin tất cả những đặc quyền của giới điều hành giàu có, mà giới hạn chủ yếu trong các loại được chấp nhận chính thức về mặt pháp lý. Nhiều đặc quyền mới – nhất là các khoản “lương lậu” cao hơn – đã được biết từ lâu và hoàn toàn được các vị đứng đầu nhà nước cùng quan chức cao cấp trong chính quyền biết và chấp nhận. Thống đốc bang có “lâu đài thống đốc” để ở miễn phí; tổng thống, với chi phí 50.000 đô-lanăm miễn thuế, cũng có Nhà Trắng để ở khi tại nhiệm và có cả văn phòng làm việc. Nhưng khi công ty trở thành chỗ neo đậu của những đặc quyền gắn với tài sản khổng lồ, thì điều xảy ra là mấy khoản “bổng lộc” cao hơn kia trở nên bình thường giữa những người giàu tư nhân vì họ đã trở thành giới điều hành giàu có. Những lúc tâm trạng vui vẻ hơn, các giám đốc điều hành nói đầy đáng yêu về công ty của họ như Một Gia đình Lớn, người ta có thể hiểu theo một nghĩa rất thật là họ đang khẳng định một sự thật xã hội về cơ cấu giai cấp của xã hội Mỹ. Vì quyền lực và đặc quyền tài sản mà giới điều hành giàu có hiện đang chia sẻ mang tính tập thể, nên cá nhân có những đặc quyền ấy chắc chắn nhất chỉ khi anh ta là một phần của thế giới điều hành.
4.
Mỹ không trở thành một nước mà ở đó lạc thú cá nhân và quyền lực bị vậy quanh bởi thu nhập thấp và thuế má cao. Có những loại thu nhập đủ cao để vẫn cứ cao bất chấp thuế má, và có nhiều cách trốn và tối thiểu hóa thuế. Hằng năm ở Mỹ vẫn đang tạo dựng và duy trì một giới điều hành giàu có, nhiều thành viên của nó sở hữu rất lắm tiền, họ có thể tiêu dùng bất kỳ tiện nghi nào cho cá nhân mà vẫn không hết. Đối với nhiều người trong họ, giá cả đơn giản là thứ không cần thiết. Họ chẳng bao giờ phải nhìn cột bên phải của thực đơn; họ chẳng bao giờ phải nhận lệnh từ ai cả; họ chẳng bao giờ phải làm những việc thực sự không thích trừ phi đó là nhiệm vụ tự áp đặt; họ chẳng bao giờ phải đối mặt với các giải pháp thay thế vì phải tính toán chi phí. Họ chẳng bao giờ phải làm gì cả. Xét trên mọi phương diện, họ được tự do.
Nhưng họ có thực sự tự do?
Câu trả lời là Có, trong điều kiện của xã hội họ, họ thực sự tự do.
Nhưng chẳng phải sở hữu tiền bạc dẫu sao cũng hạn chế họ đó ư?
Câu trả lời là Không, nó không hạn chế họ.
Nhưng đó chỉ là những câu trả lời vội vàng, không có những câu trả lời được suy xét kỹ hơn, sâu sắc hơn sao?
Những câu trả lời sâu sắc là loại gì vậy? Và tự do nghĩa là gì? Dù nó có thể hàm nghĩa gì chăng nữa, tự do có nghĩa là bạn có quyền làm những gì bạn muốn làm, khi bạn muốn làm, và bạn muốn làm thế nào. Và trong xã hội Mỹ, quyền để làm điều bạn muốn, khi bạn muốn, bạn muốn thế nào, đều đòi hỏi phải có tiền. Tiền đem lại quyền lực và quyền lực đem lại tự do.
Nhưng chẳng lẽ không có giới hạn cho mọi thứ này sao?
Tất nhiên có những giới hạn với quyền lực của đồng tiền, và những thứ tự do dựa trên quyền lực ấy. Và cũng có những cái bẫy tâm lý đối với người giàu, cũng như cho người bủn xỉn và người hoang phí ở mọi cấp độ, chúng làm méo mó khả năng tự do của họ.
Người bủn xỉn thích có thật nhiều tiền. Người hoang phí thích tiêu tiền thoải mái. Cả hai loại người thuần túy này đều không thể nhìn thấy tiền bạc là một phương tiện để tự do và là các mục đích đa dạng của cuộc sống, bất kể chúng có thể là gì đi nữa. Niềm vui của người bủn xỉn là quyền tiêu pha của mình còn ở dạng tiềm năng, vì thế anh ta sẽ rút lui khỏi việc chi tiêu thực sự. Anh ta là một người bị căng thẳng, sợ bị mất tiềm năng đó và vì vậy không bao giờ nhận ra được nó. An toàn và quyền lực của anh ta nằm hết trong số tiền tích cóp được, và khi sợ mất nó, anh ta cũng sợ mất chính mình. Anh ta không đơn thuần là một người bủn xỉn, cũng không nhất thiết chỉ là một người hám lợi. Anh ta là một người thích dòm ngó đầy bất lực trước hệ thống kinh tế, một người sở hữu tiền vì mục đích sở hữu, chứ không như một phương tiện để đi tới mục đích nào đó xa hơn, trở thành mục đích cuộc đời. Anh ta không thể hoàn thành các hoạt động kinh tế. Và tiền bạc, với hầu hết những người có đầu óc kinh tế là một phương tiện, thì với người bủn xỉn lại trở thành một mục đích khó cưỡng.
Trong khi đó, người hoang phí là người mà hành động tiêu tiền tự nó là một nguồn khoái cảm. Anh ta không cảm thấy hạnh phúc khi tiêu xài lu bù bởi mong ước của mình quá dễ thỏa mãn, hoặc bởi niềm vui từ những thứ mua được. Hành động tiêu xài vô nghĩa tự nó đã là khoái cảm và là phần thưởng của anh ta. Và qua hành động này, người hoang phí quảng bá việc mình không phải lo lắng về tiền bạc. Anh ta tiêu dùng công khai để thể hiện là mình không phải bận tâm chuyện tiền bạc, vì thế cho thấy anh ta đánh giá cao việc này thế nào.
Rõ ràng cả hai trường hợp kỳ cục này của hệ thống tiền bạc đều có ở người Mỹ giàu có hiện nay, nhưng chúng không phải là điển hình. Vì với phần lớn thành viên của giới điều hành giàu có, tiền vẫn là một trung gian trao đổi đáng hài lòng – một phương tiện thuần khiết và không pha tạp với một loạt mục tiêu cụ thể. Với phần lớn họ, tiền được đánh giá theo những gì nó sẽ mua được về tiện nghi và trò vui, địa vị và rượu chè, an ninh và quyền lực và kinh nghiệm, tự do và phiền muộn.
Người ở tầng đáy của hệ thống tiền bạc không bao giờ có đủ tiền, vốn là sợi dây kết nối chủ yếu để tồn tại kiểu giật gấu vá vai. Điều đó có nghĩa là người ở dưới hệ thống tiền tệ không bao giờ có đủ tiền để là một phần chắc chắn của hệ thống đó.
Ở tầng giữa, hệ thống tiền tệ dường như thường là chiếc cối xay xoay không ngừng. Chẳng bao giờ là đủ: 8.000 đô-la năm nay dường như cũng chẳng làm người ta thấy khá hơn 6.000 đô-la năm ngoái. Có khả năng những người ở các mức này nếu có được 15.000 đô-la, họ vẫn sẽ kéo chiếc cối xay đó, mắc kẹt trong hệ thống tiền tệ.
Nhưng tới một vạch nào đó trên bàn cân của cải, sẽ có một sự bứt phá về chất: người giàu bắt đầu biết họ có nhiều tới mức đơn giản là họ chẳng cần lo nghĩ gì về tiền bạc: chỉ họ mới là người thực sự chiến thắng trong ván bài tiền bạc; họ đứng trên cuộc vật lộn. Không hề quá khi nói là chỉ trong một xã hội tiền bạc, thì con người mới ở vị thế được tự do. Đạt được cái mình muốn là một loại kinh nghiệm và tất cả những gì nó đòi hỏi không cần phải là một chuỗi. Họ có thể đứng trên hệ thống tiền tệ, đứng trên cuộc đấu tranh quanh chiếc cối xay: với họ, không còn đúng nữa là họ càng có nhiều, dường như càng khó đến đích. Đó là cách tôi định nghĩa người giàu như những người tiêu dùng cá nhân.
Với người rất nghèo, chẳng thể nào kiếm đủ sống ở mức tối thiểu. Với tầng lớp trung lưu luôn có những mục đích mới, nếu không phải là những thứ cần thiết thì đó là địa vị. Với nhóm rất giàu, mục tiêu chẳng bao giờ bị tách rời, và trong giới hạn của loài người nói chung, ngày nay họ tự do như bất kỳ người Mỹ nào.
Nghĩ rằng giới triệu phú chẳng tìm được gì ngoài một chỗ trống rỗng và u buồn trên đỉnh xã hội; nghĩ rằng người giàu không biết làm gì với tiền của họ; nghĩ rằng người thành đạt trở nên chán ngấy mấy trò phù phiếm, và rằng người sinh ra ở vạch đích cũng nghèo và nhỏ bé – nhìn chung, suy tưởng về nỗi phiền muộn của tầng lớp giàu có thật ra chỉ là cách mà người không giàu cam chịu thực tại mà thôi. Của cải ở Mỹ trực tiếp làm hài lòng và trực tiếp đưa tới nhiều sự hài lòng hơn nữa.
Người thực sự giàu có là người nắm trong tay những phương tiện để hiện thực hóa những sở thích nhất thời, những mơ mộng và [xử lý] chuyện đau ốm nhỏ nhặt theo các cách to lớn. Balzac từng nhận xét: “Của cải có những đặc quyền lớn, và cái đáng ghen tị nhất ở chúng là quyền năng hoàn thành những suy nghĩ và tình cảm tới tận cùng; kích thích tri giác bằng cách thỏa mãn vô vàn thói đồng bóng”.35 Người giàu cũng chỉ là con người không hơn không kém. Nhưng đồ chơi của họ to hơn, nhiều hơn, và có nhiều hơn ngay lập tức.i
i. Một trong những gợi ý liên quan đến Howard Hughes là việc mua lại RKO từ Floyd Odlum với giá gần 9 triệu đô-la. “Tôi cần nó như tôi cần bệnh đậu mùa vậy!” Khi được đề nghị giải thích cho hành động này, Hughes trả lời nghiêm túc: “… lý do duy nhất tôi mua lại RKO từ Floyd Odlum là tôi thích những chuyến bay tới trang trại của ông ấy ở Indio [California] khi chúng tôi thảo luận chi tiết về vụ mua bán”.36
Về hạnh phúc của tầng lớp giàu có, đó là vấn đề mà có thể ủng hộ hoặc không ủng hộ. Nhưng chúng ta vẫn phải nhớ rằng người Mỹ giàu có là những người chiến thắng trong một xã hội mà tiền bạc và giá trị tiền bạc là mấy thứ đặt cược cao nhất. Người giàu không hạnh phúc là do không ai trong chúng ta hạnh phúc. Hơn nữa, tin rằng họ không hạnh phúc có lẽ không đúng chất Mỹ lắm. Vì nếu họ không hạnh phúc, thì chính những điều kiện thành công ở Mỹ, chính những khát vọng của tất cả những người khôn ngoan, đều thành tro bụi thay vì mang lại kết quả. Thậm chí nếu mọi người ở Mỹ là những người khốn khổ, thì đó cũng không thể là lý do để tin rằng người giàu còn khốn khổ hơn. Và nếu mọi người đều hạnh phúc, chắc chắn đó không phải lý do để tin rằng người giàu bị gạt ra khỏi hạnh phúc chung của người Mỹ. Nếu người thắng trong cuộc chơi mà toàn xã hội có lẽ đã thiết kế là không “hạnh phúc”, thì người thua cuộc có hạnh phúc không? Chúng ta có chắc chắn tin rằng chỉ những người sống trong xã hội Mỹ, nhưng không thuộc về, có thể hạnh phúc chăng? Nếu thua là thảm họa và thắng là đáng ghét, thì trò chơi thành công sẽ là một trò đáng buồn thực sự, càng đáng buồn hơn nếu nó là trò chơi mà mọi người trong và thuộc văn hóa Mỹ không thể né tránh việc chơi. Bởi rút lui tất nhiên là thua vì khách quan và thua một cách khách quan, mặc dù về chủ quan thì tin là sẽ không thua – tức là đã tới ngưỡng điên rồ. Chúng ta đơn giản phải tin rằng người giàu Mỹ hạnh phúc, nếu không niềm tin của chúng ta vào toàn bộ nỗ lực phấn đấu có thể bị lung lay. Với mọi giá trị có thể có của xã hội loài người, một và chỉ một mới thực sự bá chủ, thực sự phổ cập, thực sự khôn ngoan, là mục đích thực sự và hoàn toàn chấp nhận được của người Mỹ. Mục đích đó là tiền, và dù có thua cuộc cũng đừng cảm thấy chua chát về việc đó.
“Ông ấy là vua…”, một trong các nhân vật của Balzac tuyên bố, “ông ấy có thể làm những gì ông ấy lựa chọn; ông ấy đứng trên mọi việc, vì người giàu là thế. Vì vậy với ông ấy, câu nói “tất cả người Pháp đều bình đẳng trước pháp luật” là câu nói dối ghi ở đầu bản hiến chương. Ông ấy sẽ không tuân theo pháp luật, pháp luật phải tuân theo ông ấy. Không có giá treo cổ, không có đao phủ cho các triệu phú!”
“Có! Có chứ”, Raphael trả lời. “Họ là đao phủ của chính mình!”
“Lại một định kiến nữa”, chủ ngân hàng hét lên.37
5.
Những đặc quyền mới của giới điều hành giàu có phải liên quan tới sức mạnh của đồng tiền trong lĩnh vực tiêu dùng và trải nghiệm cá nhân. Nhưng sức mạnh của đồng tiền, đặc quyền của vị thế kinh tế, sức nặng chính trị và xã hội của tài sản công ty, không hề bị giới hạn trong lĩnh vực tích lũy và tiêu dùng, công ty hay cá nhân. Trên thực tế, theo quan điểm của giới tinh hoa Mỹ mà giới điều hành giàu có chỉ là một bộ phận, sức mạnh đối với hàng hóa tiêu dùng hầu như không quan trọng bằng sức mạnh thiết chế của tài sản.
1. Hiến pháp là hợp đồng chính trị cao nhất của Mỹ. Với 14 tu chính án, nó đã phê chuẩn các tập đoàn về mặt pháp lý, hiện là chỗ của giới điều hành giàu có, được các giám đốc điều hành trong số đó quản lý. Trong mạng lưới chính trị của đất nước, giới tinh hoa công ty này tạo nên một tập hợp các nhóm quản lý, một thang bậc được phát triển và điều hành về kinh tế từ trên xuống dưới. Các tổng giám đốc điều hành hiện nay đang đứng đầu thế giới công ty, đến lượt nó lại là thế giới quyền lực tuyệt đối về kinh tế trong lĩnh vực quyền lực chính trị tuyệt đối của đất nước. Họ có các sáng kiến kinh tế; họ biết nó và cảm nhận được nó sẽ là đặc quyền của mình. Là những người đứng đầu của chế độ phân quyền công nghiệp, họ miễn cưỡng lưu ý trách nhiệm xã hội của chính phủ liên bang đối với phúc lợi của công chúng bên dưới. Họ coi công nhân, những nhà phân phối, và những nhà cung cấp của hệ thống công ty họ là các thành viên cấp dưới trong thế giới của họ, và họ coi mình là những cá nhân của một loại người Mỹ có đầu óc cá nhân đã vươn tới đỉnh cao.
Họ điều hành nền kinh tế tập đoàn tư nhân. Không thể nói là chính phủ đã can thiệp nhiều trong thập kỷ vừa qua, vì trong hầu hết mọi trường hợp cần điều tiết được nghiên cứu, cơ quan điều tiết có ý định trở thành một tiền đồn công ty.38 Kiểm soát các phương tiện sản xuất là kiểm soát không chỉ mọi việc mà là cả con người, không sở hữu tài sản, bị kéo vào để làm việc. Nó kiềm chế và quản lý cuộc đời họ khi làm việc ở nhà máy, trên đường sắt, trong văn phòng. Nó quyết định hình hài của thị trường lao động, hoặc chiến đấu về hình hài ấy với các nghiệp đoàn hoặc chính phủ. Nó ra quyết định nhân danh doanh nghiệp về việc phải sản xuất cái gì, bao nhiêu, khi nào, và bằng cách nào để sản xuất nó và tính giá bao nhiêu.
2. Tiền cho phép người sở hữu nó có quyền lực kinh tế để trực tiếp chuyển sang sự nghiệp đảng phái chính trị. Trong những năm 1890, Mark Hanna quyên tiền từ những người giàu để sử dụng vào mục đích chính trị trước nỗi sợ hãi mà “cơn ác mộng” Dân túy và William Jennings Bryan gây ra; nhiều người trong nhóm rất giàu là những cố vấn phi chính thức của các chính trị gia. Các gia đình Mellon, Pew, và du Point tử lâu đã là các gia đình đóng góp đáng chú ý cho chiến dịch tranh cử và trong giai đoạn sau Thế chiến I; các triệu phú Texas đã đóng góp những món tiền kếch xù vào các chiến dịch tranh cử trên toàn quốc. Họ từng giúp McCarthy ở Wisconsin, Jenner ở Indiana, Butler và Beall ở Maryland. Ví dụ vào năm 1952, một tỉ phú dầu mỏ (Hugh Roy Cullen) đã đóng góp 31 lần, từ 500 đến 5.000 đô-la mỗi lần (tổng cộng ít nhất là 53.000 đô-la), và hai con rể ông cũng giúp (ít nhất là hơn 19.750 đô-la) mười ứng viên Quốc hội. Nghe nói các triệu phú Texas hiện sử dụng tiền của họ vào chính trị ở ít nhất 30 bang. Murchison đã đóng góp cho các ứng viên chính trị bên ngoài Texas từ năm 1938, mặc dù mãi tới năm 1950 mới được nhắc đến, khi ông và vợ, theo yêu cẩu của Joseph McCarthy, đã đóng góp 10.000 đô-la để đánh bại Thượng Nghị sĩ Millard Tydings của Maryland, và vào năm 1952 đã gửi tiền để đánh bại Thượng Nghị sĩ William Benton của Connecticut, đối thủ của McCarthy.39
Năm 1952, “sáu ủy ban chính trị chóp bu của Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ đã nhận 55% trong tổng số 2.407 giấy biên nhận đóng góp từ 1.000 đô-la trở lên [chỉ gồm biên nhận của những nhóm đóng góp ở hai bang trở lên]”.iCác con số này chỉ là cực kỳ tối thiểu vì nhiều đóng góp được các thành viên gia đình thực hiện dưới những cái tên khác nhau, nên các phóng viên không dễ nhận ra.
i. Đứng đầu danh sách đóng góp cho Đảng Cộng hòa là các gia đình Rockefeller (94.000 đô-la), du Pont (74.175 đô-la), Pew (65.100 đô-la), Mellon (54.000 đô-la), Weir (21.000 đô-la), Whitney (19.000 đô-la), Vanderbilt (19.000 đô-la), Goelet (16.800 đô-la), Milbank (16.500 đô-la), và Henry R. Luce (13.000 đô-la). Đứng đầu danh sách đóng góp cho Đảng Dân chủ là các gia đình Wade Thompson ở Nashville (22.000 đô-la), Kennedy (20.000 đô-la), Albert M. Greenfield ở Philadelphia (16.000 đô-la), Matthew H. McCloskey ở Pennsylvania (10.000 đô-la) và Marshal Field (10.000 đô-la).
3. Nhưng không phải nhờ nhiều vào những đóng góp trực tiếp cho chiến dịch tranh cử mà người giàu mới thể hiện được sức mạnh chính trị. Và cũng không phải nhờ nhiều vào nhóm rất giàu là các giám đốc điều hành công ty – mà đã tái tổ chức tầng lớp hữu sản lớn – thì sức mạnh tài sản mới được sử dụng vào chính trị. Khi thế giới công ty tham gia phức tạp hơn vào trật tự chính trị, các giám đốc điều hành này liên kết chặt chẽ với các chính trị gia, và đặc biệt là với các “chính trị gia” chủ chốt vốn tạo nên giới lãnh đạo chính trị của chính phủ Mỹ.
Chúng ta đã quen với việc tin rằng nhà kinh tế học thế kỷ XIX là một “chuyên gia” sắc sảo trong chuyện mặc cả và thương lượng. Nhưng sự lớn mạnh của công ty lớn và việc chính phủ can thiệp nhiều hơn vào lĩnh vực kinh tế đã lựa chọn, đã hình thành và tạo ra đặc quyền cho giới kinh tế, họ không phải là những người thương lượng và mặc cả trên bất kỳ thị trường nào, mà là các giám đốc điều hành chuyên nghiệp và các chính trị gia kinh tế lão luyện. Vì ngày nay người làm kinh tế thành công, dù là nhà quản lý có tài sản hay nhà quản lý về tài sản, đều phải tác động hoặc kiểm soát được những vị trí đó ở bang mà các quyết định có thể gây hậu quả cho các hoạt động của công ty mình. Tất nhiên, xu hướng này ở người làm kinh tế gặp thuận lợi nhờ chiến tranh, vì nó tạo ra sự cần thiết phải tiếp tục các hoạt động của công ty bằng các phương tiện chính trị cũng như kinh tế. Tất nhiên, chiến tranh là sức khỏe của nền kinh tế tập đoàn; trong chiến tranh kinh tế chính trị có xu hướng trở nên thống nhất hơn, và hơn nữa, tính hợp pháp về chính trị của thứ rõ ràng nhất – an ninh quốc gia – có lợi cho các hoạt động kinh tế công ty.
“Trước Thế chiến I, các doanh nhân đấu đá nhau; sau chiến tranh họ kết hợp lại để tạo thành một mặt trận thống nhất chống lại người tiêu dùng.”41 Trong Thế chiến II, họ phục vụ trong rất nhiều ủy ban tư vấn về việc theo đuổi chiến tranh. Họ cũng được đưa vào bộ máy quân sự thường xuyên hơn bằng việc tặng thưởng cho nhiều doanh nhân ở mấy ủy ban thuộc các đội sĩ quan dự bị.i Tất cả những việc này diễn ra trong một thời gian dài và được biết khá rõ, nhưng dưới thời chính quyền Eisenhower, các giám đốc điều hành công ty công khai nắm giữ các vị trí quan trọng trong nhánh hành pháp của chính phủ. Ở nơi mà trước đây quyền lực thầm lặng hơn và hợp đồng nhiều hơn, thì giờ đây lại lên tiếng to hơn.
i. Một khảo sát về lai lịch của những người lĩnh 1 đô-la một năm ở Washington trong Thế chiến II cho thấy những gì ngành công nghiệp đã cho chính phủ nợ, ngoài một số rất ít người, các chuyên gia tài chính của nó, không phải những người có kinh nghiệm trong sản xuất: “…các nhân viên bán hàng và các đại lý mua bán ở WPB dưới quyền Ferdinand Eberstadt, cựu chủ ngân hàng đầu tư phố Wall. Lý do giữ lại những người này vì có các phẩm chất đặc biệt cho công việc của họ đã bị thất bại thảm hại khi tháng vừa rồi WPB thấy cần phải tổ chức… một khóa đào tạo đặc biệt để dạy họ những điều cơ bản về sản xuất công nghiệp… Và điều đó làm xuất hiện những người lĩnh 1 đô-la một năm, họ đã nhét tên các nhân viên bán hàng và đại lý mua bán của công ty vào sổ lương của WPB. Những người lĩnh 1 đô-la một năm được cho là những chuyên gia quản lý cao cấp và chuyên gia tài chính mà ngành công nghiệp cho chính phủ mượn để giúp điều hành chiến tranh thắng lợi. Bây giờ quản lý cao nhất trong công nghiệp gồm hai loại người… chuyên gia sản xuất và chuyên gia tài chính… Ngành công nghiệp giữ các chuyên gia sản xuất để phục vụ chuyện làm ăn của riêng nó”.42
Liệu có phải phân tích rất khôn khéo những vấn đề như vậy khi Bộ trưởng Nội vụ Douglas McKay buột miệng nói với bạn bè mình ở Phòng Thương mại ngày 29 tháng 4 năm 1953: “Chúng ta đang nắm quyền trong một chính quyền đại diện cho doanh nghiệp và công nghiệp?”43 Hay khi Bộ trưởng Quốc phòng Wilson khẳng định sự giống nhau về lợi ích giữa nước Mỹ và General Motors? Những sự kiện này có thể là các sai lầm chính trị – hoặc sẽ là, nếu có một đảng đối lập, nhưng chúng chẳng phải đã bộc lộ lòng tin và ý định sâu sắc đó sao?
Có những giám đốc điều hành, vì e sợ sự đồng nhất chính trị ấy như các nhà lãnh đạo lao động “phi đảng phái”, nên đã thuộc về phe thứ ba. Từ lâu giới điều hành giàu có đã được đào tạo như một nhóm đối lập; rồi những người thông minh hơn bắt đầu lờ mờ cảm thấy rằng họ có thể vào đó được. Trước thời Eisenhower, quyền lực mà họ tạo ra có thể dễ trở nên thiếu trách nhiệm chính trị hơn. Sau thời Eisenhower, việc này không còn dễ dàng vậy nữa. Nếu mọi việc xấu đi, họ – và cùng với họ là việc làm ăn – sẽ không bị buộc lỗi hay sao?
Nhưng John Knox Jessup, Trưởng Ban biên tập của Fortune, cho rằng công ty có thể thay thế hệ thống cổ lỗ của các bang bằng một bộ khung cho chế độ tự trị – và vì thế lấp đầy khoảng trống của các cấp độ quyền lực tầm trung. Vì là người đứng đầu khối thịnh vượng chung của công ty, nên nhà quản lý có nhiệm vụ chính trị là giữ cho toàn bộ cử tri của mình tương đối vừa lòng. Ông Jessup lập luận rằng thế cân bằng trong các lĩnh vực chính trị và kinh tế đã bị phá vỡ. “Bất kỳ Tổng thống nào muốn điều hành một đất nước thịnh vượng ít nhất cũng phải dựa vào công ty – có thể còn hơn cả việc công ty dựa vào ông ta. Sự phụ thuộc của ông ta không giống như của Vua John vào các ông trùm đất đai vùng Runnymede, nơi mà Magna Carta chào đời.”44
Tuy nhiên, nói chung ý thức hệ của các giám đốc điều hành với tư cách thành viên của giới điều hành giàu có là chủ nghĩa bảo thủ không thuộc ý thức hệ nào cả. Họ bảo thủ, nếu không vì lý do nào khác ngoài việc tự cảm thấy mình là loại người thành đạt. Họ không có ý thức hệ vì tự cảm thấy mình là người “thực tế”. Họ không nghĩ ra các vấn đề, họ trả lời các giải pháp thay thế trình cho họ, và ý thức hệ mà họ có phải xuất phát từ các trả lời của họ.
Trong suốt ba thập kỷ qua, trên thực tế là từ Thế chiến I, sự phân biệt giữa người làm chính trị và người làm kinh tế đang ít dần, mặc dù các nhà quản lý công ty trước đây không tin tưởng mấy người của mình ở quá lâu trên vũ đài chính trị. Họ thích đến rồi đi, vì như vậy họ không phải chịu trách nhiệm. Nhưng ngày càng có nhiều giám đốc điều hành công ty trực tiếp tham gia chính quyền; và kết quả là một nền kinh tế chính trị gần như mới mà chúng ta thấy những người đại diện cho giới điều hành giàu có ở trên đỉnh.i
i. Chương 12 sẽ bàn luận đầy đủ hơn về vai trò chính trị của các giám đốc điều hành.
Các vấn đề mà thực tế hiển nhiên này về quyền lực chính trị của giới điều hành giàu có đặt ra không dính dáng nhiều đến sự liêm chính cá nhân của những người liên quan, và chắc chắn không liên quan nhiều đến mấy món lợi cá nhân về của cải, uy tín và quyền lực. Đây là các vấn đề quan trọng sẽ được luận bàn khi lưu ý tới sự vượt trội chung của sự phi đạo đức cao hơn và cấu trúc của giới tinh hoa quyền lực như một tổng thể. Nhưng vấn đề chính trị quan trọng là liệu các thực tế này có thể bổ sung bằng chứng về mối liên hệ cấu trúc giữa giới điều hành giàu có và thứ mà ta gọi là ban điều hành chính trị hay không?
Liệu nhóm rất giàu và các giám đốc điều hành chóp bu, các tầng lớp thượng lưu của xã hội địa phương và của tầng lớp thị dân 400, các nhóm chiến lược của thế giới công ty, có thực sự chiếm giữ nhiều vị trí quyền lực trong hệ thống chính trị chính thức hay không? Tất nhiên họ đã đột kích chính quyền, họ sở hữu đặc quyền trong chính quyền ấy. Nhưng liệu họ đã và đang tích cực về chính trị hay chưa? Trái với truyền thuyết, bí ẩn học thuật và văn học dân gian, câu trả lời cho vấn đề đó là một từ Có phức tạp nhưng hoàn toàn rõ ràng.
Tuy nhiên, chúng ta sẽ hoàn toàn sai lầm nếu tin rằng bộ máy chính trị chỉ là cánh tay nối dài của thế giới công ty, hoặc nó đã bị đại diện của giới điều hành giàu có chiếm giữ. Chính phủ Mỹ, dù theo cách đơn giản hay thực tế cấu trúc nào đi nữa, đều không phải là một ủy ban của “giai cấp thống trị”. Nó là một mạng lưới “các ủy ban”, và những người khác từ các thang bậc khác bên cạnh giới điều hành giàu có ngồi trong các ủy ban đó. Trong số này, chính trị gia chuyên nghiệp là phức tạp nhất, nhưng giới quân sự cao cấp, giới quân phiệt ở Washington, là những người mới nhất.