N
goại trừ cuộc Nội chiến không thành công, các thay đổi trong hệ thống quyền lực của Mỹ không liên quan tới những thách thức quan trọng đối với tính chính danh cơ bản của nó. Kể cả khi có đủ các yếu tố quyết định để gọi là “cuộc cách mạng”, chúng vẫn không liên quan tới việc “sử dụng pháo hạm, giải tán hội đồng dân cử bằng lưỡi lê, hay bộ máy nhà nước cảnh sát”.1 Chúng cũng không liên quan tới bất kỳ cuộc đấu tranh ý thức hệ nào theo bất kỳ cách quyết định nào để kiểm soát dân chúng. Những thay đổi trong cấu trúc quyền lực Mỹ thường chỉ xảy ra khi có sự thay đổi thiết chế ở mấy vị trí liên quan về trật tự chính trị, kinh tế và quân sự. Từ quan điểm này, và nói rộng ra, giới tinh hoa quyền lực Mỹ đã trải qua bốn thời đoạn, và bây giờ đang ở thời đoạn thứ năm.
1.
1. Trong thời đoạn thứ nhất – đại khái là từ Cách mạng cho tới chính quyền John Adams – các thiết chế xã hội và kinh tế, chính trị và quân sự ít nhiều thống nhất theo cách đơn giản và trực tiếp: người của một vài giới tinh hoa này dễ dàng chuyển từ vai trò này sang vai trò khác trên đỉnh của các trật tự thiết chế lớn. Trong số họ có nhiều người đa năng, có thể đóng vai trò nhà lập pháp và thương gia, dân biên giới và binh lính, học giả và thanh tra.2
Cho đến khi việc họp kín của lãnh đạo Quốc hội sụp đổ vào năm 1824, các thiết chế chính trị có vẻ hoàn toàn tập trung; các quyết định chính trị có tầm quan trọng lớn, nhiều chính trị gia được coi là những chính khách quốc gia nổi tiếng. Henry Cabot Lodge có lần đã nói về vùng Boston thời thơ ấu của mình thế này: “Xã hội, như lần đầu tôi nhớ, dựa trên các gia đình lâu đời; Oliver Wendell Holmes gọi họ là ‘nhà độc tài’ vì các gia đình này nắm giữ vị trí cao ở khu dân cư, ở tỉnh trong suốt thời kỳ Cách mạng và những thập kỷ đầu của Mỹ. Họ đại diện cho nhiều thế hệ có học và có vai vế trong cộng đồng… Tổ tiên họ là những người ngồi kín giáo đường trên ghế dài, và tham gia chính quyền dưới thời vua; là những người đã chiến đấu trong Cách mạng, góp phần lập nên Nhà nước và các bản hiến pháp Quốc gia và phục vụ trong quân đội hoặc hải quân; là các thành viên Hạ viện hoặc Thượng viện trong những ngày đầu của nền Cộng hòa, và đã thành công như những thương gia, chủ xưởng, luật sư, hoặc nhà văn”.3
Những con người của công việc này – như tôi đã lưu ý – vốn là xương sống của danh sách xã hội năm 1787 của Bà John Jay, hiển nhiên là gồm các nhân vật chính trị nổi tiếng. Thực tế quan trọng về những ngày đầu tiên ấy là sự trùng hợp trong đời sống xã hội, thiết chế kinh tế, tổ chức quân sự, và trật tự chính trị; những người là chính trị gia cao cấp cũng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, và cùng với gia đình mình, ở trong số những người danh giá vốn tạo thành xã hội địa phương. Trên thực tế, giai đoạn đầu tiên này được đánh dấu bằng sự lãnh đạo của những người mà địa vị của họ không chỉ dựa vào vị trí chính trị của họ, mặc dù các hoạt động chính trị của họ là quan trọng và là uy tín của các chính trị gia cao cấp. Và uy tín này dường như gắn với những người có vị trí trong Quốc hội cũng như nội các. Giới tinh hoa là những nhà chính trị có học và có kinh nghiệm quản lý, và như Bá tước Bryce nhận xét: “Có một tầm nhìn xa nhất định và có nhân cách”.4
2. Vào đầu thế kỷ XIX, khi người ta đi theo triết lý chính trị của Jefferson, nhưng sau đó lại là các nguyên tắc kinh tế của Hamilton, trật tự kinh tế, chính trị, và quân sự đã không khớp lắm với sự phân tán mạnh của cấu trúc xã hội Mỹ. Việc mở rộng trật tự kinh tế lúc đầu xuất hiện ở các chủ sở hữu tài sản đã được kịch tính hóa qua việc Jefferson mua Lãnh thổ Louisiana, và qua việc thành lập Đảng Dân chủ-Cộng hòa như là người kế tục phái Liên bang.
Trong xã hội này, “giới tinh hoa” trở thành đa số trong các nhóm chóp bu, nhưng thành phần mỗi nhóm hóa ra lại rất lỏng lẻo. Chắc chắn là chúng chồng chéo nhau, nhưng cũng lại hoàn toàn lỏng lẻo như vậy. Chiếc chìa khóa nhất định cho giai đoạn này, và chắc chắn cho những hình ảnh của chúng ta về nó, là thực tế rằng Cách mạng Jackson thiên về một cuộc cách mạng địa vị hơn là một cuộc cách mạng về kinh tế hay chính trị. Tầng lớp thị dân 400 thực sự không thể nở rộ trước những đợt thủy triều địa vị của nền dân chủ Jackson; cùng với nó là một giới tinh hoa chính trị cai quản hệ thống đảng phái mới. Không có nhóm người nào kiểm soát được các phương tiện quyền lực tập trung; không nhóm nhỏ nào thống trị được các sự kiện kinh tế, nhất là chính trị. Trật tự kinh tế có ưu thế đối với cả địa vị xã hội lẫn quyền lực chính trị; trong trật tự kinh tế, một tỉ lệ rất lớn trong tất cả những người làm kinh tế là thuộc về những người ra quyết định. Vì đây là giai đoạn – đại khái từ Jefferson tới Lincoln – khi giới tinh hoa cùng lắm là một liên minh lỏng lẻo. Tất nhiên, giai đoạn này kết thúc với sự chia rẽ mang tính quyết định giữa người miền Nam và người miền Bắc.
Những bình luận viên chính thức thích so sánh thế lực của một nhóm được tổ chức chặt chẽ ở các nước chuyên chế với hệ thống quyền lực ở Mỹ. Tuy nhiên, những bình luận như vậy sẽ dễ chấp nhận hơn nếu so sánh Nga giữa thế kỷ XX với Mỹ giữa thế kỷ XIX, điều thường được Tocqueville thực hiện khi dẫn người Mỹ ra để thấy sự khác biệt. Nhưng đó là một nước Mỹ của cách đây cả thế kỷ, và trong thế kỷ vừa qua giới tinh hoa Mỹ không còn là người khoe khoang lòng yêu nước như giới viết lách từng mô tả với chúng ta. “Những nhóm lỏng lẻo” hiện nay đứng đầu các thiết chế có quy mô và quyền lực xưa nay chưa từng tồn tại, và đặc biệt từ Thế chiến I, những nhóm lỏng lẻo này đã siết chặt đội ngũ. Chúng ta đã qua kỷ nguyên của chủ nghĩa đa nguyên lãng mạn lâu rồi.
3. Uy thế về quyền lực kinh tế của công ty chính thức bắt đầu với những cuộc bầu cử Quốc hội năm 1866, và được củng cố bởi quyết định năm 1886 của Tòa án Tối cao tuyên bố Tu chính án 14 bảo vệ công ty. Giai đoạn đó chứng kiến sự chuyển đổi của trung tâm khởi xướng từ chính quyền sang công ty. Cho tới Thế chiến I (cho chúng ta một cơ hội thấy trước một số đặc điểm nhất định của thời đại chúng ta), đây là một thời đại mà giới tinh hoa kinh tế tấn công chính phủ, một thời đại của tham nhũng đơn giản, khi các Thượng Nghị sĩ và quan tòa bị mua chuộc dễ dàng. Ngày xưa, chính nơi đây, trong kỷ nguyên McKinley và Morgan, không hề vướng vào những phức tạp bất thành văn của thời đại chúng ta, nhiều người hiện nay tin đó là thời hoàng kim của giai cấp thống trị Mỹ.5
Thứ bậc của quân sự ở giai đoạn này, với tư cách là giai đoạn thứ hai, xếp thứ yếu so với của chính trị, đến lượt mình lại xếp thứ yếu so với của kinh tế. Giới quân sự vì thế đứng bên lề các lực lượng chính thúc đẩy lịch sử Mỹ. Các thiết chế chính trị ở Mỹ chưa bao giờ tạo thành một lĩnh vực quyền lực tập trung và tự trị; chúng được mở rộng và tập trung chỉ khi miễn cưỡng phải phản ứng chậm chạp trước hệ quả chung của nền kinh tế doanh nghiệp.
Trong kỷ nguyên sau Nội chiến, nền kinh tế đó là năng động; các “tổ hợp kinh tế độc quyền” – vì các chính sách và sự kiện cho thấy rất rõ – có thể dễ dàng sử dụng bộ máy chính quyền tương đối yếu kém cho các mục đích của họ. Việc cả chính quyền bang lẫn liên bang hết sức hạn chế trong quyền điều hành của mình trên thực tế có nghĩa là bản thân họ bị các nhóm lợi ích có tiền mạnh hơn điều khiển. Quyền lực của họ bị phân tán và không có tổ chức; quyền lực của các công ty công nghiệp cũng như tài chính tập trung và cố kết với nhau. Chỉ riêng các nhóm lợi ích nhà Morgan đã nắm 341 vị trí giám đốc trong 112 công ty với tổng số vốn trên 22 triệu đô-la, gấp ba lần giá trị được đánh giá của toàn bộ tài sản thực và cá nhân ở New England.6 Với doanh thu lớn hơn và nhân viên nhiều hơn các công ty khác ở nhiều bang, mấy công ty này kiểm soát các đảng phái, mua chuộc luật pháp, và giữ các nghị sĩ ở trạng thái “trung lập”. Và vì quyền lực kinh tế tư nhân phủ bóng lên quyền lực chính trị công, nên giới tinh hoa kinh tế cũng che mờ giới tinh hoa chính trị.
Nhưng kể cả từ năm 1896 tới 1919, các sự kiện quan trọng có xu hướng mang hình thức chính trị, báo hiệu hình dạng quyền lực mà sau sự phát triển bùng nổ cục bộ của những năm 1920 đã chiếm ưu thế trong Chính sách Kinh tế Mới. Có lẽ chưa bao giờ có thời kỳ nào trong lịch sử Mỹ lại minh bạch về chính trị như kỷ nguyên Tiến bộ của những kẻ tạo ra Tổng thống và những kẻ Bới lông tìm vết.
4. Chính sách Kinh tế Mới không làm đảo ngược mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế của giai đoạn thứ ba, nhưng nó đã tạo ra những trung tâm quyền lực cạnh tranh nhau, chúng thách thức những trung tâm quyền lực của các giám đốc công ty trên vũ đài chính trị cũng như ngay trong thế giới công ty. Khi ban lãnh đạo Chính sách Kinh tế Mới có quyền lực chính trị, giới tinh hoa kinh tế trong giai đoạn thứ ba đã chống lại sự phát triển của “chính quyền” trong khi đột kích nó để có những đặc quyền man trá, cố gắng tham gia ở mức cao hơn dù muộn. Khi làm vậy, họ thấy mình phải đối mặt với các nhóm lợi ích và người khác, vì những vị trí ra quyết định đã chật kín. Theo trình tự, vì các mục đích riêng của mình, họ bắt đầu kiểm soát và sử dụng các thiết chế Chính sách Kinh tế Mới vốn đã bị họ lên án kịch liệt khi ra đời.
Nhưng trong những năm 1930, trật tự chính trị vẫn là một công cụ của các chủ trang trại hữu sản nhỏ và doanh nhân, mặc dù họ đã bị suy yếu, mất cơ hội cuối cùng để có được thế lực thực trong kỷ nguyên Tiến bộ. Tuy nhiên, cuộc đấu tranh giữa các giới hữu sản lớn và nhỏ lại bùng lên trong lĩnh vực chính trị thời kỳ Chính sách Kinh tế Mới, và như chúng ta đã thấy, thêm vào cuộc đấu tranh này là cuộc đấu tranh mới của người lao động có tổ chức và người thất nghiệp vô tổ chức. Lực lượng mới này nở rộ dưới sự giám hộ chính trị, nhưng dẫu sao đây là lần đầu tiên trong lịch sử Mỹ, các vấn đề lập pháp xã hội và giai cấp thấp hơn trở thành những đặc điểm quan trọng của phong trào cải cách.
Trong thập niên 1930, một hệ thống cân bằng đang thay đổi liên quan đến những biện pháp nông nghiệp mới được thực hiện và các nghiệp đoàn lao động mới được tổ chức – cùng với doanh nghiệp lớn – tạo nên vở kịch quyền lực về chính trị và quản lý. Hơn nữa, các nhóm nông dân, người lao động, và doanh nhân ít nhiều gói gọn trong khuôn khổ của một cấu trúc chính quyền đang mở rộng, trong đó lãnh đạo chính trị của nó ra các quyết định theo cách hoàn toàn chính trị. Những nhóm này gây áp lực, và trong khi chèn ép nhau cũng như chống lại hệ thống chính quyền và đảng phái, chúng lại giúp định hình nó. Nhưng không thể nói là bất kỳ nhóm nào ở đây trong một giai đoạn tương đối dài lại đơn phương sử dụng chính quyền đó như công cụ của mình. Đó là lý do tại sao “những năm 1930 là một thập kỷ chính trị: quyền lực doanh nghiệp không bị thay thế, mà chỉ bị thách thức và bổ sung: nó trở thành một quyền lực lớn trong cấu trúc quyền lực được điều hành chủ yếu bởi giới chính trị, chứ không phải giới kinh tế hay quân sự chuyển sang chính trị”.
Thời kỳ đầu và giữa của chính quyền Roosevelt có thể được hiểu rõ nhất như là một cuộc tìm kiếm vô vọng các con đường và biện pháp để giảm bớt đội quân thất nghiệp đông đáng sợ trong hệ thống tư bản hiện hành. Trong những năm này, Chính sách Kinh tế Mới với tư cách một hệ thống quyền lực về cơ bản là một sự cân bằng của các nhóm sức ép và các khối lợi ích. Giới chóp bu chính trị điều chỉnh nhiều cuộc xung đột, nhân nhượng đòi hỏi này, gạt sang bên đòi hỏi kia, không đơn phương phục vụ nhóm nào, và vì thế cân bằng được tất cả theo đường lối chính sách chiếm ưu thế từ cuộc khủng hoảng nhỏ này sang cuộc khủng hoảng nhỏ khác. Các chính sách là kết quả của một hành động cân bằng chính trị ở tầng chóp bu. Tất nhiên, hành động cân bằng mà Roosevelt thực hiện không ảnh hưởng tới các thiết chế nền tảng của chủ nghĩa tư bản với tư cách một loại hình kinh tế. Nhờ những chính sách này, ông đã trợ cấp cho các khoản thiếu hụt của nền kinh tế, mà nói một cách đơn giản là đã đổ vỡ; và bằng sự hùng biện của mình, ông đã cân bằng được tình trạng thất thế chính trị của nó, đặt “đám bảo hoàng kinh tế” vào thế bất lợi chính trị.
“Nhà nước phúc lợi”, được xây dựng để duy trì sự cân bằng và thực hiện chế độ trợ cấp, khác với nhà nước “tự do kinh tế”: “Nếu nhà nước được tin là trung lập trong thời Theodore Roosevelt vì giới lãnh đạo của nó tuyên bố cấm ưu ái bất kỳ ai”, Richard Hofstadter nhận xét, “thì nhà nước dưới thời Franklin Delano Roosevelt có thể được coi là trung lập chỉ theo nghĩa là nó đã dành ưu ái cho mọi người”.7 Nhà nước mới của giới chủ công ty khác với nhà nước phúc lợi cũ. Trên thực tế, những năm về sau dưới thời Roosevelt – bắt đầu bằng việc Mỹ có các hành động chiến tranh công khai và chuẩn bị cho Thế chiến II – không nên hiểu hoàn toàn theo nghĩa đó là sự cân bằng khéo léo quyền lực chính trị.
2.
Người ta từng nói, chúng ta nghiên cứu lịch sử để giải thoát mình khỏi nó, và lịch sử của giới tinh hoa quyền lực là một trường hợp rõ ràng cho thấy châm ngôn này đúng. Như nhịp sống Mỹ nói chung, các khuynh hướng dài hạn của cấu trúc quyền lựci đã được đẩy rất nhanh từ Thế chiến II, và các khuynh hướng mới hơn nào đó trong và giữa các thiết chế chi phối cũng tạo nên hình hài của giới tinh hoa quyền lực và đem lại ý nghĩa lịch sử cụ thể cho giai đoạn thứ năm của nó:
1. Trong chừng mực mà manh mối cấu trúc đối với giới tinh hoa quyền lực hiện nay nằm ở trật tự chính trị, manh mối đó là sự suy giảm của chính trị với tư cách tranh luận thực sự và công khai về các quyết định khác nhau – cùng với các đảng có trách nhiệm quốc gia và nhất quán về chính sách, cùng với các tổ chức tự trị kết nối các cấp độ quyền lực thấp hơn và trung bình với các cấp ra quyết định cao nhất. Mỹ hiện nay về cơ bản là một nền dân chủ chính trị hình thức hơn là một cấu trúc xã hội dân chủ, và thậm chí bộ máy chính trị chính thức cũng yếu.
Xu hướng lâu dài của doanh nghiệp và chính quyền để tham gia cùng nhau sâu hơn và phức tạp hơn trong giai đoạn thứ năm này, đã đạt tới một điểm công khai mới. Cả hai bây giờ rõ ràng không thể được coi là hai thế giới khác biệt. Chính nhờ các cơ quan hành pháp của nhà nước mà việc thiết lập quan hệ đã diễn ra một cách quyết định nhất. Sự phát triển của nhánh hành pháp trong chính quyền, với các cơ quan kiểm soát nền kinh tế phức tạp không chỉ có nghĩa là “mở rộng chính quyền” như một loại hành chính tự trị: nó có nghĩa là thế lực của con người công ty khiến anh ta trở thành một kẻ nổi bật về chính trị.
Trong thời kỳ Chính sách Kinh tế Mới, các ông trùm công ty tham gia ban lãnh đạo chính trị; trong Thế chiến II họ bắt đầu thống trị nó. Từ lâu đã gắn kết với chính quyền, giờ đây họ chuyển sang chỉ đạo hoàn toàn nền kinh tế chiến tranh đầy nỗ lực và giai đoạn sau chiến tranh. Việc các giám đốc điều hành công ty chuyển sang lãnh đạo chính trị đã đẩy nhanh quá trình hạ thấp lâu dài vai trò của các chính trị gia chuyên nghiệp trong Quốc hội xuống cấp độ quyền lực trung bình.
i. Xem lại Chương 1: Các tầng lớp cao hơn.
2. Trong chừng mực mà manh mối cấu trúc đối với giới tinh hoa quyền lực hiện nay nằm ở nhà nước quân sự và mở rộng, manh mối đó trở nên rõ ràng trong thế lực quân sự. giới quân phiệt đã giành được sự phù hợp chính trị mang tính quyết định, và cấu trúc quân sự của Mỹ hiện giờ về cơ bản là một cấu trúc chính trị. Mối đe dọa quân sự có vẻ thường xuyên đã tạo nên sự quan trọng ở giới quân sự và ở việc kiểm soát của họ đối với con người, nguyên liệu, tiền bạc, và quyền lực; hầu như mọi hành động chính trị và kinh tế giờ đây được đánh giá theo định nghĩa của giới quân sự về thực trạng: giới quân phiệt cao hơn vươn tới một vị trí chắc chắn trong giới tinh hoa quyền lực của giai đoạn thứ năm.
Việc này ít nhất một phần là kết quả của một thực tế lịch sử đơn giản, then chốt trong các năm kể từ 1939: tâm điểm chú ý của giới tinh hoa được chuyển từ các vấn đề trong nước, tập trung vào những năm 1930 quanh sự suy thoái, sang các vấn đề quốc tế, tập trung vào những năm 1940 và 1950 quanh chiến tranh. Vì bộ máy quản lý của Mỹ từ lâu trong lịch sử phải thích ứng với và được định hình bởi xung đột và cân bằng trong nước, nên từ bất kỳ góc độ nào, nó không có các cơ quan thích hợp và truyền thống để xử lý các vấn đề quốc tế. Bộ máy dân chủ chính thức xuất hiện trong thế kỷ này và vào giữa thời kỳ phát triển quốc gia trước năm 1941, đã không có tác dụng giúp Mỹ xử lý các vấn đề quốc tế. Phần lớn giới tinh hoa quyền lực đã phát triển trong khoảng trống này.
3. Trong chừng mực mà manh mối cấu trúc đối với giới tinh hoa quyền lực ngày nay nằm ở trật tự kinh tế, manh mối đó là thực trạng nền kinh tế ngay lập tức là nền kinh tế chiến tranh thường trực và nền kinh tế doanh nghiệp tư nhân. Chủ nghĩa tư bản Mỹ hiện giờ chủ yếu là chủ nghĩa tư bản quân sự, và mối quan hệ quan trọng nhất của công ty lớn với nhà nước dựa trên sự trùng hợp về lợi ích giữa nhu cầu của giới quân sự và công ty, do giới quân phiệt và giới điều hành giàu có xác định. Trong giới tinh hoa nói chung, sự trùng hợp này về lợi ích giữa các ông trùm quân sự và giới công ty cao cấp đã làm cho cả hai mạnh thêm và càng khiến vai trò của giới chính trị thành thứ yếu. Không phải các chính trị gia, mà là các giám đốc điều hành, ngồi cùng với giới quân sự và hoạch định việc tổ chức các nỗ lực chiến tranh.
Hình hài và ý nghĩa của giới tinh hoa quyền lực ngày nay chỉ có thể hiểu được khi thấy ba khuynh hướng cấu trúc này có điểm trùng hợp của chúng: chủ nghĩa tư bản quân sự của các công ty tư nhân tồn tại trong một chế độ dân chủ yếu kém và chính thức, chứa đựng một trật tự quân sự đã hoàn toàn có tính chính trị về mặt nhãn quan và hành vi. Vì vậy, ở trên đỉnh cấu trúc này, giới tinh hoa quyền lực đã hình thành do sự trùng hợp về lợi ích giữa những người kiểm soát các phương tiện sản xuất cơ bản và những người kiểm soát các phương tiện bạo lực mới được mở rộng; từ sự suy giảm của chính trị gia chuyên nghiệp và xuất hiện việc công khai chỉ huy chính trị của giới điều hành và giới quân phiệt chuyên nghiệp; từ sự thiếu vắng đội ngũ dân sự thực sự có kỹ năng và liêm chính, độc lập với các nhóm lợi ích.
Giới tinh hoa quyền lực gồm những người thuộc giới chính trị, kinh tế, và quân sự, nhưng giới tinh hoa có tổ chức này thường trong tình trạng căng thẳng nào đó: họ đi với nhau chỉ khi có các điểm trùng hợp nhất định và chỉ những khi “khủng hoảng” nhất định. Trong thời kỳ hòa bình lâu dài của thế kỷ XIX, giới quân sự không phải là những hội đồng nhà nước cao cấp, không thuộc ban lãnh đạo chính trị, và cũng không phải những người thuộc giới kinh tế – họ tấn công nhà nước nhưng không tham gia ban lãnh đạo của nó. Trong những năm 1930, người làm chính trị là người có thế lực. Giờ thì những người thuộc giới quân sự và công ty đang ở các vị trí cao nhất.
Trong ba loại hình tạo nên giới tinh hoa quyền lực hiện nay, chính là giới quân sự được lợi nhất khi quyền lực được tăng cường, mặc dù giới công ty cũng trở nên mạnh hơn rõ ràng trong tầng lớp ra quyết định công. Các chính trị gia chuyên nghiệp mới chính là người mất nhiều nhất, nhiều tới mức khi xem xét các sự kiện và quyết định, người ta muốn nói về một khoảng trống chính trị trong đó giới điều hành giàu có và giới quân phiệt cao cấp, trùng hợp với các nhóm lợi ích, cùng thống trị.
Cũng không nên nói rằng ba tầng lớp này “thay phiên” thực hiện sáng kiến, vì cơ chế của giới tinh hoa quyền lực thường không cố tình như nó hàm ý. Tất nhiên, có đôi lúc những người làm chính trị nghĩ là họ có thể vay mượn uy tín của tướng lĩnh, biết mình phải trả giá cho việc đó, hoặc trong thời kỳ suy thoái lớn, những người làm kinh tế cảm thấy cần thiết phải có ngay một chính trị gia an toàn và có sức thu hút phiếu bầu. Hiện nay cả ba đều tham gia vào hầu như mọi quyết định liên quan đến rất nhiều ngành, một việc mà cả ba dường như đứng đầu sự phụ thuộc vào “những nhiệm vụ của từng giai đoạn” như giới tinh hoa xác định. Còn bây giờ, những nhiệm vụ này tập trung vào “phòng vệ” và các vấn đề quốc tế. Theo đó, như chúng ta đã thấy, giới quân sự có thế lực theo hai nghĩa: tư cách cá nhân và tư cách ý thức hệ biện minh. Đó là lý do vì sao ngay lúc này, chúng ta có thể xác định dễ dàng nhất sự thống nhất và hình hài của giới tinh hoa quyền lực theo nghĩa của thế lực quân sự.
Nhưng chúng ta luôn phải giữ cái nhìn lịch sử cụ thể và chấp nhận những phức tạp. Quan điểm đơn giản của Marx đã biến ông lớn kinh tế thành người thực sự nắm giữ quyền lực; quan điểm đơn giản của phái tự do biến ông lớn chính trị thành người đứng đầu hệ thống quyền lực; và có một số người coi giới quân phiệt là những nhà độc tài thực sự. Tất cả đều là những cách nhìn quá đơn giản. Chẳng hạn, để tránh việc này, chúng ta dùng từ “giới tinh hoa quyền lực” thay vì “giai cấp thống trị”.i
i. “Giai cấp thống trị” là một cụm từ không hay lắm. “Giai cấp” là một thuật ngữ kinh tế; “thống trị” là một thuật ngữ chính trị. Cụm từ “giai cấp thống trị” vì thế chứa đựng lý thuyết cho rằng giai cấp kinh tế thống trị về chính trị. Lý thuyết đi tắt này đôi lúc có thể và không thể đúng, nhưng chúng tôi không muốn trình bày lý thuyết khá đơn giản này bằng các thuật ngữ mà chúng tôi dùng để xác định các vấn đề của mình; chúng tôi muốn nói tới các lý thuyết một cách rõ ràng, sử dụng các thuật ngữ với nghĩa chính xác hơn cho từng trường hợp. Cụ thể, cụm từ “giai cấp thống trị”, hiểu theo nghĩa rộng về chính trị nói chung, không cho phép trật tự chính trị và các cơ quan của nó có đủ tính độc lập, và nó không nói gì về giới quân sự. Cần phải rõ ràng với người đọc khi chúng tôi không chấp nhận như là quan điểm đầy đủ đơn giản cho rằng những người làm kinh tế cao cấp đơn phương đưa ra mọi quyết định có hệ quả quốc gia. Chúng tôi cho rằng một quan điểm đơn giản như thế về “quyết định luận kinh tế” phải được diễn giải thêm bằng “quyết định luận chính trị” và “quyết định luận quân sự”; rằng các cơ quan cao hơn của ba lĩnh vực này hiện nay thường có một mức độ tự trị đáng kể; và rằng chỉ bằng các cách liên minh thường phức tạp mà họ mới đưa ra và thực hiện được những quyết định quan trọng nhất. Đó là mấy lý do chính chúng tôi muốn “giới tinh hoa quyền lực” thay cho “giai cấp thống trị” như một cụm từ đặc trưng cho các tầng lớp cao hơn khi xem xét chúng trong lĩnh vực quyền lực.
Trong chừng mực giới tinh hoa quyền lực đã được công chúng chú ý rộng rãi, nó làm được như thế vì “nhóm quân sự”. Trên thực tế, giới tinh hoa quyền lực có hình thù hiện nay là từ sự tham gia có tính quyết định của giới quân sự. Sự hiện diện và ý thức hệ của họ là cơ sở pháp lý chính của nó, mỗi khi giới tinh hoa quyền lực cảm thấy cần phải viện dẫn. Nhưng những gì được gọi là “nhóm quân sự Washington” không chỉ gồm những người thuộc giới quân sự, và nó chiếm ưu thế không chỉ ở Washington. Các thành viên của nó tồn tại khắp cả nước, và đó là một liên minh của các tướng lĩnh trong vai trò giám đốc điều hành công ty, các chính trị gia mang lốt đô đốc hải quân, các giám đốc điều hành công ty hành động như chính trị gia, các quan chức dân sự trở thành nhân vật chính, các phó đô đốc cũng là trợ lý của quan chức nội các, những người phải nói thực sự là thành viên của giới tinh hoa quản lý.
Ý kiến về một “giai cấp thống trị” cũng như về một sự trỗi dậy đơn giản mà chắc chắn của “các chính trị gia bàn giấy” hoặc một “nhóm quân sự” đều không đầy đủ. Giới tinh hoa quyền lực ngày nay thường liên quan đến sự trùng hợp không dễ dàng của quyền lực kinh tế, quân sự, và chính trị.
3.
Ngay cả nếu hiểu biết của chúng ta bị giới hạn trong các xu hướng cấu trúc này, vẫn cần có cơ sở để tin rằng giới tinh hoa quyền lực là một khái niệm hữu ích, thực sự không thể tách rời, đối với việc giải thích những gì đang diễn ra ở tầng cao nhất của xã hội Mỹ hiện đại. Nhưng tất nhiên, chúng ta không bị giới hạn đến thế: quan niệm về tinh hoa quyền lực không nên chỉ dựa vào sự tương đồng của các thang bậc thiết chế liên quan hoặc vào nhiều điểm mà lợi ích đang chuyển đổi của họ trùng hợp. Giới tinh hoa quyền lực, như tôi hiểu, cũng dựa trên sự tương đồng về nhân sự, và các mối quan hệ cá nhân cũng như chính thức với nhau, dựa trên những nét tương đồng về xã hội và tâm lý. Để nắm được cơ sở cá nhân và xã hội của sự thống nhất ở giới tinh hoa quyền lực, trước hết chúng ta phải nhắc mình nhớ đến những thực tế về nguồn gốc, nghề nghiệp, và lối sống của mỗi loại tầng lớp mà thành viên của nó bao gồm giới tinh hoa quyền lực.
Giới tinh hoa quyền lực không phải là một tầng lớp quý tộc, ý muốn nói nó không phải là một nhóm thống trị chính trị dựa trên sự cao quý của nguồn gốc xuất thân. Nó không có cơ sở vững chắc trong một nhóm nhỏ các gia đình lớn mà thành viên của họ có thể và đang nắm giữ kiên định những vị trí cao nhất trong một vài tầng lớp cao hơn chồng lấn với giới tinh hoa quyền lực. Nhưng quý tộc cũng chỉ là một cơ sở có thể của nguồn gốc nói chung. Việc giới tinh hoa Mỹ không có nguồn gốc quý tộc không có nghĩa là thành viên của nó về mặt xã hội xuất thân từ mọi tầng lớp cấu thành xã hội Mỹ. Những người xuất thân từ tầng lớp thượng lưu, cả mới lẫn cũ, của xã hội địa phương và tầng lớp thị dân 400 chiếm tỉ lệ đáng kể. Phần lớn những người rất giàu, giám đốc điều hành công ty, người đứng ngoài chính trị, nhân vật quân sự cao cấp, đều chủ yếu đến từ tầng thứ ba từ trên xuống của các kim tự tháp thu nhập và nghề nghiệp. Cha họ ít nhất cũng thuộc tầng lớp có chuyên môn và kinh doanh, và thường xuyên còn cao hơn thế. Họ là những người sinh tại Mỹ, có cha mẹ là người bản địa, chủ yếu đến từ khu vực thành thị, với ngoại lệ một số chính trị gia đến từ miền Đông là chính. Họ chủ yếu theo Tin Lành, đặc biệt là Trưởng lão và Thanh giáo. Nhìn chung, càng ở vị trí cao, tỉ lệ những người có và duy trì quan hệ với các tầng lớp thượng lưu càng lớn. Nguồn gốc nói chung giống nhau của các thành viên giới tinh hoa quyền lực càng được nhấn mạnh và thể hiện bởi thực tế của lề thói giáo dục ngày càng giống nhau. Đại đa số tốt nghiệp đại học, chủ yếu là từ các trường đại học thuộc Ivy League, mặc dù giáo dục của giới quân sự cao cấp tất nhiên khác với các thành viên khác của giới tinh hoa quyền lực.
Nhưng những thực tế rõ ràng đơn giản về thành phần xã hội của các giới cao hơn này thực sự là gì? Đặc biệt, chúng có nghĩa thế nào đối với cố gắng để hiểu mức độ thống nhất, định hướng chính sách và lợi ích có thể chiếm ưu thế trong một số tầng lớp này? Có lẽ tốt nhất là đặt câu hỏi này theo cái cách nghe có vẻ đơn giản: theo nguồn gốc và nghề nghiệp, những người ở vị trí chóp bu này đại diện cho ai và cái gì?
Tất nhiên, nếu là các chính trị gia đắc cử, họ sẽ được cho là đại diện của những người đã bầu họ; và nếu được bổ nhiệm, họ lại được cho là đại diện gián tiếp của những người đã bầu cho người bổ nhiệm họ. Nhưng việc này được thừa nhận như một cái gì đó trừu tượng, như một công thức hoa mỹ mà tất cả những người có quyền lực trong hầu hết hệ thống chính quyền hiện nay biện minh cho quyền quyết định của họ. Việc này đôi lúc có thể đúng, cả theo nghĩa động cơ của họ lẫn theo nghĩa người được hưởng lợi từ những quyết định ấy. Nhưng ở bất kỳ hệ thống quyền lực nào mà chỉ nghĩ như thế đều là thiếu khôn ngoan.
Trước thực tế thành viên giới tinh hoa quyền lực đều đến từ tầng lớp có địa vị cao nhất của đất nước không có nghĩa là họ nhất thiết chỉ “đại diện” cho tầng lớp cao nhất. Và nếu họ, với tư cách các loại hình xã hội, đại diện cho một lát cắt về dân cư, thì điều đó không có nghĩa rằng một nền dân chủ cân bằng về lợi ích và quyền lực sẽ tự động trở thành thực tế chính trị hiện hành.
Chúng ta không thể phỏng đoán định hướng chính sách mà chỉ căn cứ vào nguồn gốc xã hội và nghề nghiệp của những người hoạch định chính sách. Nền tảng xã hội và kinh tế của những người có quyền lực không cho chúng ta biết tất cả những gì cần biết để hiểu được sự phân bổ của quyền lực xã hội. Vì (1) những người từ các vị trí cao có thể là đại diện cho ý thức hệ của người nghèo khổ và thấp kém; (2) những người xuất thân khiêm tốn, tay trắng làm nên, có thể phục vụ hăng hái nhất các lợi ích đã có và được thừa hưởng. Hơn nữa, (3) không phải tất cả những người đại diện hiệu quả cho lợi ích của một tầng lớp bằng mọi cách phải thuộc về nó hoặc hưởng lợi riêng từ các chính sách thúc đẩy hơn nữa lợi ích của nó. Tóm lại, trong các chính trị gia, có những người đồng cảm ở các nhóm nhất định, có ý thức và vô thức, được trả công và không được trả công. Cuối cùng, (4) trong số những người ra quyết định ở cấp cao nhất, ta thấy có những người được chọn vào vị trí của họ vì “kiến thức chuyên môn”. Có một số lý do rõ ràng cho việc tại sao nguồn gốc xã hội và nghề nghiệp của giới tinh hoa quyền lực không cho phép chúng ta suy đoán các lợi ích giai cấp và định hướng chính sách của một hệ thống quyền lực hiện đại.
Vậy có phải nguồn gốc xã hội và nghề nghiệp cao của giới chóp bu này chẳng có nghĩa lý gì trong sự phân bổ quyền lực? Không hề. Chúng đơn giản nhắc ta là phải thận trọng với bất kỳ suy đoán đơn giản và trực tiếp nào từ nguồn gốc và nghề nghiệp tới đặc điểm chính trị và chính sách, thay vì phải bỏ qua chúng trong những cố gắng của mình để hiểu chính trị. Chúng đơn giản có nghĩa là chúng ta phải phân tích tâm lý chính trị và những quyết định thực sự của ban lãnh đạo chính trị cũng như thành phần xã hội của nó. Và trên hết, chúng có nghĩa là chúng ta nên kiểm soát bất kỳ sự suy đoán nào, như đã làm ở đây, dựa trên xuất thân và nghề nghiệp của những diễn viên chính trị bằng cách hiểu cặn kẽ bối cảnh thiết chế trong đó họ sắm vai. Nếu không, chúng ta sẽ bị mắc cái lỗi là đưa ra một thứ lý thuyết kiểu kể lể khá ngớ ngẩn về xã hội và lịch sử.
Vì không thể chỉ dựa vào cơ chế thiết chế dẫn đến thông tin của khái niệm về giới tinh hoa quyền lực, nên chúng ta không thể chỉ dựa vào thực tế về xuất thân và nghề nghiệp của những người thuộc tầng lớp ấy để đưa ra khái niệm. Chúng ta cần cả hai, và chúng ta có cả hai, cũng như các cơ sở khác, trong đó có sự pha trộn địa vị.
Nhưng không chỉ những sự giống nhau về nguồn gốc xã hội, xu hướng tôn giáo, nơi sinh, và giáo dục mới là quan trọng đối với sức hút tâm lý và xã hội của các thành viên giới tinh hoa quyền lực. Cho dù việc tuyển dụng và đào tạo chính thức của họ có thuần nhất hơn, thì những người này sẽ vẫn là kiểu người hoàn toàn đồng nhất về mặt xã hội. Vì tập hợp những thực tế quan trọng nhất về một tầng lớp người là tiêu chí thừa nhận, ca ngợi, vinh danh, thăng tiến vốn nổi trội trong họ; nếu mấy thứ này giống nhau trong cùng một tầng lớp, thì có xu hướng là các tính cách sẽ trở nên giống nhau. Các tầng lớp tạo nên giới tinh hoa quyền lực thường có những quy tắc và tiêu chuẩn chung như thế. Sự hợp tác của các loại hình xã hội mà những giá trị chung ấy đem lại thường quan trọng hơn bất kỳ số liệu nào về nguồn gốc và nghề nghiệp phổ biến mà chúng ta có thể có trong tay.
Có một kiểu sức hút qua lại trong tình bằng hữu của những người thành công – không phải giữa mỗi và mọi thành viên của các tầng lớp cao và hùng mạnh, mà là giữa nhiều người trong đó để bảo đảm một sự thống nhất nào đó. Về mặt lỏng lẻo, đó là một dạng ngưỡng mộ qua lại, ngấm ngầm; về mặt liên kết mạnh mẽ nhất, nó diễn ra bằng hôn nhân trong nhóm. Còn có đủ các cấp bậc và loại hình quan hệ giữa hai thái cực này. Một số sự chồng chéo chắc chắn diễn ra thông qua các nhóm và câu lạc bộ, nhà thờ và trường học.
Nếu nguồn gốc xã hội và giáo dục chính quy nói chung có xu hướng làm các thành viên của giới tinh hoa quyền lực dễ hiểu và dễ tin nhau hơn, thì mối quan hệ liên tục của họ càng gắn kết những gì họ cảm thấy có điểm chung. Thành viên của một số tầng lớp cao hơn biết nhau như những người bạn riêng tư và thậm chí như các hàng xóm; họ hòa nhập với nhau trên sân gôn, trong các câu lạc bộ của quý ông, ở các khu nghỉ dưỡng, trên các chuyến bay xuyên lục địa và trên các con tàu vượt đại đương. Họ gặp gỡ nhau tại bất động sản của những người bạn chung, đối diện nhau trước máy quay truyền hình, hoặc phục vụ trong cùng một ủy ban từ thiện, và nhiều người chắc chắn sẽ cùng xuất hiện ở các bài báo, nếu không phải là trong cùng quán cà phê mà từ đó đã đẻ ra nhiều bài báo này. Như chúng ta đã thấy, trong “Tầng lớp thị dân 400 mới” của xã hội cà phê, một người ghi chép sự kiện đã nêu tên 41 thành viên thuộc giới rất giàu, 93 nhà lãnh đạo chính trị, và 79 tổng giám đốc điểu hành của các công ty.i
i. Xem lại Chương 4: Những người nổi tiếng.
Whittaker Chambers đã viết: “Tôi đã không biết, tôi không tài nào mơ đến quy mô rộng khắp cùng sức mạnh to lớn của các liên minh chính trị cũng như các mối quan hệ xã hội của Alger Hiss, có mặt trong mọi đảng phái và len lỏi từ Tòa án Tối cao tới Hội Giáo hữu, từ các thống đốc bang và giảng viên đại học tới đội ngũ nhân viên các tạp chí theo khuynh hướng tự do. Trong vòng mười năm kể từ khi tôi gặp ông ta lần cuối, ông ta đã vận dụng sự nghiệp, và đặc biệt, việc tham gia vào sự nghiệp hòa bình thông qua vai trò trong việc thành lập Liên Hợp Quốc, để cắm rễ thật sâu, biến mình trở thành một thành viên của tầng lớp thượng lưu Mỹ với nền tảng vững chắc, là tầng lớp trung lưu được khai sáng, có cuộc sống tự do và chính thức. Làm rối loạn gốc rễ của ông ắt sẽ làm rối loạn toàn bộ gốc rễ của mọi thứ quanh ông”.8
Địa vị phản ánh các thời đoạn của giới tinh hoa quyền lực. Ví dụ, ở thời đoạn thứ ba, ai có thể cạnh tranh được với giới lắm tiền? Và trong thời đoạn thứ tư, cạnh tranh với các chính trị gia lớn, hay thậm chí với những người tuổi trẻ tài cao của thời kỳ Chính sách Kinh tế Mới? Và trong thời đoạn thứ năm, ai có thể cạnh tranh với các tướng lĩnh, đô đốc và lãnh đạo công ty mà giờ đây được tái hiện đầy tình cảm trên sân khấu, trong tiểu thuyết và trên màn hình tivi? Liệu có thể hình dung Đội điều hành lại là một bộ phim thành công vào năm 1935? Hay The Caine Mutiny (Cuộc nổi loạn trên tàu Caine)?
Vô số tổ chức có uy tín cao mà giới tinh hoa thường là thành viên sẽ được hé lộ khi chỉ cần ngẫu nhiên lướt qua mấy cáo phó về doanh nhân lớn, luật sư có uy tín cao, tướng lĩnh và đô đốc chóp bu, các thượng nghị sĩ quan trọng: thường thì đó là nhà thờ có uy tín cao, các hội doanh nghiệp, thêm cả vài câu lạc bộ có uy tín cao, và thường là cả hàm cấp quân đội. Trong suốt cuộc đời, chủ tịch trường đại học, chủ tịch Sàn giao dịch Chứng khoán New York, chủ ngân hàng, cựu học viên West Point – trộn lẫn trong lĩnh vực uy tín, ở đó họ dễ dàng làm mới lại các quan hệ bạn bè cũ và từ đó cố gắng thông qua kinh nghiệm của những người đáng tin cậy để hiểu về bối cảnh quyền lực và quyết định mà bản thân họ vẫn chưa được tham gia trong đó.
Trong những bối cảnh khác nhau này, uy tín tích lại trong mỗi tầng lớp cao hơn, và thành viên của nó vay mượn địa vị lẫn nhau. Hình ảnh bản thân của họ được nuôi dưỡng qua những lần tích lũy và vay mượn này, và do đó, dù vai trò của ai đấy có vẻ manh mún chăng nữa, anh ta vẫn cảm thấy mình là người “có sức lan tỏa” hoặc “thường thấy” của tầng lớp cao hơn, một người “có suy nghĩ thoáng”. Có lẽ trải nghiệm bên trong ấy là một đặc tính của cái hàm nghĩa “cân nhắc”.
Có thể các tổ chức quan trọng chính là các công ty lớn, vì trong ban giám đốc ta thấy có sự chồng chéo khá nhiều giữa các thành viên của một vài giới tinh hoa này. Và thêm nữa, một lần nữa ở các khu nghỉ dưỡng mùa hè và mùa đông, trong một loạt sự chồng chéo phức tạp ấy, sẽ có lúc người này gặp người kia hoặc biết ai đó, ai đó lại biết một người khác và người khác lại biết người tiếp theo.
Các thành viên cao cấp của trật tự quân sự, kinh tế, và chính trị có thể sẵn sàng tiếp nhận quan điểm của nhau, luôn theo kiểu đồng tình, và cũng thường theo kiểu hiểu biết. Họ coi nhau là những người quan trọng, và do đó phải được tính đến. Mỗi người trong họ với tư cách một thành viên của giới tinh hoa quyền lực sẽ du nhập quan điểm, kỳ vọng, giá trị của người khác vào tính nhất quán, danh dự, lương tâm của mình. Nếu họ không có những lý tưởng và tiêu chuẩn chung dựa trên văn hóa quý tộc rõ ràng, điều đó không có nghĩa là họ không cảm thấy có trách nhiệm với nhau.
Mọi sự trùng hợp mang tính cấu trúc về lợi ích cũng như thực tế tâm lý phức tạp về xuất thân và học vấn, nghề nghiệp và các mối quan hệ của họ tạo điều kiện cho sức hút về tâm lý chiếm ưu thế trong số họ, thứ sức hút làm họ có thể nói về người khác thế này: Tất nhiên, anh ta là người của chúng ta. Và tất cả đều cho thấy ý nghĩa tâm lý cơ bản về ý thức giai cấp. Không đâu ở Mỹ lại có một “ý thức giai cấp” lớn như trong giới tinh hoa quyền lực; không ở đâu nó lại được tổ chức hiệu quả như trong giới tinh hoa quyền lực. Khi nói ý thức giai cấp như một thực tế tâm lý, người ta có ý nói rằng mỗi thành viên của một “giai cấp” chỉ chấp nhận người được tầng lớp của anh ta thừa nhận là một trong những người quan trọng với hình ảnh riêng của mình.
Trong các tầng lớp cao hơn của giới tinh hoa quyền lực, có tồn tại bè phái; có xung đột chính sách, xung đột tham vọng cá nhân. Vẫn có đủ loại phân hóa quan trọng trong nội bộ Đảng Cộng hòa, và thậm chí giữa phe Cộng hòa và phe Dân chủ, dẫn tới các phương pháp hành động khác nhau. Nhưng kỷ luật nội bộ và cộng đồng các nhóm lợi ích gắn kết giới tinh hoa quyền lực lại với nhau, vượt cả ra ngoài biên giới các quốc gia tham chiến còn mạnh hơn những phân hóa này.9
4.
Nhưng cần đánh giá đúng mức phía bên kia, phía có thể không nghi vấn các sự kiện mà chỉ ngờ vực cách tôi diễn giải chúng. Rõ ràng sẽ có một số sự phản đối trước toàn bộ quan niệm của tôi về giới tinh hoa quyền lực, nhưng về cơ bản chúng chỉ liên quan đến vấn đề tâm lý của các thành viên của nó. Phái tự do và phái bảo thủ rất có thể nêu vấn đề theo kiểu như thế này:
Nói về một giới tinh hoa quyền lực – việc này có phải để tiêu chuẩn hóa con người theo xuất thân và các mối quan hệ xã hội không? Liệu tiêu chuẩn hóa như thế có vừa bất công vừa không đúng? Có phải con người, đặc biệt người Mỹ như trong những trường hợp này, khi họ có vị thế cao hơn đã tự thay đổi để đáp ứng các đòi hỏi của công việc? Chẳng phải họ sẽ có một quan điểm và một đường lối chính sách đại diện cho lợi ích của đất nước nói chung, khi mà họ cũng có điểm yếu mang tính người như có thể biết đó ư? Chẳng phải họ đơn thuần là những người trọng danh dự đang thực thi nhiệm vụ của mình đó sao?
Chúng ta sẽ trả lời thế nào trước những sự phản đối này?
1. Chúng ta chắc rằng họ là những người trọng danh dự. Nhưng danh dự là gì? Danh dự chỉ có nghĩa sống đúng theo một quy tắc mà người ta tin là đáng trọng. Không có một quy tắc nào mà tất cả chúng ta đều thống nhất. Đó là lý do, nếu là người văn minh, chúng ta không giết hết những người mà chúng ta không đồng ý. Vấn đề không phải là: những người này có đáng trọng hay không? Vấn đề là: quy tắc danh dự của họ là gì? Câu trả lời cho câu hỏi trên là họ có các quy tắc trong giới mình, các quy tắc theo những quan điểm khác nhau. Đó là một nghĩa của chân lý quan trọng cho rằng mọi người đều là con người và mọi người đều là những sinh vật xã hội. Còn về sự chân thành, nó chỉ có thể bị bác bỏ, chứ không bao giờ chứng minh được.
2. Đối với câu hỏi về khả năng thích ứng của họ – nghĩa là khả năng vượt qua quy tắc hành xử mà qua công việc và kinh nghiệm cuộc sống họ có được, chúng ta phải trả lời: đơn giản là không, họ không thể, ít nhất không phải chỉ một vài năm là phần lớn họ rời đi. Mong đợi điều đó tức là cho rằng họ thực sự kỳ lạ và khôn ngoan: sự linh hoạt như thế trên thực tế sẽ vi phạm những gì chúng ta có thể gọi là nhân cách và sự nhất quán của họ. Mà chẳng phải đúng là vì thiếu nhân cách và sự nhất quán ấy mà các kiểu chính trị gia Mỹ trước đây không phải là mối đe dọa lớn như những người có nhân cách?
Sẽ là một sự xúc phạm với việc huấn luyện quân sự hiệu quả, và với những gì họ được truyền thụ, nếu cho rằng các sĩ quan quân đội đã áp đặt tính cách và quan điểm quân sự của họ trong việc thay từ quân phục sang thường phục. Bối cảnh này có lẽ quan trọng trong quân sự hơn là trong trường hợp các giám đốc điểu hành công ty, vì huấn luyện nghề nghiệp ở đây sâu sắc hơn và toàn diện hơn.
Gerald W. Johnson đã lưu ý: “Không được nhầm việc thiếu thông tin với thiếu nguyên tắc. Trái lại, một người không có đầu óc tưởng tượng thường là người có những nguyên tắc cao nhất. Rắc rối là những nguyên tắc của anh ta lại phù hợp với định nghĩa nổi tiếng của Cornford: ‘Nguyên tắc là quy tắc hành động đem lại những lý do chung hợp lý để không làm một việc gì đó mà bản năng vô nguyên tắc dường như sẽ cho là đúng’”.10
Ví dụ, sẽ chẳng phải nực cười sao, khi nghiêm túc tin vào thực tế tâm lý, là Charles Erwin Wilson có thể đại diện cho bất kỳ ai hay bất kỳ lợi ích nào thay vì cho thế giới công ty? Đấy không phải vì ông gian trá; ngược lại, có lẽ vì ông là người trước sau như một – như tờ 1 đô-la vậy. Ông trông thế nào thì bụng dạ thế ấy và không thể khác. Ông là một thành viên giới tinh hoa chuyên nghiệp của công ty, cũng giống như các đồng nghiệp khác của mình, trong và ngoài chính quyền; ông đại diện cho sự giàu có của thế giới công ty cao hơn; ông đại diện cho quyền lực của nó; và ông thành tâm tin như trong nhận xét thường được trích dẫn của mình là “cái gì tốt cho nước Mỹ thì cũng tốt cho Công ty General Motors và ngược lại”.
Sự tiết lộ những buổi điều trần đáng buồn về việc chấp thuận những người như thế vào các vị trí chính trị không phải là sự hoài nghi đối với luật pháp và đối với những nhà làm luật ở cấp độ quyền lực trung bình mà họ thể hiện, cũng không phải đối với việc họ miễn cưỡng giải quyết số cổ phiếu cá nhân của mình.11 Điều thú vị là những người này không thể rút chân ra khỏi thế giới công ty nói chung và công ty của họ nói riêng. Không chỉ tiền bạc, mà còn bạn bè chiến hữu, lợi ích, đào tạo – nói tóm lại là cuộc sống của họ – liên quan sâu sắc trong thế giới này. Tất nhiên, việc xử lý cổ phiếu chỉ là một nghi lễ thanh tẩy. Vấn đề không phải là tài chính hoặc lợi ích cá nhân trong một công ty nào đó, mà là sự gắn bó với thế giới công ty. Đột nhiên yêu cầu một người tự từ bỏ các lợi ích này và khả năng nhạy bén của mình cũng gần giống như yêu cầu một người đàn ông trở thành một người đàn bà.
3. Đối với vấn đề lòng yêu nước, mong muốn phục vụ đất nước nói chung, trước hết tôi phải trả lời rằng, giống như quy tắc danh dự, tình cảm yêu nước và quan điểm về những gì có lợi cho cả đất nước không phải là những thực tế tối hậu mà là những vấn đề có rất nhiều ý kiến khác nhau. Hơn nữa, lập trường yêu nước cũng bắt nguồn và được duy trì bởi việc một người sẽ trở nên đức hạnh thế nào và anh ta sống với ai. Đây không đơn giản là điều kiện xã hội quyết định máy móc tính cách cá nhân; nó là một quá trình phức tạp, được xác lập bằng truyền thống chủ yếu của việc nghiên cứu xã hội hiện đại. Chỉ có thể tự hỏi tại sao có nhiều nhà khoa học xã hội không sử dụng nó một cách hệ thống trong việc nghiên cứu về chính trị.
4. Không nên nghĩ giới tinh hoa thật ra chỉ là những người thực hiện nhiệm vụ của mình. Họ là những người quyết định nhiệm vụ của mình, cũng như nhiệm vụ của cấp dưới. Họ không chỉ tuân thủ mệnh lệnh mà họ còn ra lệnh. Họ không chỉ là “giới bàn giấy” mà họ còn chỉ huy nhóm này. Họ có thể cố che giấu người khác và chính mình trước những thực tế ấy bằng cách kêu gọi thứ truyền thống mà họ tưởng mình là công cụ, nhưng lại có nhiều truyền thống, và họ phải lựa chọn sẽ phục vụ cái nào. Họ đối diện với những quyết định mà đơn giản là không có truyền thống.
Hiện giờ, những câu trả lời này nói lên điều gì? Nó giúp chúng ta hiểu được thực tế là không thể lý giải các sự kiện công cộng và xu thế lịch sử chỉ từ động cơ và tính cách của những người hay những nhóm nhỏ đang nắm giữ các vị trí cao và quyền lực. Thực tế này đến lượt nó không có nghĩa là chúng ta sẽ bị đe dọa bởi những cáo buộc khi nghiên cứu vấn đề theo cách của mình, bài bác danh dự, tính liêm chính hoặc năng lực của những người có chức vụ cao. Vì trước hết, nó không phải là một vấn đề về tính cách cá nhân; và sau nữa, nếu thấy đúng là thế, tôi sẽ không do dự để nói ra rành mạch. Trong khi đó, tôi phải đánh giá giới quyền lực bằng các tiêu chuẩn quyền lực, bằng những gì họ làm với tư cách người ra quyết định, chứ không phải vì họ là ai hay họ có thể làm gì trong đời tư. Mối bận tâm của tôi không phải ở đó: tôi quan tâm tới các chính sách và những hệ quả từ lối hành xử của họ trong chính quyền. Chúng ta luôn nhớ rằng những người của giới tinh hoa quyền lực này hiện đang nắm giữ các vị trí chiến lược trong cấu trúc của xã hội Mỹ; rằng họ chỉ huy các thiết chế có ảnh hưởng của một đất nước có ảnh hưởng; rằng một nhóm trong họ ở vào vị thế ra quyết định với những hệ quả khủng khiếp cho toàn bộ cư dân thế giới.
5.
Bất chấp sự tương đồng xã hội và sức hút tâm lý, thành viên của giới tinh hoa quyền lực không tạo thành một câu lạc bộ có số hội viên thường trực với giới hạn cố định và chính thức. Chính do bản chất của giới tinh hoa quyền lực nên có nhiều xáo trộn, và vì thế không có một nhóm nhỏ những người cùng loại trong cùng vị trí trong cùng thang bậc. Vì biết rõ nhau không có nghĩa là giữa họ có sự thống nhất về chính sách, và vì không biết rõ nhau không có nghĩa là giữa họ có sự bất hòa. Quan niệm về giới tinh hoa quyền lực, như tôi đã nói nhiều lần, không dựa chủ yếu vào tình bạn cá nhân.
Khi những đòi hỏi của các vị trí cao nhất ở mỗi thang bậc chính trở nên giống nhau, các loại người nắm giữ những vị trí cao nhất này – do lựa chọn và do đào tạo trong công việc – trở nên giống nhau. Đây không đơn thuần suy luận từ cấu trúc tới nhân sự. Mà đó là một thực tế được bộc lộ qua việc trao đổi chặt chẽ đang diễn ra giữa ba cấu trúc này, thường theo những cách rất phức tạp. Các tổng giám đốc điều hành, giới quân phiệt và chính trị gia được lựa chọn đi đến chỗ tiếp xúc với nhau một cách thân tình, diễn ra trong Thế chiến II; sau khi cuộc chiến tranh đó kết thúc, họ tiếp tục có quan hệ, do sự tin tưởng thông thường, sự tương hợp xã hội, và sự trùng khớp lợi ích. Tỉ lệ đáng kể những người cao cấp nhất trong thế giới quân sự, kinh tế, và chính trị suốt 15 năm qua đã nắm giữ các vị trí trong một hoặc cả hai thế giới kia: giữa các tầng lớp cao hơn này có một sự hoán đổi vị trí, chính thức dựa trên cái được cho là khả năng chuyển đổi về “năng lực điều hành”, về bản chất dựa trên sự hợp tác giữa các nhóm người trong cuộc. Là thành viên của một giới tinh hoa quyền lực, nhiều trong số người bận rộn trong các giao dịch này bắt đầu coi “chính quyền” như chiếc ô quyền lực mà họ hoạt động dưới nó.
Khi việc làm ăn giữa bộ ba lớn này tăng về khối lượng và tầm quan trọng, việc trao đổi nhân sự cũng tăng. Chính tiêu chí lựa chọn những người sẽ được đưa lên thể hiện rõ thực tế này. Người lãnh đạo công ty, trong giao tiếp với nhà nước và giới quân sự, sẽ khôn ngoan hơn khi chọn một người còn trẻ đã có kinh nghiệm về chính quyền và giới quân sự thay vì một người chưa biết gì. Giám đốc chính trị, mà thành công chính trị của anh ta thường phụ thuộc vào các quyết định của công ty và công ty, cũng khôn ngoan hơn khi chọn một người đã có kinh nghiệm công ty. Thế là chính vì giá trị của tiêu chí thành công này, việc trao đổi nhân sự và sự thống nhất của giới tinh hoa quyền lực tăng lên.
Xét những nét tương đồng hình thức của ba thang bậc trong đó một số thành viên của giới tinh hoa cả đời làm việc, xét các nhánh ra quyết định được phân cho mỗi thang bậc, xét sự trùng khớp về lợi ích nổi trội ở nhiều điểm trong chúng, và xét khoảng trống hành chính của nhà nước dân sự Mỹ cùng với việc mở rộng các nhiệm vụ của nó – xét các xu hướng cấu trúc này, và thêm vào đó là sức hút tâm lý như tôi đã lưu ý – chúng ta sẽ thực sự ngạc nhiên nếu thấy những người được cho là có kỹ năng trong các giao tiếp với chính quyền và năng lực tổ chức cao không thể làm gì hơn ngoài việc tiếp xúc với nhau. Tất nhiên, họ đã làm nhiều hơn thế: họ ngày càng nắm giữ nhiều vị trí trong các lĩnh vực của nhau.
Sự thống nhất bộc lộ qua việc trao đổi các vai trò chóp bu dựa trên việc phát triển song song các công việc chóp bu trong mỗi lĩnh vực của ba lĩnh vực lớn này. Sự trao đổi diễn ra thường xuyên nhất khi các vấn đề về lợi ích của họ trùng khớp, kiểu như giữa cơ quan điều phối và ngành được điều phối, chủ đầu tư và nhà thầu. Và như chúng ta sẽ thấy, nó dẫn tới sự phối hợp rõ ràng hơn và thậm chí chính thức.
Cốt lõi bên trong của giới tinh hoa quyền lực, trước hết gồm những người trao đổi vai trò chỉ huy ở tầng cao nhất của trật tự thiết chế có ảnh hưởng với những người ở trật tự khác: đô đốc cũng là một chủ ngân hàng và là một luật sư và là người đứng đầu một ủy ban liên bang quan trọng; giám đốc điều hành công ty mà công ty của anh ta là một trong hai hoặc ba nhà sản xuất vật liệu chiến tranh hàng đầu nay là Bộ trưởng Quốc phòng; vị tướng thời chiến mặc đồ dân sự có chân trong ban lãnh đạo chính trị và sau đó trở thành một thành viên ban giám đốc một tập đoàn kinh tế hàng đầu.
Mặc dù người trong ngành hành pháp trở thành tướng, tướng trở thành chính khách, chính khách trở thành chủ ngân hàng, diễn ra nhiểu hơn ở những người bình thường trong môi trường bình thường của họ, nhưng quan điểm của ngay cả những người này vẫn thường gắn chặt với các địa phương có ảnh hưởng của họ. Tuy nhiên, chính trong nghề của mình, họ trao đổi vai trò với nhau trong bộ ba ông lớn này và vì thế sẵn sàng vượt ra khỏi đặc thù về lợi ích trong mỗi môi trường thiết chế đó. Bằng chính nghề nghiệp và hoạt động của mình, họ kết nối ba loại môi trường lại với nhau. Vì thế, họ là những thành viên cốt cán của giới tinh hoa quyền lực.
Những người này không nhất thiết phải quen thuộc với mọi vũ đài quyền lực chính. Tôi nói đến người đã tham gia hoặc có lẽ ở giữa hai giới – ví dụ công nghiệp và quân sự – một người khác tham gia giới quân sự và chính trị, và người thứ ba tham gia giới chính trị cũng như trong các dư luận viên. Những loại người ở giữa này cho thấy hình ảnh rõ nhất về cấu trúc và hoạt động của giới tinh hoa quyền lực, kể cả những hoạt động hậu trường. Rộng hơn, nếu có “giới tinh hoa vô hình” nào, thì loại người cố vấn và liên hệ này chính là cốt lõi của nó. Như tôi tin là rất có thể, ngay cả nếu nhiều người trong họ, ít nhất là ở giai đoạn đầu của sự nghiệp, “các đại lý” của nhiều giới tinh hoa là đa dạng thay vì tinh hoa, thì chính họ mới tích cực nhất trong việc tổ chức cho một số vị trí chóp bu tham gia cấu trúc quyền lực và duy trì nó.
Cốt lõi bên trong của giới tinh hoa quyền lực có cả loại người phụ trách pháp lý và tài chính cao hơn từ các hãng luật lớn và các công ty đầu tư, họ gần như là trung gian chuyên nghiệp trong các vấn đề kinh tế, chính trị, quân sự, và vì thế họ hành động để thống nhất giới tinh hoa quyền lực. Luật sư công ty và chủ ngân hàng đầu tư thực hiện chức năng “trung gian” một cách hiệu quả và mạnh mẽ. Do tính chất công việc, họ vượt ra ngoài phạm vi hạn hẹp hơn của một ngành nào đó, và do vậy ở vào vị thế phát ngôn và hành động cho thế giới công ty hoặc ít nhất cho rất nhiều lĩnh vực của nó. Luật sư công ty là mắt xích quan trọng giữa các lĩnh vực kinh tế, quân sự, và chính trị; chủ ngân hàng đầu tư là người tổ chức và thống nhất chủ yếu của thế giới công ty và là người giỏi chi những khoản tiền khổng lồ mà tổ chức quân sự Mỹ hiện đang cân nhắc. Khi bạn có một luật sư xử lý công việc pháp lý của các chủ ngân hàng đầu tư, bạn có một thành viên quan trọng của giới tinh hoa quyền lực.
Trong thời chính quyền phe Dân chủ, một mắt xích giữa các tổ chức của công ty tư nhân với các thiết chế chính quyền là công ty đầu tư Dillon, Read. Những người như James Forrestal và Charles F. Detmar, Jr. đều từ đó mà ra; Ferdinand Eberstadt từng là một đối tác của nó trước khi anh ta tách ra thành lập ngôi nhà đầu tư riêng của mình mà những thành viên khác của các giới chính trị và quân sự từ đó mà ra. Chính quyền Cộng hòa hình như ưu ái công ty đầu tư của Kuhn, Loeb và công ty quảng cáo của Batten, Barton, Durstine và Osborn.
Cho dù dưới chính quyền nào, hãng luật Sullivan & Cromwell vẫn luôn tồn tại. Ông chủ ngân hàng đầu tư vùng Trung Tây Cyrus Eaton đã nói: “Arthur H. Dean, một đối tác cao cấp của Sullivan & Cromwell ở số 48 phố Wall là một trong những người đã giúp dự thảo Luật Chứng khoán năm 1933, dự luật đầu tiên trong một loạt dự luật được thông qua để điều hành thị trường tư bản. Ông và hãng của ông, có tiếng là lớn nhất ở Mỹ, vẫn duy trì quan hệ gần gũi với SEC [Ủy ban Chứng khoán và Sàn giao dịch Mỹ] từ ngày thành lập, và quan hệ của họ có ảnh hưởng quan trọng đến Ủy ban”.12
Cũng có một ngân hàng lớn thứ ba ở Mỹ: Ngân hàng Quốc gia Chase của New York (nay là Chase Manhattan). Dù dưới chính quyền của đảng nào, các giám đốc điều hành của ngân hàng này và của Ngân hàng Quốc tế về Tái thiết và Phát triển đã thay đổi vị trí: John J. McCloy, người trở thành Chủ tịch của Chase vào năm 1953, là một cựu Chủ tịch của Ngân hàng Thế giới; và người kế nhiệm ông chức Chủ tịch của Ngân hàng Thế giới là một cựu Phó Chủ tịch cao cấp của Chase.13 Và vào năm 1953, Chủ tịch của Chase là Winthrop W. Aldrich đã từ nhiệm để trở thành Đại sứ tại Anh.
Những người thuộc vòng ngoài cùng của giới tinh hoa quyền lực – vòng thường thay đổi nhiều hơn vòng lõi – gồm “những người có vai vế” cho dù họ không thể tham gia “trong” những quyết định có hệ quả nào đó, cũng như không di chuyển giữa các thang bậc địa vị của mình. Mỗi thành viên của giới tinh hoa quyền lực không cần là người đứng ra quyết định một cách cá nhân mọi quyết định được cho là của giới tinh hoa quyền lực. Mỗi thành viên, trong những quyết định mà anh ta đưa ra, đều nghiêm túc tính đến những người khác. Họ không chỉ ra những quyết định trong một số lĩnh vực chính về chiến tranh và hòa bình, họ còn là những người mà trong các quyết định họ trực tiếp tham gia đã được người có trách nhiệm trực tiếp cân nhắc rất kỹ.
Ở mép ngoài và phía dưới họ, hơi lệch về phía các bậc thấp hơn, giới tinh hoa quyền lực rơi vào cấp độ quyền lực trung bình, vào số nghị sĩ bình thường, vào những nhóm áp lực không nằm trong giới tinh hoa quyền lực, cũng như vào nhiều nhóm lợi ích khu vực và bang và địa phương. Nếu tất cả những người ở cấp độ quyền lực trung bình này không ở trong số có vai vế, thì đôi khi họ cũng được cân nhắc, giao trách nhiệm, phỉnh phờ, đưa xuống hoặc đưa lên giới cao hơn.
Khi giới tinh hoa quyền lực thấy rằng để được việc, họ phải với xuống những lĩnh vực thấp hơn, như trong trường hợp cần tìm cách thông qua các dự luật ở Quốc hội, họ sẽ phải gây một số áp lực. Nhưng trong giới tinh hoa quyền lực, việc vận động hành lang cao cấp như thế được gọi với cái tên “liên hệ công việc”. Những người thuộc giới quân sự có “liên hệ” với Quốc hội, với một số lĩnh vực cứng đầu của ngành công nghiệp, với hầu như mọi phần tử quan trọng không trực tiếp liên quan đến giới tinh hoa quyền lực. Hai quan chức trong đội ngũ Nhà Trắng được gọi là những người “liên hệ” đều có kinh nghiệm trong các vấn đề quân sự; một trong hai là cựu chủ ngân hàng đầu tư kiêm luật sư kiêm tướng lĩnh.
Không phải các hiệp hội thương mại, mà là các nhóm luật sư và chủ ngân hàng đầu tư cao cấp mới là những lãnh đạo chính trị tích cực của giới điều hành giàu có và các thành viên của giới tinh hoa quyền lực. “Trong khi các hiệp hội quốc gia thường được cho rằng có sức nặng ghê gớm trong việc tạo dựng công luận và định hướng chính sách quốc gia, có một số bằng chứng lại cho thấy sự tương tác ở cấp độ chính thức giữa các hiệp hội không phải là một sự gắn kết rất chặt chẽ. Xu hướng chung trong các hiệp hội hình như là kích thích các hoạt động xung quanh những lợi ích cụ thể của tổ chức, và nỗ lực hơn đề giáo dục hội viên thay vì dùng nhiều thời gian vào việc cố gây ảnh hưởng với các hiệp hội khác về những vấn đề đang giải quyết… Khi truyền thông nói đi nói lại mãi cấu trúc giá trị tổng thể của quốc gia, họ (các hiệp hội thương mại) trở nên quan trọng… Nhưng khi các vấn đề được xem xét kỹ, các cá nhân liên quan đến lợi ích công ty lớn hơn được kêu gọi gây áp lực vào những chỗ phù hợp ở thời điểm chiến lược. Các hiệp hội quốc gia có thể hành động như truyền thông để phối hợp sức ép, nhưng lượng thông tin qua lại lớn giữa các thành viên ở đỉnh cao quyền lực của các nhóm lợi ích công ty lớn hơn hình như là yếu tố quyết định trong việc xác định chính sách cuối cùng.14
“Vận động hành lang” kiểu thông thường do các hiệp hội thương mại thực hiện vẫn tồn tại, mặc dù luôn liên quan đến tầm quyền lực trung bình mà thường là Quốc hội, và dĩ nhiên là các thành viên thường của nó. Ví dụ, chức năng quan trọng của Hiệp hội Các nhà sản xuất Quốc gia ít trực tiếp tác động vào chính sách hơn là làm cho giới kinh doanh nhỏ thấy lợi ích của họ cũng giống như lợi ích của giới kinh doanh lớn hơn. Nhưng cũng có “vận động hành lang cao cấp”. Các nhà lãnh đạo công ty trên cả nước bị lôi kéo vào giới quân sự và chính trị cao cấp qua quan hệ bạn bè cá nhân, thương mại, các hội chuyên môn và tiểu ban khác nhau, câu lạc bộ có uy tín, hội liên kết chính trị mở, và quan hệ người tiêu dùng. Một nhà điều tra trực tiếp về nhóm điều hành này khẳng định: “Các nhà lãnh đạo quyền lực này còn biết trước khi cả nước biết về nhiều vấn đề chính sách lớn hiện hành như giảm thuế, chuyển giao toàn bộ hoạt động sản xuất cho các doanh nghiệp tư nhân, tăng cường thương mại nước ngoài, giữ nguyên phúc lợi nhà nước và các hoạt động trong nước khác ở mức tối thiểu, tăng cường và tiếp tục nắm giữ đảng hiện thời đang cầm quyền trên cả nước”.15
Trên thực tế, những nhóm giám đốc điểu hành công ty với tư cách là người lãnh đạo dư luận phi chính thức trong các cấp quyền lực công ty, quân sự, và chính trị cao nhất còn quan trọng hơn cả người thực sự tham gia vào các tổ chức quân sự và chính trị. Trong các giới quân sự, chính trị, và “bên lề” trong lĩnh vực kinh tế, các giới này và nhóm giám đốc điều hành công ty đều tham gia vào hầu hết mọi quyết định lớn bất kể chủ đề là gì. Và điều quan trọng về toàn bộ việc vận động hành lang cao cấp này là nó được thực hiện trong giới hạn của giới tinh hoa đó.
6.
Quan niệm về giới tinh hoa quyền lực và sự thống nhất của nó dựa trên những phát triển tương ứng và sự trùng hợp về lợi ích giữa các tổ chức kinh tế, chính trị, và quân sự. Nó cũng dựa trên sự tương đồng về xuất thân và nhãn quan, hòa trộn xã hội và cá nhân của các giới chóp bu từ mỗi thang bậc chi phối này. Sự liên kết ấy của sức mạnh thiết chế và tâm lý, đến lượt nó lại được bộc lộ bởi sự trao đổi nhân sự mạnh mẽ trong và giữa ba trật tự thiết chế lớn, cũng như sự xuất hiện của tầng lớp trung gian như trong trường hợp vận động hành lang cao cấp. Vì thế, quan niệm về giới tinh hoa quyền lực không dựa trên giả định cho rằng lịch sử Mỹ bắt nguồn từ Thế chiến II phải được hiểu như một mưu đồ bí mật, hoặc như một âm mưu lớn được thành viên của giới tinh hoa này phối hợp thực hiện. Quan niệm này hoàn toàn dựa trên cơ sở khách quan.
Tuy nhiên, không nghi ngờ gì việc giới tinh hoa quyền lực Mỹ – mà chúng ta nghe nói là gồm một số “nhà tổ chức lớn nhất trên thế giới” – cũng đã lên kế hoạch và vạch âm mưu. Sự trỗi dậy của giới tinh hoa, như đã được làm rõ, không phải và không thể nhờ thủ đoạn mà có, và quan niệm này trụ vững không dựa trên sự tồn tại của bất kỳ tổ chức bí mật hay công khai nào. Nhưng, một khi khuynh hướng cấu trúc và ý chí cá nhân liên kết lại để sử dụng nó và đã tạo nên giới tinh hoa quyền lực, sau đó là các kế hoạch và chương trình diễn ra với thành viên của nó, và quả thật không thể giải thích nhiều sự kiện và chính sách chính thức của giai đoạn thứ năm mà không nói tới giới tinh hoa quyền lực. Richard Hofstadter đã nhận xét, “Có một sự khác biệt lớn giữa việc xác định các mưu đồ trong lịch sử với việc nói rằng lịch sử thực ra là một mưu đồ…”16
Các khuynh hướng cấu trúc của các thiết chế đã được xác định là những cơ hội của những người nắm giữ vị trí chỉ huy. Một khi nhận diện được những cơ hội này, người ta có thể tận dụng chúng. Một vài kiểu người nào đó từ mỗi khu vực thiết chế chi phối, có tầm nhìn xa hơn người khác, đã tích cực thúc đẩy mối liên hệ trước khi nó mang dáng vẻ thực sự hiện đại. Họ thường làm như thế vì lý do không được các đối tác khác đồng tình, nhưng cũng không phản đối; và thường thì kết quả liên hệ giữa họ đã có những hệ quả mà không ai trong họ thấy trước, lại càng không rõ hình dáng của nó, và chỉ sau này trong quá trình phát triển mới bị kiểm soát công khai. Chỉ sau khi nó đã diễn ra khá lâu, phần lớn các thành viên của nó mới biết họ là một phần của nó và trở nên vui mừng, mặc dù đôi lúc cũng lo lắng vì việc này. Nhưng một khi sự phối hợp là mối quan tâm hiện hữu, thì những người mới sẵn sàng tham gia và chấp nhận sự tồn tại của nó mà không hề băn khoăn.
Về tổ chức công khai – mưu đồ hay không – nhiều khả năng giới tinh hoa quyền lực do chính bản chất của nó là sử dụng các tổ chức hiện có, đang hoạt động trong và giữa chúng, hơn là xây dựng các tổ chức công khai mà thành viên chỉ giới hạn trong số thành viên của nó. Nhưng ví dụ, nếu không có một bộ máy tồn tại để bảo đảm, thì các yếu tố quân sự và chính trị sẽ được cân bằng trong các quyết định đưa ra, họ sẽ tạo ra và sử dụng nó, như với Hội đồng An ninh Quốc gia. Hơn nữa, trong một chính thể dân chủ chính thức, mục đích và quyền lực của các phần tử khác nhau trong giới tinh hoa này càng được nền kinh tế chiến tranh thường trực hỗ trợ ở khía cạnh giả định là an ninh quốc gia có lẽ dựa vào tính bí mật cao của kế hoạch và dự định. Nhiều sự kiện cao hơn cho thấy hoạt động của giới tinh hoa quyền lực có thể không để cho công chúng biết dưới chiêu bài bí mật. Với sự bí mật rất rộng che đậy các hoạt động và quyết định của họ, giới tinh hoa quyền lực có thể che giấu các ý đồ, hoạt động, và sự củng cố tiếp tục. Bất kỳ bí mật nào áp đặt lên những người ở vị trí theo dõi những người ra quyết định cao cấp rõ ràng là có lợi, chứ không phải có hại cho các hoạt động của giới tinh hoa quyền lực.
Vì thế, chẳng có lý do để nghi ngờ – mà do bản chất của trường hợp này là không có bằng chứng – việc giới tinh hoa quyền lực không phải “lộ diện”. Nó chẳng có gì để che giấu dù những hoạt động của nó không được công bố. Là giới tinh hoa, nó không có tổ chức, mặc dù các thành viên của nó thường biết nhau, hình như hiển nhiên là làm việc cùng nhau, và ở chung trong nhiều tổ chức phổ biến. Nó chẳng có gì là thủ đoạn, mặc dù các quyết định của nó thường không được công khai còn cách thức hoạt động của nó thì không rõ ràng.
Không phải là giới tinh hoa “tin vào” một giới tinh hoa nhỏ gọn ở hậu trường và quần chúng bên dưới. Điều này không diễn đạt theo ngôn từ ấy. Nó chỉ là việc người dân khó tránh được nhầm lẫn, và giống như trẻ con dễ tin người, họ đặt tất cả thế giới mới về chính sách và chiến lược đối ngoại và hành pháp vào tay các chuyên gia. Nó chỉ là việc mọi người biết ai đó phải chỉ đạo buổi diễn, và ai đó thường phải làm thế. Dù sao thì những người khác cũng không thực sự quan tâm, vả lại họ cũng không biết cách. Vì thế khoảng cách giữa hai bên càng rộng.
Khi các cuộc khủng hoảng được cho là toàn bộ, và dường như thường xuyên, thì các hệ quả của quyết định trở nên phổ biến, và những quyết định trong mỗi lĩnh vực chính của đời sống đi tới chỗ nhất quán và trọn vẹn. Tới lúc nào đó, có thể đánh giá được những hệ quả này ảnh hưởng thế nào đối với các trật tự thiết chế khác, còn không sẽ phải tùy thuộc vào may rủi. Lúc đó cảm nhận về sự khan hiếm của việc đánh giá có đào tạo và tưởng tượng mang đến cho các giám đốc điều hành nỗi xót xa về việc thiếu người kế nhiệm đủ tiêu chuẩn trong đời sống chính trị, quân sự, và kinh tế. Cảm nhận này đến lượt nó lại dẫn tới mối quan ngại càng tăng về việc đào tạo người kế nhiệm có thể tiếp quản khi những người có quyền lực già cả nghỉ hưu.17 Trong mỗi lĩnh vực, một thế hệ mới đã trưởng thành trong thời đại các quyết định đều phải được phối hợp sẽ dần xuất hiện.
Trong mỗi tầng lớp tinh hoa, tôi nhận thấy sự lo lắng về việc những người được tuyển dụng và đào tạo làm người kế tục phải là những người “nhìn xa trông rộng”, tức là những người có khả năng ra quyết định ở các lĩnh vực thiết chế chứ không chỉ trong lĩnh vực của riêng họ. Các tổng giám đốc điều hành đã xây dựng chương trình tuyển dụng và đào tạo chính thức để có người điều hành thế giới công ty thực sự như một nhà nước trong nhà nước. Tuyển dụng và đào tạo cho giới tinh hoa quân sự từ lâu đã được chuyên môn hóa rất nghiêm ngặt, nhưng nay bắt đầu có cả những công việc giáo dục thông thường, thứ mà một số tướng lĩnh và đô đốc nhiều tuổi hơn coi là hết sức vớ vẩn.
Chỉ có trật tự chính trị, với sự thiếu vắng một đội ngũ dân sự chân chính, đã tụt lại phía sau, tạo ra một khoảng chân không về quản lý mà các quan chức quân sự và giới công ty ngoài cuộc bị hút vào. Nhưng ngay cả trong lĩnh vực này, từ Thế chiến II, đã có nhiều cố gắng của giới tinh hoa có tầm nhìn ấy, như của James Forrestal quá cố, khai trương một dịch vụ chuyên nghiệp bao gồm các giai đoạn trong thế giới công ty cũng như trong chính quyền.18
Những gì còn thiếu hụt là một chương trình tuyển dụng và đào tạo thực sự phổ biến; vì các trường dự bị, trường đại học thuộc Ivy League, và cả loạt trường luật của tầng lớp thị dân 400 không đáp ứng được đòi hỏi lúc này về thành viên của giới tinh hoa quyền lực.19i Người Anh, như Thống chế Viscount Montgomery, biết rõ sự thiếu hụt này, nên gần đây đã thúc giục thông qua một hệ thống “theo đó có thể tách một thiểu số sinh viên trẻ tuổi dòng dõi cao quý khỏi đám tầm thường và được giáo dục tốt nhất như có thể để cung cấp đội ngũ lãnh đạo cho đất nước”. Đề nghị của ông có tiếng vang, dưới nhiều hình thức khác nhau, đối với nhiều người thừa nhận sự phê phán của ông về “thuyết giáo dục công của Mỹ vì lý do nó không thích hợp để tạo ra nhóm lãnh đạo ‘tinh hoa’… mà đất nước này cần để hoàn thành bổn phận lãnh đạo thế giới”.20
i. Xem lại Chương 3: Tầng lớp thị dân 400.
Những đòi hỏi này phản ánh phần nào sự cần thiết chưa được nói tới là phải vượt qua việc tuyển dụng chỉ dựa trên cơ sở thành công kinh tế, đặc biệt từ khi nó bị nghi là thường liên quan đến những chuyện hết sức phi đạo lý; nó phản ánh phần nào sự cần thiết đã được nói tới là phải có những người, như Viscount Montgomery nói, là biết “ý nghĩa của kỷ luật”. Nhưng trên tất cả, ít nhất những đòi hỏi này cũng phản ánh ý thức mơ hồ của một bộ phận giới tinh hoa quyền lực, cho rằng thời đại của các quyết định được phối hợp kéo theo rất nhiều hệ quả mới, đòi hỏi phải có một giới tinh hoa quyền lực đẳng cấp mới. Ở chừng mực có nhiều vấn đề trong các quyết định là rộng lớn và liên quan với nhau, cần có thông tin cho những đánh giá phức tạp và đòi hỏi kiến thức chuyên biệt,21 những người phụ trách sẽ không chỉ kêu gọi nhau; họ sẽ cố để đào tạo người kế nhiệm mình cho công việc hiện tại. Số người mới này rồi sẽ trở thành những người có quyền lực trong quá trình phối hợp quyết định kinh tế, chính trị, và quân sự.
7.
Tư tưởng về giới tinh hoa quyền lực dựa trên những gì cho phép chúng ta hiểu về (1) các khuynh hướng thiết chế quyết định đặc tính cấu trúc của thời đại chúng ta, đặc biệt là thế lực quân sự trong một nền kinh tế sáp nhập tư nhân, và rộng hơn là một số sự trùng hợp giữa các thiết chế kinh tế, quân sự, và chính trị; (2) những nét tương đồng về xã hội và sức hút tâm lý của những người nắm giữ các vị trí chỉ huy những cấu trúc này, đặc biệt là sự hoán đổi ngày càng tăng các vị trí chóp bu trong mỗi cấu trúc và sự trao đổi nghề nghiệp ngày càng tăng giữa các mệnh lệnh ở những người có quyền lực; (3) việc phân cấp tới mức gần như mọi loại quyết định đều phải do cấp cao nhất đưa ra, và sự xuất hiện quyền lực của một nhóm người, do đào tạo và xu hướng, là những nhà tổ chức chuyên nghiệp có thế lực đáng kể và không bị lối đào tạo dân chủ trong đảng kiềm chế.
Một cách bi quan, việc hình thành giới tinh hoa quyền lực dựa trên (1) việc hạ thấp chính trị gia chuyên nghiệp của đảng xuống cấp độ quyền lực trung bình, (2) thế bế tắc thiếu tổ chức của những nhóm lợi ích địa phương toàn quyền có chức năng lập pháp sụp đổ, (3) sự thiếu vắng gần như hoàn toàn một đội ngũ dân sự tạo thành một đội ngũ có trí tuệ và kỹ năng điều hành trung lập chính trị, nhưng lại thích hợp về chính trị, và (4) sự bí mật chính thức ngày càng tăng mà phía sau là những quyết định lớn được thông qua không tính đến lợi ích của quần chúng hay thậm chí sự bàn luận của Quốc hội.
Kết quả là ban lãnh đạo chính trị, giới điều hành giàu có, và giới quân sự có thế lực đã cùng hợp thành giới tinh hoa quyền lực, các thang bậc mở rộng và tập trung mà họ đứng đầu đã phá vỡ trạng thái cân bằng cũ, giờ đây bị đưa xuống cấp độ quyền lực trung bình. Giờ đây xã hội cân bằng là một khái niệm liên quan chính xác tới cấp độ quyền lực trung bình, và ở cấp độ đó thì cân bằng thường trở thành một vấn đề của các thế lực cố thủ ở cấp tỉnh và tắc trách ở cấp quốc gia thay vì là một trung tâm quyền lực và quyết định quốc gia.
Nhưng còn tầng đáy thì sao? Khi mọi khuynh hướng này trở nên hữu hình ở tầng thượng và tầng trung, thì điều gì đang xảy ra với toàn bộ công chúng Mỹ? Nếu tầng thượng hùng mạnh chưa từng có và ngày càng không thống nhất và ngoan cố; nếu các tầng trung ngày càng bế tắc vì thiếu tổ chức, thì hình dạng tầng đáy thế nào, tình hình công chúng nói chung ra sao? Sự trỗi dậy của giới tinh hoa quyền lực, như chúng ta giờ đây sẽ thấy, dựa trên và bằng nhiều cách là một phần của việc chuyển hóa công chúng Mỹ thành một xã hội đại chúng.