Tác giả kể lại lai lịch bản thân và gia đình; lý do đầu tiên khiến chàng đi phiêu lưu. Chàng bị đắm tàu, phải bơi để giữ mạng sống; dạt vào bờ đất nước Lilliput; bị bắt làm tù binh và bị áp giải vào sâu trong nội địa.
❀ ❀ ❀
Cha tôi có một điền trang nhỏ ở Nottinghamshire; tôi là con thứ ba trong năm anh em trai. Năm mười bốn tuổi, ông gửi tôi đến trường Đại học Emmanuel ở Cambridge. Tôi ở đó ba năm, dùi mài kinh sử miệt mài, nhưng vì gia cảnh không mấy khá giả, tiền trợ cấp eo hẹp không đủ để trang trải học phí, tôi đành phải đi làm học trò cho ông James Bates, một bác sĩ phẫu thuật danh tiếng ở London. Tôi theo ông ấy bốn năm, và thỉnh thoảng cha tôi có gửi chút tiền, tôi đều dùng hết vào việc học hàng hải và các môn toán học khác, vì tôi luôn tin rằng sớm muộn gì mình cũng có số đi phiêu lưu. Khi rời chỗ ông Bates, tôi về quê thăm cha, nhờ ông cùng chú John và vài người họ hàng giúp đỡ, tôi có được bốn mươi bảng Anh, kèm lời hứa chu cấp ba mươi bảng mỗi năm để tôi sang Leyden học tiếp. Ở đó, tôi học y khoa hai năm bảy tháng, vì biết rằng kiến thức này sẽ rất hữu ích cho những chuyến đi dài ngày trên biển.
Vừa từ Leyden trở về, tôi được sư phụ Bates tốt bụng tiến cử làm bác sĩ phẫu thuật trên tàu "Swallow" do thuyền trưởng Abraham Pannell chỉ huy. Tôi theo tàu được ba năm rưỡi, thực hiện vài chuyến hải hành sang vùng Levant và vài nơi khác. Trở về, tôi quyết định định cư ở London; sư phụ Bates cũng khuyến khích và giới thiệu tôi với nhiều bệnh nhân. Tôi thuê một phần căn nhà nhỏ ở Old Jewry; và theo lời khuyên, tôi quyết định lập gia đình với bà Mary Burton, con gái thứ của ông Edmund Burton, một người bán tất ở phố Newgate, cùng với bốn trăm bảng làm của hồi môn.
Nhưng chẳng may, hai năm sau sư phụ Bates qua đời. Tôi lại chẳng có mấy bạn bè, việc làm ăn bắt đầu sa sút, phần vì lương tâm không cho phép tôi bắt chước những thói hư tật xấu của quá nhiều đồng nghiệp. Sau khi bàn bạc với vợ và vài người quen, tôi quyết định quay lại nghề đi biển. Tôi làm bác sĩ phẫu thuật qua hai đời tàu, rong ruổi suốt sáu năm trời đến vùng Đông và Tây Ấn, nhờ đó cũng tích góp thêm được chút vốn liếng. Những giờ rảnh rỗi, tôi vùi đầu vào đọc những tác phẩm kinh điển, cổ kim đủ cả, vì tôi luôn mang theo nhiều sách bên mình. Khi lên bờ, tôi lại quan sát phong tục tập quán, lối sống của người bản địa, đồng thời học ngôn ngữ của họ—việc mà tôi làm rất nhanh nhờ trí nhớ tốt.
Chuyến đi cuối cùng không mấy suôn sẻ khiến tôi chán ngấy cảnh biển khơi, định bụng sẽ ở nhà với vợ con. Tôi chuyển từ Old Jewry sang Fetter Lane, rồi đến Wapping, hy vọng kiếm được việc làm trong đám thủy thủ, nhưng chẳng đâu vào đâu. Sau ba năm mòn mỏi chờ đợi mọi thứ khởi sắc, tôi chấp nhận lời đề nghị béo bở của thuyền trưởng William Prichard, chủ tàu "Antelope" đang chuẩn bị cho chuyến hải trình tới vùng Biển Nam. Chúng tôi nhổ neo rời Bristol vào ngày 4 tháng 5 năm 1699; khởi đầu chuyến đi rất suôn sẻ.
Vì vài lý do, kể lể chi tiết về những cuộc phiêu lưu trên biển cả vào lúc này e rằng không phải phép với độc giả. Chỉ cần biết rằng, trên đường từ đó sang Đông Ấn, chúng tôi gặp một cơn bão dữ dội, bị đánh dạt về phía tây bắc vùng Van Diemen's Land.
Qua quan sát, chúng tôi thấy mình đang ở vĩ độ 30 độ 2 phút nam. Mười hai thủy thủ đã chết vì kiệt sức và ăn uống kham khổ; số còn lại đều trong tình trạng vô cùng yếu ớt.
Vào ngày năm tháng Mười Một, khi ấy là đầu mùa hè ở vùng đó, thời tiết mù mịt, đám thủy thủ nhìn thấy một mỏm đá chỉ cách tàu chừng nửa chiều dài dây cáp. Nhưng gió quá mạnh, thuyền đâm thẳng vào đá rồi vỡ tan tành ngay lập tức. Sáu người chúng tôi, trong đó có tôi, hạ được chiếc thuyền cứu sinh xuống nước, cố gắng chèo thoát khỏi con tàu và mỏm đá ấy. Tôi tính toán chúng tôi đã chèo được khoảng ba dặm biển cho đến khi không thể chèo thêm được nữa vì đã kiệt sức từ lúc còn trên tàu. Chúng tôi đành phó mặc số phận cho những con sóng; chừng nửa giờ sau, một cơn gió giật từ hướng bắc ập đến lật úp chiếc thuyền. Tôi không biết đồng đội của mình trên thuyền, cũng như những người thoát được lên mỏm đá hay còn kẹt lại trên tàu, số phận ra sao, nhưng tôi tin là họ đều đã bỏ mạng cả rồi.
Về phần mình, tôi bơi theo dòng nước đẩy, gió thổi. Nhiều lần tôi thả chân xuống nhưng không chạm đáy; khi tôi gần như đã hết hơi, không thể cố thêm được nữa, tôi chợt thấy chân chạm đất; lúc này bão cũng đã dịu đi nhiều.
Độ dốc rất thoải nên tôi đi bộ gần một dặm mới lên đến bờ; tôi đoán chừng lúc đó đã tám giờ tối. Tôi đi tiếp thêm nửa dặm nữa nhưng chẳng thấy bóng dáng nhà cửa hay người ở; hoặc giả do quá yếu nên tôi không nhìn ra. Tôi mệt lả, cộng thêm thời tiết nóng bức và nửa panh rượu mạnh đã uống từ lúc rời tàu, tôi thấy buồn ngủ díp mắt. Tôi nằm xuống đám cỏ ngắn và mềm, thiếp đi một giấc sâu hơn bất cứ lần nào trong đời, tôi đoán chừng khoảng chín tiếng; vì khi tỉnh dậy, trời đã sáng rõ. Tôi định đứng lên nhưng không cử động nổi: vì khi nằm ngửa, tôi thấy hai tay hai chân mình bị ghim chặt xuống đất, cả mái tóc dài và dày cũng bị buộc chặt y như vậy. Tôi còn cảm thấy nhiều sợi dây mảnh buộc ngang người, từ nách xuống đến đùi. Tôi chỉ có thể nhìn lên, mặt trời bắt đầu gay gắt, ánh sáng làm mắt tôi đau nhức.
Tôi nghe thấy tiếng ồn ào hỗn loạn xung quanh; nhưng ở tư thế đang nằm, tôi chẳng thấy gì ngoài bầu trời. Một lúc sau, tôi thấy thứ gì đó còn sống đang bò trên chân trái, nó tiến dần lên ngực, đến sát tận cằm; khi cố hạ mắt nhìn xuống hết mức có thể, tôi nhận ra đó là một sinh vật giống con người, cao chưa đầy sáu inch, tay cầm cung tên, sau lưng đeo ống đựng tên. Trong lúc đó, tôi cảm thấy ít nhất bốn mươi tên nữa (tôi đoán thế) đang nối đuôi theo sau kẻ đầu tiên.
Tôi kinh ngạc tột độ, hét toáng lên khiến chúng hoảng sợ bỏ chạy tán loạn; và như sau này tôi được biết, vài đứa đã bị thương khi nhảy từ người tôi xuống đất. Tuy nhiên, chúng sớm quay lại, và một tên bạo dạn tiến đến gần để nhìn rõ mặt tôi, hắn giơ tay giơ mắt lên đầy kinh ngạc, rồi thét lên bằng giọng lanh lảnh nhưng rõ ràng: "Hekinah degul!" Những tên khác lặp lại y như vậy nhiều lần, lúc đó tôi chẳng hiểu chúng nói gì.
Độc giả có thể hiểu rằng, tôi nằm đó trong sự bứt rứt vô cùng. Cuối cùng, tôi cố vùng vẫy để thoát thân, và may mắn thay, tôi đã làm đứt những sợi dây và nhổ được các cọc ghim tay trái xuống đất; nhờ đưa tay lên mặt, tôi mới phát hiện ra cách chúng trói mình. Đồng thời, tôi giật mạnh một cái, đau điếng người, làm lỏng bớt những sợi dây buộc tóc bên trái, nhờ đó tôi mới quay được đầu khoảng hai inch.
Nhưng lũ sinh vật đó lại bỏ chạy lần nữa trước khi tôi kịp tóm lấy chúng; sau đó có tiếng hét lớn với giọng lanh lảnh, rồi khi tiếng hét dứt, tôi nghe thấy một tên thét lên: "Tolgo phonac!" Ngay lập tức, tôi cảm thấy hơn một trăm mũi tên bắn vào tay trái, châm chích như kim châm; chưa hết, chúng còn bắn thêm một loạt lên không trung, giống như cách chúng ta ném bom ở châu Âu, tôi đoán nhiều mũi đã rơi trúng người tôi (dù tôi không cảm thấy gì) và vài mũi rơi trúng mặt, khiến tôi phải lấy tay trái che lại ngay.
Khi loạt tên đã dứt, tôi rên rỉ vì đau đớn, rồi lại cố vùng vẫy, chúng liền bắn tiếp một loạt nữa còn dày đặc hơn lần đầu, và vài tên còn dùng giáo đâm vào sườn tôi; nhưng thật may là tôi có mặc chiếc áo khoác da bò, nên chúng không đâm thủng được. Tôi nghĩ cách khôn ngoan nhất lúc này là nằm im, và dự định cứ nằm vậy cho đến đêm, khi tay trái đã được tháo lỏng, tôi có thể dễ dàng tự giải thoát; còn về đám người bản địa này, tôi tin chắc mình thừa sức đối đầu với đạo quân đông đảo nhất mà chúng có thể huy động, nếu chúng chỉ cao bằng tên mà tôi đã thấy.
"TÔI NẰM ĐÓ TRONG SỰ BỨT RỨT VÔ CÙNG"

Nhưng số phận lại an bài khác. Khi thấy tôi nằm yên, chúng không bắn tên nữa: nhưng qua tiếng ồn, tôi biết số lượng chúng đang đông dần lên; cách tôi khoảng bốn thước, chếch về phía tai phải, tôi nghe thấy tiếng cọc cạch suốt hơn một giờ, như thể có người đang làm việc; khi quay đầu về phía đó, hết mức có thể trong giới hạn của các cọc và dây trói, tôi thấy một cái bục được dựng lên, cao hơn mặt đất chừng một foot rưỡi, đủ chỗ cho bốn người đứng, kèm hai ba cái thang để leo lên; từ trên đó, một tên trông có vẻ là quý tộc đọc một bài diễn văn dài, mà tôi chẳng hiểu lấy một từ.

Nhưng tôi quên chưa kể là trước khi nhân vật chính bắt đầu bài diễn văn, hắn hô vang ba lần: "Langro debul san" (những từ này và từ trước đó sau này được lặp lại và giải thích cho tôi). Ngay lập tức, khoảng năm mươi người chạy đến cắt đứt những sợi dây buộc bên trái đầu tôi, cho phép tôi quay đầu sang phải, và quan sát gương mặt cũng như điệu bộ của kẻ đang diễn thuyết. Hắn trông chạc tuổi trung niên, cao hơn hẳn ba tên tùy tùng, trong đó có một tên là thị đồng đang giữ vạt áo cho hắn, tên này hình như còn cao hơn ngón tay giữa của tôi một chút; hai tên kia đứng hai bên để đỡ hắn. Hắn diễn thuyết ra trò, tôi quan sát thấy nhiều đoạn hắn đe dọa, nhiều đoạn lại hứa hẹn, tỏ vẻ thương hại và tử tế.
Tôi trả lời bằng vài từ, nhưng với thái độ phục tùng nhất, giơ tay trái và cả hai mắt lên trời như để làm chứng: và vì đang đói lả, chẳng ăn miếng nào suốt mấy tiếng trước khi rời tàu, tôi thấy cơn đói bùng lên dữ dội đến nỗi không kìm được mà phải ra hiệu (có lẽ hơi thiếu lịch sự) bằng cách đưa ngón tay lên miệng nhiều lần để ra hiệu rằng tôi muốn ăn. Tên "hurgo" (sau này tôi mới biết đó là danh từ chỉ đại quý tộc) hiểu ý tôi ngay. Hắn bước xuống bục, ra lệnh đặt nhiều chiếc thang lên người tôi; hơn một trăm tên leo lên, đi về phía miệng tôi, vác theo những giỏ đựng đầy thịt, vốn đã được vua ra lệnh chuẩn bị và gửi đến đó ngay khi nhận được tin báo đầu tiên về tôi.
Tôi thấy có thịt của nhiều loại động vật, nhưng nếm không phân biệt được. Có những miếng vai, chân, thăn, hình dáng như thịt cừu, chế biến rất ngon, nhưng còn nhỏ hơn cả cánh chim sơn ca. Tôi ăn một lúc hai ba miếng, và mỗi lần nhai ba cái bánh mì, to cỡ viên đạn súng hỏa mai. Chúng cung cấp thức ăn cho tôi hết sức có thể, thể hiện hàng ngàn biểu cảm kinh ngạc và sửng sốt trước thân hình và sức ăn của tôi. Sau đó tôi lại ra hiệu là tôi muốn uống.
Nhận thấy chừng đó là chưa đủ, mà lại là những con người cực kỳ khéo léo, chúng rất nhanh nhẹn buộc dây vào một trong những cái thùng lớn nhất, lăn nó về phía tay tôi, rồi cạy nắp: tôi nốc cạn một hơi; làm vậy cũng dễ thôi vì thùng chứa không đầy nửa panh, vị như rượu vang Burgundy loại nhẹ, nhưng ngon hơn nhiều. Chúng mang cho tôi thùng thứ hai, tôi uống cũng một hơi rồi ra hiệu muốn uống nữa; nhưng chúng không còn gì để đưa.
Khi tôi đã trình diễn những "kỳ tích" đó xong, chúng reo hò vui sướng, nhảy múa trên ngực tôi, lặp đi lặp lại nhiều lần như lúc đầu: "Hekinah degul!" Chúng ra hiệu cho tôi ném hai cái thùng xuống, nhưng trước đó phải cảnh báo đám đông bên dưới tránh ra, hét lớn: "Borach nevola!"; và khi thấy những cái thùng bay trên không trung, cả đám đông đồng thanh reo hò "Hekinah degul!"
Thú thật, trong lúc chúng đi lại trên người mình, tôi nhiều lần muốn tóm lấy bốn mươi, năm mươi tên đầu tiên trong tầm tay rồi đập chúng xuống đất. Nhưng nhớ lại nỗi đau mình đã nếm trải, thứ mà có lẽ chưa phải là tồi tệ nhất chúng có thể làm, cùng với lời hứa danh dự mà tôi đã đưa ra — vì tôi đã hiểu thái độ phục tùng của mình như vậy — đã sớm dập tắt những ý nghĩ đó. Hơn nữa, giờ đây tôi coi mình như bị ràng buộc bởi luật hiếu khách với một dân tộc đã đối đãi với mình bằng sự tốn kém và xa hoa đến vậy. Tuy nhiên, trong thâm tâm, tôi không khỏi kinh ngạc trước sự gan dạ của những sinh vật nhỏ bé này, dám leo lên người tôi đi lại, trong khi một tay tôi vẫn được tự do, mà không hề run sợ khi nhìn thấy một sinh vật khổng lồ như tôi đối với chúng.
"TRÌNH GIẤY ỦY NHIỆM."

Một lúc sau, khi thấy tôi không đòi ăn thêm nữa, một nhân vật cấp cao từ chỗ hoàng đế xuất hiện trước mặt tôi. Ngài đại thần này, sau khi leo lên bắp chân phải của tôi, tiến về phía mặt tôi cùng khoảng chục tùy tùng: và, rút giấy ủy nhiệm có đóng ấn hoàng gia ra, áp sát vào mắt tôi, rồi diễn thuyết khoảng mười phút, không hề có vẻ giận dữ mà đầy vẻ quyết đoán, thường chỉ tay về phía trước, nơi tôi biết sau này là thủ đô cách đó nửa dặm, nơi hoàng đế và triều đình đã đồng ý rằng tôi phải được áp giải đến đó. Tôi trả lời bằng vài từ, nhưng chẳng ăn thua, rồi ra hiệu bằng bàn tay tự do, đưa nó về phía tay kia (nhưng vòng qua đầu ngài đại thần vì sợ làm đau ngài hoặc đoàn tùy tùng) rồi chỉ vào đầu và thân mình, để báo rằng tôi muốn được tự do.
Có vẻ ngài hiểu tôi khá rõ, vì ngài lắc đầu vẻ không đồng ý, rồi giơ tay ra hiệu rằng tôi phải bị áp giải như một tù binh. Tuy nhiên, ngài làm vài động tác khác cho tôi hiểu rằng tôi sẽ được ăn uống đầy đủ và được đối đãi rất tốt. Đến lúc này, tôi lại nghĩ đến việc thử phá xiềng xích; nhưng một lần nữa, khi cảm thấy vết đau từ những mũi tên trên mặt và tay—đang bị phồng rộp—cùng nhiều mũi tên vẫn còn cắm trên đó, lại thấy số lượng kẻ địch đang tăng lên, tôi bèn ra hiệu cho chúng biết rằng chúng muốn làm gì thì làm. Sau đó, vị "hurgo" cùng tùy tùng rút lui với thái độ lịch sự và nét mặt tươi tỉnh.
Chẳng bao lâu sau, tôi nghe thấy một tiếng reo hò vang dội, cùng những từ "Peplom selan" lặp đi lặp lại nhiều lần, và tôi cảm thấy rất đông người ở bên trái, nới lỏng những sợi dây đến mức tôi có thể xoay sang bên phải và thấy dễ chịu hơn một chút. Nhưng trước đó, chúng đã bôi lên mặt và hai tay tôi một loại thuốc mỡ có mùi rất dễ chịu, chỉ vài phút sau đã làm dịu hết vết đau do những mũi tên gây ra. Những điều này, cộng với sự sảng khoái nhờ thức ăn và đồ uống rất bổ dưỡng, khiến tôi buồn ngủ. Tôi ngủ khoảng tám tiếng, như sau này tôi được đảm bảo; cũng chẳng lạ gì, vì các thái y theo lệnh hoàng đế đã pha một liều thuốc ngủ vào những thùng rượu.
Có vẻ ngay khoảnh khắc tôi được phát hiện đang nằm ngủ trên mặt đất sau khi dạt vào bờ, hoàng đế đã nhận được tin báo sớm qua một người đưa thư cấp tốc; và đã quyết định ngay trong buổi họp triều đình rằng tôi phải bị trói theo cách tôi đã kể (việc này được làm vào ban đêm trong lúc tôi ngủ), rằng tôi phải được cung cấp đầy đủ đồ ăn thức uống, và phải chuẩn bị một cỗ máy để chở tôi về thủ đô.
Quyết định này, có lẽ, trông rất táo bạo và nguy hiểm, và tôi tin chắc sẽ chẳng có vị quân vương nào ở châu Âu dám bắt chước trong tình huống tương tự. Tuy nhiên, theo tôi, nó vô cùng khôn ngoan và cũng đầy hào hiệp; vì nếu những người này cố giết tôi bằng giáo và tên khi tôi đang ngủ, tôi chắc chắn sẽ thức giấc ngay khi cảm thấy đau, cơn giận dữ và sức mạnh có thể bùng phát đến mức giúp tôi bứt đứt những sợi dây trói; sau đó, vì chúng không thể chống cự, chúng cũng chẳng thể mong đợi lòng thương xót.
Những người này là những nhà toán học xuất sắc, đạt đến độ hoàn hảo về cơ khí nhờ sự ủng hộ và khuyến khích của hoàng đế, một người bảo trợ danh tiếng cho sự học. Đức vua có nhiều cỗ máy gắn trên bánh xe để vận chuyển cây cối và các vật nặng khác. Ngài thường xây dựng những chiếc tàu chiến lớn nhất, có chiếc dài chín feet, ngay trong rừng nơi gỗ mọc, rồi dùng những cỗ máy này chở chúng ba bốn trăm thước ra biển. Năm trăm thợ mộc và kỹ sư lập tức được điều đến, bắt tay vào việc chuẩn bị cỗ máy lớn nhất mà họ có. Đó là một khung gỗ, cao ba inch so với mặt đất, dài khoảng bảy feet và rộng bốn feet, di chuyển trên hai mươi hai bánh xe. Tiếng reo hò tôi nghe được chính là khi cỗ máy này đến nơi; dường như nó bắt đầu khởi hành bốn tiếng sau khi tôi dạt vào bờ. Nó được đặt song song với chỗ tôi nằm. Nhưng khó khăn chính là nâng và đặt tôi lên chiếc xe này.
Tám mươi cái cột, mỗi cái cao một foot, được dựng lên cho mục đích này, và những sợi dây rất chắc, to cỡ dây chỉ, được buộc bằng móc vào nhiều dải băng mà đám thợ đã quấn quanh cổ, tay, mình và chân tôi. Chín trăm người khỏe nhất được huy động để kéo những sợi dây này bằng nhiều ròng rọc gắn trên cột; và thế là, trong vòng chưa đầy ba tiếng, tôi đã được nâng lên, quăng vào cỗ máy và trói chặt lại.

Tất cả những điều này tôi đều được nghe kể lại; vì trong suốt quá trình đó, tôi nằm ngủ mê mệt do liều thuốc gây mê được pha vào rượu. Một nghìn năm trăm con ngựa lớn nhất của hoàng đế, mỗi con cao khoảng bốn inch rưỡi, được dùng để kéo tôi về kinh thành, nơi tôi đã nói, cách đó nửa dặm.
Khoảng bốn tiếng sau khi bắt đầu hành trình, tôi tỉnh giấc vì một tai nạn buồn cười; vì xe dừng lại một chút để chỉnh sửa thứ gì đó, hai ba người bản địa trẻ tuổi tò mò muốn xem tôi trông như thế nào khi ngủ. Chúng leo lên cỗ máy, tiến lại gần mặt tôi rất khẽ, một tên trong đội cận vệ đưa đầu nhọn cây giáo ngắn của hắn chọc mạnh vào lỗ mũi trái tôi, làm tôi nhột như bị cỏ chọc vào, khiến tôi hắt hơi dữ dội; ngay lập tức chúng lẻn đi mà không bị phát hiện, và phải ba tuần sau tôi mới biết nguyên nhân vì sao mình tỉnh giấc đột ngột như vậy.
Chúng tôi hành quân một quãng dài trong phần còn lại của ngày, và nghỉ đêm với năm trăm lính canh mỗi bên, một nửa cầm đuốc, một nửa cầm cung tên, sẵn sàng bắn tôi nếu tôi định nhúc nhích. Sáng hôm sau, lúc mặt trời mọc, chúng tôi tiếp tục hành quân và đến cách cổng thành hai trăm thước vào khoảng giữa trưa. Hoàng đế và toàn bộ triều thần ra đón; nhưng các quan đại thần nhất quyết không để hoàng đế mạo hiểm thân mình bằng cách leo lên người tôi.
Tại nơi cỗ xe dừng lại có một ngôi đền cổ, được coi là lớn nhất cả vương quốc, vốn đã bị ô uế vài năm trước bởi một vụ án mạng trái tự nhiên, nên theo sự cuồng tín của người dân, nó bị xem là không sạch sẽ, và đã bị đem ra sử dụng vào mục đích công cộng, mọi đồ trang trí và nội thất đều đã bị di dời. Tại tòa nhà này, người ta quyết định cho tôi trú ngụ. Cổng lớn hướng về phía bắc cao khoảng bốn feet và rộng gần hai feet, tôi có thể dễ dàng bò qua. Hai bên cổng có một cái cửa sổ nhỏ, cao không quá sáu inch so với mặt đất; vào cái bên trái, thợ rèn của nhà vua nhét bốn mươi mốt cái xích, giống những sợi xích treo đồng hồ đeo tay của quý bà ở châu Âu, kích thước cũng gần tương đương, chúng được khóa vào chân trái tôi bằng ba mươi sáu cái ổ khóa.

Đối diện ngôi đền này, bên kia đường lộ lớn, cách xa hai mươi feet, có một cái tháp cao ít nhất năm feet. Tại đây, hoàng đế lên cùng nhiều chúa tể cao cấp trong triều để có cơ hội quan sát tôi, như tôi được nghe kể, vì tôi không thể nhìn thấy họ. Người ta tính toán rằng có hơn một trăm nghìn cư dân đã ra khỏi thị trấn vì mục đích này; và bất chấp sự ngăn cản của lính canh, tôi tin rằng phải có không dưới mười nghìn lượt người đã leo lên người tôi nhờ những chiếc thang. Nhưng một sắc lệnh sớm được ban hành để cấm việc đó, dưới hình phạt tử hình.
Khi đám thợ thấy rằng tôi không thể nào tự bứt ra được, chúng cắt hết những sợi dây trói tôi; lúc đó tôi đứng dậy, lòng đầy sầu thảm hơn bao giờ hết trong đời. Nhưng tiếng ồn và sự kinh ngạc của đám đông khi thấy tôi đứng dậy và đi lại thì không lời nào tả xiết. Những sợi xích giữ chân trái tôi dài khoảng hai thước, cho phép tôi không chỉ đi lại qua lại trong một hình bán nguyệt, mà vì được cố định cách cổng bốn inch, nó còn cho phép tôi bò vào bên trong và nằm duỗi thẳng người trong ngôi đền.

