T
heo hình ảnh tiêu chuẩn về quyền lực và quyết định, không lực lượng nào được coi là quan trọng bằng Đại Công chúng Mỹ. Không chỉ là chuyện kiểm soát và cân bằng, công chúng này được cho là trung tâm của toàn bộ quyền lực hợp pháp. Trong đời sống chính thức cũng như trong văn hóa dân gian, họ được coi là bánh xe cân bằng của quyền lực dân chủ. Cho đến cuối cùng, mọi lý thuyết gia phái tự do đều lấy vai trò chính trị của công chúng này làm cơ sở cho các khái niệm của họ về hệ thống quyền lực; mọi quyết định chính thức cũng như các quyết định cá nhân có hệ quả, đều được biện minh là theo phúc lợi của công chúng; mọi tuyên bố chính thức đều nhân danh nó.
1.
Vì vậy, chúng ta hãy xem xét khái niệm công chúng kinh điển của lý thuyết dân chủ trên tinh thần độ lượng mà Rousseau từng kêu gọi: “Công luận, Nữ hoàng của Thế giới, không lệ thuộc vào quyền lực của vua chúa; nó là nô lệ đầu tiên của chính mình”.
Đặc điểm quan trọng nhất của công luận, đó là sự trỗi dậy của tầng lớp trung lưu dân chủ khởi xướng, là sự lên xuống tự do của tranh luận. Khả năng hồi đáp, tổ chức các cơ quan độc lập thu thập công luận, thể hiện nó bằng hành động, được cho là do các thiết chế dân chủ tạo ra. Ý kiến rút ra từ kết quả thảo luận công khai được hiểu là một nghị quyết mà sau đó sẽ được thực hiện bằng hành động của công chúng; nói cách khác, nó là “ý chí chung” của nhân dân mà cơ quan lập pháp đưa vào luật, nên nó có sức mạnh pháp lý. Quốc hội là một thiết chế, đại diện cao nhất cho các nhóm công chúng phân tán; nó là nguyên mẫu cho mỗi nhóm nhỏ công dân thảo luận trực diện công việc chung của họ.
Tư tưởng thế kỷ XVIII này của công chúng về công luận song hành với ý kiến của giới kinh tế về thị trường của nền kinh tế tự do. Đây là thị trường gồm các doanh nghiệp cạnh tranh tự do; có công chúng gồm các nhóm thảo luận bình đẳng về quan điểm. Vì cái giá là kết quả của những cá nhân mặc cả vô danh, được coi là ngang nhau, nên công luận là kết quả của việc mỗi người đã tự cân nhắc và góp tiếng nói vào dàn đồng ca lớn. Để cho chắc, một số có thể có ảnh hưởng đối với ý kiến chung hơn những người khác, nhưng không có nhóm nào độc quyền quyết định, hoặc tự mình quyết định những ý kiến đang chiếm ưu thế.
Rất nhiều vòng thảo luận được những người lưu động mang ý kiến từ nhóm này qua nhóm khác, và đấu tranh để có quyền chỉ huy lớn hơn. Vì vậy, công chúng được tổ chức thành các hội đoàn và đảng phái, mỗi thứ đại diện cho một số quan điểm, mỗi thứ cố gắng để có một chỗ trong Quốc hội, nơi tiếp tục các cuộc thảo luận. Từ mấy nhóm người nhỏ trao đổi với nhau, những lực lượng lớn hơn của các phong trào xã hội và đảng phái chính trị phát triển; và thảo luận ý kiến là giai đoạn quan trọng trong toàn bộ hành động thực hiện những việc liên quan đến công chúng.
Tính tự trị của những cuộc thảo luận này là một nhân tố quan trọng trong việc coi ý kiến của công luận là một sự dân chủ hợp pháp. Những ý kiến được thừa nhận là tích cực xuất hiện trong các thiết chế thịnh hành; mọi cơ quan quyền lực đều được tạo ra hoặc xóa bỏ bởi các ý kiến thắng thế này của công chúng. Và trong chừng mực công chúng mất hết hy vọng trong việc thực hiện những đòi hỏi của mình, các thành viên có thể vượt ra ngoài sự chỉ trích các chính sách cụ thể: họ có thể nghi vấn ngay cả tính hợp pháp của quyền lực pháp lý. Đó là một nghĩa trong bình luận của Jefferson về sự cần thiết đôi khi phải có một “cuộc cách mạng”.
Công chúng được coi là khung dệt của nền dân chủ cổ điển thế kỷ XVIII, còn thảo luận chính là những sợi tơ và con thoi dệt nên các vòng thảo luận với nhau. Nó nằm ở gốc rễ của khái niệm về sức mạnh của thảo luận, và nó dựa trên hy vọng rằng sự thật và công lý dù sao cũng sẽ xuất hiện trong xã hội như một cỗ máy vĩ đại của tự do thảo luận. Các vấn đề được đưa ra trước nhân dân. Họ thảo luận chúng. Họ quyết định chúng. Họ hình thành quan điểm. Các quan điểm này có tổ chức và cạnh tranh nhau. Một quan điểm “thắng thế”. Sau đó nhân dân hành động theo quan điểm đó, hoặc giao cho đại diện của mình hành động theo nó, và những đại diện này nhanh chóng thực hiện.
Đó là hình ảnh về công chúng của nền dân chủ cổ điển vẫn được dùng để biện minh hiệu quả cho quyền lực trong xã hội Mỹ. Nhưng hiện nay, ta phải công nhận mô tả này giống như những hình ảnh trong truyện thần tiên: chúng không đầy đủ dù chỉ để là một mô hình tương đối cho cách hoạt động của hệ thống quyền lực Mỹ. Những vấn đề hiện quyết định vận mệnh con người không được công chúng nói chung nêu ra hoặc quyết định. Ý kiến về cộng đồng dân chúng không phải là một mô tả về thực tế, mà là một khẳng định về một ý tưởng, một khẳng định về một trò giả mạo hợp pháp – vì tính hợp pháp hiện nay dễ biến thành thực tế. Vì hiện nay công chúng của công luận được tất cả những người cẩn thận đánh giá là cái gì đó thấp hơn trước đây công nhận.
Những nghi ngờ này được khẳng định tích cực trong tuyên bố rằng cộng đồng công chúng cổ điển đang chuyển sang một xã hội đại chúng. Trên thực tế, sự chuyển hóa này là một trong những yếu tố quan trọng đối với ý nghĩa xã hội và tâm lý của đời sống hiện đại ở Mỹ.
1. Trong xã hội dân chủ của công chúng, người ta cho rằng với John Locke, lương tâm cá nhân chính là nơi cân nhắc cuối cùng và do đó là tòa phúc thẩm. Nhưng như E. H. Carr đã nói, nguyên tắc này đã bị thách thức khi Rousseau “lần đầu tiên nghĩ đến quyền lực tối cao của toàn thể nhân dân, và đối diện vấn đề dân chủ đại chúng”.1
2. Trong xã hội dân chủ của công chúng, người ta cho rằng giữa những cá nhân là thành viên của nó có một sự hòa hợp tự nhiên và hòa bình về lợi ích. Nhưng học thuyết cơ bản là bảo thủ này đã nhường đường cho thuyết Vị lợi rằng sự hòa hợp về lợi ích ấy có được trước tiên bởi những cải cách trước khi nó có thể diễn ra, và sau đó tới học thuyết của Marx về đấu tranh giai cấp mà lúc đó chắc chắn và bây giờ đương nhiên là gần sát với hiện thực hơn bất kỳ giả định nào về hòa hợp về lợi ích.
3. Trong xã hội dân chủ của công chúng, người ta cho rằng trước khi hành động của công chúng diễn ra, sẽ có thảo luận hợp lý giữa các cá nhân mà sẽ quyết định hành động, và vì thế, kết luận công luận là tiếng nói không thể sai lầm của lý trí. Nhưng kết luận này đã bị thách thức không chỉ bởi (1) sự cần thiết mang tính giả định đối với việc các chuyên gia quyết định những vấn đề tế nhị và phức tạp, mà còn bởi (2) việc Freud phát hiện ra những điều phi lý của đám thường dân, và (3) việc Marx phát hiện ra hoàn cảnh xã hội tác động vào những gì từng được cho là lý trí tự trị.
4. Trong xã hội dân chủ của công chúng, người ta cho rằng sau khi xác định cái gì là thật và đúng và công bằng, công chúng sẽ theo đó mà hành động hoặc yêu cầu đại diện của họ hành động. Về lâu dài, công luận sẽ không chỉ đúng, mà công luận còn chiếm ưu thế. Giả định này bị đảo lộn do khoảng cách lớn hiện đang tồn tại giữa dân cư bên dưới và những người thay mặt họ ra những quyết định có hệ quả lớn mà công chúng thường thậm chí không biết đang được quyết định mãi tới khi việc đã rồi.
Với những giả định này, không khó để hiểu sự lạc quan công khai của nhiều nhà tư tưởng thế kỷ XIX, vì lý thuyết về công chúng là sự áp đặt ý tưởng của giới trí thức về tính ưu việt của tri thức bằng nhiều cách lên cộng đồng nói chung. Comte khẳng định: “Sự tiến hóa của tri thức quyết định đường hướng chính của tiến hóa xã hội”. Nếu nhìn vào chúng, các nhà tư tưởng thế kỷ XIX vẫn thấy sự phi lý, ngớ ngẩn và thờ ơ, tất cả chỉ là sự tụt hậu tri thức mà phổ cập giáo dục sẽ nhanh chóng đặt dấu chấm hết.
Quan điểm cổ điển về công chúng dựa trên việc giới hạn nó trong công chúng ấy hấp dẫn giới được giáo dục cẩn thận thế nào đã được hé lộ năm 1859, khi ngay cả John Stuart Mill cũng viết về “sự bạo ngược của đa số”, còn cả Tocqueville lẫn Burckhardt đều thấy trước quan điểm mà các nhà đạo đức học chính trị như Ortega y Gasset mới truyền bá gần đây. Tóm lại, việc chuyển từ công chúng sang đại chúng – và mọi ẩn ý của nó – ngay lập tức là một trong những khuynh hướng lớn của xã hội hiện đại, và là một trong những nhân tố chính trong việc sụp đổ của chủ nghĩa lạc quan tự do vốn đã quyết định đáng kể sắc thái tri thức của thế kỷ XIX. Tới giữa thế kỷ đó, chủ nghĩa cá nhân bắt đầu được thay thế bằng những hình thái tập thể về đời sống kinh tế và chính trị; hòa hợp về lợi ích thay bằng các cuộc đấu tranh giai cấp thiếu hài hòa và sức ép có tổ chức; các cuộc thảo luận hợp lý bị phương hại bởi các quyết định chuyên môn về những vấn đề phức tạp, bởi sự công nhận thiên vị đáng quan tâm đối với lời lẽ của người có địa vị, và bởi phát hiện ra tính hiệu quả của lời kêu gọi phi lý đối với công dân. Hơn nữa, các thay đổi về cấu trúc của xã hội hiện đại mà chúng ta sẽ xem xét ngay bây giờ đã bắt đầu cắt đứt quyền quyết định tích cực của công chúng.
2.
Việc chuyển từ công chúng sang đại chúng là mối quan tâm đặc biệt với tôi, vì nó cung cấp manh mối quan trọng để hiểu được nghĩa của giới tinh hoa quyền lực. Nếu giới tinh hoa đó thực sự có trách nhiệm, hoặc thậm chí tồn tại trong mối liên hệ với một cộng đồng công chúng, nó sẽ mang một nghĩa rất khác nếu một cộng đồng công chúng như vậy đang chuyển thành một xã hội đại chúng.
Ngày nay Mỹ không phải là một xã hội đại chúng, và chưa bao giờ là một cộng đồng công chúng. Những cụm từ này là tên gọi của nhiều loại cực đoan, chúng cho thấy các đặc điểm nào đó của hiện thực, song chúng cũng tự kiến tạo, nên hiện thực xã hội luôn là một kiểu pha trộn của cả hai. Nhưng chúng ta không thể dễ dàng hiểu nổi tình hình của mình đã pha trộn tới mức nào, nếu trước hết chúng ta không hiểu được những khía cạnh rõ ràng, những loại cực đoan và dứt khoát.
Ít nhất cần phải chú ý tới bốn khía cạnh nếu chúng ta muốn nắm được sự khác biệt giữa công chúng và đại chúng.
1. Thứ nhất, tỉ lệ người nêu ý kiến với người nhận ý kiến, cách đơn giản nhất để nói rõ ý nghĩa xã hội của các phương tiện truyền thông đại chúng chính thức. Hơn bất kỳ thứ gì khác, sự thay đổi tỉ lệ này chính là trung tâm của vấn đề công chúng và công luận trong các giai đoạn dân chủ sau này. Ở một thái cực trên bàn cân thông tin, hai người nói chuyện riêng với nhau; ở tình huống cực đoan khác, một phát ngôn viên nói chuyện với hàng triệu người nghe và người xem qua mạng lưới truyền thông. Giữa hai thái cực này có các cuộc tụ tập dân chúng và tập hợp chính trị, các phiên họp Quốc hội, tranh tụng trước tòa, các vòng thảo luận nhỏ bị một người thao túng, các vòng thảo luận mở mà người nói tự do di chuyển giữa 50 người, vv..
2. Khía cạnh thứ hai mà chúng ta phải chú ý là khả năng trả lời ý kiến mà không có hồi đáp của người trong hay ngoài cuộc. Các điều kiện kỹ thuật của truyền thông trong việc áp đặt tỉ lệ diễn giả và thính giả thấp hơn có thể tránh được khả năng tự do đối đáp. Các quy định phi chính thức dựa trên những cấm đoán thông thường và trên cấu trúc phi chính thức về việc dẫn dắt ý kiến có thể quản lý được ai có thể nói, nói khi nào, và trong bao lâu. Những quy định như vậy có thể hoặc không thể phù hợp với những quy định chính thức và với những cấm đoán về thiết chế, vốn quản lý quá trình truyền thông. Trong trường hợp cực đoan, chúng ta có thể hiểu sự độc quyền tuyệt đối của truyền thông đối với các nhóm truyền thông đã được trấn an mà thành viên của họ không thể phản hồi cho dù là “ở nơi riêng tư”. Trong trường hợp ngược lại, các điều kiện có thể cho phép và các quy định có thể ủng hộ loạt ý kiến rộng rãi và đúng trọng tâm.
3. Chúng ta cũng phải xem xét mối quan hệ giữa việc hình thành những ý kiến này với việc thực hiện bằng hành động xã hội, nó dễ dàng làm cho ý kiến có hiệu quả trong việc hình thành các quyết định có hệ quả lớn. Cơ hội để mọi người hành động tập thể theo ý kiến của họ tất nhiên bị vị trí của chính họ trong cấu trúc quyền lực hạn chế. Cấu trúc ấy có thể hạn chế mạnh khả năng này, hoặc có thể cho phép hay thậm chí khuyến khích hành động đó. Nó có thể cho phép hành động xã hội trong khu vực địa phương, hoặc có thể mở rộng cơ hội về khu vực; nó có thể làm gián đoạn hoặc cho phép hành động ít nhiều liên tục.
4. Cuối cùng, ở chừng mực nào đó, giới cầm quyền thiết chế với những cấm đoán và kiểm soát của nó, thâm nhập vào công chúng. Ở đây vấn đề là mức độ thực sự độc lập của công chúng với giới cầm quyền đã được thiết chế hóa. Ở một thái cực, không tổ chức nào của giới cầm quyền chính thức có thể hoạt động trong công chúng tự trị. Ở cực đối lập, công chúng đã bị hoảng loạn và biến thành giống nhau, bởi sự xâm nhập của bọn chỉ điểm, và nghi ngờ tràn lan. Người ta nghĩ tới chế độ bắt bớ theo khối phố trước đây của Đức Quốc xã, hệ thống phường hội Nhật Bản thế kỷ XVIII, cấu trúc xà lim của Liên Xô. Trong trường hợp cực đoan, cấu trúc chính thức về sự trùng hợp quyền lực, như nó vốn là, với mức độ ảnh hưởng cao hay thấp phi chính thức của các cuộc tranh luận, vì vậy bị bóp chết.
Bằng cách kết hợp những điểm này với nhau, chúng ta có thể xây dựng các mô hình nhỏ hoặc biểu đồ về một số kiểu người của các xã hội. Vì “vấn đề công luận” như chúng ta biết được hình thành do sự sụt giảm của công chúng tư sản cổ điển, nên ở đây chúng ta chỉ quan tâm tới hai loại: công chúng và đại chúng.
Trong một công chúng, như chúng ta có thể hiểu từ này, (1) gần như là số người đưa ra ý kiến nhiều bằng số người nhận ý kiến. (2) Truyền thông công chúng được tổ chức tới mức có khả năng trả lời ngay và hiệu quả bất kỳ ý kiến nào thể hiện công khai. Ý kiến hình thành từ những cuộc thảo luận như thế (3) dễ dàng tìm được lối ra bằng hành động có hiệu quả, thậm chí chống đối chế độ đang cầm quyền – nếu cần thiết. Và (4) các thiết chế cầm quyền không xâm nhập công chúng, do đó công chúng ít nhiều độc lập trong các hoạt động của nó. Khi những điều kiện này ở thế áp đảo, chúng ta có mô hình đang diễn ra của một cộng đồng công chúng, và mô hình này rất khớp với một số giả định của thuyết dân chủ cổ điển.
Ở cực đối lập, về một đại chúng, (1) người bày tỏ ý kiến ít hơn nhận ý kiến khá nhiều, vì cộng đồng công chúng trở thành một tập hợp trừu tượng các cá nhân tiếp nhận những ấn tượng từ truyền thông đại chúng. (2) Truyền thông chiếm ưu thế được tổ chức tốt nên khó hoặc không thể cho cá nhân phản hồi ý kiến ngay hay gây nên ấn tượng nào. (3) Việc thực hiện ý kiến bằng hành động được kiểm soát bởi các giới chức đứng ra tổ chức và kiểm soát các kênh hành động ấy. (4) Đại chúng không độc lập với các thiết chế; ngược lại, các cơ quan của các thiết chế chính quyền xâm nhập đại chúng này, hạn chế tính tự trị nó có thể có trong việc đưa ra các ý kiến bằng thảo luận.
Có thể phân biệt công chúng và đại chúng dễ dàng nhất bằng các phương thức truyền thông chiếm ưu thế: trong một cộng đồng công chúng, thảo luận là cách thức truyền thông thịnh hành, và truyền thông đại chúng nếu có tồn tại cũng chỉ mở rộng và làm sinh động thảo luận, kết nối một khối công chúng quan trọng này với các cuộc thảo luận của khối công chúng khác. Trong một xã hội đại chúng, loại truyền thông chiếm ưu thế là truyền thông chính thức, và các khối công chúng đơn thuần trở thành các thị trường truyền thông: tất cả đều phải tiếp nhận nội dung của truyền thông đại chúng nào đó.
3.
Từ bất kỳ góc độ nhìn nhận nào mà chúng ta có thể giả định, khi nghiên cứu về công chúng, tôi nhận ra là mình đã đi được một đoạn đáng kể trên con đường dẫn tới xã hội đại chúng. Ở cuối con đường đó có chủ nghĩa độc tài, như ở Đức Quốc xã chẳng hạn. Chúng ta vẫn chưa tới đoạn cuối đó. Hiện nay ở Mỹ, thị trường truyền thông chưa hoàn toàn chế ngự công chúng cơ bản. Nhưng chắc chắn chúng ta có thể thấy nhiều mặt của đời sống công cộng ở thời đại mình mang nhiều đặc điểm của một xã hội đại chúng hơn là một cộng đồng công chúng.
Những gì đang xảy ra lại có thể được nói theo kiểu song hành lịch sử giữa thị trường kinh tế và công chúng của công luận. Nói ngắn gọn, có một sự biến đổi từ các giới quyền lực nhỏ phân tán khắp nơi sang giới quyền lực tập trung và cố gắng kiểm soát độc quyền từ các trung tâm có thế lực, cũng là các trung tâm thao túng quyền lực cũng như trung tâm quyền lực dù được che giấu phần nào. Cửa hàng nhỏ phục vụ một khu được thay bằng vô vàn công ty quốc gia; quảng cáo rộng rãi thay cho ảnh hưởng của ý kiến cá nhân giữa thương gia và khách hàng. Lãnh đạo chính trị đưa bài phát biểu với những nét chấm phá cá nhân thích hợp của mình vào hệ thống truyền thông quốc gia, tới hàng triệu người mà ông ta chưa bao giờ đã và sẽ gặp. Toàn bộ các ngành nghề và các ngành công nghiệp đều tham gia “kinh doanh ý kiến”, vô tư thuê mướn và thao túng công chúng.
Trong khối công chúng quan trọng, cạnh tranh ý kiến diễn ra giữa những người theo quan điểm phục vụ cho lợi ích và lý lẽ của họ. Nhưng trong xã hội đại chúng của thị trường truyền thông, sự cạnh tranh, nếu có, diễn ra giữa một bên là những người thao túng truyền thông đại chúng, và bên kia là những người nhận thông tin tuyên truyền của nó.
Trong điều kiện đó, không ngạc nhiên khi xuất hiện quan niệm về công luận chỉ như là một phản ứng – tôi không thể nói là “đáp ứng” – đối với nội dung của truyền thông đại chúng. Theo quan điểm này, công chúng chỉ là tập hợp các cá nhân riêng lẻ khá thụ động trước truyền thông đại chúng và bó tay buông xuôi trước những gợi ý và chi phối tuôn chảy từ các phương tiện truyền thông này. Thực tế về sự thao túng từ các điểm kiểm soát chi phối tập trung, như đã từng, là một sự tước đoạt của rất nhiều nhà sản xuất và người tiêu thụ ít tham gia ý kiến hoạt động trong một thị trường tự do và cân bằng.
Trong các tầng lớp chính thức, chính thuật ngữ “công chúng” – như Walter Lippmann nhận xét 30 năm trước – mang một nghĩa ma mị, bộc lộ rõ sự khiếm khuyết của nó. Theo quan điểm của giới tinh hoa nắm quyền quyết định, những người nào cứ hét toáng lên thì có thể xác định đó là “Dân lao động”, những người khác là “Thương nhân”, còn những người khác nữa là “Nông dân”. Những người không thể liệt ngay vào những loại trên thì tạo thành “Công chúng”. Theo cách dùng này, công chúng gồm những người vô danh và vô đảng phái trong một thế giới của các nhóm lợi ích đảng phái và xác định. Về mặt xã hội, nó gồm những nhà chuyên môn có học vấn cao hưởng lương, đặc biệt các giáo sư đại học; những nhân viên không tham gia nghiệp đoàn, nhất là nhân viên văn phòng, cùng giới chuyên môn tự lập nghiệp và người buôn bán nhỏ.
Theo khái niệm cổ điển ít người ủng hộ này, công chúng bao gồm những nhóm nhỏ thuộc tầng lớp trung lưu, cũ và mới, có lợi ích không được xác định rõ ràng, có tổ chức, hoặc ồn ào. Trong một sự thích nghi kỳ lạ, “công chúng” trên thực tế thường trở thành “chuyên gia không bị ràng buộc”, mặc dù được thông tin đầy đủ nhưng họ không bao giờ có lập trường công khai rõ rệt đối với những vấn đề tranh cãi đang được các nhóm lợi ích có tổ chức đưa lên hàng đầu. Những người này là thành viên của “công chúng” ở các ban, tiểu ban và ủy ban. Vì thế, cái mà công chúng chấp nhận thường là một sự mơ hồ về chính sách (được gọi là đầu óc cởi mở), một sự không tham gia vào các công việc chung (được coi là hợp lý), và một sự thờ ơ thường xuyên (được coi là khoan dung). Một số thành viên chính thức như thế của công chúng, khi ở lĩnh vực hòa giải lao động-quản lý, bắt đầu từ khi còn rất trẻ và lập nghiệp bằng cách cẩn thận để có thông tin nhưng không bao giờ có một lập trường vững vàng; còn nhiều người khác, hoàn toàn phi chính thức, lại coi những người chuyên nghiệp ấy như một dạng hình mẫu. Rắc rối duy nhất là họ hành động cứ như mình là những quan tòa không thiên vị nhưng họ lại không có quyền lực của quan tòa, vì thế cái hợp lý, cái bao dung, và đầu óc cởi mở của họ thường không tác dụng lắm trong việc định hình các vấn đề của con người.
4.
Tất cả những khuynh hướng đó, vốn làm suy giảm vai trò của chính trị gia và của xã hội cân bằng, đã đè nặng lên sự chuyển hóa công chúng thành đại chúng.i Một trong những chuyển đổi cấu trúc quan trọng nhất đã diễn ra là sự suy giảm các hội tình nguyện với tư cách một công cụ thực sự của công chúng. Như chúng ta đã thấy, xu hướng điều hành trong các thiết chế kinh tế, quân sự, và chính trị đã hạ thấp việc sử dụng có hiệu quả tất cả các hội tình nguyện hoạt động giữa một bên là nhà nước và nền kinh tế, và bên kia là gia đình và cá nhân trong nhóm quan trọng. Không chỉ các thiết chế quyền lực mới có quy mô lớn và tập trung một cách khó hiểu; chúng đồng thời trở nên ít chính trị và nhiều quản lý hơn, và là ở trong sự thay đổi lớn này về khuôn khổ mà công chúng có tổ chức đã hết thời.
i. Đặc biệt xem phân tích về sự suy giảm của tầng lớp trung lưu độc lập, Chương 11: Thuyết cân bằng.
Xét về quy mô, việc biến công chúng thành đại chúng được củng cố do việc chuyển từ một công chúng chính trị bị giới hạn nghiêm ngặt về tầm vóc (theo tài sản và học vấn cũng như giới tính và tuổi tác) sang một đại chúng được mở rộng rất nhiều, chỉ còn các tiêu chuẩn là công dân và tuổi tác.
Xét về tổ chức, việc chuyển đổi này được tăng cường bởi sự chuyển từ cá nhân và cộng đồng quan trọng sang hội tình nguyện và hội quần chúng như những đơn vị lớn của quyền lực có tổ chức.
Các hội tình nguyện ngày càng lớn tới mức chúng trở nên hiệu quả, và lớn tới mức các cá nhân không thể tiếp cận chúng bằng thảo luận để hình thành các chính sách của tổ chức mà anh ta là thành viên. Vì vậy, cùng với các thiết chế cũ hơn, những hội tình nguyện này đã mất quyền kiểm soát đối với cá nhân. Vì ngày càng nhiều người bị lôi cuốn vào vũ đài chính trị, nên các hội này trở nên đại chúng về quy mô, và khi quyền lực cá nhân ngày càng trở nên phụ thuộc vào các hội quần chúng đó, chúng càng ít chịu ảnh hưởng của các cá nhân.i
i. Đồng thời – và cũng vì sự tách biệt và sao lãng trong các thành phố mà lát nữa tôi sẽ bàn đến – cá nhân ngày càng trở nên phụ thuộc vào các phương tiện truyền thông đại chúng để có cái nhìn về cấu trúc như một tổng thể.
Dân chủ đại chúng nghĩa là đấu tranh của các nhóm lợi ích và các hiệp hội có thế lực và quy mô lớn, chúng đứng giữa những quyết định lớn của nhà nước, công ty, quân đội, và ý chí của mỗi công dân với tư cách là một thành viên của công chúng. Vì những hội tầm trung bình này là mắt xích quan trọng gắn công dân với quyết định, nên quan hệ của anh ta với chúng có tầm quan trọng quyết định. Vì chỉ qua nó anh ta mới thực thi được quyền lực mà anh ta có thể có.
Khoảng cách giữa thành viên và lãnh đạo của các tổ chức quần chúng ngày càng dãn rộng. Ngay khi một người trở thành lãnh đạo của một hiệp hội đủ lớn để phải tính đến, anh ta sẵn sàng không còn là một công cụ của tổ chức đó. Anh ta làm vậy (1) về mặt lợi ích muốn duy trì vị trí lãnh đạo trong, mà có lẽ là trên, hội quần chúng của mình; và anh ta làm thế (2) vì bắt đầu thấy mình không chỉ là một đại biểu nhận hay không nhận chỉ thị của hội quần chúng mà mình đại diện, mà còn là một thành viên của “một giới tinh hoa” gồm những người như mình. Những thực tế này đến lượt chúng lại dẫn tới (3) khoảng cách lớn giữa những điều kiện mà trong đó các vấn đề được bàn luận và giải quyết giữa các thành viên của giới tinh hoa này, và những điều kiện trong đó chúng được giới thiệu với các thành viên của nhiều hội quần chúng khác nhau. Vì các quyết định được đưa ra không chỉ phải tính đến những người quan trọng khác thuộc giới tinh hoa, mà còn phải được nhiều thành viên thông qua.
Khoảng cách giữa người nói và người nghe, giữa quyền lực và công chúng, ít khi dẫn tới luật lệ sắt của giới đầu sỏ, mà tới luật phát ngôn nhiều hơn: khi nhóm sức ép được mở rộng, lãnh đạo của nó sẽ tổ chức lấy ý kiến những người “đại diện”. Vì vậy bầu cử, như chúng ta đã thấy, trở thành cuộc đọ sức giữa hai đảng khổng lồ và không thể điều khiển mà mỗi cá nhân có thể thực sự cảm thấy mình có ảnh hưởng, hoặc không có khả năng chiếm được ấn tượng về tâm lý hoặc đa số quyết định về chính trị. Và trong những chuyện này, các đảng lại có hình thức thường thấy ở các hội quần chúng khác.2
Khi nói con người trong đại chúng không có ý thức chính trị nào dù là thành viên, tôi nghĩ tới một thực tế chính trị hơn là một dạng cảm xúc. Tôi nghĩ (1) có cách nào đó để thuộc về (2) một loại tổ chức nào đó.
1. Cách thuộc về tổ chức nào đó ở đây hàm ý dựa trên lòng tin vào các mục đích và vào giới lãnh đạo của một tổ chức, và vì thế cho phép mọi người cảm thấy tự do như ở nhà trong tổ chức đó. Thuộc về nó theo cách này là để làm cho hiệp hội của con người thành một trung tâm tâm lý về bản ngã của mình, để có được nhận thức, dù thận trọng hay tự do, về những quy tắc hành xử và mục đích của nó, điều mà chúng ta đặt ra và đến lượt nó lại uốn nắn chúng ta. Chúng ta không có loại cảm giác này đối với bất kỳ một tổ chức chính trị nào.
2. Loại tổ chức mà tôi nghĩ đến là một hội tình nguyện, có ba đặc điểm quyết định: thứ nhất là bối cảnh, trong đó các ý kiến hợp lý có thể được hình thành; thứ hai là một tổ chức mà theo đó các hoạt động hợp lý được tiến hành; và thứ ba, so với các tổ chức quyền lực khác, là một đơn vị đủ mạnh để tạo ra một sự khác biệt.
Chính vì không có sẵn các hiệp hội có ý nghĩa về tâm lý và hiệu quả về lịch sử, nên con người thường cảm thấy lo lắng về sự trung thành chính trị và kinh tế của họ. Các đơn vị quyền lực hiệu quả bây giờ là các công ty khổng lồ, là chính quyền không thể tiếp cận, là tổ chức quân sự đáng sợ. Giữa một bên là các đơn vị này, và bên kia là gia đình và cộng đồng nhỏ, tôi không thấy có hiệp hội trung gian nào mà người ta cảm thấy an toàn và cảm thấy có quyền lực. Không thấy diễn ra các cuộc đấu đá chính trị sống động. Thay vào đó là quản lý từ bên trên, và khoảng trống chính trị bên dưới. Các khối công chúng quan trọng giờ đây hoặc là nhỏ tới mức không còn tiếng nói và do đó bỏ cuộc, hoặc lớn tới mức trở thành một đặc điểm khác của cấu trúc quyền lực thường xa vời và do đó không thể tiếp cận.
Công luận tồn tại khi những người không ở trong chính quyền của một nước đòi quyền bày tỏ quan điểm chính trị một cách tự do và công khai, và quyền tác động hoặc quyết định của những ý kiến này đối với các chính sách, nhân sự, và hành động của chính phủ của họ.3 Hiểu theo nghĩa chính thức, công luận rõ ràng đã và đang tồn tại ở Mỹ. Thế nhưng với những bước phát triển hiện đại thì quyền chính thức này vẫn tồn tại như một loại quyền, song không còn nghĩa như trước đây nữa.
Thế giới cũ hơn của tổ chức tình nguyện là khác với thế giới của tổ chức quần chúng, giống như thế giới sách mỏng của Tom Paine khác với thế giới của truyền thông đại chúng.
Kể từ Cách mạng Pháp, các nhà lý luận bảo thủ có quan điểm về sự trỗi dậy của công chúng mà họ gọi là quần chúng, hoặc thứ gì đó giống như thế. Gustave Le Bon đã viết: “Dân chúng có quyền lực tối cao, và cơn thủy triều của chủ nghĩa hoang dã đang dâng cao”. Quyền thiêng liêng của quần chúng sẽ thay thế quyền thần thánh của vua chúa, và “vận mệnh các quốc gia hiện đã được soạn thảo công phu trong trái tim quần chúng, không còn trong các hội đồng của những ông hoàng”.4 Trong thế kỷ XX, các nhà lý luận phái tự do và kể cả xã hội chủ nghĩa sau đó, đề cập rõ ràng hơn những gì tôi gọi là xã hội đại chúng. Từ Le Bon cho tới Emil Lederer và Ortega y Gasset đều cho rằng việc ảnh hưởng của quần chúng đang tăng lên là không may.
Nhưng chắc chắn, những ai cho rằng quần chúng có toàn quyền, hoặc ít nhất cũng đang trên con đường tới chiến thắng, thì đều sai lầm. Trong thời đại chúng ta, như Sergei Chakhotin đã biết, ảnh hưởng của các tập thể tự trị trong đời sống chính trị trên thực tế đang giảm sút.5 Hơn nữa, ảnh hưởng ấy ở họ là có chỉ đạo; giờ đây không được coi họ là các đám dân chúng hành động độc lập, mà là quần chúng ở những thời điểm quan trọng đã biến thành đám đông người biểu tình. Vì với tư cách các đám dân chúng biến thành quần chúng, quần chúng đôi khi biến thành đám đông, và trong các đám đông, sự cưỡng bức tâm lý của truyền thông đại chúng lại được bổ sung ngay bằng sự hô hào thô bạo đến không ngờ. Rồi những người trong đám đông một lần nữa phân tán thành những đám quần chúng bị xé nhỏ và dễ phục tùng.
Trong mọi xã hội hiện đại, các hiệp hội độc lập đứng giữa các tầng lớp khác nhau và nhà nước có xu hướng đánh mất tính hiệu quả của mình với tư cách là các phương tiện chuyên chở ý kiến hợp lý, và là công cụ cho việc thực thi có lý trí cái ý chí chính trị. Những hiệp hội này có thể cố tình bị phân tán và do đó trở thành công cụ cai trị thụ động, hoặc có thể teo dần vì không được sử dụng khi đối mặt với các phương tiện quyền lực tập trung. Nhưng cho dù chúng có bị phá hoại trong một tuần, hay lụi tàn trong một thế hệ, thì những hiệp hội này đều bị thay bằng các tổ chức tập trung trong hầu hết mọi lĩnh vực đời sống, và chính mấy tổ chức ấy với tất cả các phương tiện quyền lực mới của mình sẽ cai trị xã hội đại chúng đã bị khủng bố, hoặc trong trường hợp này có thể mới chỉ bị đe dọa.
5.
Các khuynh hướng thiết chế tạo nên một xã hội đại chúng ở mức độ khá lớn là một vấn đề của dòng chảy khách quan, nhưng món hàng ế công chúng cũng sẽ phơi mình trước các thế lực “chủ quan” và có ý đồ. Cùng với việc mở rộng cơ sở chính trị trong bối cảnh văn hóa dân gian về quá trình ra quyết định mang tính dân chủ, và cùng với các phương tiện thuyết phục quần chúng sẵn có ngày càng tăng, công chúng của công luận trở thành đối tượng của những cố gắng mạnh mẽ để kiểm soát, quản lý, chi phối, và đe dọa nhiều hơn.
Trong các lĩnh vực chính trị, quân sự và kinh tế, quyền lực ở nhiều mức độ khác nhau trở nên khó chịu trước những ý kiến nghi ngờ của quần chúng, và do đó quá trình tạo dư luận trở thành một kỹ thuật nằm giữ và thực thi quyền lực được chấp nhận. Cử tri thiểu số gồm những người hữu sản, có học thức được thay bằng phổ thông đầu phiếu – và bằng các chiến dịch vận động giành phiếu bầu mạnh mẽ. Quân đội chuyên nghiệp nhỏ của thế kỷ XVIII được thay bằng quân đội đông đảo theo chế độ quân dịch – và bằng các vấn đề tinh thần dân tộc. Cửa hàng nhỏ được thay bằng nền công nghiệp sản xuất hàng loạt – và được quảng cáo trên toàn quốc.
Khi quy mô các thiết chế trở nên lớn hơn và tập trung hơn, thì phạm vi và cường độ cố gắng của các dư luận viên cũng vậy. Trên thực tế, các biện pháp tạo dư luận song hành về phạm vi và hiệu quả với các thiết chế khác có quy mô lớn hơn – cái nôi của xã hội đại chúng hiện đại. Do đó, ngoài các biện pháp tập trung và mở rộng của họ về quản lý, khai thác, và bạo lực, giới tinh hoa hiện đại còn có sẵn trong tay các công cụ quản lý và thao túng tâm linh độc đáo trong lịch sử, trong đó có phổ cập giáo dục bắt buộc cũng như các phương tiện truyền thông đại chúng.
Những nhà quan sát trước đây tin rằng việc mở rộng phạm vi và số lượng các phương tiện truyền thông chính thức sẽ mở rộng và làm sống động đám công chúng quan trọng. Theo quan điểm lạc quan ấy – được viết trước khi có đài phát thanh, truyền hình, và phim ảnh – thì các phương tiện chính thức được hiểu là để đơn giản nhân rộng quy mô và nhịp độ thảo luận cá nhân. Charles Cooley đã viết, các điều kiện hiện đại “mở rộng vô hạn sự cạnh tranh ý kiến, và bất kỳ cái gì có sự kiên trì nhưng lại thiếu so sánh có thể phải ra đi, vì cái thực sự hợp với trí tuệ chọn lọc sẽ được trân trọng hơn và nhiều thêm”.6 Vẫn phấn khích với việc tan vỡ sự đồng thuận vốn có của cộng đồng địa phương, ông nhận thấy các phương tiện truyền thông mới sẽ làm tăng thêm sự năng động trong đối thoại của nền dân chủ cổ điển, và cùng với nó là sự phát triển của tính cách cá nhân tự do và lý trí.
Không ai thực sự biết hết các chức năng của truyền thông đại chúng, vì những chức năng này trong trạng thái toàn vẹn của mình có lẽ có tính lan tỏa và tinh tế đến nỗi không thể nắm bắt được chúng bằng các phương tiện nghiên cứu xã hội hiện có. Nhưng giờ thì chúng ta có lý do để tin rằng việc các phương tiện này đóng góp vào sự mở rộng và làm sống động các cuộc thảo luận của công chúng ít quan trọng hơn là biến họ thành một nhóm các thị trường truyền thông trong một xã hội giống như đại chúng. Tôi không chỉ nói đến tỉ lệ người đưa ra ý kiến cao hơn người nhận và cơ hội hồi đáp giảm đi; tôi cũng không chỉ nói tới việc rập khuôn và tầm thường hóa mang tính bạo lực của các giác quan chúng ta mà theo đó các phương tiện truyền thông này hiện đang cạnh tranh để được “chú ý”. Tôi đang nghĩ tới một kiểu mù tâm lý được các phương tiện truyền thông tạo thuận lợi, và được thể hiện bằng một vài cách sau:
1. Rất ít những gì chúng ta nghĩ mình biết về thực tại xã hội của thế giới đến từ những điều chúng ta trực tiếp thấy. Hầu hết “các bức tranh trong đầu” mà chúng ta có được từ các phương tiện này – kể cả khi chúng ta thường không thực sự tin vào những gì mình thấy trước mắt cho tới lúc đọc về nó trên báo hoặc nghe về nó trên đài phát thanh.7 Các phương tiện truyền thông không chỉ cung cấp cho chúng ta thông tin, chúng còn hướng dẫn chính các trải nghiệm của chúng ta. Tiêu chuẩn của chúng ta về tính cả tin, tiêu chuẩn của chúng ta về hiện thực, có xu hướng bị các phương tiện này sắp đặt thay vì do kinh nghiệm rời rạc của chính chúng ta.
Vì thế, cho dù cá nhân có kinh nghiệm riêng trực tiếp về các sự kiện, thì đó vẫn chưa thực sự là trực tiếp và quan trọng: nó được tổ chức theo khuôn mẫu. Phải được đào tạo lâu dài và có kỹ năng mới có thể đánh bật được những khuôn mẫu này để mỗi cá nhân có thể thấy những điều mới mẻ, theo kiểu không bị rập khuôn. Ví dụ, có thể giả định là nếu tất cả mọi người trải qua tình trạng buồn chán, thì tất cả đều sẽ có “kinh nghiệm về nó”, và theo kinh nghiệm này, tất cả họ sẽ lật tẩy hoặc bác bỏ hoặc chí ít cũng không nghe những gì truyền thông nói về nó. Nhưng kinh nghiệm chuyển đổi cấu trúc ấy phải được tổ chức và diễn giải nếu muốn được tính đến trong việc tạo dựng dư luận.
Tóm lại, loại kinh nghiệm có thể dùng làm cơ sở để chống lại các phương tiện truyền thông đại chúng không phải là một trải nghiệm về những sự kiện sống, mà là trải nghiệm của ý nghĩa. Những diễn giải trải nghiệm phải sáng sủa nếu chúng ta định dùng từ kinh nghiệm một cách nghiêm túc. Và khả năng để có kinh nghiệm như thế bắt nguồn từ xã hội. Như tôi đã nói, cá nhân không tin vào kinh nghiệm của chính mình, cho tới khi nó được người khác hoặc truyền thông khẳng định.
Thường thì sự phô bày trực tiếp như thế không được chấp nhận nếu nó gây phiền phức cho lòng trung thành và đức tin mà các cá nhân đã có. Để được chấp nhận, nó phải làm dịu hoặc biện minh cho những cảm xúc thường nằm sâu trong suy nghĩ của con người giống như đặc điểm quan trọng về lòng trung thành ý thức hệ của anh ta.
Khuôn mẫu về lòng trung thành là cơ sở của lòng tin và tình cảm về những biểu tượng và biểu trưng cụ thể; chúng chính là cách mà con người nhìn thế giới xã hội và từ đó họ hình thành những ý kiến và quan điểm cụ thể về các sự kiện. Chúng là kết quả của những trải nghiệm cũ tác động đến trải nghiệm hiện tại và tương lai. Chẳng cần phải nói ra rằng con người thường không biết về lòng trung thành này, rằng thường thì họ không thể tạo ra chúng một cách dứt khoát. Nhưng các khuôn mẫu chung ấy dẫn tới việc chấp nhận hay bác bỏ những ý kiến cụ thể do sức hút tình cảm và cách họ rũ bỏ lo âu hơn là do sức mạnh nhất quán của logic. Chấp nhận ý kiến theo điều kiện của chúng tức là có cảm giác tốt và chắc chắn mình đúng mà không phải nghĩ ngợi. Khi các khuôn mẫu ý thức hệ và các ý kiến cụ thể được gắn kết theo cách này, lo lắng xuất hiện sẽ giảm bớt khi lòng trung thành và lòng tin không hòa hợp với nhau. Những tư tưởng này dẫn tới việc sẵn sàng chấp nhận một đường lối nhất định về đức tin; sau đó về tình cảm hay lý trí không cần vượt qua sự chống đối các mục nhất định theo đường lối đó; lựa chọn ý kiến và cảm xúc cụ thể bị dồn nén biến thành thái độ và tình cảm đã có từ trước, định hình quan điểm của con người.
Lòng tin và cảm xúc sâu sắc này là một loại thấu kính qua đó con người trải nghiệm thế giới của họ, chấp nhận hay bác bỏ những ý kiến cụ thể theo điều kiện của chúng, và xác định phương hướng của con người đi tới quyền lực vượt trội. Ba thập kỷ trước, Walter Lippmann đã coi lòng tin có từ trước là định kiến: nó làm cho con người không xác định được hiện thực một cách đầy đủ. Nó vẫn là định kiến. Nhưng ngày nay nó thường có thể được coi là “định kiến tốt”; dù nó thường không đầy đủ và dễ bị hiểu sai nhưng vẫn còn ít hơn cái chủ nghĩa hiện thực quái đản của những người có quyền lực cao hơn và các dư luận viên. Nó là ý thức chung thấp hơn, và vì thế là yếu tố gây chống đối. Nhưng chúng ta phải công nhận, nhất là khi nhịp độ thay đổi sâu và nhanh, rằng ý thức chung đó lại thường là phổ biến hơn ý thức. Và trên hết, chúng ta phải công nhận rằng “ý thức chung” của con em chúng ta là kết quả của những khuôn mẫu do các phương tiện truyền thông đại chúng đưa ra mà chúng luôn đối mặt thay vì là kết quả của bất kỳ phương tiện xã hội truyền thống vững chắc nào. Chúng là thế hệ đầu tiên bị phơi mình ra như thế.
2. Chừng nào truyền thông đại chúng không hoàn toàn bị độc quyền, chừng đó cá nhân còn có thể dùng phương tiện này chống phương tiện kia; anh ta có thể so sánh chúng, và do đó chống lại thứ mà một trong các phương tiện đó đưa ra. Càng có nhiều cạnh tranh thực sự giữa các phương tiện truyền thông, cá nhân càng có thể có nhiều khả năng kháng cự. Song trường hợp này hiện nay thế nào? Mọi người có so sánh những báo cáo về các sự kiện và chính sách công khai, dùng nội dung của phương tiện này chống lại phương tiện khác không?
Câu trả lời: nói chung là không, hầu như không vì (1) Chúng ta biết rằng mọi người có xu hướng mạnh là lựa chọn phương tiện truyền thông nào có thể chuyển tải các nội dung mà họ đã thỏa thuận. Có một kiểu lựa chọn những ý kiến mới trên cơ sở những ý kiến có từ trước. Hình như không ai cố gắng tìm kiếm những tuyên bố trái ngược như có thể thấy ở phương tiện truyền thông thay thế. Các chương trình phát thanh, tạp chí, và báo chí nhất định thường có một lượng công chúng ổn định, và do đó làm tăng sức mạnh của những thông điệp trong suy nghĩ của công chúng đó. (2) Ý kiến đó về việc dùng phương tiện này chống lại phương tiện kia cho rằng truyền thông thực sự có nhiều nội dung khác nhau. Nó cho là có cạnh tranh thực sự, một điều không đúng lắm. Phương tiện truyền thông cho thấy một sự đa dạng rất rõ và cạnh tranh, nhưng khi nhìn kỹ hơn chúng hình như cạnh tranh theo các kiểu đa dạng về một vài chủ đề tiêu chuẩn hơn là mấy vấn đề trái chiều. Quyền tự do nêu vấn đề một cách hiệu quả xem ra ngày càng bị giới hạn trong một số nhóm lợi ích đã có và tiếp tục có cách tiếp cận các phương tiện truyền thông này.
3. Truyền thông không chỉ thẩm thấu vào kinh nghiệm của chúng ta, mà còn bước vào cả chính kinh nghiệm của chúng ta. Chúng cung cấp hình dạng mới và khát vọng mới của những gì chúng ta có thể mong muốn, và những gì chúng ta có vẻ mong muốn. Chúng cung cấp một loạt những lời ca ngợi mới, lớn hơn và linh hoạt hơn về bản ngã của chúng ta theo những mô hình ứng xử mà chúng đưa ra. Theo thuyết hiện đại về cái tôi,8 chúng ta có thể nói rằng truyền thông đưa người đọc, người nghe, người xem vào khung cảnh của những nhóm tham chiếu lớn hơn, cao hơn – những nhóm thực hay tưởng tượng, trực tiếp hay gián tiếp, ai cũng biết hoặc thoáng thấy – đó là tấm gương để soi mình. Chúng làm tăng số lượng những nhóm chúng ta dùng để khẳng định bản thân.
Hơn thế nữa: (1) truyền thông cho một người trong quần chúng biết anh ta là ai – chúng cho anh ta nhân dạng; (2) chúng nói với anh ta điều anh ta muốn – chúng cho anh ta ước vọng; (3) chúng nói với anh ta làm thế nào để có được điều đó – chúng cho anh ta cách thức; và (4) chúng nói với anh ta làm thế nào để cảm thấy đi đúng đường dù anh ta sai – chúng cho anh ta cách thoát thân. Khoảng cách giữa nhân dạng và ước vọng đưa tới cách thức vàhoặc cách thoát thân. Đó có lẽ là công thức tâm lý cơ bản của truyền thông đại chúng hiện nay. Nhưng với tư cách một công thức, nó không được điều chỉnh theo sự phát triển của con người. Nó là công thức của một thế giới giả tạo được truyền thông sáng tạo và duy trì.
4. Bây giờ khi đã chiếm ưu thế chung, các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là truyền hình, thường lấn át các cuộc thảo luận quy mô nhỏ, làm hỏng cơ hội để trao đổi ý kiến hợp lý và nhẹ nhàng và nhân văn. Chúng là nguyên nhân chính phá hoại tính riêng tư theo đúng nghĩa nhân văn. Đó là lý do quan trọng tại sao chúng không chỉ thất bại với tư cách một thế lực giáo dục, mà còn là một sức mạnh ác độc: chúng không nói rõ cho người xem hoặc người nghe về các nguồn gốc sâu rộng hơn của sự căng thẳng và lo lắng riêng tư, những oán hận không nói ra lời và những hy vọng nửa chừng đã tắt. Chúng cũng không cho phép cá nhân vượt khỏi môi trường nhỏ hẹp của anh ta hoặc làm rõ ý nghĩa riêng tư của nó là gì.
Truyền thông cung cấp nhiều thông tin và tin tức về những gì đang diễn ra trên thế giới, nhưng chúng thường không cho phép người nghe hay người xem thực sự kết nối cuộc sống hằng ngày của họ với những hiện thực lớn hơn. Chúng không kết nối thông tin chúng cung cấp về những vấn đề công khai cùng với các rắc rối mà mỗi cá nhân cảm nhận được. Chúng không cố gắng đi sâu hợp lý vào những căng thẳng, căng thẳng trong mỗi cá nhân hoặc của xã hội được phản ánh trong cá nhân. Ngược lại, chúng làm anh ta phân tâm và che mờ cơ hội hiểu mình hoặc thế giới của mình, bằng cách gắn chặt sự chú ý của anh ta vào những hành động điên khùng giả tạo thường được giải quyết trong khuôn khổ các chương trình, thường thì bằng hành động bạo lực hoặc bằng cái được coi là hài hước. Tóm lại, đối với người xem, chúng không hề được giải quyết thực sự. Căng thẳng chủ yếu để đánh lạc hướng trên truyền thông là căng thẳng của những người đói khát, người không có tiện nghi, hoặc mấy phụ nữ được cho là ưa nhìn. Hầu như luôn chỉ là những trò tiêu khiển huyên náo, hoặc phim kinh dị, song chẳng đi đến đâu và cũng chẳng có đâu mà đi.
Nhưng truyền thông, vì được tổ chức và hoạt động như hiện nay, thậm chí còn hơn cả một nguyên nhân chủ yếu của việc chuyển nước Mỹ thành xã hội đại chúng. Chúng cũng nằm trong số những phương tiện quyền lực quan trọng nhất ngày càng tăng của giới tinh hoa giàu có và quyền lực; hơn nữa, một số cơ quan truyền thông cao hơn này bản thân chúng hoặc nằm trong giới tinh hoa, hoặc nằm trong đám đầy tớ rất quan trọng của giới này.
Ngang với hoặc ngay dưới giới tinh hoa là những nhà tuyên truyền, chuyên gia quảng bá, phụ trách quan hệ công chúng, là những người kiểm soát việc tạo dư luận để có thể có thêm một mục đã được đẽo gọt có tính đến quyền lực hiệu quả, uy tín tăng, của cải an toàn hơn. Trong 1/4 thế kỷ qua, thái độ công việc của những người thao túng này đã trải qua một kiểu biện chứng sau:
Lúc đầu là lòng tin lớn vào những gì truyền thông đại chúng có thể làm. Lời nói có thể thắng chiến tranh hoặc có thể bán được xà phòng, kích động và kiềm chế được dân chúng. Một nhà quảng cáo của những năm 1920 tuyên bố: “Chỉ có chi phí mới hạn chế được việc phổ biến công luận theo bất kỳ hướng nào, vào bất kỳ chủ đề nào”.9 Niềm tin của dư luận viên vào truyền thông với tư cách là những người thuyết phục quần chúng hầu như đạt mức thần kỳ – nhưng anh ta chỉ tin truyền thông đại chúng có quyền lực vô song chừng nào công chúng còn đáng tin. Không còn đáng tin nữa. Truyền thông đại chúng đưa rất nhiều chuyện thổi phồng mang tính cạnh tranh; chúng làm tầm thường hóa thông điệp của họ và cứ cái nọ đá cái kia. “Hội chứng truyền thông” khi phản ứng những lời nói dối thời chiến và vỡ mộng thời hậu chiến cũng không giúp giải quyết được vấn đề, mặc dù ký ức thường vừa ngắn vừa bị xuyên tạc chính thức. Việc mất lòng tin vào phép màu của truyền thông đã biến thành một khẩu hiệu của những nhà quản lý dư luận. Họ viết trên các biểu ngữ của mình: “Thuyết phục quần chúng là chưa đủ”.
Vì thất vọng, họ lý giải; và khi lý giải, họ đi đến chỗ chấp nhận nguyên tắc về hoàn cảnh xã hội. Để thay đổi ý kiến và hành động, họ bảo nhau, chúng ta phải rất chú ý tới hoàn cảnh đầy đủ và cuộc sống của những người bị quản lý. Cùng với việc thuyết phục quần chúng, dù sao chúng ta cũng phải sử dụng ảnh hưởng cá nhân; chúng ta phải đến với nhân dân trong hoàn cảnh cuộc sống của họ và qua người khác, những người cùng sống với họ, những người họ tin tưởng: chúng ta phải đến được với họ bằng kiểu thuyết phục “cá nhân” nào đó. Chúng ta không được để lộ bàn tay trực tiếp của chúng ta, mà chỉ tư vấn hoặc chỉ huy; chúng ta phải lôi kéo họ.
Bây giờ hoàn cảnh xã hội sống động và trực tiếp trong đó mọi người sống và thể hiện một sự trông đợi rất nhiều vào họ tất nhiên là những gì chúng ta có thể gọi là công chúng quan trọng. Bất kỳ ai đã nhìn vào bên trong một công ty quảng cáo, hoặc một văn phòng quan hệ công chúng, đều biết rằng công chúng quan trọng vẫn là vấn đề lớn chưa giải quyết được của các dư luận viên. Một cách tiêu cực, việc họ công nhận ảnh hưởng của hoàn cảnh xã hội đối với ý kiến và hành động của công chúng hàm ý rằng công chúng dám nêu ý kiến chống lại và loại bỏ tin tức của các phương triện truyền thông đại chúng. Một cách tích cực, việc công nhận này ngụ ý rằng công chúng không bao gồm những cá nhân biệt lập, mà gồm những người không chỉ đưa ra các ý kiến có từ trước cần được xem xét, mà còn tiếp tục ảnh hưởng lẫn nhau theo những cách phức tạp, thân tình, gián tiếp, và liên tục.
Trong những cố gắng để trung lập hóa hoặc tìm cách khớp nối công chúng để sử dụng, các dư luận viên cố biến nó thành một mạng lưới tiếp sức cho quan điểm của họ. Nếu các dư luận viên có nhiều quyền lực đến mức họ có thể hành động trực tiếp và công khai đối với các khối công chúng quan trọng, thì họ có thể trở nên độc đoán; nhưng nếu họ không có quyền lực như thế và do đó phải hoạt động gián tiếp và không lộ mặt, họ sẽ có lập trường của những kẻ giật dây.
Quyền lãnh đạo là thứ quyền lực rõ ràng và ít nhiều được tuân thủ “tự nguyện”; thao túng là thực thi quyền lực “bí mật” mà những người chịu ảnh hưởng không hề biết. Trong mô hình xã hội dân chủ cổ điển, thao túng không phải là một vấn đề, vì những người có quyền lực ở ngay trong công chúng và trong số những đại diện được công chúng đưa lên hoặc kéo xuống. Trong một xã hội hoàn toàn độc đoán, thao túng không phải là một vấn đề, vì quyền lực được nhận diện công khai chính là các thiết chế cầm quyền và các tổ chức của chúng, có thể sử dụng quyền lực công khai và trần trụi. Trong trường hợp cực đoan, chúng không cần giành và giữ quyền lực bằng cách che giấu việc làm của mình.
Thao túng trở thành một vấn đề ở bất kỳ đâu con người có quyền lực tập trung và ngang ngược nhưng không có quyền hành, hoặc khi vì lý do nào đó, họ không muốn công khai sử dụng quyền lực của mình. Rồi những người có quyền lực tìm cách thống trị mà không phải tỏ rõ quyền lực. Họ muốn thống trị một cách bí mật, như vốn vậy, không cần quảng bá tính hợp pháp. Chính trong trường hợp pha tạp này – như hiện trạng của Mỹ ngày nay – thao túng là cách chính để thực thi quyền lực. Các nhóm nhỏ người đang đưa ra những quyết định mà ít nhất cũng cần được phép của những người thờ ơ hoặc thích gây gổ mà không thực thi quyền lực công khai. Vì thế các nhóm nhỏ cố gắng lôi kéo những người này tới chỗ sẵn sàng chấp nhận hoặc vui vẻ ủng hộ các quyết định hay ý kiến của họ – hoặc chí ít bác bỏ những ý kiến phản đối có thể có.
Quyền hành chính thức nằm “trong nhân dân”, nhưng quyền khởi xướng trên thực tế lại do các nhóm nhỏ người nắm giữ. Do đó, chiến lược lôi kéo tiêu chuẩn là làm ra vẻ như nhân dân, hoặc ít nhất một nhóm lớn “thực sự ra quyết định”. Đó là tại sao ngay cả khi có sẵn quyền hành, những người có thể tiếp cận nó vẫn muốn bí mật hơn bằng cách âm thầm lôi kéo.
Nhưng có phải là dân tình bây giờ có học vấn cao hơn? Tại sao không nhấn mạnh vào việc mở mang giáo dục thay vì tăng cường hiệu quả của truyền thông đại chúng? Câu trả lời ngắn gọn là, giáo dục đại chúng ở nhiều khía cạnh đã trở thành một phương tiện truyền thông khác.
Nhiệm vụ chính của giáo dục công, như được hiểu rộng rãi ở đất nước này, là chính trị: làm cho công dân hiểu hơn, vì thế có năng lực suy nghĩ và đánh giá các vấn đề công tốt hơn. Đến một lúc nào đó, chức năng giáo dục chuyển từ chính trị sang kinh tế: đào tạo con người cho công việc được trả lương tốt hơn và vì thế tiến lên. Điều này đặc biệt đúng với phong trào của các trường trung học, đáp ứng đòi hỏi của công việc là phải có những nhân viên văn phòng kỹ năng giỏi từ nguồn kinh phí xã hội hóa. Giáo dục phần lớn đơn thuần trở thành hướng nghiệp; trong chừng mực nào đó, nhiệm vụ chính trị của nó ở nhiều trường đã rút gọn thành việc hằng ngày rèn luyện lòng trung thành dân tộc chủ nghĩa.
Việc đào tạo kỹ năng mà ít nhiều sử dụng trực tiếp trong đời sống hướng nghiệp là một nhiệm vụ quan trọng phải thực hiện, nhưng không nên nhầm với giáo dục khai phóng: thăng tiến trong công việc, cho dù tới mức nào đi nữa, vẫn không giống như tự thân phát triển, mặc dù cả hai hiện nay thường bị lẫn lộn.10 Trong “các kỹ năng”, một số thích hợp và một số không thích hợp với mục tiêu tự do, tức là giải phóng giáo dục. Kỹ năng và giá trị không thể dễ dàng bóc tách như những nghiên cứu học thuật đối với kỹ năng được cho là trung lập khiến chúng ta phải suy nghĩ. Và đặc biệt không phải là lúc chúng ta nghiêm túc nói về giáo dục khai phóng. Tất nhiên, có một bàn cân mà một bên là các kỹ năng và bên kia là các giá trị, nhưng ở khoảng giữa của bàn cân này mà có thể gọi là khu vực nhạy cảm lại thích hợp nhất đối với công chúng cổ điển.
Để đào tạo một người đứng máy tiện hoặc đọc và viết đòi hỏi khá nhiều sự giáo dục về kỹ năng; khơi gợi để mọi người hiểu được những gì họ thực sự muốn trong cuộc sống hoặc luận bàn với người khắc kỷ, theo lối sống Ki-tô giáo và nhân văn, rõ ràng đòi hỏi khá nhiều sự giáo dục về các giá trị. Nhưng để hỗ trợ tạo nên một nhóm người có sự nhạy bén về văn hóa, chính trị, và kỹ thuật, mà sẽ biến họ thành những thành viên thực sự của công chúng tự do đích thực, đó chính là đào tạo về kỹ năng và giáo dục về giá trị. Nó gồm một liệu pháp theo nghĩa cổ xưa là làm người ta hiểu về bản thân mình; nó gồm việc phổ biến những kỹ năng tranh cãi với bản thân mà chúng ta gọi là suy nghĩ, và với những người khác mà chúng ta gọi là thảo luận. Và sản phẩm cuối cùng của việc giáo dục khai phóng ấy về sự nhạy bén đơn giản là những người tự học, tự trau dồi bản thân.
Người hiểu biết trong công chúng đích thực có thể biến những rắc rối của mình thành các vấn đề xã hội, có thể thấy chúng thích hợp với cộng đồng và cộng đồng thích hợp với chúng. Anh ta hiểu rằng những gì mình nghĩ và cảm thấy như là những rắc rối cá nhân lại rất thường xuyên không chỉ là các vấn đề mà người khác cũng gặp phải và quả thực không phụ thuộc vào giải pháp của một cá nhân nào, mà chỉ phụ thuộc vào sự thay đổi cấu trúc của các nhóm anh ta sống và đôi khi là cấu trúc của toàn xã hội.
Những người trong đại chúng đều gặp phải rắc rối riêng, nhưng họ không biết ý nghĩa và nguồn gốc thực của nó. Người trong các nhóm công chúng đối diện với các vấn đề, và họ biết rõ về chúng. Nhiệm vụ của các thiết chế tự do, như trường hợp người được giáo dục theo phái tự do là tiếp tục biến những rắc rối này thành các vấn đề, và các vấn đề thành câu chữ mà mỗi cá nhân đều hiểu nghĩa. Không có tranh luận chính trị sâu sắc và rộng rãi, các trường dành cho người lớn và vị thành niên xem ra có thể trở thành những cơ sở dễ chịu cho mấy cuộc tranh luận như vậy. Trong một cộng đồng công chúng, nhiệm vụ của giáo dục khai phóng sẽ là: giữ cho công chúng không bị choáng ngợp; giúp sinh ra những người có đầu óc kỷ luật và thông thạo không thể bị choáng ngợp; giúp phát triển những cá nhân táo bạo và nhạy bén không thể bị chìm trong gánh nặng của cuộc sống đại chúng. Nhưng việc thực hành giáo dục đã không làm kiến thức trực tiếp phù hợp với nhu cầu của con người thế kỷ XX luôn lo lắng, hoặc với những thông lệ xã hội của công dân. Công dân ấy giờ đây không thể thấy được gốc rễ của các định kiến và nỗi thất vọng nơi mình, cũng không suy nghĩ rõ ràng về bản thân hoặc về những vấn đề khác. Anh ta không thấy sự vô vọng của ý kiến, của tri thức do cách tổ chức xã hội hiện nay, và anh ta không thể đáp ứng được những nhiệm vụ mà “công dân thông minh” phải đối mặt hiện nay.
Các thiết chế giáo dục đã không làm những việc này, và trừ một vài trường hợp hiếm hoi, hiện nay vẫn không làm. Chúng chỉ là những bậc thang thăng tiến về nghề nghiệp và xã hội, và ở mọi cấp độ, chúng trở nên rụt rè về chính trị. Hơn nữa, trong tay “các nhà giáo dục chuyên nghiệp”, nhiều trường đã bắt đầu hoạt động theo tư tưởng “điều chỉnh cuộc sống”, tức là khuyến khích việc vui vẻ chấp nhận lối sống đại chúng hơn là đấu tranh cho sự siêu việt của cá nhân và công chúng.i
i. A. E. Bestor viết: “Nếu các trường làm đúng việc của họ, chúng ta hy vọng các nhà giáo dục chỉ ra những thành tựu quan trọng không thể bàn cãi trong việc nâng cao dân trí quốc gia – có lẽ được đo đếm bằng lượng sách và tạp chí nghiêm túc tính theo đầu người được lưu hành lớn hơn, bằng việc không ngừng nâng cao thị hiếu các chương trình phim ảnh và phát thanh, bằng những tiêu chuẩn tranh luận chính trị cao hơn, bằng việc tăng cường tôn trọng tự do ngôn luận và tư tưởng, bằng việc giảm rõ rệt bằng chứng về thiểu năng trí tuệ cũng như việc người lớn không ngừng đọc các truyện tranh”.11
Không mấy ai nghi ngờ việc các nhà giáo dục hiện đại tụt hậu đã chỉnh sửa các khái niệm của họ về nội dung và thực hành giáo dục theo ý kiến của đại chúng. Họ không thực sự nói rõ những tiêu chuẩn về cấp độ văn hóa và sự khắc nghiệt của tri thức; thay vào đó, họ thường xử lý những chuyện vụn vặt như những chiêu trò hướng nghiệp và “điều chỉnh cuộc sống”, ý nói cuộc sống chậm chạp của đại chúng. “Các trường dân chủ” thường có nghĩa là thúc đẩy cái tầm thường về trí tuệ, đào tạo hướng nghiệp, lòng trung thành dân tộc, chỉ thế thôi.
6.
Các khuynh hướng cấu trúc của xã hội hiện đại và tính chất lôi kéo của các kỹ thuật truyền thông của nó đã tới điểm trùng hợp trong xã hội đại chúng, mà chủ yếu là một xã hội thành thị. Sự phát triển của thành phố lớn, việc tách biệt đàn ông và đàn bà thành những thói thường và môi trường nhỏ hẹp khác nhau làm họ mất cảm giác chắc chắn về tính toàn vẹn của mình như một khối công chúng. Thành viên công chúng trong các cộng đồng nhỏ hơn ít nhiều biết nhau, vì họ thường gặp nhau trong các khía cạnh của cuộc sống hằng ngày. Thành viên đại chúng trong một xã hội thành thị lớn biết nhau chỉ như những nhóm người trong các môi trường đặc biệt: người sửa xe hơi, cô gái chạy bàn phục vụ bạn bữa trưa, cô nhân viên bán hàng, người phụ nữ trông con bạn ở trường cả ngày. Khi mọi người gặp nhau theo những cách như vậy thì kiểu đánh giá vội vã và rập khuôn nở rộ. Hiện thực khác của con người không và không thể len qua được.
Chúng ta biết mọi người có xu hướng chọn những phương tiện truyền thông chính thức nào có thể khẳng định điều họ đã tin và thích. Nói cách khác, trong sự tách biệt ở thành phố lớn, họ có xu hướng tiếp xúc trực tiếp với ý kiến của những ai giống như ý kiến của họ. Những người khác có xu hướng coi nhẹ việc này. Trong xã hội thành thị lớn, họ có thái độ thờ ơ còn rõ hơn cả lối hành xử. Vì thế, họ không có xung đột quan điểm thực sự hay những vấn đề thực sự. Và khi gặp phải, họ có xu hướng coi nó là thô bạo.
Ngập đầu trong công việc hằng ngày, họ không vượt qua nổi cuộc sống ít nhiều chật hẹp của họ ngay cả chỉ bằng việc thảo luận, càng không phải bằng hành động. Họ không nhìn cấu trúc xã hội và vai trò của họ như một khối công chúng trong đó. Thành phố là một cấu trúc gồm những môi trường nhỏ như thế, và mọi người sống ở đó có xu hướng cách biệt nhau. Sự “đa dạng thú vị” của thành phố không khuyến khích đàn ông và đàn bà của “vành đai phòng ngủ”, tức là một tầng lớp ở ngoại ô, có thể suốt đời chỉ biết những người cùng tầng lớp mình. Nếu họ tìm gặp nhau, họ làm vậy chẳng qua vì khuôn mẫu cũ và hình ảnh định kiến về những sinh vật ở các môi trường khác. Mỗi người bị kẹt trong cái bẫy tầng lớp hạn chế của mình; mỗi người đều bị cắt khỏi những nhóm dễ xác định. Chính vì có những người trong môi trường hẹp ấy mà truyền thông đại chúng có thể tạo ra một thế giới giả tạo khác, cũng như một thế giới giả tạo ngay trong họ.
Công chúng sống trong nhiều hoàn cảnh nhưng họ có thể vượt qua được chúng – về mặt cá nhân thì bằng nỗ lực tri thức, về mặt xã hội thì bằng hành động chung. Bằng suy nghĩ, tranh luận, và hành động có tổ chức, một cộng đồng công chúng sẽ cảm thấy và trên thực tế sẽ tích cực ở những thời điểm thích hợp về cấu trúc.
Nhưng thành viên các nhóm quần chúng tồn tại trong nhiều hoàn cảnh và không thể thoát ra, dù bằng suy nghĩ hay bằng hành động, trừ trường hợp cực đoan do hành động “tự phát có tổ chức” của quan chức chính quyền trên một chiếc mô tô. Chúng ta vẫn chưa đi tới trường hợp cực đoan này, nhưng quan sát người thuộc đám quần chúng Mỹ sống ở thành phố, chắc chắn chúng ta có thể phải chuẩn bị tâm lý cho trường hợp này.
Chúng ta có thể nghĩ về nó như sau: Khi một nhóm người không có việc làm, cũng không tìm việc, chúng ta sẽ phải tìm kiếm nguyên nhân của tình hình trước mắt và đặc điểm của nó. Nhưng khi có 12 triệu người thất nghiệp, thì chúng ta không thể tin tất cả họ đột nhiên “lười biếng” và trở nên “vô tích sự”. Các nhà kinh tế học gọi đây là “thất nghiệp cấu trúc”, nghĩa là những người liên quan bản thân họ không thể kiểm soát được cơ hội việc làm của mình. Thất nghiệp cấu trúc không bắt nguồn trong xí nghiệp hay trong thị trấn, cũng không phải vì một xí nghiệp hay thị trấn làm hay không làm gì. Hơn nữa, có ít hoặc không có người bình thường nào trong xí nghiệp, trong thị trấn có thể làm được gì khi việc đó quét qua môi trường của anh ta.
Hiện nay, sự khác biệt này giữa cấu trúc xã hội và hoàn cảnh cá nhân là một trong những nghiên cứu quan trọng nhất của xã hội học. Nó cho chúng ta dễ hiểu vị trí của “công chúng” hôm nay ở Mỹ. Trong mọi lĩnh vực quan trọng của cuộc sống, việc mất ý thức về cấu trúc và chìm sâu vào cảm giác không quyền lực là một thực tế chủ yếu. Trong giới quân sự, việc này rõ nhất, vì ở đây vai trò của mọi người được giới hạn nghiêm ngặt; chỉ các vị trí chỉ huy cao nhất mới có thể thấy toàn bộ cấu trúc, và hơn nữa, cách nhìn này là một bí mật chính thức được canh giữ cẩn mật. Trong lĩnh vực lao động cũng thế, công việc mà mọi người đảm nhận ở các thang bậc kinh tế là những môi trường ít nhiều chật hẹp và những vị trí mà từ đó có thể nhìn bao quát toàn bộ quy trình sản xuất như một tổng thể có thể được tập trung, thì con người không những chẳng biết gì về sản phẩm và công cụ lao động của họ, mà còn không biết cả cấu trúc và các quy trình sản xuất. Trong trật tự chính trị, khi các tổ chức thấp hơn bị phân nhỏ và các tổ chức tầm trung được nhân rộng để đánh lạc hướng, thì không thể thấy toàn cục, không thể thấy tầng chóp bu, và không thể nêu những vấn đề mà trên thực tế sẽ quyết định toàn bộ cấu trúc trong đó họ sinh sống và có chỗ đứng.
Việc không thế thấy rõ cấu trúc hoặc vị trí có ý nghĩa quyết định đối với tâm trạng tiếc nuối trước việc mất cộng đồng. Trong thành phố lớn, việc chia thành các môi trường và phân chia rạch ròi công việc đã đến ngưỡng gần nhất với cá nhân và gia đình, vì dù thành phố không phải là đơn vị quyết định chính, nhưng nó thậm chí không thể được phần lớn công dân coi là cấu trúc trọn vẹn.
Một mặt, phạm vi và mức độ tập trung của cấu trúc ra quyết định ngày một tăng; và mặt khác, mọi người ngày càng được chia nhỏ vào các hoàn cảnh khác nhau. Ở cả hai phía, sự phụ thuộc vào các phương tiện truyền thông chính thức, trong đó có truyền thông giáo dục, ngày càng lớn. Nhưng người trong quần chúng không có được tầm nhìn rộng từ các phương tiện truyền thông này; thay vào đó là việc trải nghiệm bị rập khuôn, và rồi anh ta chìm sâu hơn vì trải nghiệm đó. Anh ta không thể tự tách mình ra để quan sát, nói gì tới đánh giá những gì anh ta đang trải nghiệm. Thay vì thảo luận nội bộ mà tôi gọi là cân nhắc, anh ta đồng hành cùng lời độc thoại vô thức liên tục trong suốt những trải nghiệm cuộc sống. Anh ta chẳng có chương trình gì của riêng mình: hoàn thành những việc đang có, không làm quá bất kỳ cái gì vào bất kỳ lúc nào, vì anh ta không và không thể vượt qua được hoàn cảnh hằng ngày của mình. Anh ta không thực sự hiểu biết kinh nghiệm hằng ngày của mình và những tiêu chuẩn thực sự của nó: anh ta buông xuôi, làm theo thói quen, lối hành xử của anh ta là kết quả pha trộn lung tung những tiêu chuẩn lộn xộn và những ước vọng chưa bị phê phán của những người mà anh ta thực sự không biết hoặc tin tưởng nếu có khi nào anh ta thực sự làm thế.
Anh ta coi mọi chuyện là bình thường, anh ta làm tốt nhất về chúng, anh ta cố gắng nhìn về phía trước – một năm hoặc có lẽ là hai, hoặc thậm chí dài hơn nếu anh ta có con hoặc vay thế chấp – nhưng anh ta không nghiêm túc hỏi: Tôi muốn gì? Làm sao tôi có được nó? Sự lạc quan mơ hồ tràn ngập làm anh ta vững tâm, thỉnh thoảng lại bị tan vỡ bởi những bất hạnh hoặc thất vọng nho nhỏ rồi nhanh chóng bị chôn vùi. Anh ta là người tự mãn theo quan điểm của những người nghĩ có gì đó có thể là vấn đề với lối sống của quần chúng trong cái xô bồ thành phố, nơi tự làm là loại công việc có vẻ bận rộn. Anh ta đánh giá mình và những cố gắng của mình theo tiêu chuẩn nào? Cái gì thực sự quan trọng đối với anh ta? Đâu là hình mẫu lý tưởng cho con người này?
Anh ta đánh mất sự độc lập của mình, và quan trọng hơn, mất đi ước muốn được độc lập: trên thực tế, trong suy nghĩ và lối sống của mình, anh ta không hiểu thế nào là một cá nhân độc lập. Không phải anh ta thích hay không thích cuộc sống này, mà là vấn đề này có vẻ không rõ ràng và sâu sắc nên anh ta không cay đắng hay ngọt bùi gì về hoàn cảnh và sự kiện. Anh ta nghĩ anh ta chỉ muốn có phần của mình trong những gì diễn ra xung quanh với càng ít rắc rối và với càng nhiều thú vui càng tốt.
Trật tự và chuyển dịch ấy trong cuộc sống của anh ta phù hợp với những việc bên ngoài; nếu không trải nghiệm hằng ngày của anh ta rất có thể sẽ là một mớ hỗn độn – mặc dù anh ta thường không biết về nó, vì nói một cách nghiêm túc, anh ta không thực sự sở hữu hoặc theo dõi trải nghiệm của chính mình. Anh ta không đặt ra ước muốn của mình; chúng cứ từ từ thấm vào anh ta. Và trong quần chúng, anh ta đánh mất sự tự tin của con người – nếu thực sự anh ta từng có nó. Vì cuộc sống trong một xã hội đại chúng gắn chặt với bất an và lại càng bất lực; nó làm con người luôn bồn chồn và lo lắng viển vông; nó tách biệt cá nhân khỏi nhóm vững chắc; nó phá hoại những tiêu chuẩn của nhóm bền vững. Hành động không có mục đích, con người trong quần chúng chỉ cảm thấy vô nghĩa.
Ý kiến về xã hội đại chúng gợi mở ý kiến về một giới tinh hoa quyền lực. Trái lại, ý kiến về công chúng gợi mở truyền thống tự do về một xã hội không có giới tinh hoa quyền lực, hoặc cùng lắm có giới tinh hoa đang thay đổi không để lại hậu quả nặng nề nhất. Vì nếu công chúng chân chính có quyền lực cao nhất, nó không cần người điều khiển; nhưng quần chúng, trong sự phát triển đầy đủ của mình, chỉ có quyền lực khi cần lấy lòng họ trong trưng cầu dân ý về một giới tinh hoa như người nổi tiếng có quyền lực. Cấu trúc chính trị của một nhà nước dân chủ cần có công chúng, và con người dân chủ phải hùng hồn khẳng định công chúng ấy chính là nơi có quyền lực cao nhất.
Nhưng giờ đây, trong bối cảnh mọi lực lượng mở rộng và tập trung trật tự chính trị và làm xã hội hiện đại bớt chính trị, nhiều quản lý hơn; trong bối cảnh chuyển hóa tầng lớp trung lưu cũ thành tầng lớp có lẽ thậm chí không thể được gọi là tầng lớp trung lưu; trong bối cảnh mọi phương tiện truyền thông đại chúng không thực sự chuyển tải thông tin; và trong bối cảnh thiếu các hội tình nguyện thực sự kết nối công chúng nói chung với các trung tâm quyền lực – những gì đang xảy ra là sự suy giảm của nhóm công chúng có quyền lực tối cao theo nghĩa chính thức và hoa mỹ nhất. Hơn nữa, ở nhiều nước, những nhóm công chúng còn lại ấy hiện nay vì hoảng sợ mà ngừng tồn tại. Họ mất đi ý chí đối với quyết định và hành động được xem xét hợp lý vì họ không có các công cụ cho quyết định và hành động đó; họ mất đi ý thức chính trị trong việc mình thuộc về đâu vì họ chẳng thuộc đâu cả; họ mất đi ý chí chính trị vì họ không thấy cách để thực hiện nó.
Tầng lớp chóp bu của xã hội hiện đại Mỹ ngày càng thống nhất, và thường có vẻ sẵn sàng phối hợp với nhau: ở trên cùng xuất hiện một giới tinh hoa quyền lực. Các cấp độ trung bình là một nhóm dễ thay đổi gồm các lực lượng bế tắc, do dự: tầng trung không liên kết tầng đáy với tầng thượng. Tầng đáy của xã hội này manh mún về chính trị, và thậm chí là một thực tế tiêu cực ngày càng bất lực: ở tầng đáy đang xuất hiện một xã hội đại chúng.