Người Tivi

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 65 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Dao Săn
Dao Săn

❊ ❊ ❊

Ngoài khơi có hai bè nổi sắp hàng ngang, to như hai đảo nhỏ bằng phẳng. Từ rìa sóng ra đến bè nổi khoảng 50 sải bơi trườn, còn từ bè này đến bè kia thì khoảng 50 sải. Loại cự ly tốt cho việc bơi lội.

Mỗi bè tính theo bề rộng thì cỡ một phòng sáu chiếu, trông giống như hai băng sơn sinh đôi, nổi lừng lững giữa biển. Nước trong vắt đến kỳ dị như không phải tự nhiên, từ trên nhìn xuống thấy rõ ràng dây xích to mập nối bè với khối xi măng nặng nề ở đầu mút. Ðộ sâu khoảng chừng 5, 6 thước. Sóng cho ra sóng thì không có, nên bè nổi hầu như chẳng lay động gì, cứ ở yên như đã bị một cây đinh dài đóng chặt xuống đáy biển. Bên hông bè nổi có gắn cái thang, và trên mặt bè trải kín một lớp cỏ nhân tạo màu lục. Ðứng trên bè nhìn vào bãi biển thì thấy bãi cát trắng vắt ngang một khoảng dài, đài canh cứu nạn sơn màu đỏ, và đám lá màu lục của hàng dừa cao.

Cảnh tượng trông đẹp lắm, tuy có chút gì đấy như là tranh vẽ trên bưu thiếp. Nhưng đấy quả là hiện thực, nên chẳng kêu ca vào đâu được. Đưa mắt dõi theo đường bờ biển về phía bên phải đến cuối bãi cát, khoảng bắt đầu có những tảng đá đen nhấp nhô ló mặt ra, thì thấy được khách sạn kiểu túp lều mà tôi đang ở. Khách sạn này hai tầng, tường trắng, mái màu lục đậm hơn màu lá dừa một chút. Mới cuối tháng Sáu, chưa đến mùa nghỉ mát, nên bãi biển chỉ có bóng dáng vài người mà thôi.

Vòm trời phía trên bè nổi là đường bay phi cơ trực thăng quân sự của căn cứ quân đội Mỹ. chúng bay thẳng từ ngoài khơi vào trên khoảng ngay giữa hai bè nổi, vượt trên hàng dừa, rồi mất hút vào vùng nội địa. Chúng bay thấp đến nỗi nếu nhướng mắt nhìn kỹ có khi thấy được mặt người lái. Toàn thân phi cơ sơn màu xanh ô-liu nặng nề, cọng an-tên ra-đa từ mũi chĩa thẳng ra trước. Trừ những chuyến bay của phi cơ trực thăng quân sự ấy ra thì bãi biển hòa bĩnh tĩnh lặng đến muốn ngủ luôn một giấc dài.

Phòng chúng tôi ở tầng trệt của túp lều hai tầng ấy, cửa sổ hướng ra bãi biển. Ngay dưới cửa sổ có hoa giống như đỗ quyên, nở đỏ tràn lan, phía bên kia có hàng dừa. Vườn cỏ cắt xén kỹ, những vòi tưới nước xoay vòng theo hình cánh quạt tưới nước suốt ngày, phát ra tiếng lạch cạch nho nhỏ nghe thật buồn ngủ.

Khung cửa sổ sơn màu lục cháy nắng, màn sáo bằng gỗ màu trắng có pha tí màu lục. Tường phòng treo hai bức tranh Tahiti của Gauguin.

Túp lều của chúng tôi chia làm bốn phòng, tầng trệt hai phòng, tầng trên hai phòng. Phòng bên cạnh chúng tôi có hai mẹ con đang trọ. Có vẻ họ đã ở đấy rất lâu trước khi chúng tôi đến. Lúc chúng tôi mới đến quầy khách sạn để lấy phòng, nhận chìa khóa, và nhờ mang hành lý vào phòng thì hai mẹ con thầm lặng ấy đang ngồi đối diện nhau nơi sofa to phồng trong tiền sảnh, mở rộng trang báo ra đọc. Cả người mẹ lẫn người con trai, ai đọc báo nấy, dõi mắt từ góc báo này đến góc kia, chăm chỉ như muốn kéo dài thời gian. Bà mẹ khoảng tuổi 50 gần 60, người con cỡ cũng lứa tuổi chúng tôi, 28 hay 29 gì đó. Cả hai có khuôn mặt dài, trán rộng, lúc nào cũng thấy đôi môi mím lại thành đường thẳng. Tôi chưa từng thấy hai mẹ con nào có khuôn mặt giống nhau đến thế. Bà mẹ so với phụ nữ ở tuổi ấy thì thân hình cao vượt hẳn lên, lưng thẳng băng, cử động chân tay cũng thật nhanh nhẹn. Hai người mặc bộ áo quần may cắt thật khéo.

Người con trai, suy đoán từ dáng người, thì có lẽ cũng cao như mẹ, nhưng thực tế cao đến đâu thì tôi không rõ. Anh ta ngồi suốt trên chiếc xe đẩy, không đứng lên lần nào cả. Bà mẹ luôn luôn đứng phía sau, đấy xe cho con.

Ðến tối thì người con dời từ xe đẩy sang so-fa, ăn tối những thứ đã gọi sẵn, sau đó đọc sách gì đấy để tiêu khiển.

Trong phòng họ tất nhiên là có máy lạnh nhưng ba mẹ tắt đi, lúc nào cũng mở cửa phòng cho gió mát ngoài biển lọt vào. Chúng tôi đoán có lẽ vì gió từ máy lạnh không tốt cho thân thể người con. Thế nào cũng phải đi ngang qua căn phòng họ để vào được phòng mình nên những lúc ấy, chúng tôi không thể không thấy dáng hai mẹ con. Nơi cửa vào có treo tấm sáo để che lại, thế nhưng dù muốn dù không, bóng họ cũng lọt vào mắt. Hầu như lúc nào họ cũng ngồi đối diện nhau nơi sofa, tay cầm sách, báo hay tạp chí gì đấy. Cả hai mẹ con đều thật thầm lặng. Phòng họ lúc nào cũng yên lặng như trong bảo tàng viện, ngay cả tiếng ti-vi cũng không có. Ðến nỗi nghe được tiếng động cơ của tủ lạnh nữa. Chỉ có hai lần nghe có tiếng nhạc từ máy thu thanh. Một lần là nhạc thính phòng Mozart có hắc tiêu, lần kia là một khúc nhạc kèn và đàn mà tôi chưa nghe bao giờ. Tôi nghĩ là nhạc Richard Strauss gì đấy, tuy không chắc. Nhưng ngoài những lần ấy ra thì thật là yên lặng. có vẻ như là phòng của đôi vợ chồng già hơn là của hai mẹ con.

Chúng tôi thường gặp hai mẹ con họ trong phòng ăn, tiền sảnh, hành lang, hay trên đường tản bộ ngoài vườn. Vốn là một khách sạn quy mô nhỏ mà lại vào lúc chưa đến mùa, khách trọ không bao nhiêu, nên dù muốn dù không, cũng gặp nhau thường.

Gặp mặt nhau thì cả hai bên đến chào nhau. Lối chào của cả hai người có hơi khác nhau. Người con trai chỉ hơi nhếch cằm và mắt một tí, trong khi bà mẹ gật đầu chào rất đàng hoàng. Nhưng dù sao, hai cách chào của họ vẫn tạo ra cùng một ấn tượng. Rằng chung quy chỉ là chào hỏi thôi, không muốn đi xa hơn thế.

Cho dù có tình cờ ngồi cạnh nhau trong phòng ăn tối của khách sạn, hai mẹ con ấy cũng không trao đổi với chúng tôi một lời nào. Chúng tôi nói chuyện chúng tôi, hai mẹ con ấy nói chuyện của họ. Hai đứa tôi bàn chuyện có nên có con lúc này không, chuyện dời nhà, vay nợ hay tương lai công việc. Ðối với chúng tôi thì đấy là mùa hè cuối cùng của tuổi đôi mươi. Tôi không biết họ nói chuyện gì. Họ ít nói, khi nói thì tiếng nói nhỏ quá, cứ như là đang dùng thuật đọc môi mà hiểu nhau vậy, nên tôi chẳng làm sao mà nghe được họ nói chuyện gì.

Mà họ thật là khẽ khàng, ăn uống cứ như là đang nâng nhẹ vật gì dễ vỡ vậy. Hầu như chẳng nghe tiếng dao, nĩa, muỗng. Ðến nỗi có lúc tôi có cảm tưởng họ là mộng huyễn, mình ngoái đầu lại nhìn bàn họ ngồi thì tất cả đều tan biến đi mất!

Mỗi ngày, ăn sáng xong, chúng tôi mang hộp giữ lạnh thức ăn, ra bãi biển. Bôi dầu chống nắng lên người, nằm lên khăn trải, phơi nắng. Tôi vừa uống bia vừa nghe nhạc Rolling Stones, Marvin Gaye từ máy quay băng cá nhân, còn vợ tôi thì đọc lại bản bỏ túi “Cuốn theo chiều gió.” Mặt trời mọc từ đất liền, tiến ngược với hướng bay của phi cơ trực thăng, rồi chìm xuống đường chân trời.

Ngày nào cũng khoảng 2 giờ chiều là thấy hai mẹ con và chiếc xe đẩy ấy ra bãi. Bà mẹ mặc áo đầm ngắn tay, hàng trơn, màu chìm tối, mang giày sandal bằng da; người con trai thì áo hoa Hawaii hay áo Polo, quần vải. Bà mẹ đội mũ rơm trắng rộng vành, còn con không đội mũ, chỉ đeo kính mát Rayban màu lục đậm. Hai người ngồi dưới bóng cây dừa, chẳng nói năng gì, chỉ nhìn đăm đăm ra khơi. Bóng cây dời đi thì họ cũng dời theo tí chút. Họ có bình thủy màu bạc, thỉnh thoảng rót ra cốc giấy thức uống gì đấy. Chẳng biết họ uống gì. Có khi họ ăn vài miếng bánh quy xốp.

Có hôm họ chỉ ngồi đấy 30 phút rồi đi đâu mất, hôm khác lại ngồi suốt ba giờ. Có khi đang bơi, tôi cảm thấy tia nhìn của họ trên người mình. Từ bè nổi đến hàng dừa là một khoảng cách khá xa, nên có lẽ đấy chỉ là ảo giác của tôi thôi, nhưng leo lên bè nổi, đưa mắt về hướng bóng cây dừa ấy, thì quả là họ đang nhìn về phía tôi. Thỉnh thoảng, bình thủy màu bạc của họ loé sáng lên như ánh dao sắc. Nằm sấp trên bè nổi, lơ đãng ngắm dáng họ một hồi, có lúc cảm giác về khoảng cách dần dần mất đi. Cảm thấy như họ vươn cánh tay ra thì có thể chạm đến người tôi được. Cự ly chỉ 50 sải bơi trong nước biển lạnh ấy, cảm thấy như không có. Tai sao tôi lại cảm thấy thế, tự mình chẳng hiểu được.

Những ngày như thế thong thả qua đi như mây bay trên trời cao. Giữa ngày này với ngày khác không có gì đặc sắc để phân biệt. Mặt trời lên, mặt trời lặn, phi cơ trực thăng bay trên trời và tôi uống bia, bơi lội.

Buổi chiều trước hôm rời khách sạn, tôi đi bơi lần cuối. Vợ tôi đang ngủ trưa nên tôi đi bơi một mình. Nhằm thứ Bảy, bãi biển đông người hơn ngày thường, dù vậy cũng còn khá vắng. Vài cặp trai gái nằm dài trên cát phơi nắng, vài gia đình giỡn nước ở bìa sóng, vài người tập bơi cách bờ không bao xa. Một nhóm người Mỹ có vẻ từ trong căn cứ hải quân ra, giăng dây nơi cây dừa, chơi bóng chuyền trên cát. Cả bọn đều cao lớn, da rám nắng, tóc cắt ngắn ngủn. Lính tráng thì thời nào cũng cùng một khuôn mặt như thế.

Nhìn ra xa không thấy bóng người nào trên hai bè nổi. Mặt trời lên cao, chẳng có cụm mây nao. Kim đồng hồ chỉ quá hai giờ rồi mà bóng dáng hai mẹ con ấy chẳng thấy đâu. Tôi nhúng chân xuống nước, lội ra cho đến lúc nước biển lên đến ngực, rồi bắt đầu bơi trườn về phía bè nổi bên trái. Tôi buông sức ở vai, thong thả bơi cho nước phủ khắp người. Chẳng có lý do gì để phải vội. Tay phải rút lên khỏi mặt nước lại vươn thẳng ra trước, rồi đến tay trái rút lên, vươn thẳng ra, đồng thời mặt ngước lên trên nước, hít một hơi đầy không khí trong lành vào sâu trong phổi. Nước bắn tung lên, lấp lánh trắng ánh mặt trời. Mọi thứ chung quanh tôi chiếu sáng lóng lánh. Như thường lệ, tôi vừa bơi vừa đếm số sải. Đếm đến 40 sải, nhìn tới trước thì đã thấy bè nổi ngay trước mắt. Từ đó đúng 10 sải bơi nữa là bàn tay tôi đã chạm được hông bè nổi. Chính xác như mọi khi. Tôi thả nổi, điều chỉnh nhịp thở một lúc rồi nắm thang leo lên bè nổi.

Nào ngờ trên bè nổi đã có khách đến trước rồi. Một phụ nữ Mỹ to béo tóc vàng. Từ bãi biển nhìn ra tưởng không có ai trên bè nổi, chứ thật ra bà này đã nằm dài trong góc bè nên tôi đã không thấy được. Hoặc là lúc tôi nhìn ra thì bà đang bơi khuất sau bè nổi không chừng. Thế nào đi nữa thì bây giờ bà ta đang nằm sấp trên bè nổi. Bà ta mặc một bộ áo tắm hai mảnh màu đỏ nhỏ xíu như mảnh cờ phất phới đánh dấu chỗ có rải thuốc trừ sâu, thường thấy trên các đám ruộng. Thân người thật là to béo nên mảnh bikini trông càng thảm hại. Có vẻ bà mới đến bơi không lâu nên da còn trắng như giấy viết thư.

Tôi vừa vung vẩy nước vừa leo lên bè nổi, thì bà ấy chỉ nhướng mắt lên một chút nhìn dáng tôi, xong nhắm mắt lại. Tôi ra góc đối diện với chỗ bà nằm, ngồi thả chân xuống nước, ngắm phong cảnh bãi biển.

Dưới bóng cây dừa vẫn chưa thấy hai mẹ con ấy. Mà các nơi khác, cũng không thấy. Bởi ở đâu trên bãi biển thì cái xe đẩy màu bạc không chút tì vết của họ cũng đập vào mắt cả. Không che giấu được. Thường cứ đến khoảng hai giờ chiều là chắc như đóng triện, thế nào họ cũng ra bãi, nên hôm ấy không thấy bóng dáng họ đâu cả, tôi có cảm giác tay chân mình trống trải quá. Thói quen là thứ gì thật kỳ lạ. Một yếu tế nhỏ nhặt mà thiếu vắng đi là mình cảm thấy như bị bỏ rơi khỏi một phần của thế giới.

Có thể hai mẹ con ấy đã rời khách sạn đi đâu rồi, nơi nào đấy, chẳng hạn chỗ họ đã ở, họ về mất rồi. Nhưng mà, lúc gặp họ ở phòng ăn khách sạn vào giờ ăn trưa, tôi đâu có thấy vẻ gì là họ sắp về. Họ thong thả ăn “món trưa đặc biệt hôm nay”, rồi người con uống trà đá, bà mẹ ăn bánh bông lan. Chẳng có vẻ gì là họ sắp sửa dọn hành lý ra về cả.

Tôi nằm sấp xuống như bà kia, vừa lắng tai nghe tiếng sóng nhỏ đập vào hông bè, vừa tắm nắng khoảng 10 phút. Thấy chim biển màu trắng bay về hướng bờ biển vạch một đường thẳng như thước thợ trên nền trời. Cảm nhận được những hạt nước lọt vào tai mình đang từ từ nóng lên theo ánh sáng mặt trời. Vô số tia nắng chiều mạnh mẽ châm thẳng xuống đất và biển. Nước biển đọng trên toàn thân tôi bốc hơi mất đi, đến lượt mồ hôi tuôn ra phủ đầy thân mình.

Ðến lúc hết chịu nổi sức nóng, tôi ngẩng mặt lên thì thấy bà kia đã ngồi lên rồi, hai tay đặt lên đầu gối, nhìn trời. Bà cũng ra mồ hôi đầy người như tôi. Mảnh bikini đỏ nhỏ xíu phồng lên, cắn chặt vào da thịt trắng, những hạt mồ hôi tròn dàn ra quanh đấy như những côn trùng li ti đang bám vào mồi. Khoảng bụng nung núc mỡ bạo quanh như vòng ngoài Thổ tinh, cổ tay cổ chân bà mập mạp đến gần như chẳng còn ngấn nào nữa. Trông bà có vẻ hơn tôi vài tuổi. Tuy không đến nỗi cách xa lắm. Chỉ đâu chừng 2 hay 3 tuổi thôi.

Lối mập mạp của bà không tạo ấn tượng bệnh hoạn gì. Khuôn mặt cũng không tệ. Chỉ có hơi nhiều thịt thôi. Lớp mỡ đã tự nhiên mà dính vào người bà như vụn sắt bị hút vào nam châm. Lớp mỡ khởi đầu ngay dưới vành tai, vẽ một đường thoai thoải xuống vai, cứ thế nối liền với cánh tay phồng lên. Không khác gì anh chàng làm bằng bánh xe trong quảng cáo vỏ bánh xe Michelin vậy. Lối mập mạp như thế của bà ta khiến tôi liên tưởng đến thứ gì như là số mệnh ấy. Mọi khuynh hướng trên đời này đều là bệnh hoạn của số mệnh cả.

“Nóng quả nhỉ?.” Từ góc kia, bà ta nói với qua bằng tiếng Anh. Ðại loại những bà mập thì giọng nói cao và có chút ngọt ngào như thế. Ít khi tôi gặp phụ nữ mập mà có giọng trầm. Chẳng hiểu tại sao.

“Nóng thật chứ.” Tôi đáp với qua. - “Này, mấy giờ rồi, anh biết không?” Bà hỏi.

Tôi bất giác dõi mắt nhìn vào bãi biển rồi nói. - “Khoảng 2 giờ 30 hay 40 gì đấy.”

Hừm” Bà nói, có vẻ không tin gì mấy. Rồi dùng ngón tay như cái bay, chùi mồ hôi ở đầu mũi và đôi má phúng phính. Mấy giờ chăng nữa, có lẽ cũng chẳng sao cả đối với bà. Chỉ là bà muốn có chuyện gì để mà hỏi đó thôi. Thời gian là thứ độc lập thuần túy, nên người ta có thể đối xử một cách tùy tiện như thế.

Tôi thì đang muốn nhảy xuống nước lạnh mà bơi qua bè lên kia, nhưng lại không muốn bà ta tưởng mình tránh nói chuyện, nên đành hoãn lại một lúc. Tôi vẫn ngồi ở góc bè chờ xem bà ta có nói gì thêm không. Ngồi yên thì mồ hôi len vào mắt, vị muối làm xót mắt như có gì chích vào. Nắng căng da như sắp nứt ra.

“Ngày nào cũng nóng đến thế này sao?”, bà hỏi.

“Vâng, ngày nào cũng cỡ này. Tuy hôm nay có phần nóng hơn vì hoàn toàn không có mây.”

“Anh ở đây lâu rồi phải không? Da ăn nắng đen thui thế kia mà.”

“Cũng khoảng 9 ngày.”

“Da anh ăn nắng tốt thật.” Bà trầm trồ. - “Tôi mới đến chiều hôm qua thôi. Gặp lúc mưa chiều nên mát quá, đầu ngờ lại nóng đến thế này.”

Đột ngột mà tắm nắng đến cháy da thì khổ lắm đấy. Thỉnh thoảng cũng nên vào trong mát.” Tôi nhắc.

“Tôi trọ ở túp lều chuyên dùng cho gia đình quân nhân đấy.” Bà ta nói, chẳng thèm để ý đến lời tôi khuyên. - “Anh tôi là sĩ quan hải quân, rủ tôi đến chơi. Hải quân cũng sướng lắm đấy. Tiền lương không tệ, mà bổng lộc lại dồi dào. Chứ thời tôi còn là học sinh thì đúng vào thời chiến tranh Việt Nam, có anh em đi lính thì bị người ta khi dễ. Đúng là thời đại đã đổi khác.”

Tôi gật gù không sốt sắng lắm.

“Nói chuyện hải quân, thì chính ông chồng cũ của tôi cũng từ hải quân ra. Phi công trong đội bay của hải quân đấy. Thế anh có biết hãng United Airlines không?”

“Tôi biết chứ.”

“Ðấy, ông ấy giải ngũ khỏi hải quân thì vào làm phi công ở đấy. Lúc bấy giờ, tôi là tiếp viên hàng không, vì thế mà thân mật với nhau, rồi lấy nhau. Khoảng năm một ngàn chín trăm bảy mươi... mấy, tôi không nhớ rõ, nhưng đã sáu năm trước đây rồi. Thì cũng là chuyện thường xảy ra thôi.”

“Thế à?” Tôi nói.

“Đúng thế. Nhân viên phi hành của hãng bay thì giờ giấc làm việc không nhất định, thế nào rồi làm chung cũng dính cặp với nhau. Công việc thì cần tập trung thần kinh hơn bình thường một tí. Thế nên, tôi kết hôn xong, nghỉ việc, thì ông ấy lại cặp với người khác. Chuyện đó cũng thường xảy ra thôi. Cứ thế mà nhảy từ tiếp viên này sang tiếp viên khác.”

“Thế bây giờ thì bà ở đâu?” Tôi đổi đề tài nói chuyện.

“Los Angeles”, Bà tạ đáp. - “Anh đến Los lần nào chưa?”

 “Chưa” Tôi nói.

“Tôi sinh ra ở Los. Rồi theo công việc của bố tôi mà dời sang Salt Lake City. Thế anh đã đến Salt Lake City chưa?”

“Chưa.” Tôi nói

“Cũng chẳng phải là chỗ nên đến. Xong trung học, tôi lên đại học ở Florida, xong đại học đi New York, kết hôn rồi thì dời sang San Francisco. Ly dị xong lại về Los Angeles. Kết cuộc, đi một hồi lại trở về chỗ cũ.” Bà nói, và lắc đầu.

Tôi chưa từng thấy tiếp viên hàng không nào đẫy đà như bà, nên có hơi ngờ ngợ. Nữ tiếp viên hàng không có vóc dáng to lớn như đô vật hay có cánh tay mập mạp hay có ria mép thì tôi còn thấy, chứ mập tròn đến như thế này thì chưa bao giờ. Nhưng không chừng United Airlines có thể không ngại gì chuyện ấy. Hoặc là bà ta thời ấy mảnh mai hơn bây giờ. Tôi đoán là bà ta mảnh mai hơn thì có lẽ cũng là người quyến rũ. có lẽ là sau khi kết hôn, bước xuống đất thì bà đã dần dần phình to ra như khinh khi cầu. Đến nỗi bây giờ tay chân bà trương phình trắng nung núc như nét vẽ khoa đại về nhân vật béo phì trong Innocent Art.

Tôi thử nghĩ xem béo mập đến thế thì cảm thấy như thế nào. Nhưng nóng bức quá, tôi hầu như chẳng suy nghĩ gì được cả. Trí tưởng tượng cũng cần thời tiết thích hợp nữa.

“Còn anh trọ ở đâu?” Bà hỏi tôi.

Tôi chỉ về phía khách sạn túp lều của tôi.

“Đến đây một mình à?”

“Không.” Tôi lắc đầu. - “Với vợ tôi.”

Bà ta mỉm cười, hơi nghiêng đầu hỏi:

“Tuần trăng mật à?”

“Ðã lấy nhau sáu năm nay rồi.” Tôi đáp.

Hừm”, bà ta nói. - “Anh trông chưa đến tuổi tác thế.”

Tôi chợt có hơi ngượng, đổi thế ngồi và lại nhìn về phía bãi biển. Trên đài canh chừng cứu nạn sơn màu đỏ ấy vẫn chẳng có bóng người nào. Người đi bơi không bạo nhiêu nên thanh niên canh chừng cứu nạn ấy đâm chán mà biến đâu mất tiêu rồi. Cậu ta đi vắng thì có tầm bảng treo đề là “Nhân viên canh chừng cứu nạn đi vắng. Người bơi lội phải cẩn thận trong vòng trách nhiệm của mỗi người.” Nhân viên canh chừng cứu nạn là một thạnh niên ít nói da ăn nắng đen thui. Lúc mới xuống bãi lần đầu, tôi hỏi cậu ta: Ở đây có cá mập không? Cậu ta im lặng nhìn mặt tôi một lúc rồi dang hai tay ra khoảng 80cm như muốn nói “Có đi nữa cũng chỉ chừng này thôi.” Vì thế tôi đã an tâm mà bơi lội.

Bóng dáng mẹ con xe đẩy ấy vẫn không thấy đâu. Băng ghế họ thường ngồi đang có một ông già mặc áo sơ mi ngắn tay màu trắng ngồi đọc báo. Bọn người Mỹ vẫn còn chơi bóng chuyền. Ở rìa nước, đám trẻ con đang chơi làm lâu đài trên cát hay tát nước vào nhau, đùa giỡn. Chung quanh chúng, sóng vỡ thành bọt li ti. Rồi từ phía ngoài khơi xuất hiện hai chiếc trực thăng màu xanh ô-liu, bay ngang trên đầu chúng tôi, vang tiếng động nặng nề, như đặc sứ trong bi kịch Hy Lạp mang tin gì trọng đại đến, bay mất hút về phía đất liền. Trong lúc ấy, chúng tôi im lìm dõi mắt theo thân phi cơ to tướng.

“Này, từ trên trời cao nhìn xuống như thế, chắc họ thấy chúng ta có vẻ hạnh phúc lắm nhỉ?” Bà ta nói. - “Thật là yên tĩnh, vui tươi, chẳng lo nghĩ gì. Cứ như là... bức ảnh gia đình vậy. Anh có nghĩ thế không?”

“Có lẽ thế thật” Tôi đáp.

Rồi tôi nhắm chừng lúc triều lên, nói lời từ biệt bà ta rồi nhảy xuống biển bơi vào bờ. Suốt trong lúc bơi đã nghĩ đến bia lạnh trong hộp giữ lạnh. Nửa chừng, ngừng bơi, ngoái nhìn lại bè nổi thì thấy bà ta vẫy tay. Tôi cũng nhẹ tay vẫy lại. Từ xa, trông bà ta thật giống con cá heo. Ðến có cảm giác như bà ấy sắp sửa mọc vi mà lội về dưới đáy biển.

Tôi về phòng, ngủ trưa một giấc ngắn, đến 6 giờ thì ra phòng ăn ăn tối như thường lệ, nhưng chẳng thấy bóng dáng hai mẹ con xe đẩy ấy đâu cả. Từ phòng ăn trở về cũng thấy khác với thường ngày, cửa phòng họ vẫn đóng kín. Từ khung cửa sổ gắn kính mà loang ra chút ánh đèn, nhưng khó mà biết hai mẹ con có ở đấy hay không.

“Hai mẹ con ấy hẳn đã dọn đi rồi sao chứ?.” Tôi ướm hỏi vợ tôi.

, biết có đúng thế không. Em chẳng để ý. Họ lúc nào cũng thầm lặng, không chú ý thì không biết là có đấy hay không.” Nàng vừa gấp áo đầm xếp vào va-li vừa nói có vẻ hờ hững. - “Có chuyện gì thế anh?”

“Không, có gì đâu. Không thấy bóng dáng họ ngoài bãi biển như thường lệ, nên anh lấy làm lạ một tí đấy mà.”

“Thế thì có lẽ họ dọn đi rồi. Bởi họ đã ở đây cũng đã lâu lắm rồi mà.”

“Có lẽ thế.” Tôi nói.

“Mọi người sớm muộn rồi cũng phải rời đi. Chứ sinh hoạt như thế này làm sao mà kéo dài mãi được.”

“Ừ thì thế.” Tôi nói.

Nàng đóng va-li lại, mang đến bên cửa. Chiếc va-li cuộn mình im lìm như cái bóng ở đấy. Những ngày nghỉ ngơi của chúng tôi sắp sửa chấm dứt.

Khi tôi mở mắt dậy thì dõi mắt tìm ngay đồng hồ bảo thức đã mang theo, kim dạ quang màu lục chỉ 1 giờ 20 phút. Tôi sực tỉnh giấc chỉ vì một cơn co giật mãnh liệt lạ thường. Cứ như là có thứ gì đấy lôi giật toàn thân tội. Đưa1mắt xuống khoảng tim thì thấy bắp thịt ngực ở đấy giật nẩy lên run rẩy từng hồi gấp gáp rõ rệt dù trong bóng đêm. Lần đầu tiên tôi bị như thế. Chứ tôi xưa nay, tim mạnh hơn người thường, mạch cũng chậm hơn nhiều. Tôi thích thể thao, và chưa bị bệnh hoạn gì cả. Thế nên ngực đập dồn dập như đang động kinh gì đấy như thế này là chuyện khó có được.

Tôi bước xuống giường, ngồi xếp bằng trên thảm, rướn thẳng lưng, hít hơi thật sâu, rồi thở ra. Buông sức từ vai, tập trung thần kinh vào khoảng rốn. Cử động như kéo dãn cơ bắp cho thân thể mềm dẻo ra như thế vài lần thì cơn co giật bớt dần đi, cuối cùng trở lại thành nhịp đập bình thường, nhẹ nhàng, không chú ý kỹ thì không hay biết.

Tôi đoán có lẽ vì mình đã bơi lội quá nhiều. Thêm vào đấy, trời nắng quá, và mệt mỏi tích tụ lại, những thứ ấy chồng chất lên nhau mà tác động mạnh mẽ lên thân thể tôi trong chốc lát thôi. Tôi tựa lưng vào tường, duỗi chân thẳng ra rồi từ từ vươn tay vươn chân ra nhiều phương hướng khác nhau, xem sao. Có vẻ không có gì dị thường cả. Nhịp tim cũng đã trở lại bình thường rồi.

Dù vậy, trên sàn thảm trong phòng khách sạn ấy, tôi không thể không nhận ra rằng mình đã qua mất thời thanh niên, đã đặt chân vào tiến trình suy thoái thể lực rồi. Tuy rõ ràng là vẫn còn trẻ đấy, nhưng chẳng còn là tuổi trẻ hoàn toàn không có chút bóng mờ. Mới vài tuần trước đây, cũng đã được nha sĩ quen cảnh bảo như thế rồi. Nha sĩ ấy bảo: “Ðến đây thì răng của anh chỉ còn quá trình mòn đi, lung lay và rụng ra mà thôi. Anh nên nhớ như thế thật kỹ. Anh chỉ còn có thể cố gắng làm chậm quá trình ấy được bao nhiêu hay bấy nhiều. Chứ không còn phòng ngừa gì được nữa. chỉ làm chậm đi mà thôi đấy.”

Ánh trăng trắng ngà lọt qua song cửa chiếu vào vợ tôi đang say ngủ. Như xác người hoàn toàn không có tiếng thở. Nàng thường ngủ say được như thế. Tôi cởi bộ áo quần ngủ đẫm mồ hôi, thay quần ngắn và áo sơ mi. Rồi đút túi chai Wild Turkey để trên bàn, rón rén đóng cửa phòng sao cho vợ khỏi thức giấc, mà ra ngoài. Trời đêm lành lạnh, mùi cỏ ẩm tỏa mờ như sương trên mặt đất. Tôi có cảm giác như đang đứng ở đấy một hang động khổng lồ. Ánh trăng nhuộm lên những cánh hoa, lá cây và vườn cỏ một màu khác lạ với ban ngày. Như ngắm thế giới qua kính lọc, vật này trông rõ nét hơn thực tế, vật khác lại chìm sâu vào trong một màu tro mất hết sinh khí.

Chẳng thấy buồn ngủ. Ý thức của tôi tinh tường như đồ sứ ướp lạnh, như nguyên thủy đã chẳng có thứ gì gọi là giấc ngủ. Tôi thử đi một vòng quanh túp lều, thong thả, không có mục đích gì cả. Chung quanh im lìm, không có tiếng động nào vọng đến ngoài tiếng sóng. Mà tiếng sóng ấy cũng thật nhẹ, nếu không dừng chân lắng tai nghe thì không nhận ra được. Tôi đứng lại, lấy chai whisky từ trong túi ra, đưa lên miệng uống.

Ði xong một vòng quanh túp lều, tôi lại băng ngang một đường ngay giữa vườn cỏ trông như cái ao tròn đóng băng dưới ánh trăng. Rồi đi dạo dọc theo bồn cây cao đến ngang lưng, lên một bậc cấp nhỏ, ra đến quầy rượu ngoài vườn trang hoàng theo kiểu vùng nhiệt dới. Mỗi đêm tôi vẫn ra đây uống hai ly Vodka Tonic, nhưng tất nhiên lúc này thì quầy rượu đã đóng rồi. Cửa xếp đã đóng xuống, chỉ còn khoảng một tá bàn tròn la liệt ngoài vườn thôi. Cây dù che nắng trên các bàn đã gấp thẳng xuống, trông như loài chim đêm khống lồ xếp cánh đứng nghỉ.

Người thanh niên ngồi xe đẩy đang chống tay trên một chiếc bàn như thế, nhìn ra biển, một mình. Khung kim loại của chiếc xe đẩy tắm đẫm ánh trăng, chiếu sáng ánh trắng như băng. Nhìn từ xa thấy như loại máy móc kim thuộc gì tinh xảo được chế tạo cho mục đích gì đặc biệt ban đêm. Những nan hoa của bánh xe đẩy trông giống như răng nanh của loài thú đã tiến hóa dị thường, phóng ra tia sáng ám khí trong bóng đêm.

Lần đầu tiên tôi thấy anh ta chỉ có một mình. Ðã quen thấy hai mẹ con như bóng với hình rồi, nên lúc thấy anh ta một mình như thế, tôi có cảm giác kỳ dị. Ðến như thấy chính chuyện nhìn thấy anh ta một mình, đã là hành vi thất lễ rồi. Anh ta vẫn mặc áo Hawaii màu cam, quần vải, như thường lệ. Toàn thân không động đậy, cứ thế mà nhìn đăm đăm ra biển.

Tôi bối rồi không biết làm sao cho phải, nhưng rồi thong thả bước về phía anh ta, gắng lọt vào tằm mắt anh mà đừng làm anh phải giật mình. Lúc tôi đến gần chỉ còn 2, 3 thước nữa, thì anh xoay mặt về phía tôi, gật đầu chào như thường lệ.

“Chào anh.” Tôi nói với giọng thật nhỏ cho hợp với cảnh đêm tịch mịch.

“Chào anh.” Anh ta cũng nhỏ nhẹ đáp lễ.

Tôi kéo chiếc ghế ở bàn bên cạnh anh ra ngồi, và dõi mắt ra hướng anh đang nhìn. Bãi biển có một khoảng bờ đá dàn rộng, những cột đá thấp chĩa mũi nhọn ra, lởm chởm như bánh muffin tách đôi, đón những đợt sóng không lớn lắm tấp vào. Sóng đánh len vào giữa các cột đá, bắn lên những tia trắng như những nếp riềm thanh nhã, rồi sóng cuốn dạt ra. Thỉnh thoảng những nếp riềm trắng lại thay đổi hình dạng một cách kỳ diệu, những độ lớn của những ngọn sóng luôn luôn giống nhau như đã được đo bằng thước thợ. Những đợt sóng đơn điệu, nhã nhặn như quả lắc đồng hồ, chẳng có đặc điểm gì đáng kể.

“Hôm nay không được gặp anh ở bãi biển.” Tôi thử gợi chuyện qua bàn bên kia. Anh ta khoanh tay trước ngực, hướng mắt về phía tôi.

“Vâng, đúng thế.” Anh nói. Rồi im lặng một hồi, thở nhẹ. Hơi thở như đang ngủ. - “Hôm nay nghỉ suốt ngày trong phòng đấy. Sự thật là mẹ tôi không được khỏe. Nói là không được khỏe, không phải cụ thể là thân người bị bệnh gì đâu. Mà chỉ là về tinh thần thôi. Thần kinh đấy. Thần kinh bị mệt mỏi quá.”

Nói thế xong, anh ta lấy ngón tay giữa của bàn tay phải cạ lên má vài lần. Ban đêm, đôi má không có hình tích gì của râu mọc ra ấy trông láng lẩy trơn tru như đồ sứ.

“Thế nhưng, đã bớt rồi. Bây giờ thì bà đã ngủ say được. Trường hợp của mẹ tôi thì khác với chân tôi, bà chỉ cần ngủ ngon một đêm là hồi phục ngay. Tất nhiên là không dứt hẳn được, nhưng tạm thời thì không còn triệu chứng ấy nữa. Sáng dậy thì khỏe mạnh trở lại.”

Sau đó, anh ta nín thinh chừng 20 hay 30 giây, mà cũng có thể là một phút. Tôi duỗi chân đang vắt lên nhau dưới gầm bàn, chờ dịp rút lui. Nghĩ ra là mình sống mà thường phải canh chừng dịp để rút lui hoài. Có lẽ vì cá tính như thế. Nhưng tôi chưa kịp nói gì thì anh ta lại nói trước rồi.

“Hẳn là chuyện này làm anh chán? Đem chuyện bệnh hoạn ra nói với người khỏe mạnh hẳn là thô vụng quá.”

“Không đâu.” Tôi nói. - “Làm gì có người mạnh khỏe hoàn toàn được.”

Nghe tôi nói thế, anh ta gật đầu nhẹ.

“Bệnh thần kinh thì có vô số cách biểu lộ. Nguyên nhân chỉ có một, nhưng kết quả thì vô số. Giống hệt như động đất ấy. Tính chất của năng lượng bị tống ra thì giống nhau, nhưng tùy theo địa điểm mà sinh ra những hiện tượng khác hẳn nhau trên mặt đất. Có lúc tạo ra một đảo mới, cũng có lúc làm một hòn đảo biến mất.” Anh ta ngáp dài. Xong nói: “Xin lỗi.”

Trông anh ta có vẻ mệt mỏi quá, chừng như sắp gục xuống mà ngủ luôn, nên tôi thử nhắc anh trở về phòng ngủ thì tốt hơn.

“Không, xin anh đừng lo.” Anh ta nói. - “Có thể tôi trông như buồn ngủ lắm, nhưng thật ra chẳng buồn ngủ tí nào cả. Tôi thì mỗi ngày chỉ cần ngủ 4 giờ là đủ, mà chỉ ngủ được khoảng gần sáng thôi. Vì thế, khoảng giờ này thì hôm nào cũng ở đây, lơ mơ như thế này thôi. Xin anh đừng bận tâm.”

Nói xong, anh cầm đĩa gạt tàn thuốc Cinzano trên bàn lên, chăm chú ngắm nghía như ngắm một vật gì quý giá lắm.

“Trường hợp của mẹ tôi thì, nói thế nào nhỉ... khi bệnh thần kinh nổi lên thì nửa mặt bên trái dần dần co rúm lại. Người trở lạnh, miệng và mắt không cử động được như lúc bình thường. Triệu chứng đáng gọi là kỳ dị đấy. Nhưng xin đừng lo ngại quá mức. Bởi cũng chẳng trực tiếp liên kết với thứ bệnh chết người gì đâu. Chỉ là triệu chứng như thế thôi. Ngủ được thì khỏi ngay.”

Tôi gật đầu.

“Mà xin anh đừng cho mẹ tôi biết là tôi đã nói chuyện này với anh. Mẹ tôi không thích ai nói chuyện gì về thân thể của mình cả.”

“Tất nhiên là thế.” Tôi nói. - “Vả lại, chúng tôi ngày mai sẽ rời khỏi đây, chắc là sẽ không còn dịp nói chuyện với bà nữa.”

Anh ta lấy khăn tay trong túi ra hỉ mũi rồi cất khăn vào lại. Mắt nhắm nghiền như đang suy nghĩ lung lắm về điều gì đấy. Trầm mặc lảng vảng nơi đây một hồi lâu. Tôi tưởng tượng là tình cảm của anh ta đang lên xuống bấn loạn lắm.

“Thế thì buồn lắm.” Anh ta nói. - “Tôi rất tiếc, nhưng công việc đang chờ phải làm ngay.” Tôi nói.

“Nhưng mà có chỗ để trở về là tốt lắm đấy.” “Cũng tuỳ chỗ thôi.” Tôi cười, nói. - “Anh hẳn là đã ở đây lâu rồi?”

“Hai tuần. Có lẽ chừng đó. Chính xác mấy ngày thì không rõ, nhưng có lẽ là chừng đó.”

“Thế còn ở chơi lâu dài không?” Tôi thử hỏi.

” Anh ta nói, đầu lắc nhẹ. - “Một tháng hay hai tháng, tuỳ tình hình thôi. Tôi không chắc được, bởi chẳng phải là người quyết định. Anh rể tôi có nhiều cổ phần trong khách sạn này nên chúng tôi trọ ở đây rất rẻ. Bố tôi kinh doanh hãng gạch ngói, anh rể tôi mới thực sự là người thừa kế. Thành thật mà nói thì tôi không ưa ông anh rể này lắm, nhưng người thân trong gia đình thì mình có chọn lựa được

đâu. Vả lại, dù tôi có ghét đi nữa thì anh ấy cũng đâu nhất thiết phải là người đáng ghét. Người không được khỏe mạnh thì có khi hẹp hòi mà.”

Anh ta nói thế, rồi lại nhắm mắt.

- “Dù sao, anh ấy cũng chế tạo rất nhiều gạch men. Loại đắt tiền dùng để lát ngưỡng cửa những ngôi nhà lớn ấy. Và anh ấy có rất nhiều chứng khoán, cổ phần. Nói gọn là tay tài giỏi đấy. Bố tôi cũng thế. Nghĩa là chúng tôi, gia đình tôi ấy mà, chia ra rõ rệt người khỏe mạnh với người không khỏe mạnh, và người tài giỏi với người không tài giỏi. Kết quả là dần dần không còn có cơ chuẩn đánh giá nào khác nữa. Người khỏe mạnh chế tạo gạch men, khéo léo sử dụng tài sản, khéo léo trốn thuế, để nuôi người không khỏe mạnh. Một hệ thống như thế, kể về mặt cơ năng thì rất là hữu hiệu đấy.”

Anh ta cười, đặt đĩa gạt tàn lên bàn.

- “Gia đình quyết định cả đấy. Ở đây 1 tháng, ở kia 2 tháng. Vì thế, tôi như là mưa rơi, ở nơi này rồi nơi khác. Chính xác thì là cả tôi lẫn mẹ tôi nữa.”

Anh ta lại ngáp dài và nhìn ra phía bãi biển. Sóng vẫn tiếp tục đánh vào bờ đá một cách máy móc. Trăng ngà lên cao, lơ lửng. Tôi đưa mắt nhìn đồng hồ xem mấy giờ rồi, nhưng không đeo đồng hồ theo, hẳn là đã bỏ quên trên bàn đêm trong phòng.

“Gia đình là thứ gì đấy thật kỳ dị. Dù có song suốt hay không.” Anh ta nói, vừa nheo mắt nhìn ra biển. - “Anh cũng có gia đình đấy đủ đấy chứ.”

Tôi đáp: bảo là có cũng được, mà bảo là không cũng chẳng sao cả. Tôi không rõ vợ chồng không con thì có gọi được là gia đình không. Nghĩ cho cũng thì cũng chỉ là một thứ quy ước theo một tiền đề nào đó thôi. Tôi bảo anh ta thế.

“Có lẽ thế.” Anh ta nói. - “Về bản chất thì gia đình tự nó phải là tiền đề rồi. Không thế thì cả hệ thống không thể hoạt động trôi chảy được. Trong ý nghĩa đó thì tôi là một lá cờ để đánh dấu; nhiều sự việc tác động, xoay quanh trung tâm là đôi chân không cử động được nữa của tôi... Anh hiểu tôi nói gì chứ nhỉ?”

“Tôi nghĩ là hiểu được.” Tôi đáp.

“Lý thuyết của tôi là: trong hệ thống ấy, khiếm khuyết luôn luôn hướng đến khiếm khuyết cao hơn, thặng dư luôn luôn hướng đến mức thặng dư cao hơn nữa. Nhạc sĩ Debussy lúc sa vào tình trạng trì trệ không sao viết xong khúc nhạc cho màn ca kịch của mình, đã nói như thế này: (Tôi đang chạy đuổi theo hư không suốt từ sáng đến tối). Như thế thì công việc của tôi chính là tạo ra cái hư không ấy.”

Rồi anh ta lặng thinh, lại đắm chìm vào sự trầm mặc mất ngủ của anh. Thời gian thì không thiếu. Có vẻ như ý thức của anh đã lang thang nơi biên cảnh xa tắp nào đó rồi quay trở lại, nhưng chỗ quay lại đã lệch đi chút ít khỏi điểm khởi hành.

Tôi rút chai whisky trong túi ra đặt lên bàn.

“Mời anh cũng uống với tôi, rất tiếc không có ly.” Tôi ướm lời.

“Không, cảm ơn anh.” Anh ta mỉm cười nhẹ. - “Tôi không uống rượu. Mà nước cũng uống rất ít. Nhưng xin anh đừng ngại, cứ tự nhiên. Tôi cũng không ghét gì chuyện nhìn người khác uống rượu.”

Tôi nâng chai rót rượu vào miệng. Trong dạ dày nghe ấm lên, tôi nhắm mắt một lúc tận hưởng hơi ấm ấy. Anh ta nhìn đăm đăm hình dạng tôi như thế từ bàn bên kia.

“Mà này, tôi hỏi thế này có phần kỳ dị, thế nhưng anh có rành về dao không?” Đột nhiên anh ta hỏi như thế.

“Dao à?” Tôi ngạc nhiên hỏi lại.

“Vâng, dao đấy. Dao để cắt đấy mà. Dao săn ấy.”

Tôi nói: dao săn thì tôi không rõ, chứ loại dao cắm trại không mấy lớn hay dao nhiều lưỡi kiểu quân đội Thụy Sĩ thì tôi đã có dùng rồi. Tất nhiên, nói thế không có nghĩa là tôi hiểu biết rành rẽ về các loại dao.

Tôi nói thế xong, anh ta xoay bánh xe ghế đẩy đến bàn tôi, ngồi đối diện và nói.

“Thật ra tôi muốn anh xem giùm một con dao. Tôi mua được khoảng hai tháng trước nhưng hoàn toàn mù tịt về thứ này, nên muốn có người nào đấy xem giùm và cho biết đại khái thôi cũng được. Nếu không phiền lắm thì xin anh giúp cho.”

“Có sao đâu.” Tôi nói.

Anh ta lấy trong túi ra một phiến gỗ dài độ 10cm, đặt lên bàn. Phiến gỗ màu nâu nhạt hình cánh cung tuyệt đẹp. Đặt lên bàn nghe “cộp” một tiếng vững chắc, nặng nề. Một con dao săn lưỡi xếp loại nhỏ. Nói là loại nhỏ, chứ cũng to bản và dày, trông đáng nể lắm. Dao săn thì được chế tạo để ít nhất cũng lóc được da gấu.

“Xin đừng nghĩ gì không tốt.” Người thanh niên ấy nói. - “Tôi hoàn toàn không có ý định đâm chém ai, hay làm hại mình đâu. Chỉ là một hôm, đột nhiên tôi nảy ra ý muốn mãnh liệt phải có một con dao. Có lẽ vì đã xem ti-vi hay đọc tiểu thuyết về dao, nhưng tôi không nhớ được. Dù gì đi nữa, tự nhiên muốn có con dao riêng của mình. Vì thế đã nhờ người quen mua hộ cho con dao này từ một tiệm bán đồ thể thao đấy. Tất nhiên không cho mẹ tôi biết, và ngoài người quen ấy ra, cũng chẳng ai biết là tôi đi đâu cũng mang theo con dao này trong túi. Bí mật của riêng tôi đấy.”

Anh ta cầm con dao trên bàn lên, đặt trên lòng bàn tay một lúc, như đang cân nhắc trọng lượng kỳ diệu của con dao, xong đưa qua bàn cho tôi. con dao thật nặng chắc, đầy tay. Trông giống như phiến gỗ, chỉ vì mảnh gỗ để cầm cho khỏi trơn được lắp trên mặt cán dao bằng đồng thau đó thôi, chứ toàn thân dao làm bằng đồng thau và thép. Vì thế cầm lên tay thì nặng hơn nhiều so với chỉ đoán bằng mắt.

“Anh mở lưỡi dao ra xem.” Anh ta nhắc.

Tôi bấm vào nút lõm phía trên cán dao, rồi kéo lưỡi dao nặng nề ra. Nghe “cụp” một tiếng khô khan, lưỡi dao đã vào đúng chỗ, cố định. Lưỡi dao dài khoảng 8 hay 9cm. Cầm lên tay con dao bật lưỡi hẳn hoi thế này, tôi càng kinh ngạc vì vẻ nặng chắc của nó. Không chỉ đơn giản là nặng mà thôi. Sức nặng kỳ diệu cứ như là bám chặt thật gọn gàng trong lòng bàn tay mình. Vung tay ra chém nhẹ bên trái bên phải, phía trên phía dưới, thì cảm thấy do sức nặng ấy mà tay nắm không rung, lưỡi dao theo sát được cứ động của tay mình. Vòng cung cán dao cũng đạt mức lý tưởng, thật vừa vặn trong tay. Nắm chặt lại vẫn không có chút cảm giác tê cứng, mà buông ngón tay ra, con dao vẫn nằm vững trong bàn tay.

Hình dạng lưỡi dao cũng tuyệt xảo. Lưỡi thép dày mài nhọn lẻo đến rợn người, khoảng giữa vun lên một vòng trơn láng, sống dao khắc đường răng cưa dữ tợn. Có cả đường rãnh sâu cho máu chảy, trông có vẻ ghê rợn.

Tôi xem xét con dao kỹ lưỡng dưới ánh trăng, thử vung lên vài lần xem sao. Cảm nhận được là con dao thượng hạng, thiết kế thật ăn sát với cách sử dụng. Hẳn là nhát cắt cũng phải ngọt lắm.

“Dao tốt quá chứ.” Tôi khen. - “Tinh tường hơn thì tôi không hiểu, nhưng tôi thấy quen tay ngay, mọi bộ phận trông tinh xảo, thăng bằng cũng vững chãi, đúng là loại dao thượng hạng. Chỉ cần lau dầu cẩn thận là giữ được suốt đời.”

“Dao săn như thế có hơi nhỏ quá không?”

“Cỡ này là đủ lắm rồi. Lớn quá lại khó sử dụng.”

Tôi đóng lưỡi dao đánh “cụp” một tiếng, trả lại anh ta. Anh lại kéo lưỡi dao ra, xoay vòng trên bàn tay thật điệu nghệ. Cứ như là biểu diễn ảo thuật vậy. Làm được như thế cũng nhờ con dao nặng chắc. Rồi anh nhắm một mắt như đang nhắm bắn súng, vươn tay dao chĩa thẳng lên mặt trăng. Ánh trăng chiếu lên lưỡi dao và khung xe đẩy của anh loáng sáng rỡ ràng như những khúc xương trắng loát đã lóc hết thịt đi.

“Anh cắt gì xem hộ tôi được không?” Anh ta nói.

Chẳng lý do gì để từ chối, tôi cầm con dao, đến cây dừa gần đấy, đâm vài nhát vào thân cây, rồi lóc vỏ cây ra. Xong, cạnh hồ bơi có tấm nhựa bọt rẻ tiền nên tôi cầm lên, cắt dọc ra làm hai. Nhát cắt thật ngọt.

Cắt đâm loạn xạ các thứ thấy được chung quanh đấy như thế, tôi chợt nhớ đến người đàn bà mập da trắng đã gặp trên bè nổi lúc trưa. Thấy như xác thịt trắng phồng của bà ta đang nổi lơ lửng như khối mây mệt nhọc giữa trời. Bè nổi, biển, trời, trực thăng... tất cả tụ lại thành khối hỗn độn, mất đi cảm giác viễn cận mà tiến đến bao quanh tôi. Tôi vừa gắng giữ thăng bằng thân thể, vừa nhẹ nhàng vung dao ra khoảng không quanh mình. Bầu không khí ban đêm trơn láng như đầu. Chẳng có gì cản trở động tác của tôi cả. Ðêm đã khuya lắm, thời gian như xác thịt mềm đầy nhựa sống.

“Thỉnh thoảng tôi lại nằm mộng.” Người thanh niên nói. Tiếng nói vang vọng như thoát lên từ đáy huyệt sâu. - “Thấy ngay từ trong đầu mình, lưỡi dao đâm nghiêng vào lớp thịt ký ức. Không thấy đau. Chỉ đâm lút vào, thế thôi. Rồi mọi thứ dần dần tiêu tan mất đi, chỉ còn trơ lại con dao như một khúc xương trắng. Giấc mộng như thế đấy.”[1]

❀ ❀ ❀

[1] Truyện ngắn “Hunting Knife” đã đăng trong Tuyển tập “Kaiten Mokuba no Deddo Hi-to - Carousel's Dead Heat - Chạy đua sát nút trên vòng quay Ngựa Gỗ” tháng 10 năm 1985.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.