
Thật kỳ lạ, con người ta chẳng mấy khi duy trì được sự thỏa mãn quá dăm ba phút. Mới cách đây một quãng, khi còn đang bì bõm cỡi ngựa chịu đủ bề khổ ải, tôi đã ngỡ chốn thanh bình nghỉ ngơi này, sự tĩnh lặng êm đềm bên dòng suối róc rách râm mát này hẳn là cõi thiên đường — nơi tôi chỉ việc thi thoảng múc một gáo nước tưới vào trong giáp là cả người đã khoan khoái vô cùng. Ấy thế mà giờ đây tôi đã bắt đầu bực dọc; một phần vì không châm nổi tẩu thuốc — dẫu đã mở hẳn một xưởng diêm từ lâu, tôi lại đãng trí quên mang theo bao nào bên mình — và phần khác vì bụng đói meo mà chẳng có gì bỏ miệng. Đây lại là một minh chứng nữa cho sự vô lo ngây thơ như con trẻ của thời đại và con người nơi này. Một gã khoác giáp sắt đi đường xa chỉ biết phó mặc cái bụng cho may rủi, và hẳn sẽ giãy nảy lên phẫn nộ nếu ai đó bảo gã treo một giỏ bánh mì kẹp lên mũi giáo. Có lẽ chẳng một hiệp sĩ nào trong toàn bộ cái phường Bàn Tròn kia thà chịu chết chứ quyết không mang một thứ như thế trên cán cờ của mình. Vậy mà trần đời còn có điều gì hợp lý hơn thế cơ chứ! Vốn dĩ tôi đã toan giấu nhẹm hai ổ bánh kẹp vào trong mũ sắt, nhưng giữa chừng bị bắt gặp nên đành viện cớ đặt sang một bên, rốt cuộc bị một con chó tha mất tích.
Đêm dần buông, kéo theo một cơn dông bão. Bóng tối sập xuống rất nhanh. Lẽ dĩ nhiên là chúng tôi phải hạ trại. Tôi tìm được một chỗ trú khá tốt cho tiểu thư dưới gầm một tảng đá, rồi lui ra tìm cho mình một góc khác. Khổ nỗi tôi buộc phải ngủ nguyên trong bộ giáp, bởi tự tôi không cởi ra được, mà để Alisande giúp thì lại chẳng khác nào trút xiêm y trước mắt bàn dân thiên hạ. Thực chất thì cũng chẳng đến mức ấy, vì bên trong tôi vẫn mặc quần áo; nhưng những định kiến ăn sâu vào nếp giáo dưỡng từ nhỏ đâu thể gạt phăng đi trong chốc lát, và tôi thừa hiểu đến lúc phải lột bỏ cái váy sắt cụt ngủn ấy ra, tôi sẽ ngượng ngùng đến chừng nào.
Cơn dông mang theo sự đổi thay của thời tiết; gió càng gầm rít, mưa càng quất xối xả thì trời lại càng rét căm căm. Chẳng bao lâu sau, đủ loại bọ, kiến, sâu bọ các kiểu thi nhau lũ lượt bò vào từ màn mưa ẩm ướt, chui tọt vào trong áo giáp của tôi để tìm hơi ấm. Một số con còn biết điều, chịu rúc ngoan ngoãn vào nếp áo tôi rồi nằm im, nhưng phần lớn lại thuộc cái giống hiếu động, khó ở, chẳng bao giờ chịu ngồi yên một chỗ mà cứ tha thẩn lùng sục chẳng biết để tìm cái nỗi gì; đặc biệt là lũ kiến, chúng cứ rồng rắn diễu hành hàng giờ liền khắp từ đầu đến chân tôi gây ngứa ngáy đến phát điên, quả là cái giống sinh vật tôi chẳng bao giờ muốn chung chăn gối lần thứ hai. Tôi xin có lời khuyên cho những ai rơi vào hoàn cảnh này: tuyệt đối chớ có lăn lộn hay quẫy đạp, bởi làm thế chỉ tổ kích thích sự tò mò của đủ loài sâu bọ, khiến từng con một đều muốn bò ra ngó nghiêng xem có biến gì, và tình hình sẽ chỉ tệ hại hơn, để rồi bạn lại phải buông lời nguyền rủa thậm tệ hơn nữa nếu còn hơi sức. Nhưng ngặt nỗi, nếu không cựa quậy quẫy đạp thì người ta cũng chết nghẹt mất; thành thử làm cách này hay cách kia phỏng có khác gì nhau, rốt cuộc chẳng có lối thoát nào thực sự. Ngay cả khi người tôi đã đông cứng lại vì lạnh, tôi vẫn cảm nhận mồn một cái cảm giác ngứa ngáy bò ran ấy, hệt như một cái xác chết bị giật điện vậy. Tôi tự nhủ sau chuyến đi này, đời nào tôi thèm mặc giáp nữa.
Suốt những canh giờ đày ải ấy, khi toàn thân vừa lạnh buốt lại vừa như bị thiêu trong chảo lửa sống do đám sâu bọ cắn xé, một câu hỏi nan giải cứ lởn vởn mãi trong tâm trí rệu rã của tôi: Làm sao mà người ta có thể chịu đựng nổi cái thứ giáp sắt khốn khổ này? Bằng cách nào mà họ đã sống chung với nó qua bao thế hệ? Làm sao họ có thể chợp mắt vào ban đêm khi nỗi kinh hoàng về những cực hình của ngày hôm sau cứ chực chờ?
Khi bình minh rốt cuộc cũng ló rạng, tình cảnh của tôi thảm hại khôn cùng: bơ phờ, ngái ngủ, kiệt sức vì mất ngủ; rã rời vì quằn quại suốt đêm, đói lả vì nhịn ăn quá lâu; thèm khát một bồn nước tắm để gột sạch lũ sâu bọ; và toàn thân bại liệt vì chứng thấp khớp. Còn vị tiểu thư lá ngọc cành vàng, bậc quý tộc tước hiệu đàng hoàng, Demoiselle Alisande la Carteloise thì ra sao? Ái chà, nàng tươi tắn như một con sóc nhỏ; nàng đã ngủ say như chết; và nhắc đến chuyện tắm rửa, có lẽ cả đời nàng cũng như bất kỳ quý tộc nào trên mảnh đất này chưa từng biết đến một bồn tắm là gì, nên nàng chẳng mảy may bận tâm. Đem thước đo của thời hiện đại ra mà xét, những người này chẳng qua chỉ là lũ người man rợ đã được gọt giũa đôi chút mà thôi. Nàng quý cô tôn nghiêm này chẳng hề tỏ vẻ sốt ruột đòi ăn sáng — và cái nét ấy cũng sặc mùi man dã. Trong những chuyến đi xa, người Briton xưa đã quen với những đợt nhịn đói kéo dài và biết cách chịu đựng chúng; họ cũng biết cách nhồi nhét vào bụng một lượng thức ăn khổng lồ trước khi lên đường để phòng khi đứt bữa, chẳng khác nào loài trăn anaconda hay thổ dân da đỏ. Nhiều khả năng là Sandy đã nạp đủ năng lượng cho một mạch ba ngày liền.
Chúng tôi lên đường trước lúc mặt trời mọc, Sandy ngồi trên lưng ngựa còn tôi tập tễnh lê bước phía sau. Đi chừng nửa giờ, chúng tôi bắt gặp một toán dân nghèo rách rưới tụ tập lại để vá víu cái thứ mà người ta gọi là đường sá. Trước mặt tôi, họ khúm núm đê tiện chẳng khác nào súc vật; và khi tôi mở lời muốn dùng bữa sáng cùng họ, họ thụ sủng nhược kinh, choáng ngợp trước ân huệ hạ cố phi thường ấy đến mức ban đầu chẳng dám tin là tôi nói thật. Nàng tiểu thư của tôi bĩu môi khinh miệt rồi lùi sang một bên; nàng nói thẳng trước mặt họ rằng thà nàng ăn cùng lũ gia súc khác còn hơn — một lời nhận xét khiến đám dân khốn khổ ấy bối rối chỉ đơn thuần vì nó nhắm vào họ, chứ chẳng làm họ thấy bị lăng mạ hay phật ý, bởi họ đâu biết tự ái là gì. Vậy mà họ đâu phải nô lệ, đâu phải vật sở hữu. Nhờ một trò mỉa mai của luật pháp và câu chữ, họ được gọi là những người tự do. Bảy phần mười dân số tự do của đất nước này đều thuộc đúng tầng lớp và thân phận như họ: những nông dân nhỏ “tự do”, thợ thủ công, vân vân; nghĩa là chính họ mới là quốc gia, một Quốc gia đích thực; họ là gần như tất cả những gì hữu ích, đáng cứu rỗi, hay thực sự đáng được tôn trọng, và nếu gạt bỏ họ đi thì cũng tức là gạt bỏ cả Quốc gia, chỉ còn trơ lại đám cặn bã, thứ phế phẩm mang hình hài vua chúa, quý tộc và giới thân hào — những kẻ nhàn rỗi, ăn bám, chỉ quen thói phung phí và tàn phá, chẳng có lấy một chút giá trị hay công dụng nào trong một thế giới được xây dựng trên lẽ phải.

Thế nhưng, nhờ những mưu mô tinh xảo, cái thiểu số dát vàng ấy, thay vì phải đi ở đuôi đoàn người đúng như vị trí của nó, lại ngẩng cao đầu, giương cờ bay phấp phới ở vị trí dẫn đầu; nó tự phong mình là Quốc gia, và hàng triệu con người câm nín như loài sò hến kia đã cam chịu điều đó quá lâu đến mức cuối cùng họ chấp nhận nó như một chân lý; không những thế, họ còn tin rằng điều đó là đúng đắn và lẽ tự nhiên phải thế. Giới tăng lữ đã rỉ tai cha ông họ và chính họ rằng cái thực trạng trớ trêu này là do Chúa an bài; thế là, chẳng hề nghĩ ngợi xem liệu Chúa có bao giờ rảnh rỗi tự hạ mình đi đùa cợt bằng những trò mỉa mai trơ trẽn đến thế không, họ buông xuôi chấp nhận và ngoan ngoãn phục tùng trong im lặng.

Lời ăn tiếng nói của những con người nhu mì này nghe thật kỳ quặc dưới đôi tai của một kẻ từng là người Mỹ. Họ là người tự do, nhưng không được phép rời khỏi thái ấp của lãnh chúa hay giám mục nếu không có sự ân chuẩn; họ không được tự làm bánh mì cho mình, mà phải đem ngô đến xay ở cối xay của ngài và nướng ở lò của ngài, rồi trả những món tiền cắt cổ; họ không được bán một mảnh đất của chính mình nếu không trích lại cho ngài một phần trăm béo bở, cũng chẳng thể mua đất của người khác nếu không đút lót tiền mặt để xin ngài ban đặc ân; họ phải đi gặt lúa không công cho ngài, và phải có mặt ngay khi có lệnh gọi, đành lòng bỏ mặc mùa màng của chính mình bị mưa bão đe dọa tàn phá; họ phải để ngài trồng cây ăn quả trên ruộng của họ, rồi phải nuốt cục tức vào trong khi đám người hái quả vô tâm của ngài giẫm nát lúa xung quanh gốc cây; họ phải nén giận khi những đoàn đi săn của ngài phi ngựa qua đồng ruộng, xéo nát thành quả lao động nhọc nhằn bao ngày; họ không được phép nuôi chim bồ câu, và khi đàn bồ câu từ chuồng của ngài sà xuống phá hoại mùa màng, họ không được nóng giận mà giết lấy một con, bởi hình phạt sẽ vô cùng khủng khiếp; khi mùa màng cuối cùng cũng thu hoạch xong, một đoàn cướp ngày lại lũ lượt kéo đến tống tiền: đầu tiên là Giáo hội chở đi một phần mười béo bở, rồi đến khâm sai của nhà vua thu một phần hai mươi, kế đó gia nhân của lãnh chúa lại xông vào xâu xé một mảng lớn trong phần còn lại; sau tất cả những thứ đó, người tự do bị lột da kia mới được phép mang mẩu thừa thãi cất vào kho thóc, nếu nó còn bõ công cất; rồi thuế, lại thuế, và thuế, thêm thuế nữa, lại chồng thuế, và hằng hà sa số các loại thuế khác — tất thảy trút lên đầu kẻ khốn cùng tự do và độc lập này, nhưng tuyệt nhiên không một đồng nào đánh vào vị lãnh chúa nam tước hay đức giám mục, không một cắc nào đánh vào tầng lớp quý tộc xa hoa hay Giáo hội tham lam vô độ; nếu ngài nam tước muốn ngủ một giấc yên lành, người tự do sau một ngày làm việc cật lực phải thức trắng đêm cầm roi đập nước để lũ ếch nhái nín lặng; nếu con gái người tự do... nhưng thôi, cái nỗi ô nhục tột cùng của chế độ quân chủ ấy là thứ không thể đem in thành lời; và cuối cùng, nếu người tự do cùng đường vì bị đày đọa, thấy cuộc đời dưới những gông cùm ấy không còn sống nổi nữa mà liều mình tìm đến cái chết như một sự giải thoát và nơi nương náu đầy lòng thương xót, thì Giáo hội nhân từ kết án anh ta xuống hỏa ngục đời đời, luật pháp nhân từ đem chôn anh ta vào lúc nửa đêm nơi ngã tư đường với một chiếc cọc đâm xuyên qua lưng, còn chủ nhân của anh ta, ngài nam tước hoặc đức giám mục, sẽ tịch thu toàn bộ gia sản và đuổi cổ vợ góa con côi của anh ta ra đầu đường xó chợ.

Và đây, những người tự do này đang tụ họp từ sáng sớm tinh sương để đi làm đường không công cho đức giám mục lãnh chúa của họ suốt ba ngày ròng; mỗi chủ hộ, và mỗi người con trai trong nhà, ba ngày ròng rã không một đồng thù lao, lại còn phải thêm một đôi ngày cho đám người hầu của họ nữa. Chao ôi, cảnh tượng này giống hệt như những trang sách viết về nước Pháp và người Pháp trước cuộc Đại Cách mạng thiêng liêng lưu danh muôn thuở — cuộc cách mạng đã quét sạch cả ngàn năm bạo tàn ấy chỉ trong một cơn sóng thần đẫm máu; một sự thanh toán món nợ truyền kiếp với cái giá vỏn vẹn nửa giọt máu cho mỗi thùng máu khổng lồ đã bị vắt kiệt bằng những nhục hình chậm rãi từ người dân suốt mười thế kỷ đằng đẵng của bất công, sỉ nhục và khốn cùng, thứ địa ngục trần gian mà chỉ có ở chốn âm ty mới sánh bằng. Có đến hai “Thời kỳ Khủng bố”, nếu chúng ta chịu nhớ lại và suy xét cho thấu đáo: một bên giết người trong cơn cuồng nộ sôi sục, bên kia giết người bằng sự máu lạnh vô tâm; một bên chỉ kéo dài vài tháng, bên kia đã đè nặng suốt cả nghìn năm; một bên cướp đi sinh mạng của mười ngàn người, bên kia đã chôn vùi một trăm triệu con người; thế nhưng chúng ta lại chỉ biết rùng mình trước “sự kinh hoàng” của cuộc Khủng bố nhỏ bé hơn, cuộc Khủng bố chỉ diễn ra trong chớp mắt; trong khi đó, nỗi kinh hãi của một cái chết chớp nhoáng dưới lưỡi rìu phỏng có thấm tháp gì so với một đời người chết dần chết mòn vì đói khát, giá lạnh, sỉ nhục, tàn bạo và tan nát cõi lòng? Cái chết nhanh gọn vì sét đánh sao sánh được với cái chết cháy từ từ trên giàn hỏa? Một nghĩa trang thành phố là đủ chứa hết những cỗ quan tài của cuộc Khủng bố ngắn ngủi mà tất cả chúng ta đều được dạy dỗ kỹ càng để run rẩy và than khóc; nhưng cả nước Pháp rộng lớn cũng khó lòng dung chứa hết những cỗ quan tài của cuộc Khủng bố xưa cũ và đích thực kia — cuộc Khủng bố cay đắng tột cùng và kinh hoàng khôn xiết mà chẳng ai trong chúng ta từng được dạy để nhìn thấu sự vĩ đại đầy oan khuất của nó hay xót thương nó như nó xứng đáng được nhận.
Những người mang danh tự do khốn khổ đang sẻ chia bữa sáng và chuyện trò cùng tôi đây, lại tràn trề lòng tôn kính cúc cung tận tụy đối với nhà vua, Giáo hội và tầng lớp quý tộc đến mức ngay cả kẻ thù tồi tệ nhất của họ cũng chẳng dám mong gì hơn. Cảnh tượng ấy vừa đáng thương lại vừa nực cười cay đắng. Tôi hỏi họ liệu họ có nghĩ rằng trên đời từng tồn tại một dân tộc nào, khi mỗi người đàn ông đều cầm trong tay một lá phiếu tự do, lại đi bầu cho một gia tộc duy nhất cùng con cháu của nó cai trị mình mãi mãi, bất kể chúng là thiên tài hay lũ ngu xuẩn, và gạt bỏ mọi gia tộc khác — kể cả gia đình của chính cử tri đó; rồi lại còn bầu để nâng một trăm gia đình nào đó lên tột đỉnh danh vọng, khoác lên mình họ những vinh hoa và đặc quyền thế tập chướng tai gai mắt, đồng thời gạt phăng phần còn lại của đất nước — bao gồm cả gia đình của chính mình hay không.
Tất cả bọn họ đều ngơ ngác như đàn gảy tai trâu, đáp rằng họ không biết; họ chưa bao giờ nghĩ về điều đó, và cũng chưa từng mảy may nghĩ rằng một quốc gia lại có thể tồn tại theo cái cách mà mỗi người dân đều có tiếng nói trong việc triều chính. Tôi bảo tôi đã từng thấy một đất nước như thế — và nó sẽ trường tồn chừng nào nó chưa có một Quốc giáo. Lại một lần nữa, họ đực mặt ra — lúc ban đầu là thế. Nhưng một lát sau, một người đàn ông ngước lên, thỉnh cầu tôi giải thích lại luận điểm đó; và nói chậm thôi, để nó có thể ngấm vào đầu óc anh ta. Tôi làm theo; và chỉ một lúc sau, anh ta đã hiểu ra, anh ta nện mạnh nắm đấm xuống đất và tuyên bố rằng anh ta không tin có một dân tộc nào mà mỗi người đều có quyền bầu cử lại tự nguyện hạ mình chui rúc vào bùn nhơ nhếch nhác như thế; và rằng việc tước đoạt ý chí cùng nguyện vọng của một dân tộc hẳn phải là một tội ác, và là tội ác lớn nhất trong mọi tội ác. Tôi thầm nhủ:
“Người này là một đấng nam nhi đích thực. Nếu ta có đủ những kẻ như anh ta hậu thuẫn, ta sẽ làm một cuộc đảo chính vì vận mệnh của đất nước này, và chứng minh mình là người công dân trung thành nhất bằng cách đem lại một sự đổi thay lành mạnh cho thể chế cai trị của nó.”
Bạn thấy đấy, lòng trung thành của tôi là trung thành với tổ quốc, chứ không phải với các thể chế hay những kẻ đương chức. Tổ quốc mới là thực thể có thật, là nền tảng vững chắc, là điều trường tồn bất diệt; đó mới là thứ cần trông nom, chở che và cống hiến lòng trung; còn các thể chế chỉ là ngoại vật, chẳng qua là manh áo khoác ngoài, mà áo quần thì có thể sờn rách, tả tơi, không còn mặc vừa nữa, và chẳng thể bảo vệ cơ thể trước mùa đông, bệnh tật cùng cái chết. Trung thành với giẻ rách, tung hô giẻ rách, tôn thờ giẻ rách, chết vì giẻ rách — đó là thứ trung thành mù quáng, thuần túy là bản năng thú vật; nó thuộc về chế độ quân chủ, do chế độ quân chủ đẻ ra; cứ để chế độ quân chủ giữ lấy nó. Tôi đến từ Connecticut, nơi mà Hiến pháp đã tuyên bố rằng “mọi quyền lực chính trị đều vốn thuộc về nhân dân, và mọi chính quyền tự do đều được thành lập dựa trên uy quyền của họ và vì lợi ích của họ; và họ luôn có quyền bất khả xâm phạm và không thể tước bỏ trong việc thay đổi hình thức chính quyền theo cách mà họ cho là thích hợp.”

Theo chân lý ấy, người công dân nào nhận thấy bộ quần áo chính trị của khối thịnh vượng chung đã rách nát mà vẫn ngậm miệng làm thinh, không chịu vận động đấu tranh cho một bộ cánh mới, thì kẻ đó là bất trung; kẻ đó là một tên phản bội. Dù cho anh ta có là người duy nhất nhìn ra sự mục ruỗng ấy, điều đó cũng không thể biện minh cho sự im lặng; trách nhiệm của anh ta là cứ phải đấu tranh, còn nhiệm vụ của những người khác là bỏ phiếu bác bỏ nếu họ không nhìn nhận vấn đề giống như anh ta.
Và giờ đây tôi lại ở chốn này, trong một đất nước mà quyền quyết định vận mệnh quốc gia chỉ nằm gọn trong tay sáu kẻ trên mỗi một nghìn người dân. Nếu chín trăm chín mươi tư người kia dám bày tỏ nỗi bất bình với chế độ hiện hành và đề xuất thay đổi nó, thì cả sáu kẻ kia sẽ rùng mình kinh hãi như một, bởi điều đó sẽ bị coi là quá đỗi bất trung, quá đỗi ô nhục, một thứ phản quốc đen tối và thối tha cùng cực. Nói cách khác, tôi đã trở thành một cổ đông trong một công ty mà chín trăm chín mươi tư thành viên gánh vác toàn bộ tiền bạc và làm hết mọi công việc, trong khi sáu kẻ còn lại tự bầu nhau vào ban giám đốc vĩnh viễn và ẵm trọn toàn bộ cổ tức. Tôi thấy điều mà chín trăm chín mươi tư kẻ khờ khạo kia cần là một cuộc chia bài lại. Điều phù hợp nhất với máu phiêu lưu thích làm trò của tôi lúc này hẳn là từ bỏ chức Boss, đứng lên dấy binh khởi nghĩa và biến nó thành một cuộc cách mạng; nhưng tôi biết tỏng rằng bất kỳ gã Jack Cade hay Wat Tyler nào toan tính chuyện ấy mà không chịu khai hóa nhận thức của quần chúng lên tới tầm cách mạng thì gần như cầm chắc thất bại thảm hại. Mà tôi thì chưa bao giờ quen với mùi thất bại, dù cho tôi có tự khen mình đi chăng nữa. Bởi thế, “nước cờ” bấy lâu nay thành hình trong đầu tôi phải mang một diện mạo hoàn toàn khác so với kiểu của Cade hay Tyler.
Vì vậy, tôi không đem chuyện máu me và khởi nghĩa ra nói với người đàn ông đang ngồi nhai bánh mì đen giữa bầy cừu người bị đọa đày và ngu dân hóa kia, mà kéo anh ta sang một bên để bàn chuyện khác. Sau khi nói xong, tôi mượn anh ta một chút “mực” từ huyết quản; và dùng một mẩu gỗ vót nhọn, tôi viết lên một mảnh vỏ cây—
Đưa anh ta vào Xưởng-tôi-luyện-con-người—
rồi đưa cho anh ta và dặn:
“Hãy cầm lấy vật này đến cung điện ở Camelot và trao tận tay Amyas le Poulet, người mà ta gọi là Clarence, cậu ấy sẽ hiểu.”
“Thế ra ngài ấy là một linh mục sao,” người đàn ông nói, vẻ hào hứng trên gương mặt anh ta thoáng chốc tan biến.
“Sao cơ — linh mục á? Ta chẳng đã bảo với anh rằng không một nô bộc nào của Giáo hội, không một tên nô lệ nào của giáo hoàng hay giám mục có thể bước chân vào Xưởng-tôi-luyện-con-người của ta hay sao? Ta chẳng đã nói rằng anh không thể bước vào trừ phi tôn giáo của anh, dù là bất cứ thứ gì, phải là tài sản tự do của chính bản thân anh đó sao?”
“Lạy Đức Mẹ, đúng là như vậy, và thảo nào tôi đã lấy làm mừng rỡ; bởi thế tôi mới chẳng vừa lòng, và một mối nghi ngại lạnh ngắt dấy lên trong tôi khi nghe nói có một vị linh mục ở đó.”
“Nhưng cậu ta đâu phải linh mục, ta đã bảo rồi mà.”
Người đàn ông trông vẫn còn đầy vẻ hoài nghi. Anh ta hỏi:
“Ngài ấy không phải linh mục, mà lại biết đọc chữ ư?”
“Cậu ta không phải linh mục mà vẫn biết đọc — phải, lại còn biết viết nữa kia. Đích thân ta đã dạy cậu ta đấy.” Nét mặt người đàn ông rạng rỡ hẳn lên. “Và đó cũng chính là điều đầu tiên mà chính anh sẽ được học ở cái Xưởng ấy—”
“Tôi ư? Tôi sẵn lòng hiến dâng máu trong tim mình để được học cái ngón nghề ấy. Trời ơi, tôi nguyện làm nô lệ của ngài, làm kẻ—”
“Không, anh sẽ không làm nô lệ, anh sẽ chẳng phải làm nô lệ cho bất kỳ ai hết. Hãy đưa gia đình anh cùng đi. Vị giám mục lãnh chúa của anh sẽ tịch thu chút tài sản mọn của anh đấy, nhưng chẳng hề gì đâu. Clarence sẽ lo liệu ổn thỏa cho anh hết.”
