Hầu Cận Xứ Connecticut Tại Triều Đình Vua Arthur

Lượt đọc: 526 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Trận Chiến Vành Đai Cát

❊ ❊ ❊

Trong Hang của Merlin—Clarence, tôi và năm mươi hai cậu bé người Anh tươi tắn, thông minh, được giáo dục tốt và có tâm hồn trong trắng. Vào lúc rạng đông, tôi gửi lệnh đến các nhà máy cùng toàn bộ các công trình lớn của chúng ta, yêu cầu ngưng mọi hoạt động và di dời toàn bộ người cùng vật nuôi ra một khoảng cách an toàn, bởi vì mọi thứ sẽ bị thổi bay bằng mìn giấu kín, “và chẳng thể đoán trước khoảnh khắc nào—vì vậy, hãy rời đi ngay lập tức.” Những con người này biết rõ tôi và đặt trọn niềm tin vào lời tôi nói. Họ sẽ chuồn thẳng mà chẳng thèm chờ chải lại mái tóc, còn tôi thì có thừa thời gian để ấn định giờ nổ. Đừng hi vọng thuê được một ai trong số họ quay lại trong suốt thế kỷ này, nếu hiểm họa nổ mìn vẫn còn treo lơ lửng.

Chúng tôi có một tuần chờ đợi. Với tôi thì chẳng có gì tẻ nhạt cả, bởi vì tôi viết lách suốt ngày. Trong ba ngày đầu, tôi hoàn tất việc chuyển đổi cuốn nhật ký cũ của mình thành dạng tự sự này; công việc ấy chỉ đòi hỏi thêm chừng một chương là cập nhật đến hiện tại. Phần thời gian còn lại trong tuần, tôi dùng để viết thư cho vợ mình. Thói quen của tôi từ trước tới nay là luôn viết thư cho Sandy mỗi khi xa cách, và giờ đây, tôi vẫn duy trì thói quen ấy vì tình yêu dành cho nó và cho nàng, dẫu cho những bức thư ấy chẳng thể gửi đi đâu được sau khi viết xong. Nhưng bạn thấy đấy, làm thế để giết thời gian, và cảm giác giống như đang trò chuyện vậy; tựa hồ như tôi đang nói rằng: “Sandy ạ, nếu em và cô Tổng-đài-ơi ở đây trong hang này, thay vì chỉ là những bức ảnh, thì chúng ta có biết bao khoảnh khắc tuyệt vời làm sao!” Và rồi, bạn biết đấy, tôi có thể tưởng tượng ra đứa bé đang ú ớ phát ra âm thanh gì đó để đáp lại, với đôi tay nhỏ nắm chặt và cái thân mình nằm ngửa trải dài trên đùi mẹ, còn nàng thì đang cười vang, ngắm nhìn và tôn thờ, thỉnh thoảng lại cù dưới cằm đứa bé để làm nó khúc khích cười, rồi có lẽ tự mình thêu dệt thêm vài lời đáp lại tôi—cứ thế, cứ thế—thế đấy, bạn có biết không, tôi có thể ngồi đó trong hang với cây bút trên tay, cứ tiếp tục như thế hàng giờ liền cùng mẹ con họ. Chà, cảm giác gần như là tất cả chúng tôi lại được đoàn tụ bên nhau vậy.

Dĩ nhiên, tôi vẫn cho người đi dò thám mỗi đêm để nắm tình hình. Mỗi bản báo cáo lại làm cho mọi chuyện trông có vẻ áp đảo hơn. Các đạo quân đang tụ tập, tụ tập; dọc theo mọi nẻo đường lối mòn của nước Anh, các hiệp sĩ đang giục ngựa phi nước đại, và đi cùng họ là các linh mục để khích lệ tinh thần cho những Thập tự quân nguyên thủy này, bởi đây là cuộc chiến của Giáo hội. Toàn bộ giới quý tộc, lớn lẫn nhỏ, đều đang trên đường hành quân, cùng với toàn bộ tầng lớp hào phú. Mọi chuyện đều diễn ra đúng như dự tính. Chúng ta sẽ càn quét loại người này đến mức mà dân chúng chẳng còn việc gì làm ngoài việc bước lên tuyến đầu với nền cộng hòa của họ và—

Cha chà, tôi mới ngốc nghếch làm sao! Về cuối tuần, tôi bắt đầu nhận thức được cái thực tế to lớn và vỡ mộng này vào đầu óc: rằng đại đa số nhân dân đã tung mũ reo hò cho nền cộng hòa được chừng một ngày, rồi chấm dứt! Giáo hội, giới quý tộc và tầng lớp hào phú liền ném về phía họ một cái cau mày vĩ đại, đầy vẻ không đồng tình và khiến họ co rúm lại thành bầy cừu! Kể từ khoảnh khắc đó, bầy cừu đã bắt đầu tụ về chuồng—nghĩa là các trại quân—và dâng hiến những sinh mạng vô giá trị cùng bộ lông quý giá của chúng cho “chính nghĩa”. Chà, ngay cả những con người vốn từng là nô lệ cách đó không lâu cũng gia nhập “chính nghĩa”, ca tụng nó, cầu nguyện cho nó, và đem lòng thương cảm sướt mướt vì nó, y hệt như tất cả những thường dân khác. Hãy tưởng tượng ra thứ rác rưởi loài người như thế; hãy hình dung về sự dại dột này!

Được rồi, giờ đây đâu đâu cũng là “Chết cho Nền Cộng hòa!”—chẳng hề có một tiếng nói bất đồng nào. Cả nước Anh đang hành quân chống lại chúng ta! Quả thực, điều này vượt quá những gì tôi đã tính toán.

Tôi quan sát kỹ lưỡng năm mươi hai cậu bé của mình; quan sát nét mặt, dáng đi, và những cử chỉ vô thức của chúng: bởi tất cả những điều ấy là một thứ ngôn ngữ—một thứ ngôn ngữ được ban cho chúng ta có chủ ý để nó có thể phản chủ vào những thời điểm khẩn cấp, khi chúng ta có những bí mật muốn giấu kín. Tôi biết rằng ý nghĩ ấy cứ lặp đi lặp lại không dứt trong tâm trí và trái tim chúng rằng: Cả nước Anh đang hành quân chống lại chúng ta!, và mỗi lần lặp lại nó lại càng khẩn thiết nài xin sự chú ý hơn, càng khắc sâu vào trí tưởng tượng của chúng một cách nhức nhối hơn, cho đến mức ngay cả trong giấc ngủ chúng cũng chẳng tìm được sự bình yên, mà sẽ nghe thấy những sinh vật mờ ảo, thoắt ẩn thoắt hiện trong giấc mộng thì thầm rằng: Cả nước Anh—Cả nước Anh!—đang hành quân chống lại các ngươi!

Tôi biết tất cả những điều này sẽ xảy ra; tôi biết rằng cuối cùng áp lực sẽ trở nên quá lớn đến mức buộc chúng phải thốt lên lời; thế nên, tôi phải chuẩn bị sẵn sàng một câu trả lời vào lúc đó—một câu trả lời được lựa chọn kỹ càng và trấn an lòng người.

Tôi đã đoán đúng. Thời điểm ấy đã đến. Chúng buộc phải lên tiếng. Tội nghiệp lũ trẻ, thật đáng thương khi nhìn thấy chúng, chúng mới xanh xao, phờ phạc và bấn loạn làm sao. Ban đầu, người phát ngôn của chúng hầu như chẳng thể tìm nổi giọng nói hay câu chữ; nhưng rồi chẳng mấy chốc cậu ta cũng lấy lại được cả hai. Đây là những gì cậu ta đã nói—và cậu ta diễn đạt nó bằng thứ tiếng Anh hiện đại tao nhã được dạy trong các trường học của tôi:

“Chúng tôi đã cố gắng quên đi bản thân mình là ai—những thiếu niên Anh! Chúng tôi đã cố gắng đặt lý trí lên trên tình cảm, đặt bổn phận lên trên tình yêu; lý trí chúng tôi đồng thuận, nhưng con tim lại trách cứ chúng tôi. Khi mà bề ngoài chỉ có giới quý tộc, chỉ có tầng lớp hào phú, chỉ có hai mươi lăm hay ba mươi nghìn hiệp sĩ còn sống sót sau các cuộc chiến tranh vừa qua, thì chúng tôi đồng một lòng, chẳng bị bất kỳ mối hoài nghi phiền toái nào làm nao núng; từng người trong số năm mươi hai thiếu niên đang đứng đây trước ngài, đều nói rằng: ‘Họ đã tự lựa chọn—đó là chuyện của họ.’ Nhưng ngài hãy nghĩ lại đi!—sự tình đã thay đổi—Cả nước Anh đang hành quân chống lại chúng ta! Ồ, thưa ngài, xin hãy cân nhắc!—xin hãy suy xét!—những con người ấy là đồng bào của chúng ta, họ là xương máu của chúng ta, chúng tôi yêu thương họ—xin đừng bắt chúng tôi phải tiêu diệt dân tộc mình!”

Chà, điều đó cho thấy giá trị của việc nhìn xa trông rộng, và sẵn sàng ứng phó khi sự việc xảy ra. Nếu tôi không lường trước được chuyện này và chuẩn bị sẵn sàng, thì cậu nhóc đó đã hạ gục tôi rồi!—tôi sẽ chẳng thể thốt nổi một lời. Nhưng tôi đã chuẩn bị sẵn. Tôi nói:

“Các chàng trai của ta, trái tim các trò đặt đúng chỗ, các trò đã suy nghĩ điều đáng suy nghĩ, đã làm điều đáng làm. Các trò là những thiếu niên Anh, các trò sẽ vẫn là những thiếu niên Anh, và các trò sẽ giữ cho cái tên đó không bị vấy bẩn. Đừng bận tâm thêm nữa, hãy để tâm trí được bình yên. Hãy suy ngẫm điều này: trong lúc toàn bộ nước Anh đang hành quân chống lại chúng ta, ai là kẻ đi đầu? Ai, theo những quy tắc chiến tranh thông thường nhất, sẽ bước ở tuyến trước? Hãy trả lời ta.”

“Đội quân kỵ mã mặc áo giáp sắt.”

“Đúng vậy. Họ hùng hậu ba mươi nghìn người. Họ sẽ tiến quân sâu ngút ngàn. Giờ thì hãy chú ý: sẽ chẳng có ai ngoài họ bước vào trúng vành đai cát! Khi ấy sẽ có một màn kịch hay! Ngay sau đó, đám đông thường dân ở phía sau sẽ rút lui, để giải quyết các công việc làm ăn ở nơi khác. Không ai ngoài giới quý tộc và hào phú là hiệp sĩ, và cũng chẳng ai ngoài họ ở lại để nhảy múa theo khúc nhạc của chúng ta sau màn kịch đó. Hoàn toàn chính xác là chúng ta sẽ chẳng phải chiến đấu với ai ngoài ba mươi nghìn hiệp sĩ này. Giờ hãy lên tiếng đi, và mọi chuyện sẽ theo quyết định của các trò. Chúng ta có nên tránh trận chiến, rút lui khỏi chiến trường không?”

“KHÔNG!!!”

Tiếng hò hét đồng thanh và thịnh nộ.

“Các trò có—có—chà, sợ ba mươi nghìn hiệp sĩ này không?”

Câu nói đùa ấy khơi gợi một trận cười sảng khoái, những muộn phiền của lũ trẻ tiêu tan hết, và chúng hớn hở trở về vị trí của mình. Chà, chúng quả là năm mươi hai đứa trẻ đáng yêu làm sao! Trông cũng xinh xắn như những thiếu nữ vậy.

Giờ thì tôi đã sẵn sàng đón chào kẻ thù. Cứ để cái ngày trọng đại đang đến gần ấy tới đi—nó sẽ tìm thấy chúng ta đang ở tư thế sẵn sàng chiến đấu.

Ngày trọng đại đã đến đúng hẹn. Lúc rạng đông, lính canh đang túc trực trong khu rào chắn đã bước vào hang báo cáo rằng có một khối đen đang di chuyển dưới đường chân trời, kèm theo một thứ âm thanh mờ ảo mà anh ta cho là nhạc quân hành. Bữa sáng vừa chuẩn bị xong; chúng tôi ngồi xuống và thưởng thức.

Xong xuôi, tôi có vài lời ngắn gọn với lũ trẻ, rồi cử một đội ra túc trực ở cỗ pháo, với Clarence làm chỉ huy.

Mặt trời lúc đó mọc lên và rải thứ ánh sáng huy hoàng không gì che khuất xuống khắp mặt đất, và chúng tôi nhìn thấy một đạo quân khổng lồ đang chậm rãi tiến về phía chúng tôi, với sức ì ổn định và đội hình tề chỉnh như một con sóng biển. Nó tiến đến gần hơn, gần hơn nữa, và diện mạo của nó lại càng trở nên vô cùng uy nghi; vâng, dường như toàn bộ nước Anh đều có mặt ở đó. Chẳng mấy chốc chúng tôi có thể nhìn thấy vô số lá cờ bay phấp phới, rồi ánh mặt trời rọi thẳng vào biển giáp trụ khiến tất cả bừng lên thứ ánh sáng chói lọi. Vâng, đó là một cảnh tượng tuyệt đẹp; tôi chưa từng thấy bất cứ thứ gì sánh kịp.

Cuối cùng chúng tôi cũng có thể nhận ra các chi tiết. Toàn bộ các hàng quân phía trước, chẳng biết sâu đến bao nhiêu sào, đều là kỵ binh—những hiệp sĩ đội mũ lông vũ mặc giáp trụ. Bất ngờ chúng tôi nghe thấy tiếng kèn trỗi lên; bước chân chậm rãi đột ngột chuyển thành phi nước đại, và rồi—chà, thật kỳ diệu khi chứng kiến cảnh đó! Cuộn xuống như một con sóng móng ngựa khổng lồ—nó tiếp cận vành đai cát—hơi thở của tôi như ngừng lại; lại gần hơn, gần hơn nữa—dải cỏ xanh bên kia vành đai vàng cứ thế thu hẹp lại—thu hẹp hơn nữa—chỉ còn lại một dải ruy băng trước móng ngựa của chúng—rồi biến mất dưới những cú dập móng. Chúa tôi! Chà, toàn bộ phần trước của đạo quân đó bắn vót lên bầu trời trong một tiếng nổ tựa sấm sét, và biến thành một cơn bão xoáy gồm những mảnh vải rách cùng các mảnh vỡ; dọc theo mặt đất là một bức tường khói dày đặc che khuất những gì còn sót lại của đám đông khỏi tầm mắt chúng tôi.

Đã đến lúc cho bước thứ hai trong kế hoạch tác chiến! Tôi chạm vào một nút bấm, và làm cho xương cốt của nước Anh rời khỏi cột sống của nó!

Trong vụ nổ đó, tất cả các nhà máy văn minh cao quý của chúng ta đều bay lên trời và biến mất khỏi mặt đất. Thật đáng tiếc, nhưng điều đó là cần thiết. Chúng ta không thể đủ khả năng để cho kẻ thù biến vũ khí của chính chúng ta thành công cụ chống lại chúng ta.

Lúc này tiếp nối là một trong mười lăm phút tẻ nhạt nhất mà tôi từng phải chịu đựng. Chúng tôi chờ đợi trong một sự tĩnh lặng cô độc bị bao bọc bởi các vòng rào dây thép của mình, và bởi một vòng khói dày đặc phía bên ngoài. Chúng tôi không thể nhìn qua bức tường khói, và cũng chẳng thể nhìn thấu qua nó. Nhưng cuối cùng nó cũng bắt đầu tản dần một cách uể oải, và đến cuối mười lăm phút tiếp theo, đất trời đã quang tảng và sự tò mò của chúng tôi được thỏa mãn. Chẳng còn sinh linh nào lọt vào tầm mắt! Giờ đây chúng tôi nhận thấy các công trình phòng thủ của mình đã được bổ sung thêm. Thuốc nổ đã đào một cái hào rộng hơn một trăm feet, bao quanh lấy chúng ta, và đắp lên một con đê cao chừng hai mươi lăm feet ở cả hai bờ hào. Về phần thiệt hại nhân mạng, quả thực kinh ngạc. Hơn nữa, nó vượt ngoài mọi ước tính. Dĩ nhiên, chúng tôi không thể đếm số người chết, bởi vì họ không còn tồn tại dưới dạng cá thể nữa, mà chỉ thuần túy là nguyên sinh chất đồng nhất, pha tạp với sắt và những chiếc cúc áo.

Chẳng còn sinh mạng nào trong tầm mắt, nhưng chắc chắn phải có những kẻ bị thương ở các hàng phía sau đã được khiêng khỏi chiến trường dưới sự che chở của bức tường khói; dịch bệnh hẳn sẽ bùng phát trong số những kẻ còn lại—vẫn luôn là vậy, sau một biến cố như thế. Nhưng sẽ chẳng có viện binh; đây là trận chiến cuối cùng của giới hiệp sĩ nước Anh; đó là tất cả những gì còn sót lại của hội đoàn này, sau những cuộc chiến tranh hủy diệt vừa qua. Thế nên tôi cảm thấy hoàn toàn yên tâm khi tin rằng lực lượng tối đa có thể huy động chống lại chúng ta trong tương lai sẽ chỉ rất nhỏ; nghĩa là, tính về lực lượng hiệp sĩ. Do đó, tôi đã ban hành một bản cáo trạng chúc mừng gửi tới quân đội của mình với nội dung như sau:

HỠI CÁC BINH SĨ, NHỮNG NHÀ VÔ ĐỊCH CỦA TỰ DO VÀ BÌNH ĐẲNG CON NGƯỜI: Vị Tướng quân của các bạn chúc mừng các bạn! Trong niềm kiêu hãnh về sức mạnh và sự hão huyền về danh tiếng của mình, một kẻ thù kiêu ngạo đã kéo đến chống lại các bạn. Các bạn đã sẵn sàng. Cuộc xung đột diễn ra chớp nhoáng; và về phía các bạn, thật vẻ vang. Đại thắng này, đạt được hoàn toàn mà không mất mát gì, là một tiền lệ chưa từng có trong lịch sử. Chừng nào các hành tinh vẫn còn tiếp tục chuyển động trên quỹ đạo của chúng, Trận chiến Vành đai Cát sẽ không bao giờ phai mờ khỏi ký ức của loài người.

THE BOSS.

Tôi đọc rất rành mạch, và tràng pháo tay tôi nhận được khiến tôi vô cùng thỏa mãn. Sau đó, tôi kết lại bằng những lời này:

“Cuộc chiến với quốc gia Anh, với tư cách là một quốc gia, đã chấm dứt. Quốc gia ấy đã rút lui khỏi chiến trường và cuộc chiến. Trước khi nó kịp bị thuyết phục để quay trở lại, chiến tranh đã chấm dứt rồi. Chiến dịch này là chiến dịch duy nhất còn lại sắp được chiến đấu. Nó sẽ ngắn ngủi—ngắn ngủi nhất trong lịch sử. Đồng thời cũng là chiến dịch tàn phá nhân mạng lớn nhất, nếu xét từ góc độ tỷ lệ thương vong trên số lượng tham gia. Chúng ta đã xong việc với quốc gia; từ nay trở đi chúng ta chỉ đối phó với các hiệp sĩ. Các hiệp sĩ Anh có thể bị tiêu diệt, nhưng họ không thể bị khuất phục. Chúng ta biết rõ những gì đang chờ đợi phía trước. Chừng nào một kẻ trong số họ còn sống sót, nhiệm vụ của chúng ta chưa hoàn thành, cuộc chiến vẫn chưa kết thúc. Chúng ta sẽ tiêu diệt tất cả bọn chúng.” [Tiếng vỗ tay vang dội và kéo dài.]

Tôi cho lập các trạm gác quanh những con đê lớn do vụ nổ thuốc nổ tạo ra xung quanh phòng tuyến của chúng ta—thực chất chỉ là một trạm quan sát gồm hai cậu bé để thông báo khi kẻ thù xuất hiện trở lại.

Tiếp theo, tôi phái một kỹ sư và bốn mươi người đến một điểm ngay bên ngoài phòng tuyến phía nam của chúng ta, để chuyển dòng một con suối trên núi ở đó, dẫn nó vào bên trong phòng tuyến và đặt dưới sự kiểm soát của chúng ta, bố trí sao cho tôi có thể sử dụng nó ngay lập tức trong trường hợp khẩn cấp. Bốn mươi người được chia thành hai ca, mỗi ca hai mươi người, và sẽ thay ca cho nhau cứ sau mỗi hai giờ. Trong vòng mười giờ, công việc đã hoàn thành.

Trời lúc này đã chập tối, và tôi cho rút các trạm gác về. Người lính canh gác ở hướng bắc báo cáo rằng có một doanh trại trong tầm nhìn, nhưng chỉ có thể thấy được qua ống nhòm. Anh ta cũng báo cáo rằng một vài hiệp sĩ đã dò dẫm tiến về phía chúng ta và lùa một số gia súc vượt qua phòng tuyến của chúng ta, nhưng bản thân các hiệp sĩ thì không đến quá gần. Đó là điều tôi đã dự liệu từ trước. Bạn thấy đấy, họ đang thăm dò chúng ta; họ muốn biết liệu chúng ta có còn định tung cái trò kinh hoàng màu đỏ ấy vào họ nữa hay không. Có lẽ họ sẽ trở nên táo tợn hơn vào ban đêm. Tôi tin rằng mình biết rõ kế hoạch mà họ sẽ thử nghiệm, bởi vì đó hiển nhiên là việc tôi sẽ làm nếu tôi ở vị trí của họ và dốt nát như họ. Tôi đã nhắc đến điều đó với Clarence.

“Tôi nghĩ ngài nói đúng,” cậu ấy đáp; “đó là điều hiển nhiên mà họ sẽ thử.”

“Vậy thì,” tôi nói, “nếu họ làm thế, họ cầm chắc cái chết.”

“Chắc chắn rồi.”

“Họ sẽ chẳng có mảy may một cơ hội nào trên đời này đâu.”

“Dĩ nhiên là không rồi.”

“Thật khủng khiếp, Clarence. Nghe có vẻ đáng thương hại thật đấy.”

Sự việc làm tôi bứt rứt đến mức chẳng thể tìm được chút bình yên nào trong tâm trí vì cứ phải nghĩ về nó và lo lắng cho nó. Thế nên, cuối cùng, để làm dịu lương tâm mình, tôi đã soạn thảo thông điệp này gửi cho các hiệp sĩ:

GỬI NGÀI CHỈ HUY KÍNH MẾN CỦA ĐẠO QUÂN HỢP SĨ NỔI DẬY Ở ANH: Các ngươi chiến đấu trong vô vọng. Chúng ta biết rõ sức mạnh của các ngươi—nếu người ta có thể gọi đó bằng cái tên ấy. Chúng ta biết rằng tối đa các ngươi cũng chỉ có thể huy động được chừng hai mươi lăm nghìn hiệp sĩ chống lại chúng ta. Do đó, các ngươi chẳng có cơ hội nào cả—hoàn toàn không có. Hãy suy nghĩ lại đi: chúng ta được trang bị tận răng, được củng cố vững chắc, quân số của chúng ta là 54. Năm mươi tư gì chứ? Con người ư? Không, là những bộ óc—những bộ óc cừ khôi nhất trên thế giới; một lực lượng mà sức mạnh cơ bắp thuần túy không thể nào hy vọng áp đảo được, giống như những con sóng vô định ngoài biển khơi không thể hy vọng đánh đổ được những bức tường đá granite vững chắc của nước Anh vậy. Hãy nghe lời khuyên đi. Chúng ta ban cho các ngươi sinh mạng; vì lợi ích của gia đình các ngươi, đừng khước từ món quà ấy. Chúng ta cho các ngươi cơ hội này, và đây là cơ hội cuối cùng: hãy hạ vũ khí xuống; đầu hàng vô điều kiện trước Nền Cộng hòa, và mọi tội lỗi sẽ được dung thứ.

(Ký tên) THE BOSS.

Tôi đọc nó cho Clarence nghe, và bảo rằng tôi dự định cử một người cầm cờ hưu chiến mang đi gửi. Cậu ấy cười cái nụ cười mang tính châm biếm bẩm sinh của mình, rồi nói:

“Không hiểu sao có vẻ như ngài chẳng bao giờ có thể nhận thức đầy đủ được bản chất của những kẻ quý tộc này. Thôi bây giờ chúng ta hãy tiết kiệm chút thời gian và phiền phức đi. Cứ coi tôi là chỉ huy của đám hiệp sĩ đằng kia đi. Giờ thì, ngài là sứ giả mang cờ hưu chiến; hãy bước tới và trao thông điệp của ngài cho tôi, rồi tôi sẽ cho ngài câu trả lời.”

Tôi hùa theo ý tưởng đó. Tôi bước lên dưới sự hộ tống tưởng tượng của những binh lính kẻ thù, giơ tờ giấy của mình ra và đọc to từ đầu đến chí cuối. Để đáp lại, Clarence đánh văng tờ giấy khỏi tay tôi, bĩu một bên môi đầy vẻ khinh miệt và cất giọng cao ngạo miệt thị:

“Hãy phanh thây con thú này ra, rồi tống nó vào trong một cái giỏ trả lại cho kẻ đê tiện đã sai hắn đến; ta chẳng có câu trả lời nào khác ngoài điều đó!”

Lý thuyết mới trống rỗng làm sao khi đứng trước thực tế! Và đây chính là thực tế, không hơn không kém. Đó là điều chắc chắn sẽ xảy ra, chẳng có cách nào né tránh được điều đó cả. Tôi xé nát tờ giấy và chấm dứt vĩnh viễn những cảm xúc lãng mạn sai thời điểm của mình.

Rồi, bắt tay vào việc thôi. Tôi kiểm tra các tín hiệu điện từ bệ súng gatling đến hang động, và đảm bảo rằng tất cả đều hoạt động tốt; tôi kiểm tra và kiểm tra lại những tín hiệu điều khiển các hàng rào—đó là những tín hiệu nhờ đó tôi có thể ngắt và tái lập dòng điện ở từng hàng rào một cách độc lập tùy theo ý muốn. Tôi đặt việc kết nối con suối dưới sự bảo vệ và thẩm quyền của ba cậu bé xuất sắc nhất của mình, những người sẽ thay phiên nhau trực ca hai giờ suốt cả đêm và nhanh chóng tuân theo tín hiệu của tôi, nếu tôi có dịp phải phát ra tín hiệu đó—ba phát súng lục vang lên liên tiếp. Nhiệm vụ gác xép bị hủy bỏ cho đêm nay, và khu rào chắn bị bỏ trống không một bóng người; tôi ra lệnh giữ sự yên tĩnh trong hang, và vặn đèn điện xuống mức chỉ còn lisp la ánh sáng mờ ảo.

Ngay khi trời vừa sập tối, tôi ngắt dòng điện ở tất cả các hàng rào, rồi dò dẫm mò mẫm đi ra con đê dọc theo phía chúng ta của cái hào thuốc nổ lớn. Tôi bò lên đỉnh đê và nằm đó trên vạt đất dốc để quan sát. Nhưng trời quá tối nên chẳng nhìn thấy gì cả. Còn về âm thanh, hoàn toàn im lìm. Sự tĩnh lặng tựa như cõi chết. Quả thực, vẫn có những âm thanh ban đêm quen thuộc của vùng quê—tiếng vo ve của chim đêm, tiếng ve kêu, tiếng chó sủa văng vẳng, tiếng bò rống trầm đục từ đằng xa—nhưng những âm thanh đó dường như chẳng phá vỡ được sự tĩnh lặng, mà trái lại còn làm nó thêm phần sâu lắng, và nhân đôi cái vẻ u ám rợn ngợp vào đó mà thôi.

Chẳng mấy chốc tôi từ bỏ việc dòm ngó, vì đêm xuống quá đen đặc, nhưng tôi vẫn cố rướn tai để bắt lấy dù chỉ là một âm thanh khả nghi nhỏ nhất, bởi tôi phán đoán rằng mình chỉ việc chờ đợi, và sẽ không phải thất vọng. Tuy nhiên, tôi đã phải chờ đợi rất lâu. Cuối cùng tôi cũng bắt được thứ mà bạn có thể gọi là những âm thanh mờ ảo—tiếng kim loại đục ngầu. Lúc đó tôi liền vểnh tai lên và nín thở, bởi đây chính là loại âm thanh mà bấy lâu nay tôi vẫn hằng chờ đợi. Âm thanh ấy dày đặc hơn, và tiến lại gần hơn—từ hướng bắc tới. Chẳng mấy chốc, tôi nghe thấy nó ngang bằng với cao độ của mình—trên đỉnh sườn đê đối diện, cách đó chừng một trăm feet hoặc hơn thế nữa. Rồi tôi dường như nhìn thấy một hàng chấm đen xuất hiện dọc theo sườn đê đó—đầu người chăng? Tôi không thể phân biệt được; có lẽ chẳng có gì sất; bạn không thể trông cậy vào đôi mắt mình khi trí tưởng tượng đã lệch chuẩn. Tuy nhiên, câu hỏi đó chẳng mấy chốc đã có lời giải. Tôi nghe thấy thứ tiếng kim loại đó đang trượt xuống hào lớn. Nó gia tăng tốc độ rất nhanh, lan rộng ra khắp nơi, và mang lại cho tôi một thực tế rành rành: một đạo quân vũ trang đang đóng đô dưới hào. Vâng, những con người này đang sắp xếp một bữa tiệc bất ngờ dành cho chúng ta. Chúng ta có thể trông chờ một màn giải trí vào khoảng rạng đông, hoặc có thể sớm hơn.

Lúc này tôi dò dẫm tìm đường quay lại khu rào chắn; tôi đã thấy đủ rồi. Tôi đi lên bệ súng và phát tín hiệu bật dòng điện vào hai hàng rào bên trong. Sau đó tôi đi vào trong hang, và thấy mọi thứ ở đó đều ổn thỏa—chẳng ai thức giấc ngoại trừ ca trực làm việc. Tôi đánh thức Clarence dậy và bảo cậu ấy rằng cái hào lớn đang ken đặc người, và tôi tin rằng toàn bộ lực lượng hiệp sĩ đang kéo đến tấn công chúng ta theo một khối thống nhất. Tôi có linh cảm rằng ngay khi rạng đông ló dạng, chúng ta có thể trông đợi hàng ngàn kẻ đang mai phục dưới hào sẽ trèo lên đê để mở cuộc đột kích, và ngay lập tức sẽ bị phần còn lại của đạo quân chúng bám sát theo sau.

Clarence nói:

“Bọn chúng sẽ muốn cử một hoặc hai trinh sát mò mẫm trong bóng tối để quan sát trước tình hình. Sao chúng ta không ngắt điện ở các hàng rào ngoài cùng, và cho họ một cơ hội nhỉ?”

“Tôi làm thế rồi, Clarence. Cậu có bao giờ thấy tôi là kẻ thiếu hiếu khách chưa?”

“Không, ngài có một trái tim nhân hậu. Tôi muốn ra ngoài và—”

“Làm ban đón tiếp ư? Tôi cũng sẽ đi.”

Chúng tôi băng qua khu rào chắn và nằm xuống cạnh nhau giữa hai hàng rào phía bên trong. Ngay cả ánh sáng mờ ảo của hang động cũng đã làm thị lực của chúng tôi suy giảm phần nào, nhưng tầm nhìn ngay lập tức bắt đầu tự điều chỉnh lại và chẳng mấy chốc nó đã thích nghi với hoàn cảnh hiện tại. Trước đó chúng tôi phải dò dẫm tìm đường, nhưng giờ thì đã có thể nhận ra các cột rào. Chúng tôi bắt đầu cuộc trò chuyện thì thầm, nhưng bất chợt Clarence ngắt lời và hỏi:

“Kia là cái gì thế?”

“Cái gì là cái gì?”

“Cái thứ đằng kia kìa.”

“Cái thứ nào—ở đâu?”

“Đằng kia cách chúng ta một quãng ngắn—một vật gì đó đen sẫm—một hình thù mờ đục nào đó—tì vào hàng rào thứ hai.”

Tôi nheo mắt nhìn và cậu ấy cũng nhìn. Tôi nói:

“Liệu có phải là con người không, Clarence?”

“Không, tôi nghĩ là không. Nếu ngài để ý, trông nó hơi—chà, đúng là một con người rồi!—đang tì người vào hàng rào.”

“Tôi chắc chắn đó chính là hắn; chúng ta hãy lại xem sao.”

Chúng tôi bò sát trên bàn tay và đầu gối cho đến khi khá sát, rồi ngước nhìn lên. Vâng, đúng là một con người—một bóng đen vạm vỡ mặc áo giáp, đứng thẳng, hai tay bám vào sợi dây thép phía trên—và dĩ nhiên, có thoang thoảng mùi thịt cháy. Tội nghiệp anh chàng, chết cứng như gỗ mục, mà chẳng hề biết thứ gì đã hạ gục mình. Hắn đứng đó tựa như một bức tượng—chẳng có lấy một chuyển động, ngoại trừ những chiếc lông vũ trên mũ đang khẽ phất phơ trong gió đêm. Chúng tôi đứng dậy và nhìn qua các khe hở trên tấm chắn mặt của hắn, nhưng không thể nhận ra nổi chúng tôi có quen kẻ đó hay không—các đường nét quá mờ nhạt và bị che khuất bởi bóng tối.

Chúng tôi nghe thấy những âm thanh muffled tiến lại gần, và lập tức phủ phục xuống mặt đất ngay tại chỗ. Chúng tôi lờ mờ nhận ra một hiệp sĩ khác; hắn đang tiến đến cực kỳ lén lút và dò dẫm từng bước. Hắn đã đến đủ gần để chúng tôi thấy hắn vươn một tay ra, chạm vào sợi dây thép phía trên, rồi cúi người bước xuống dưới nó và bước qua sợi dây phía dưới. Giờ thì hắn đã tới chỗ hiệp sĩ đầu tiên—và giật mình thon thót khi phát hiện ra đối phương. Hắn đứng sững lại một thoáng—chắc hẳn đang tự hỏi tại sao gã kia mãi vẫn không chịu di chuyển tiếp; rồi hắn cất giọng trầm thấp thầm thì, “Sao ngươi lại đứng mơ màng ở đây, thưa Sir Mar—thế rồi hắn đặt tay lên vai cái xác—và chỉ thốt lên một tiếng rên rỉ nho nhỏ dịu dàng rồi khuỵu xuống chết ngất. Chết dưới tay một xác chết, bạn thấy đấy—nói đúng hơn là chết dưới tay một người bạn đã khuất. Có cái gì đó thật đáng sợ trong chuyện này.

Những con chim sớm mai này cứ tản mác kéo đến nối đuôi nhau, cứ khoảng năm phút lại có một tên lảng vảng đến khu vực chúng tôi, trong suốt nửa giờ liền. Chúng không mang theo thứ vũ khí tấn công nào ngoài gươm; theo luật lệ, chúng cầm sẵn thanh gươm trên tay, chìa nó về phía trước để dò tìm các sợi dây thép. Thỉnh thoảng chúng tôi lại thấy một tia lửa điện xanh ngắt lóe lên khi gã hiệp sĩ gây ra nó ở cách xa đến mức chúng tôi không thể nhìn thấy được; nhưng dù sao thì chúng tôi cũng biết chuyện gì đã xảy ra; tội nghiệp gã, hắn đã chạm phải một sợi dây có điện bằng thanh gươm của mình và bị điện giật chết. Chúng tôi trải qua những khoảng lặng ngắn ngủi đầy vẻ ảm đạm, bị ngắt quãng đều đặn một cách đáng thương bởi tiếng va đập do một kẻ mặc giáp ngã xuống; và thứ cảnh tượng ấy cứ tiếp diễn liên tục như thế, tạo nên một bầu không khí rợn ngóc trong bóng tối và sự cô quạnh.

Chúng tôi quyết định thực hiện một vòng tuần tra giữa các hàng rào bên phía trong. Chúng tôi chọn cách đi thẳng người cho tiện; chúng tôi lập luận rằng nếu bị phát hiện, chúng tôi sẽ bị nhầm là bạn hơn là kẻ thù, và dù thế nào đi nữa thì chúng tôi cũng nằm ngoài tầm với của gươm giáo, hơn nữa đám người này xem ra chẳng mang theo chút giáo mác nào bên người. Chà, đó là một chuyến đi kỳ lạ. Khắp nơi đều có những cái xác nằm rải rác bên ngoài hàng rào thứ hai—dù không nhìn rõ mồn một, nhưng vẫn có thể nhận ra; và chúng tôi đếm được mười lăm bức tượng đáng thương ấy—những tên hiệp sĩ đã chết đứng với hai bàn tay đặt trên sợi dây thép phía trên.

Có một điều dường như đã được chứng minh đầy đủ: dòng điện của chúng tôi mạnh đến mức cướp đi sinh mạng nạn nhân trước cả khi họ kịp thét lên một tiếng. Chẳng mấy chốc chúng tôi phát hiện ra một âm thanh trầm đục và nặng nề, và khoảnh khắc tiếp theo chúng tôi đoán ra đó là gì. Đó là một cuộc tấn công bất ngờ với lực lượng hùng hậu đang kéo tới! Tôi thì thầm giục Clarence đi đánh thức quân đội, và thông báo cho họ chờ đợi trong sự im lặng ở hang động để nhận chỉ thị tiếp theo. Cậu ấy nhanh chóng quay lại, và chúng tôi đứng cạnh hàng rào bên trong để quan sát thứ ánh sáng chết chóc thầm lặng thực hiện công việc kinh hoàng của nó lên đám đông đang lúc nhúc kia. Người ta chẳng thể nhận ra nhiều chi tiết; nhưng có thể nhận thấy một khối đen đang ùn ùn chất đống phía bên kia hàng rào thứ hai. Khối phình to đó chính là những cái xác! Trại của chúng tôi được bao bọc bởi một bức tường kiên cố làm bằng tử thi—có thể nói là một chiến lũy, một bờ công sự bằng những thây người. Một điều khủng khiếp trong chuyện này là sự vắng bóng của những tiếng la ó con người; chẳng hề có tiếng hô hoán, không có tiếng chiến hò; vì mưu tính một đòn đánh bất ngờ, những kẻ này di chuyển lặng lẽ nhất có thể; và mỗi khi hàng quân đi đầu đến đủ gần mục tiêu để có thể hô lên một tiếng chiến thắng, thì dĩ nhiên họ lại vấp phải đường ranh giới tử thần và ngã gục xuống mà chẳng kịp trăn trối điều gì.

Lúc này tôi phóng điện qua hàng rào thứ ba; và gần như ngay lập tức là qua hàng rào thứ tư và thứ năm, bởi các khoảng trống được lấp đầy quá nhanh chóng. Tôi tin rằng thời khắc cho màn cao trào của tôi đã đến; tôi tin rằng toàn bộ đạo quân đó đã lọt vào trùm bẫy của chúng ta. Dù sao đi nữa, cũng đã đến lúc phải tìm hiểu cho ra ngô ra khoai. Thế nên tôi chạm vào một nút bấm và làm cho năm mươi mặt trời nhân tạo bùng cháy rực rỡ trên đỉnh vách đá của chúng ta.

Chúa tôi, một cảnh tượng làm sao! Chúng tôi bị bao vây bởi ba bức tường tử thi! Tất cả các hàng rào khác đều gần như ken đặc những kẻ sống sót, những kẻ đang lén lút rướn người tiến về phía trước qua các sợi dây thép. Ánh chói lóa đột ngột làm tê liệt đám đông này, có thể nói là làm họ chết trân vì kinh ngạc; tôi chỉ có đúng một khoảnh khắc để tận dụng sự bất động của họ, và tôi đã không bỏ lỡ cơ hội đó. Bạn thấy đấy, chỉ một tích tắc nữa thôi là họ sẽ định thần lại, rồi họ sẽ hò reo xông lên, và các hàng rào của tôi sẽ bị san phẳng trước sức tiến đó; nhưng khoảng thời gian ngắn ngủi trôi qua ấy đã cướp đi cơ hội của họ vĩnh viễn; trong khi mảnh thời gian nhỏ bé ấy vẫn chưa trôi qua, tôi đã phóng thẳng dòng điện qua tất cả các hàng rào và đánh gục toàn bộ đạo quân ấy chết ngay tại chỗ! Có một tiếng rên rỉ mà bạn có thể nghe thấy! Nó cất lên tiếng kêu hấp hối của mười một nghìn con người. Nó vang dội trong đêm tối với vẻ bi thương tột cùng.

Chỉ một cái liếc mắt là đủ thấy phần còn lại của kẻ thù—có lẽ mạnh đến tầm mười nghìn người—đang ở giữa chúng ta và con hào bao quanh, và đang ồ ạt tiến lên để tấn công. Kết quả là chúng ta đã tóm gọn tất cả bọn chúng! Và tóm gọn một cách không lối thoát. Đã đến lúc cho màn kịch cuối cùng. Tôi bắn ba phát súng lục đã định sẵn—với ý nghĩa là:

“Mở nước!”

Một tiếng ù ù và gầm rú vang lên bất thình lình, và chỉ trong vòng một phút, con suối trên núi đã cuồn cuộn đổ qua cái hào lớn, tạo thành một con sông rộng cả trăm feet và sâu tới hai mươi lăm feet.

“Vào vị trí chiến đấu, các đồng chí! Khai hỏa!”

Mười ba khẩu gatling bắt đầu phun nôn ra ngọn lửa chết chóc vào mười nghìn kẻ xấu số kia. Chúng khựng lại, trụ vững trong giây lát trước cơn hồng thủy lửa thiêu đốt đó, rồi vỡ trận, quay đầu tháo chạy về phía con hào như trấu trước gió. Đúng một phần tư lực lượng của chúng thậm chí còn chẳng chạm tới được đỉnh con đê cao ngất; ba phần bốn còn lại đã lao tới đó và cắm đầu lao xuống—chết đuối.

Chỉ trong vòng mười phút ngắn ngủi sau khi chúng ta khai hỏa, sự kháng cự có vũ trang đã bị tiêu diệt hoàn toàn, chiến dịch kết thúc, năm mươi tư con người chúng ta đã trở thành chủ nhân của nước Anh. Hai mươi lăm nghìn con người nằm chết la liệt xung quanh chúng ta.

Nhưng vận may mới phũ phàng làm sao! Chỉ một lát sau—giả sử là khoảng một giờ—một sự việc đã xảy ra, do chính lỗi của tôi, mà—nhưng tôi chẳng còn tâm trí nào để viết tiếp điều đó nữa. Hãy để bản ghi chép kết thúc ở đây.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.