Hầu Cận Xứ Connecticut Tại Triều Đình Vua Arthur

Lượt đọc: 620 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11
Chàng Yankee Lên Đường Tìm Kiếm Phiêu Lưu

❊ ❊ ❊

Chưa từng có xứ sở nào lại lắm kẻ dối trá lang bạt kỳ hồ đến thế, mà lại đủ cả hai phái nam thanh nữ tú. Hầu như chẳng tháng nào trôi qua mà không có một kẻ lang thang loại này mò đến; miệng lưỡi lúc nào cũng đầy ắp chuyện một nàng công chúa nào đó đang mỏi mắt chờ người đến cứu khỏi tòa lâu đài xa xôi, nơi nàng bị một tên vô lại thất đức—thường là một gã khổng lồ—giam cầm. Người ta hẳn sẽ đinh ninh rằng việc đầu tiên nhà vua làm sau khi nghe cuốn tiểu thuyết diễm tình ngắn ngủi từ một kẻ hoàn toàn xa lạ là phải đòi xem giấy tờ chứng thực—phải rồi, ít ra cũng phải hỏi vài manh mối về vị trí lâu đài, lộ trình tốt nhất để tới đó, và vân vân. Nhưng khốn nỗi, ở cái chốn này chẳng một ai nghĩ đến điều giản dị và thuận theo lẽ thường ấy. Không hề, ai nấy đều nuốt trọn từng lời dối trá của bọn họ mà chẳng buồn hoài nghi hay gặng hỏi lấy một câu. Thế rồi, vào một ngày tôi vắng mặt, lại có một kẻ mò tới—lần này là một ả đàn bà—và cũng rao giảng một câu chuyện theo đúng bài bản cũ rích. Rằng bà chủ của ả đang bị giam cầm trong một tòa lâu đài âm u rộng lớn, cùng với bốn mươi tư trinh nữ trẻ đẹp khác, hầu hết đều là công chúa cành vàng lá ngọc; họ đã mòn mỏi héo hắt trong cảnh tù đày tàn nhẫn suốt hai mươi sáu năm ròng; còn chủ nhân của tòa lâu đài là ba anh em khổng lồ dị hợm, mỗi gã có bốn tay và một mắt—con mắt nằm ngay chính giữa trán, to tướng như một quả trái cây. Còn loại quả gì thì ả chẳng thèm đả động; vẫn cái thói cẩu thả kinh niên về mặt số liệu của cái thời này.

Ai mà tin cho nổi chứ? Nhà vua cùng toàn thể triều thần Bàn Tròn sướng mê tơi trước cơ hội phiêu lưu hoang đường đến nực cười này. Hiệp sĩ nào cũng nhảy cẫng lên chộp lấy cơ hội, thi nhau nài xin; nhưng trước sự bực bội và tẽn tò của bọn họ, nhà vua lại ban đặc ân đó cho tôi, kẻ thậm chí chẳng thèm mở miệng xin xỏ nửa lời.

Tôi phải nén lắm mới không bật cười khi Clarence đem tin này đến. Nhưng cậu ta—chao ôi, cậu ta chẳng thể nào kìm nén nổi sự hân hoan. Miệng cậu ta tuôn trào không dứt những lời mừng rỡ và cảm kích—vừa mừng cho vận may của tôi, vừa đội ơn nhà vua đã ban cho tôi ân sủng tuyệt vời này. Tay chân cậu ta cuống quýt không yên, cứ thế xoay tít vòng quanh phòng trong cơn phấn khích tột cùng như bay trên mây.

Về phần mình, tôi chỉ muốn rủa xả cái mối thịnh tình đã tròng vào cổ tôi món bổng lộc tai ương này, nhưng vì lẽ quyền biến nên đành ngậm bồ hòn làm ngọt, cố hết sức làm ra vẻ hoan hỉ. Quả thực, tôi bảo với cậu ta rằng tôi vui lắm. Và xét theo một góc độ nào đó thì cũng đúng thật; tôi vui hệt như một kẻ vừa bị lột da đầu vậy.

Thôi thì chuyện đã rồi đành liệu bề xoay xở, hơi đâu mà ngồi rầu rĩ uổng công, cứ bắt tay vào việc xem làm được gì thì làm. Trong đống trấu dối trá thế nào cũng sót lại hạt thóc; trường hợp này tôi phải đãi trấu lấy thóc cho bằng được. Thế là tôi cho gọi ả lại. Ả là một cô nàng trông cũng khá ưa nhìn, dịu dàng và e thẹn, nhưng nếu xét theo thần sắc bên ngoài thì đầu óc ả ta chẳng biết có tinh khôn bằng cái đồng hồ quả quýt của quý bà hay không. Tôi mở lời:

“Này cô em, đã có ai gặng hỏi cô ngọn ngành chi tiết chưa?”

Ả bảo là chưa.

“Ừ, tôi cũng đoán là chưa, nhưng cứ hỏi cho chắc ăn; tính tôi từ bé đến giờ đã cẩn thận thế rồi. Giờ thì cô đừng phật ý nếu tôi nhắc rằng vì chúng ta chưa biết mặt biết tên cô, nên cứ phải túc tắc cẩn thận từng bước một. Dĩ nhiên có thể cô rất đàng hoàng, và chúng tôi cũng mong là thế; nhưng làm ăn mà cứ tin bừa thì hỏng bét. Cô hiểu chứ? Tôi buộc phải hỏi cô vài câu; cứ ăn ngay nói thật, đừng sợ sệt gì cả. Bình thường ở nhà thì cô sống ở đâu?”

“Thưa ngài tôn kính, thiếp ngụ tại xứ Moder.”

“Xứ Moder à. Tôi chưa nghe đến cái tên này bao giờ. Cha mẹ cô còn sống cả chứ?”

“Về nỗi ấy thiếp chẳng rõ người còn tại thế hay chăng, bởi bao năm đằng đẵng thiếp đã bị giam hãm nơi thâm cung nội cấm của tòa lâu đài.”

“Làm ơn cho biết quý danh?”

“Dám thưa ngài, thiếp tên là tiểu thư Alisande la Carteloise.”

“Ở đây cô có quen biết ai để họ đứng ra làm chứng danh tính cho cô không?”

“Thưa lệnh ông tôn quý, sự ấy e khó lắm thay, vì chưng đây là lần đầu tiên thiếp đặt chân tới chốn này.”

“Thế cô có mang theo thư từ, giấy tờ, hay bất kỳ bằng chứng nào cho thấy cô là người đáng tin cậy và ăn nói trung thực không?”

“Cố nhiên là không rồi ạ; vả lại việc chi thiếp phải đem theo? Miệng lưỡi thiếp còn đây, há chẳng tự mình tỏ bày được mọi sự hay sao?”

“Nhưng cô nói ra với việc người khác nói hộ nó khác nhau một trời một vực chứ, cô hiểu không?”

“Khác nhau ư? Sao lại có thể như vậy được? Thiếp e rằng mình chẳng hiểu thấu.”

“Không hiểu á? Trời đất quỷ thần ơi—thì cô thấy đấy—cô thấy không—sao mà ngớ ngẩn thế, một việc cỏn con vậy mà cũng không hiểu nổi ư? Cô không hiểu được sự khác biệt giữa lời cô nói và—sao trông cái mặt cô ngây ngô đần độn đến thế hả!”

“Thiếp ư? Thực tình thiếp chẳng rõ, âu cũng là do ý trời định đoạt.”

“Phải rồi, phải rồi, tôi đoán nguyên cớ chắc cũng chỉ đến thế là cùng. Đừng để bụng chuyện tôi có vẻ cáu kỉnh; tôi không giận đâu. Giờ đổi chủ đề đi. Về tòa lâu đài giam bốn mươi lăm nàng công chúa do ba gã khổng lồ cai quản ấy, nói cho tôi nghe xem—cái hậu cung này nằm ở đâu?”

“Hậu cung là chi ạ?”

“Tòa lâu đài ấy, cô hiểu chứ; tòa lâu đài nằm ở chỗ nào?”

“Ồ, về việc ấy, tòa thành trì kia cao lớn, kiên cố và vô cùng uy nghi, tọa lạc tại một xứ sở xa xôi diệu vợi. Vâng, cách đây nhiều dặm đường lắm.”

“Cụ thể là bao nhiêu dặm?”

“Ôi, thưa ngài tôn kính, thực khôn xiết nỗi gian nan nếu muốn tỏ tường rành mạch, bởi các dặm đường kia nhiều vô kể xiết, lại cứ chồng chéo lên nhau, mà dặm nào trông cũng một khuôn một nét, cùng một sắc màu, khiến người phàm khôn bề phân biệt dặm này với dặm khác, cũng chẳng biết đường nào mà đếm trừ phi tách bạch từng dặm ra, mà ngài hẳn cũng thừa biết việc ấy thuộc về quyền năng của Thượng đế chứ sức người sao kham nổi; bởi ngài hãy lưu tâm rằng—”

“Khoan đã, khoan đã nào, bỏ qua cái khoảng cách ấy đi; tòa lâu đài nằm ở phương nào? Hướng đi từ đây là hướng nào?”

“Ôi, xin ngài xá tội, tòa thành ấy chẳng có phương hướng nào tính từ chốn này cả; sở dĩ là vì con đường chẳng hề thẳng tắp mà cứ quanh co uốn khúc không thôi; thế nên phương hướng của nó chẳng bao giờ cố định, khi thì nằm dưới vòm trời này, thoắt cái lại ở dưới vòm trời khác, dẫu ngài có đinh ninh rằng nó ở phía đông rồi cất bước về hướng ấy, ngài sẽ lại thấy lối đi tự quay ngoắt nửa vòng tròn, và điều kỳ diệu ấy cứ lặp đi lặp lại mãi không thôi, đến nỗi ngài sẽ phải xót xa ân hận vì đã đem cái trí nông cạn của phàm trần mà toan bề chống lại cùng làm hao tổn ý chỉ của Đấng Tối Cao, Đấng chẳng bao giờ ban cho một tòa lâu đài phương hướng cố định từ một nơi nào trừ phi Người hài lòng, bằng như Người chẳng vừa lòng, Người thà để hết thảy lâu đài cùng mọi ngả đường dẫn tới đó tan biến khỏi cõi trần, để lại những nơi chúng từng ngự trị hoang tàn trống trải, cốt để răn dạy thụ tạo của Người rằng hễ Người muốn thì ắt được, còn hễ Người không muốn thì—”

“Thôi, được rồi, được rồi, cho tôi xin hai chữ bình yên; phương với chả hướng, thây kệ cái phương hướng của cô—tôi xin lỗi, nghìn lần xin lỗi cô, hôm nay người tôi không được khỏe; cô đừng bận tâm khi thấy tôi lảm nhảm một mình, tật cũ khó chừa ấy mà, một thói quen xấu xí chẳng dễ gì bỏ được khi mà bộ máy tiêu hóa bị đảo lộn vì trót ăn toàn những thứ thực phẩm được nuôi trồng từ thuở tám hoánh nào trước khi tôi chào đời; lạy Chúa tôi! người trần mắt thịt làm sao mà tiêu hóa bình thường cho nổi với mấy con gà giò đã thọ những một nghìn ba trăm tuổi đầu chứ. Nhưng thôi—bỏ qua chuyện ấy đi; ta—cô có mang theo thứ gì đại loại như tấm bản đồ vùng ấy bên người không? Giờ mà có một tấm bản đồ chuẩn chỉ thì—”

“Chẳng hay đó có phải là cái thứ mà dạo gần đây những kẻ ngoại đạo mang từ bên kia biển lớn về, đem ninh trong dầu rồi thêm chút hành cùng muối thì sẽ—”

“Cái gì, bản đồ ấy à? Cô đang huyên thuyên cái quái gì thế hả? Cô không biết bản đồ là cái gì sao? Thôi, thôi, đừng giải thích nữa, tôi ghét nhất trần đời mấy trò giải thích giải bầy; càng nói lại càng như gà mắc tóc chẳng hiểu ra làm sao cả. Đi đi cô em; chào cô nhé; Clarence, dẫn cô nàng ra ngoài hộ ta.”

Ồ, chà, đến nước này thì đã quá rõ ràng lý do vì sao đám lừa ngốc nghếch kia chẳng bao giờ buồn tra khảo chi tiết lũ dối trá này. Có thể trong bụng ả này cũng giấu giếm chút sự thật nào đó, nhưng tôi đoan chắc có dùng vòi bơm thủy lực cực mạnh cũng chẳng xối nó ra nổi; thậm chí dùng thuốc nổ đời đầu cũng chịu chết; ca này cứ phải dùng đến đin-na-mít may ra mới ăn thua. Trời đất, ả quả thực là một con lừa chính hiệu; thế mà đức vua cùng các hiệp sĩ của ngài lại lắng nghe ả cứ như thể đang nghe từng lời vàng ngọc trong kinh phúc âm. Chuyện này đủ để lột tả chân tướng của cả cái triều đình. Mà cũng hãy nhìn cái lối sống đơn sơ, xuề xòa của cái chốn cung đình này mà xem: một ả gái lang bạt kỳ hồ muốn vào yết kiến đức vua nơi cung điện cũng chẳng khó khăn hơn việc một người vào viện tế bần ở thời đại và quê hương tôi là mấy. Thậm chí nhà vua còn mừng rỡ khi thấy ả, hớn hở lắng nghe câu chuyện của ả; đem cái phi vụ phiêu lưu ấy đến dâng nộp, ả được hoan nghênh chẳng khác nào cái xác chết được viên pháp y đón rước.

Vừa lúc tôi kết thúc những dòng suy nghĩ miên man ấy thì Clarence quay lại. Tôi phàn nàn về kết quả trắng tay sau hồi tra hỏi cô ả; chẳng moi được lấy một mẩu tin nào có thể giúp tôi tìm ra tòa lâu đài. Cậu chàng trông có vẻ hơi ngạc nhiên, hoặc bối rối, hay sao đó, rồi bóng gió rằng tự nãy giờ cậu ta vẫn cứ thắc mắc không hiểu tôi hỏi dồn dập cô ả từng ấy câu để làm cái quái gì.

“Ơ hay, quỷ thần thiên địa ơi,” tôi nói, “chẳng lẽ ta lại không muốn tìm thấy tòa lâu đài à? Không hỏi thế thì làm sao mà lần ra đường?”

“Chao ôi, thưa tôn ngài kính mến, chuyện ấy thiển nghĩ dễ trả lời lắm thay. Nàng ta sẽ đi cùng ngài. Lúc nào họ chẳng làm thế. Nàng ta sẽ cùng cưỡi ngựa với ngài.”

“Cưỡi ngựa cùng ta ư? Vớ vẩn!”

“Nhưng thực tình là vậy mà. Nàng sẽ cưỡi ngựa cùng ngài. Rồi ngài sẽ thấy.”

“Cái gì cơ? Ả ta sẽ cùng ta lang thang qua các sườn đồi, lùng sục khắp các cánh rừng—chỉ có hai người trơ trọi—trong khi ta là kẻ coi như đã đính hôn rồi ư? Này, thế là tai tiếng, là bê bối đồi bại đấy. Nghĩ xem thiên hạ sẽ nhìn vào ra sao.”

Chao ôi, gương mặt thân thương xiết bao bỗng hiện lên trước mắt tôi! Cậu chàng nôn nóng muốn biết tường tận về mối tình thắm thiết này. Tôi bắt cậu ta phải thề giữ kín như bưng rồi mới thì thầm cái tên ấy—“Puss Flanagan”. Cậu ta thoáng lộ vẻ thất vọng, bảo rằng mình chưa từng nghe danh vị nữ bá tước này bao giờ. Kẻ nịnh thần nhỏ tuổi này phong ngay tước vị cho nàng, kể cũng là lẽ tự nhiên của chốn cung đình. Cậu ta hỏi tôi nàng sống ở đâu.

“Ở vùng Đông Har—” Tôi sực tỉnh và khựng lại, có phần ngượng ngùng; rồi tôi chữa giọng: “Thôi, đừng bận tâm lúc này; hôm nào ta sẽ kể cho nghe.”

Thế cậu ta có thể được diện kiến nàng không? Liệu một ngày nào đó tôi có cho cậu ta gặp nàng chăng?

Hứa một lời đâu có mất mát gì—chẳng qua chỉ là chờ độ chừng một nghìn ba trăm năm nữa thôi mà—thấy cậu ta khát khao đến thế, tôi bèn gật đầu đồng ý. Nhưng rồi tôi lại thở dài; không nén nổi tiếng thở dài. Dẫu vậy thở dài phỏng có ích gì, vì nàng đã chào đời đâu cơ chứ. Nhưng con người ta sinh ra vốn đã thế: đứng trước tình cảm thì lý trí đành bất lực; lòng chỉ biết bồi hồi xao xuyến mà thôi.

Chuyến xuất chinh của tôi trở thành đầu đề câu chuyện suốt cả ngày lẫn đêm hôm ấy. Mấy gã hiệp sĩ đối xử với tôi tử tế lắm, hết lời tâng bốc tôi, dường như họ đã quên bẵng nỗi bực dọc và hụt hẫng ban đầu, ai nấy đều sốt sắng mong tôi tóm gọn lũ khổng lồ và giải phóng đám trinh nữ già nua chín nẫu kia cứ như thể chính họ mới là kẻ nhận lãnh hợp đồng này. Chà, họ đều là những đứa trẻ ngoan—nhưng rốt cuộc cũng chỉ là một lũ con nít không hơn không kém. Họ mách nước cho tôi không biết bao nhiêu ngón nghề về cách truy lùng người khổng lồ và cách hốt trọn ổ bọn chúng; họ truyền cho tôi đủ thứ thần chú trừ tà ếm bùa, rồi dúi vào tay tôi thuốc mỡ cùng đủ thứ rác rưởi linh tinh để bôi vào vết thương. Thế nhưng chẳng một ai trong số họ mảy may suy nghĩ rằng: nếu tôi thực sự là một đại pháp sư phi phàm như tôi vẫn hằng khoe khoang, thì việc quái gì tôi phải cần đến thuốc mỡ hay lời chỉ dẫn, hoặc bùa chú hộ thân, và trên hết là gươm giáo giáp trụ trong bất kỳ cuộc chinh phạt nào—ngay cả khi phải đối đầu với rồng phun lửa hay lũ quỷ dữ hừng hực chui lên từ hỏa ngục, huống chi là mấy đối thủ hạng bét như lũ này, mấy gã khổng lồ tầm thường nơi xó rừng hẻo lánh.

Theo lệ thường, tôi phải ăn sáng sớm rồi lên đường ngay lúc bình minh; nhưng tôi lại vướng vào một trận vật lộn khổ ải chết tiệt với bộ áo giáp, thành thử bị trễ mất một lúc. Chui vào được cái đống ấy quả là một cực hình, lại lỉnh kỉnh đủ thứ chi tiết rườm rà. Trước tiên, người ta phải quấn quanh mình một hai lớp chăn dạ, vừa để làm đệm lót vừa để ngăn cái lạnh buốt của sắt thép; tiếp đó là mặc tay áo và áo giáp lưới sắt—thứ này được đan từ những mắt xích thép nhỏ li ti, tạo thành một tấm vải dẻo đến mức nếu ném toẹt xuống sàn, nó sẽ thụng xuống thành một đống bùng nhùng như một mớ lưới đánh cá ướt sũng; nó nặng trịch và gần như là thứ chất liệu khó chịu nhất trần đời nếu dùng làm áo ngủ, ấy thế mà khối kẻ lại dùng nó vào việc đó—chẳng hạn như bọn thu thuế, các nhà cải cách, mấy ông vua con trị vì ngai vàng bất chính, và những hạng người tương tự; rồi bạn phải xỏ chân vào giày sắt—trông như hai chiếc thuyền đáy bằng lợp kín bằng những dải thép đan xen—rồi vặn đôi cựa thô kệch vào gót. Kế đến, bạn thắt giáp bảo vệ cẳng chân, rồi giáp đùi; tiếp theo là giáp lưng và giáp ngực, lúc này bạn bắt đầu thấy tức thở, chật chội; rồi móc vào giáp ngực một chiếc váy ngắn bằng những bản thép rộng xếp lớp chồng lên nhau, rủ xuống phía trước nhưng phía sau lại khoét hõm để bạn có thể ngồi xuống, thứ này trông chẳng khác nào cái xẻng xúc than lật ngược, xét cả về mặt thẩm mỹ, độ bền lẫn việc dùng nó để chùi tay; tiếp theo là thắt đai đeo kiếm; rồi tròng những ống thép khớp nối như ống khói lò sưởi vào hai cánh tay, xỏ găng sắt vào bàn tay, chụp cái bẫy chuột bằng sắt lên đầu với một mảnh giẻ bằng lưới thép móc vào sau để che gáy—thế là xong xuôi, bạn bị nhét chặt cứng như cây nến đúc trong khuôn. Lúc này thì đừng hòng mà nhúc nhích nhảy nhót. Chà, một kẻ bị đóng gói kín mít như thế thì khác nào một hạt dẻ chẳng bõ công cắn vỡ, bởi khi bóc ra đến nơi thì phần thịt bên trong quá đỗi ít ỏi so với cái vỏ cồng kềnh bên ngoài.

Lũ trẻ phải xúm vào giúp chứ một mình tôi thì đừng hòng mà chui lọt. Vừa lúc chúng tôi xong việc thì ngài Bedivere tình cờ ghé qua, và tôi nhận ra rằng nhiều khả năng mình đã chọn một bộ trang phục chẳng mấy tiện lợi cho một chuyến đi dài ngày. Trông ngài ấy mới bệ vệ làm sao; cao lớn, vạm vỡ và oai phong lẫm liệt. Trên đầu ngài đội một chiếc mũ sắt hình chóp nón chỉ trùm xuống tới mang tai, còn tấm che mặt chỉ là một thanh thép hẹp kéo dài xuống tận môi trên để bảo vệ sống mũi; toàn bộ phần còn lại của ngài, từ cổ đến gót chân, đều là giáp lưới dẻo dai, kể cả phần quần. Nhưng gần như toàn bộ con người ngài đều được giấu kín dưới lớp áo khoác ngoài, dĩ nhiên chiếc áo này cũng làm bằng giáp lưới như tôi đã tả, rủ thẳng từ vai xuống tận mắt cá chân; từ ngang hông trở xuống, cả phía trước lẫn phía sau đều được xẻ tà, để ngài có thể cưỡi ngựa mà vạt áo vẫn buông thõng hai bên mạn sườn. Ngài đang chuẩn bị lên đường tìm kiếm Chén Thánh, và đó quả là bộ trang phục hoàn hảo cho mục đích ấy. Tôi sẵn sàng đánh đổi nhiều thứ để lấy được cái áo choàng dài kia, nhưng giờ thì muộn mất rồi, hơi đâu mà lôi thôi luộm thuộm. Mặt trời vừa ló rạng, nhà vua cùng toàn thể triều đình đều đã có mặt đông đủ để tiễn tôi và chúc tôi may mắn; thế nên tôi nán lại thì thật là thất lễ. Bạn chẳng thể nào tự mình trèo lên lưng ngựa được đâu; không đời nào, nếu cố thử thì bạn chỉ chuốc lấy ê chề thất vọng mà thôi. Người ta phải khiêng bạn ra ngoài, hệt như khiêng một kẻ bị cảm nắng vào tiệm thuốc tây, rồi đặt bạn lên lưng ngựa, giúp bạn ngồi cho ngay ngắn, và xỏ chân bạn vào bàn đạp; trong suốt lúc đó, bạn sẽ cảm thấy vô cùng kỳ quặc, ngột ngạt và cứ như thể mình biến thành một ai khác—như một kẻ vừa bị ép cưới bất thình lình, hay vừa bị sét đánh trúng, hoặc đại loại thế, đầu óc vẫn chưa hoàn hồn, người ngợm tê dại và chẳng biết trời trăng mây nước gì nữa. Đoạn họ dựng cái cột buồm mà họ gọi là ngọn giáo vào cái giá đỡ bên chân trái của tôi, tôi dùng tay nắm chặt lấy nó; sau cùng họ đeo chiếc khiên vào cổ tôi, thế là tôi đã trang bị tận răng, sẵn sàng nhổ neo giong buồm ra khơi. Mọi người đều đối xử với tôi tốt hết mức có thể, và đích thân một nàng phù dâu đã dâng cho tôi chén rượu tiễn biệt trước khi lên ngựa. Chẳng còn việc gì phải làm nữa, ngoại trừ việc bảo cô nàng kia trèo lên ngồi sau lưng tôi trên cái yên phụ, ả trèo lên thật, rồi vòng một cánh tay ôm lấy tôi để giữ thăng bằng.

Thế là chúng tôi lên đường, mọi người đều cất tiếng chào tạm biệt và vẫy khăn tay hoặc mũ sắt tiễn đưa. Dọc đường xuống đồi và đi qua ngôi làng, ai nấy gặp chúng tôi đều tỏ vẻ kính cẩn, ngoại trừ mấy đứa nhóc rách rưới ở vùng ngoại vi. Bọn chúng la toáng lên:

“Ôi chao, trông kìa, quái nhân bù nhìn!” Rồi chúng ném đất cục vào chúng tôi.

Theo kinh nghiệm của tôi, trẻ con thời nào cũng cá mè một lứa như nhau. Chúng chẳng biết kính sợ thứ gì, cũng chẳng coi ai ra gì. Chúng từng gào lên “Lên đi, lão đầu hói!” vào mặt vị tiên tri đang điềm nhiên rảo bước trên con đường lương thiện từ thời cổ đại xa xưa; chúng láo xược trêu chọc tôi giữa bầu không khí thâm u thần thánh của thời Trung Cổ; và tôi cũng từng chứng kiến bọn trẻ làm y hệt như thế dưới thời chính quyền tổng thống Buchanan; tôi nhớ như in, vì khi ấy chính tôi cũng có mặt và hùa theo góp vui. Vị tiên tri nọ có bầy gấu ra tay xử đẹp lũ trẻ; còn tôi thì chỉ muốn trèo xuống tẩn cho lũ nhóc này một trận ra trò, ngặt một nỗi làm thế không ổn, bởi trèo xuống rồi thì tôi chẳng tài nào leo lên lại được nữa. Tôi ghét cay ghét đắng cái xứ sở mà lại thiếu vắng bóng dáng của một cái cần cẩu.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.