Người Tuyết

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 144 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ngày Thứ Tư - 10
Phấn

❊ ❊ ❊

Ba rưỡi sáng và Harry mệt nhoài mở khóa cửa căn hộ của mình. Anh cởi đồ và đi thẳng vào phòng tắm. Anh cố không nghĩ ngợi miên man trong lúc để những tia nước bỏng rát làm da anh tê tái, xoa dịu cơ bắp cứng đờ và làm tan cơ thể đông cứng của anh. Cảnh sát đã trao đổi với Rolf Ottersen, nhưng cuộc thẩm vấn chính thức đành phải gác lại đến sáng. Tại Sollihøgda, họ nhanh chóng hoàn tất việc đến từng nhà lấy lời khai của hàng xóm sống quanh đó; cũng chẳng có mấy người để mà hỏi. Nhưng các sĩ quan thuộc Đơn vị Điều tra Hiện trường cùng bầy chó nghiệp vụ vẫn miệt mài làm việc, và tiếp tục làm thâu đêm. Họ phải cố gắng tận dụng khoảng thời gian ít ỏi trước khi chứng cứ bị vấy bẩn, tan chảy hoặc bị tuyết vùi lấp. Anh tắt vòi sen. Hơi nước mù mịt khiến căn phòng trở nên xám ngoét, và khi anh vừa lau gương xong thì một lớp hơi nước đã ngưng tụ lại ngay lập tức. Nó khiến mặt anh trở nên méo mó và xóa nhòa những đường nét của thân thể lõa lồ.

Harry đang đánh răng thì điện thoại đổ chuông. “Harry nghe.”

“Stormann, người xử lý nấm mốc đây.”

“Anh thức khuya vậy,” Harry ngạc nhiên nói.

“Tôi đoán anh còn bận làm việc.”

“Vậy ư?”

“Bản tin đêm khuya có nhắc đến. Người phụ nữ ở Sollihøgda. Tôi trông thấy anh ở hậu cảnh. Tôi có kết quả rồi đây.”

“Thế nào?”

“Anh có nấm. Lại còn là bọn háu ăn nữa. Aspergillus versicolor.”

“Nghĩa là sao?”

“Thứ đó màu gì cũng có. Đây là nếu anh nhìn thấy chúng. Ngoài ra thì còn có nghĩa là tôi phải phá dỡ thêm vài bức tường nhà anh.”

“Ừm.” Harry mơ hồ cảm thấy mình nên tỏ thái độ quan tâm và lo lắng hơn mới phải, hoặc chí ít là hỏi han thêm. Nhưng anh chẳng thể nào bận tâm nổi. Nhất là vào giờ này.

“Vậy cứ tự nhiên.”

Harry cúp máy và nhắm mắt lại. Chờ đợi những bóng ma, những điều không tránh được, chừng nào anh còn tránh xa liều thuốc duy nhất anh biết có tác dụng với những bóng ma ấy. Biết đâu lần này anh sẽ gặp một người quen khác. Anh đợi cô ta hiện ra từ trong rừng, tập tễnh lê bước về phía anh với tấm thân khổng lồ màu trắng không chân, quả bóng bowling dị dạng với cái đầu bên trên, hai hốc đen ngòm với những con quạ đang rỉa nốt phần còn lại của tròng mắt, hàm răng nhe ra sau khi bầy cáo đã xử lý cặp môi. Khó mà biết được cô ta có xuất hiện hay không; tiềm thức vốn là thứ khó lường. Khó lường đến nỗi khi chìm vào giấc ngủ, Harry mơ thấy mình đang nằm trong bồn tắm nước ngập quá đầu, lắng nghe tiếng ì ầm trầm trầm của bong bóng và tiếng cười phụ nữ. Những dải tảo biển mọc ra từ lớp men trắng, vươn tới chỗ anh như những ngón tay màu xanh của một bàn tay trắng bệch đang lần tìm tay anh.

Ánh nắng buổi sáng in những ô hình chữ nhật lên mấy tờ báo đang nằm trên bàn làm việc của sếp Đội Hình sự Gunnar Hagen. Chúng làm bừng sáng nụ cười của Sylvia Ottersen cùng vài hàng tít trên trang nhất. BỊ GIẾT VÀ BỊ CHẶT ĐẦU, BỊ CHẶT ĐẦU TRONG RÙNG, và cuối cùng, ngắn gọn nhưng súc tích nhất, BỊ CHẶT ĐẦU.

Đầu Harry đau như búa bổ kể từ lúc tỉnh dậy đến giờ. Anh thận trọng đưa hai tay lên ôm đầu thầm nghĩ tối qua mà có uống chắc cũng chẳng sao, cơn đau cũng đâu thể tệ hơn được. Anh chỉ muốn nhắm mắt lại, nhưng Hagen đang nhìn thẳng vào anh. Harry nhận thấy miệng Hagen cứ liên tục mở ra, khua khoắng rồi ngậm vào, nói đơn giản là ông ta đang thốt ra những lời mà Harry khó lòng bắt sóng nổi.

“Kết luận là…” Hagen nói, và Harry biết đã đến lúc phải dỏng tai lên nghe rồi, “từ giờ trở đi vụ này sẽ được ưu tiên hàng đầu. Dĩ nhiên, điều đó có nghĩa chúng ta sẽ lập tức mở rộng quy mô tổ điều tra của cậu và…”

“Phản đối,” Harry đáp. Chỉ nói ra đúng hai từ ấy thôi cũng khiến anh cảm thấy đầu mình như sắp nổ tung. “Sau này chúng tôi có thể sẽ xin bổ sung nhân lực, nhưng tạm thời tôi không muốn có thêm ai khác góp mặt trong các cuộc họp. Bốn người là đủ rồi.”

Vẻ mặt Gunnar Hagen sửng sốt cực độ. Với những vụ án mạng, ngay cả vụ đơn giản đi nữa, tổ điều tra tối thiểu luôn phải có hơn chục người.

“Tư duy tự do phát huy tác dụng nhất trong những nhóm nhỏ,” Harry nói thêm.

“Tư duy ư?” Hagen kêu lên. “Thế còn quy trình làm việc thông thường của cảnh sát thì sao? Lần theo chứng cứ pháp y, thẩm vấn, kiểm tra các tin mật báo? Và cả việc hợp tác trao đổi thông tin nữa? Toàn là những…”

Harry giơ tay lên cắt ngang lời lẽ đang tuôn trào. “Lý do chính là thế đấy. Tôi không muốn chết chìm trong mấy thứ đó.”

“Chết chìm?” Hagen trân trân nhìn Harry với vẻ kinh ngạc. “Vậy thì tốt hơn hết tôi nên giao vụ này cho người nào biết bơi.”

Harry xoa hai bên thái dương. Hagen biết tại thời điểm này, ở Đội Hình sự, ngoài thanh tra Hole thì làm gì còn ai dám đứng ra chỉ đạo điều tra một vụ án như thế này và Harry biết rõ điều đó. Hơn nữa, Harry còn biết rằng chuyển vụ này cho cục điều tra trung ương, Kripos, thì quả là một sự mất thể diện ghê gớm đối với vị POB mới được bổ nhiệm, ông ta thà hy sinh cánh tay phải lông lá thấy ghê của mình còn hơn.

Harry thở dài. “Các tổ điều tra nói chung thường ngoi ngóp trong dòng thác thông tin. Mà đây mới là các vụ thông thường thôi. Còn những vụ chặt đầu được đưa lên trang nhất…” Harry lắc đầu. “Dân tình mất trí hết rồi. Sau khi bản tin đêm qua phát sóng, chúng tôi đã nhận được hơn trăm cuộc điện thoại. Sếp biết đấy, toàn mấy lão say lèm bèm và những gã thần kinh, cộng thêm vài kẻ mới nữa. Chúng nói rằng vụ giết người đó được nhắc tới trong Sách Khải huyền, những chuyện kiểu thế. Tính đến giờ này hôm nay chúng tôi đã nhận hai trăm cú điện thoại. Sếp cứ chờ đến lúc lộ ra tin tức là có thể còn vài thi thể nữa rồi biết. Cứ cho là chứng ta cử hai mươi người trực điện thoại. Họ sẽ kiểm tra và viết báo cáo. Sau đó người phụ trách tổ sẽ phải dành ra hai tiếng mỗi ngày để đích thân đọc những thông tin thu được, hai tiếng nữa để tập hợp các thành viên trong tổ, báo cáo tình hình và giải đáp những thắc mắc của họ, rồi lại mất thêm nửa tiếng để cắt gọt, chỉnh sửa những thông tin có thể đưa ra trong buổi họp báo kéo dài bốn mươi lăm phút. Điều tệ hại nhất là ở chỗ,” Harry đặt hai ngón trỏ lên cơ hàm nhức nhối và nhăn mặt, “với những vụ án thông thường, đó có thể là cách tốt để tận dụng các nguồn chúng ta có. Vì ngoài kia thế nào cũng có người biết được đôi điều, nhìn thấy hoặc nghe thấy gì đó. Những thông tin chúng ta có thể nhọc công xâu chuỗi lại hoặc giúp ta phá được án một cách thần kỳ.”

“Rất đúng,” Hagen nói. “Chính vì vậy…”

“Nhưng vấn đề là,” Harry tiếp tục nói, “đây không phải vụ án như thế. Không phải kẻ sát nhân như thế. Kẻ đó không hề tiết lộ với bạn bè hoặc quanh quẩn ở hiện trường. Những người ngoài kia chẳng ai biết gì hết, thế nên những cuộc điện thoại gọi đến không giúp gì được cho cảnh sát mà chỉ làm mất thời gian của ta thôi. Hơn nữa, mọi manh mối pháp y có thể thu được đều là do hung thủ để lại nhằm khiến chúng ta rối trí. Nói tóm lại, đây là một trò chơi hoàn toàn khác.”

Hagen ngả người ra ghế, chụm mười đầu ngón tay vào nhau và, chìm trong suy tư, ông quan sát Harry. Ông ta chớp mắt hệt như con thằn lằn đang nằm sưởi nắng, sau đó lên tiếng hỏi: “Vậy cậu coi đây là một trò chơi ư?”

Harry gật đầu mà lòng băn khoăn không hiểu Hagen đang nhắm đến điều gì.

“Trò chơi kiểu gì? Đánh cờ?”

“À,” Harry nói, “có thể là bịt mắt đánh cờ.”

Hagen gật. “Thế trong hình dung của cậu, hung thủ là kẻ giết người hàng loạt kiểu kinh điển, tên sát nhân máu lạnh sở hữu trí thông minh tuyệt đỉnh, ham thích trò chơi, cuộc vui và thách thức?”

Giờ thì Harry đã hiểu Hagen muốn nhắm đến điều gì rồi.

“Một kẻ bước ra từ những vụ giết người hàng loạt mà cậu đọc được trong khóa huấn luyện của FBI? Cái loại cậu từng đối đầu ở Australia hồi đó? Kẻ mà,” vị POB bập môi một cái như thể đang nếm những lời mình nói, “về cơ bản xứng đáng trở thành kỳ phùng địch thủ của một người có nền tảng như cậu.”

Harry thở dài. “Tôi không hề nghĩ như thế, sếp ạ.”

“Không ư? Đừng quên, tôi đã từng giảng dạy ở trường quân đội. Theo cậu, những vị tướng quân tương lai mơ đến điều gì khi tôi nói với họ các chiến lược gia quân sự đã làm thay đổi tiến trình lịch sử nhân loại ra sao? Cậu nghĩ họ mơ ngồi một chỗ cầu mong hòa bình, mơ rằng họ sẽ kể cho con cháu nghe họ chỉ sống mòn, người đời chẳng bao giờ biết họ có thể làm được những gì ư? Ngoài miệng có thể họ nói mong muốn hòa bình, nhưng trong thâm tâm, họ vẫn mơ Harry ạ. Mơ mình có một cơ hội. Người đàn ông luôn có khao khát mãnh liệt về mặt xã hội là được cần đến. Chính vì thế các vị tướng ở Lầu Năm Góc luôn sẵn sàng vẽ ra viễn cảnh đen tối nhất ngay khi có tiếng pháo nổ đâu đó trên thế giới. Tôi nghĩ cậu muốn vụ này trở nên đặc biệt, Harry ạ. Cậu muốn đến nỗi chỉ nhìn thấy điều đen tối nhất trong số những điều đen tối mà thôi.”

“Là người tuyết, sếp ạ. Có nhớ lá thư tôi đưa cho sếp không?”

Hagen thở dài. “Tôi nhớ một kẻ tâm thần.”

Harry biết mình nên đầu hàng thì hơn. Đưa ra lời đề nghị thỏa hiệp mà anh đã chuẩn bị sẵn. Nhường chiến thắng nhỏ nhoi này cho Hagen. Nhưng không, thay vào đó anh lại nhún vai. “Tôi muốn giữ nguyên tổ điều tra của mình.”

Mặt Hagen sa sầm lại. “Tôi không thể cho cậu làm thế được, Harry.”

“Không thể ư?”

Hagen đọ mắt với Harry hồi lâu, nhưng rồi điều đó xảy ra. Ông ta chớp mắt; ánh nhìn lạc đi nơi khác. Dù chỉ một phần giây thôi nhưng cũng đủ rồi.

“Còn nhiều điều khác phải cân nhắc,” Hagen nói.

Harry cố giữ vẻ mặt ngây thơ trong lúc xát muối vào vết thương. “Điều gì hả sếp?”

Hagen cúi nhìn đôi tay mình.

“Thế cậu nghĩ là điều gì? Các sếp ở trên. Báo chí. Rồi các chính khách. Nếu sau ba tháng mà không bắt được hung thủ, theo cậu, ai là người sẽ phải trả lời những chất vấn về các mối ưu tiên của đơn vị? Ai sẽ phải giải thích lý do vì sao lại để bốn người điều tra vụ này chỉ vì nhóm nhỏ sẽ phù hợp hơn,” Hagen phun ra những từ ngữ như thể chúng là thuốc độc, “cho tư duy tự do và trò chơi đánh cờ? Cậu có nghĩ đến những điều đó không hả Harry?”

“Không,” Harry đáp, khoanh tay trước ngực. “Tôi chỉ nghĩ đến việc làm sao để bắt được tên này, chứ không phải làm sao để giải trình vì không bắt được hắn.”

Harry biết chiêu đó thật rẻ tiền, nhưng những lời anh vừa nói đã đánh trúng chỗ hiểm. Hagen chớp mắt hai cái. Miệng mở ra rồi khép lại. Và Harry lập tức cảm thấy thật xấu hổ. Sao lúc nào anh cũng phải khơi ra mấy trò cạnh tranh trẻ con và vô nghĩa chỉ để có được cảm giác thỏa mãn khi làm bẽ mặt người khác, dù là ai đi chăng nữa? Rakel có lần đã bảo chắc anh luôn ao ước mình chào đời với một ngón tay giữa thừa ra luôn chĩa thẳng lên trời.

“Ở Kripos có một sĩ quan tên là Espen Lepsvik,” Harry nói. “Anh ta giỏi chỉ đạo các cuộc điều tra quy mô lớn. Tôi có thể trao đổi với anh ta, bảo anh ta thành lập một tổ và báo cáo tình hình lại cho tôi. Hai tổ sẽ làm việc song song và độc lập với nhau. Sếp cùng giám đốc Sở sẽ lo vụ họp báo. Sếp thấy thế có được không?”

Harry không cần phải đợi nghe câu trả lời. Anh có thể nhận ra sự cảm kích trong ánh mắt Hagen. Và anh biết mình đã thắng trong cuộc cạnh tranh nhảm nhí này.

Việc đầu tiên Harry làm khi về đến văn phòng riêng là nhấc máy lên gọi cho Bjørn Holm.

“Hagen đồng ý rồi, mọi chuyện sẽ tiến hành như đã bàn. Nửa tiếng nữa ta họp ở phòng tôi. Cậu gọi cả Skarre và Bratt luôn nhé?”

Anh đặt điện thoại xuống. Nghĩ đến những điều Hagen nói, về đám chính khách hiếu chiến muốn có cuộc chiến của riêng mình. Và mở ngăn kéo tìm kiếm trong tuyệt vọng một viên Dispril.

“Ngoài mấy dấu chân, chúng ta không tìm thấy bất cứ vết tích nào của hung thủ ở nơi được cho là hiện trường vụ án,” Magnus Skarre nói. “Khó hiểu hơn nữa là cũng không thấy cả dấu vết của thi thể. Hắn đã chặt đầu người phụ nữ đó chứ chẳng chơi, đáng nhẽ phải để lại vô số chứng cứ. Nhưng tất cả đều là con số không. Lũ chó nghiệp vụ thậm chí còn không có phản ứng gì! Thật kỳ lạ.”

“Hắn giết rồi chặt đầu nạn nhân dưới suối,” Katrine nói. “Dấu chân của cô ta kết thúc ở vị trí ngược lên phía trên một đoạn, đúng không? Cô ta nhảy xuống nước để không lưu lại dấu chân, nhưng hắn đã đuổi kịp.”

“Hắn dùng hung khí gì?” Harry hỏi.

“Rìu hoặc cưa, còn cái gì vào đây nữa?”

“Vậy còn những vết bỏng quanh phần da ở chỗ bị chặt thì giải thích thế nào?”

Katrine đưa mắt nhìn Skarre và cả hai đều nhún vai.

“Được rồi, Holm kiểm tra chi tiết này nhé,” Harry nói. “Sau đó thì sao?”

“Sau đó có thể hắn vác cô ta băng qua suối để tới con đường,” Skarre đáp. Anh ta chợp mắt được hai tiếng, áo len mặc ngược đằng trước ra đằng sau, nhưng chẳng ai còn bụng dạ nào nhắc nhở. “Tôi nói có thể là bởi chúng ta cũng không tìm được gì ở đó cả. Đáng nhẽ phải có mới đúng. Vệt máu trên thân cây, mẩu thịt vướng trên cành hoặc một mảnh vải. Nhưng ta lại tìm thấy dấu chân của hắn ở nơi dòng suối chảy qua bên dưới con đường. Trên lớp tuyết bên đường cũng in vết hằn có thể do cái xác để lại. Nhưng chết tiệt, lũ chó không lần ra được manh mối. Ngay cả con chó tìm xác cũng bó tay. Thật…”

“Lạ lùng,” Harry lặp lại và xoa cằm. “Chẳng phải việc chặt đầu nạn nhân trong lúc đứng dưới suối xem chừng hơi phi lý sao? Nó chỉ là một cái rãnh hẹp, còn chẳng đủ chỗ mà xoay xở. Vậy thì vì lý do gì mới được?”

“Quá rõ ràng,” Skarre trả lời. “Dòng nước cuốn trôi hết chứng cứ chứ sao.”

“Đâu rõ ràng vậy,” Harry đáp. “Hắn để lại cái đầu của nạn nhân, chứng tỏ hắn không lo chuyện dấu tích còn sót lại. Tại sao không có dấu vết của cô ta từ dòng suối đến con đường…”

“Túi đựng xác!” Katrine nói. “Tôi cũng đang thắc mắc làm thế nào hắn mang được cô ta đi xa thế trên địa hình như vậy. Ở Iraq họ dùng túi đựng xác có quai như ba lô.”

“Ừm,” Harry nói. “Điều đó có thể giải thích cho việc vì sao chó tìm xác lại không đánh hơi thấy gì trên đường.”

“Và vì sao hắn dám liều lĩnh để cô ta nằm đó,” Katrine nói.

“Nằm đó?” Skarre thắc mắc.

“Vết tích thi thể hằn trên tuyết. Hắn đặt cô ta nằm đó trong lúc đi lấy xe. Có thể hắn đỗ xe ở gần nông trại nhà Ottersen. Việc này chắc mất chừng nửa tiếng, mọi người thấy có phải không?”

Skarre miễn cưỡng lầm bầm câu Đại loại thế.

“Túi đựng xác có màu đen, ai lái xe đi ngang qua nhìn thấy dễ tưởng là túi rác thông thường.”

“Làm gì có ma nào đi ngang qua,” Skarre càu nhàu, cố ghìm một cái ngáp. “Bọn tôi đã hỏi tất cả những người sống trong khu rừng chết tiệt đó rồi.”

Harry gật đầu. “Thế còn lời khai của Rolf Ottersen về việc anh ta ở lại cửa hàng trong khoảng từ năm đến bảy giờ?”

“Nếu không có khách thì chứng cứ ngoại phạm chả có giá trị quái gì,” Skarre đáp.

“Anh ta có thể lái xe về rồi quay lại cửa hàng trong lúc hai con đang học violin,” Katrine nói.

“Nhưng anh ta không phải kiểu người đó,” Skarre nói, ngả người ra sau và gật gù như thể xác nhận kết luận mình đưa ra.

Harry rất muốn nhận xét một câu khái quát về việc cảnh sát rất hay có kiểu tự huyễn hoặc rằng mình chỉ cần nhìn qua cũng biết ai là kẻ giết người, tuy nhiên giờ cuộc điều tra đang ở giai đoạn cho phép các thành viên tự do phát biểu ý kiến mà không sợ bị phản đối. Kinh nghiệm của anh cho thấy, ý tưởng xuất sắc nhất thường nảy sinh từ suy nghĩ vẩn vơ, những phỏng đoán và nhận định bồng bột nhất thời.

Cửa phòng bỗng bật mở.

“Hế lô!” Bjørn Holm cao giọng ngân nga. “Xin lỗi cả nhà, tôi vừa phải đi tìm tung tích vũ khí gây án.”

Anh ta cởi chiếc áo khoác chống nước và mắc lên cây treo quần áo đang nghiêng ngả như sắp đổ đến nơi. Bên trong anh ta mặc áo hồng có họa tiết thêu màu vàng và dòng chữ trên lưng tuyên bố rằng Hank Williams vẫn còn sống nhăn, bất chấp giấy chứng tử cho thấy ông ta qua đời vào mùa đông năm 1953. Sau đó anh ta ngồi phịch xuống chiếc ghế duy nhất còn trống và ngó những gương mặt đang ngước lên nhìn mình.

“Sao thế?” Anh ta mỉm cười và Harry chờ Holm tung ra câu đùa thần thánh ưa thích. Quả nhiên anh không phải đợi lâu. “Có ai chết à?”

“Vũ khí gây án,” Harry giục. “Ngay và luôn.”

Holm toét miệng cười và xoa hai tay vào nhau. “Tôi đương nhiên cũng thắc mắc những vết bỏng trên cổ Sylvia Ottersen từ đâu mà ra. Chuyên gia pháp y cũng bó tay. Cô ấy chỉ nói rằng những động mạch nhỏ đã bị đốt cháy, tương tự cách cầm máu khi cắt bỏ bộ phận nào đó trên cơ thể. Trước khi cưa chân. Và lúc cô ấy nhắc đến cưa, tôi chợt nghĩ ra một chuyện. Mọi người biết đây, tôi lớn lên ở một trang trại…”

Bjørn Holm nhoài người tới trước, hai mắt sáng rực, khiến Harry liên tưởng đến cảnh người cha chuẩn bị mở hộp quà Giáng sinh là đoàn tàu hỏa cỡ lớn dành tặng cậu con trai mới chào đời.

“Có trường hợp bò đẻ nhưng bê con đã chết từ trong bụng mẹ, đôi khi cái xác quá lớn nên bò mẹ không tự đẩy ra được. Và hơn nữa, nếu bào thai lại nằm ở vị trí oái oăm thì không thể lôi ra mà không làm bò mẹ bị thương. Trong tình huống đó, bác sĩ thú y đành phải dùng đến cưa.”

Skarre nhăn mặt.

“Đó là một dạng lưỡi dao rất mảnh và linh hoạt, có thể đưa vào trong bụng bò mẹ, gần như kiểu thòng lọng quấn quanh bê con vậy. Sau đó bác sĩ sẽ kéo và đưa lưỡi dao qua lại để cắt cái xác.” Holm làm động tác tay để minh họa lời nói. “Cho tới khi được hai phần, có thể lấy từng phần ra. Và như vậy, thông thường vấn đề được giải quyết. Thông thường là thế. Nhưng đôi khi lưỡi dao dịch chuyển qua lại cũng cắt luôn vào con mẹ, khiến nó mất máu mà chết. Vì vậy, vài năm trước, mấy nông dân Pháp đã phát minh ra thứ công cụ hữu ích có thể khắc phục được vấn đề đó. Một vòng dây điện dạng thòng lọng có thể đốt xuyên qua thịt. Nó gồm một tay cầm bằng nhựa với sợi dây kim loại cực mảnh và siêu bền được gắn vào hai đầu tay cầm, tạo thành vòng dây có thể tròng vào bất cứ thứ gì cần cắt. Sau đó bật chức năng phát nhiệt. Sợi dây nóng rực sáng trắng lên sau mười lăm giây, khi nhân nút trên tay cầm, vòng dây bắt đầu siết lại và cắt xuyên qua cái xác. Như thế sẽ không cần đưa qua đưa lại sang hai bên, hạn chế được nguy cơ cắt trúng con mẹ. Mà dù cắt phải đi nữa thì vẫn còn hai ưu điểm…”

“Ông đang rao bán cái thứ đấy cho bọn tôi đây à?” Skarre nhe răng cười và nhìn vào mắt Harry để thăm, dò phản ứng.

“Nhờ nhiệt độ cao nên sợi dây vô trùng tuyệt đối,” Holm nói tiếp. “Nó không làm lan truyền vi khuẩn hoặc máu nhiễm độc từ xác con con. Hơn nữa, nhiệt cũng đốt cháy các động mạch nhỏ, hạn chế hiện tượng chảy máu.”

“Được rồi,” Harry nói. “Cậu có chắc chắn hung thủ sử dụng công cụ giống như thế không?”

“Không,” Holm đáp. “Nếu có một cái thì tôi đã dùng thử, nhưng tay bác sĩ thú y nói chuyện với tôi bảo rằng loại thòng lọng điện này chưa được Bộ Nông nghiệp Na Uy cấp phép lưu hành.” Anh ta nhìn Harry với vẻ vô cùng tiếc nuối.

“Ừm,” Harry nói, “cho dù không phải vũ khí gây án thì ít nhất nó cũng giúp ta hiểu làm thế nào hung thủ có thể chặt đầu nạn nhân trong khi đứng dưới suối. Những người còn lại nghĩ sao?”

“Bọn Pháp,” Katrine Bratt nói. “Trước là máy chém, sau lại đến thứ này.”

Skarre dẩu môi và lắc đầu. “Nghe có vẻ quái dị quá. Mà này, hắn kiếm được cái vòng như thế ở đâu nhỉ? Ý tôi là nếu nó chưa được cấp phép ấy?”

“Ta có thể bắt đầu tìm hiểu từ đây,” Harry nói. “Cậu kiểm tra nhé, Skarre?”

“Tôi đã bảo không tin mấy chuyện đó rồi mà.”

“Xin lỗi, tôi nói chưa rõ. Đúng ra là: Kiểm tra đi, Skarre. Còn gì nữa không, Holm?”

“Hết rồi. Lẽ ra ở hiện trường phải có rất nhiều máu, nhưng dấu máu duy nhất chúng ta tìm được là ở trong nhà kho sau khi mấy con gà bị làm thịt. Nhân tiện nhắc đến gà, nhiệt độ cơ thể chúng và nhiệt độ trong nhà kho cho thấy chúng bị giết vào khoảng sáu rưỡi tối. Nhưng không chắc lắm, vì một con có thân nhiệt cao hơn hai con kia.”

“Chắc cu cậu sợ phát sốt.” Skarre cười hề hề.

“Thế còn người tuyết?” Harry hỏi.

“Không thể lấy dấu vân tay trên khối tinh thể băng biến đổi từng giờ, may ra thì tìm được những mẩu da, vì các tinh thể vốn sắc cạnh. Có thể là sợi vải từ găng tay nếu hắn mang găng. Nhưng chúng tôi cũng không thu được gì cả.”

“Găng tay cao su,” Katrine nói.

“Ngoài điều đó ra thì không còn gì nữa,” Holm nói.

“Được rồi. ít nhất ta cũng có cái đầu. Cậu đã kiểm tra răng…”

Câu hỏi của Harry bị cắt ngang khi Holm ngồi thẳng dậy với vẻ tự ái. “Để tìm dấu vết để lại trên răng? Tóc? Dấu vân tay trên cổ? Những chi tiết khác mà các chuyên gia pháp y chưa nghĩ tới hả?”

Harry gật đầu tỏ ý xin lỗi và nhìn đồng hồ. “Skarre, dù cậu cho rằng Rolf Ottersen không phải kiểu người đó, cứ kiểm tra xem anh ta ở đâu, làm gì vào thời gian Birte Becker mất tích. Tôi sẽ nói chuyện với Filip Becker. Katrine, cô đọc hồ sơ những vụ mất tích, gồm cả hai vụ này, tìm điểm chung giữa chúng.”

“Vâng,” cô nói.

“So sánh tất cả các yếu tố,” Harry nói. “Thời điểm tử vong, chu kỳ mặt trăng, chương trình ti vi đang phát, màu tóc của nạn nhân, họ có mượn cùng một cuốn sách thư viện hoặc cùng tham dự buổi hội thảo nào không, tổng các chữ số trong số điện thoại. Chúng ta phải tìm xem hung thủ lựa chọn nạn nhân dựa trên tiêu chí nào.”

“Khoan đã,” Skarre nói. “Chúng ta đã xác định giữa các vụ có mối liên quan rồi à? Chẳng phải ta nên để ngỏ tất cả khả năng sao?”

“Thích để ngỏ thế nào kệ xác cậu,” Harry đáp, đứng dậy và kiểm tra túi để chắc chắn đã cầm chìa khóa xe. “Miễn là sếp bảo sao thì cứ làm vậy. Ai về sau cùng thì tắt đèn.”

Đang đứng đợi thang máy thì Harry nghe thấy có người đến gần. Tiếng chân dừng lại ngay sau lưng anh.

“Tôi đã nói chuyện với một trong hai cô bé sinh đôi vào giờ ra chơi sáng nay.”

“Thế à?” Harry quay sang nhìn Katrine Bratt.

“Tôi hỏi gia đình họ làm gì hôm thứ Ba.”

“Thứ Ba?”

“Ngày Birte Becker mất tích.”

“Đúng vậy.”

“Ba mẹ con họ vào thành phố. Cô bé nhớ rõ vì họ đến Bảo tàng Kon-Tiki tìm mua đồ chơi sau khi đi khám bác sĩ. Hai đứa trẻ qua đêm tại nhà người dì còn bà mẹ đến thăm một cô bạn. Ông bố ở nhà trông nhà. Một mình.”

Cô đứng gần đến nỗi Harry ngửi thấy cả mùi nước hoa cô dùng. Thứ mùi đó không giống với bất cứ mùi nước hoa phụ nữ nào anh biết. Rất hắc, không ngọt chút nào.

“Ừm. Đứa trẻ nói chuyện với cô tên là gì?”

Katrine Bratt nhìn anh chăm chăm. “Không biết. Có quan trọng không?”

Một tiếng pinh vang lên báo hiệu thang máy đã đến tầng hai người đang đợi.

Jonas cặm cụi vẽ người tuyết. Ý định vẽ người tuyết cười và đang hát, để có một người tuyết vui vẻ. Nhưng Jonas không sao thể hiện được đúng ý mình; người tuyết cứ trân trân nhìn nó bằng ánh mắt vô cảm trên tờ giấy trắng to đùng. Giảng đường rộng lớn quanh nó lặng thinh, chỉ có tiếng phấn kin kít của bố, thỉnh thoảng có tiếng đập tay lên tấm bảng trước mặt và tiếng bút sột soạt ghi bài của đám sinh viên. Jonas không thích bút bi. Những gì viết bằng bút bi sẽ chẳng thể xóa đi, không thay đổi được, hình vẽ ra sẽ mãi mãi nằm đó. Sáng nay, lúc tỉnh giấc nó đã nghĩ rằng mẹ đã về, mọi chuyện lại tốt đẹp như trước, và nó chạy ào vào phòng mẹ. Nhưng trong phòng chỉ có bố nó đang thay đồ, bố bảo nó cũng chuẩn bị đi, vì hôm nay nó sẽ đến trường cùng bố. Bút bi.

Giảng đường thoai thoải dốc xuống chỗ bố nó đang đứng, giống như khán đài trong nhà hát vậy. Bố nó không nói lời nào với học trò, ngay cả khi hai bố con bước vào giảng đường. Ông gật đầu chào họ, chỉ chỗ bảo Jonas đến ngồi, sau đó đi thẳng tới bên chiếc bảng và bắt đầu viết. Đám sinh viên rõ ràng đã quen với điều đó, vì họ đã chuẩn bị sẵn sách vở và lập tức ghi bài. Trên bảng chi chít số và những con chữ nhỏ, cùng với vài hình vẽ nguệch ngoạc lạ lùng mà Jonas không nhận ra. Có lần bố đã nói với nó rằng vật lý cũng có ngôn ngữ riêng, và bố dùng ngôn ngữ ấy để kể chuyện. Khi Jonas hỏi có phải là chuyện về những cuộc phiêu lưu không, bố cười và bảo vật lý chỉ dùng để giải thích những điều chân thực thôi, đó là thứ ngôn ngữ mà dù muốn cũng không thể nói dối.

Có mấy hình vẽ trông thật ngộ nghĩnh. Và rất tinh tế.

Bụi phấn lả tả rơi xuống đôi vai bố. Một lớp bụi trắng li ti tựa tuyết phủ lên chiếc áo khoác ông đang mặc. Jonas nhìn tấm lưng bố và cố gắng vẽ ông. Nhưng lần này cũng không ra hình người tuyết vui vẻ. Đột nhiên, giảng đường im phăng phắc. Bao nhiêu cây bút đều ngừng viết. Bởi lẽ viên phấn đã ngừng di. Nó đứng yên ở mép bảng, cao đến nỗi bố phải vươn tay lên mới với tới. Giờ đây, trông như thể viên phấn bị kẹt còn bố đang bám víu lấy tấm bảng, chẳng khác gì lúc chó sói Wile E. treo lơ lửng trên cành cây bé xíu nhô ra trên vách núi cao chót vót. Thế rồi hai vai bố bắt đầu run rẩy, Jonas tưởng ông đang cố lấy viên phấn ra để bắt nó tiếp tục di chuyển, nhưng không được. Một làn sóng bất chợt lan khắp giảng đường như thể đám sinh viên đồng loạt há miệng và hít vào một hơi. Rốt cuộc bố nó cũng gỡ được viên phấn, sau đó ông đi thẳng ra cửa mà chẳng buồn ngoái lại và biến mất. Bố đi lấy thêm phấn ấy mà, Jonas nghĩ thầm. Tiếng rì rầm nói chuyện của đám sinh viên mỗi lúc một lớn. Jonas nghe được mấy từ vợ và mất tích. Nó nhìn tấm bảng gần như kín chữ. Bố nó muốn viết rằng mẹ đã chết, nhưng viên phấn chỉ có thể nói lên sự thật, vì thế nó mới bị kẹt. Jonas cố xóa hình người tuyết. Xung quanh nó, các sinh viên đang thu dọn đồ đạc, ghế xô vào nhau khi họ đứng dậy ra về.

Một bóng đen bỗng phủ lên người tuyết bất thành hình trên trang giấy, và Jonas ngẩng lên.

Đó là chú cảnh sát cao lớn có khuôn mặt xí trai và đôi mắt hiền từ.

“Cháu có muốn đi cùng chú không, để xem chúng ta có tìm được bố cháu không nhé?” chú cảnh sát nói.

Harry khẽ khàng gõ cửa văn phòng với tấm biển đề tên Giáo sư Filip Becker.

Thấy không có tiếng trả lời, anh mở cửa.

Người đàn ông đang ngồi sau bàn ngẩng đầu lên khỏi hai bàn tay. “Tôi đã cho phép vào đâu…”

Ông ta ngừng lời khi trông thấy Harry. Và ánh nhìn hạ xuống cậu bé đứng cạnh anh.

“Jonas!” Filip Becker kêu lên, giọng nói chất chứa sự ngỡ ngàng xen lẫn nhiếc móc. Hai mắt ông ta đỏ hoe. “Chẳng phải bố đã dặn con ở yên một chỗ hay sao?”

“Tôi dẫn cậu bé theo đấy,” Harry nói.

“Vậy ư?” Becker nhìn đồng hồ và đứng dậy.

“Sinh viên của ông về hết rồi,” Harry nói.

“Thế sao?” Becker lại thả người xuống ghế. “Tôi… tôi chỉ định cho chúng nghỉ giải lao một lức.”

“Tôi cũng có mặt trong lớp,” Harry nói.

“Anh ư? Vì sao…”

“Thỉnh thoảng ai cũng cần được nghỉ ngơi mà. Chúng ta nói chuyện một lát được chứ?”

“Tôi không muốn cho thằng bé đi học,” Becker giải thích sau khi bảo Jonas sang phòng uống cà phê và dặn nó ngồi đó đợi. “Bao nhiêu người hỏi han, suy đoán; đơn giản là tôi không muốn thế. Chắc anh cũng hiểu.”

“Vâng.” Harry lấy ra bao thuốc, ném về phía Becker cái nhìn dò hỏi rồi lại cất đi khi ông giáo sư kiên quyết lắc đầu. “Việc đó dù sao cũng còn dễ hiểu hơn nhiều so với những thứ viết trên bảng.”

“Đó là vật lý lượng tử.”

“Nghe thật lạ.”

“Thế giới của những nguyên tử lạ vậy đấy.”

“Lạ thế nào?”

“Chúng phá vỡ những định luật vật lý căn bản nhất. Chẳng hạn như định luật một vật không thể đồng thời có mặt ở hai địa điểm khác nhau. Niels Bohr từng nói nếu vật lý lượng tử chưa khiến anh chấn động sâu sắc thì chứng tỏ anh chưa hiểu nó.”

“Nhưng ông thì hiểu?”

“Không, anh điên à? Nó là một mớ hỗn loạn. Nhưng với tôi nó vẫn còn dễ chấp nhận hơn sự hỗn loạn này.”

“Là sao?”

Becker thở dài. “Thế hệ chúng ta đã tự biến mình thành nô lệ chạy theo con cái. Và tôi e rằng điều đó cũng đúng với Birte. Không biết bao nhiêu cuộc hẹn này nọ, sinh nhật, đồ ăn ưa thích và những buổi tập bóng đá, nghe mà điên hết cả đầu. Hôm nay có người ở phòng mạch bác sĩ tại Bygdøy gọi điện đến vì Jonas không tới khám theo lịch hẹn. Rồi đến chiều nó lại còn đi tập ở nơi khỉ gió nào đó, thế hệ chúng nó chắc không biết bắt xe buýt là gì nữa.”

“Jonas bị sao vậy?” Harry lấy ra cuốn sổ tay anh chưa bao giờ viết gì vào; theo kinh nghiệm của anh, cuốn sổ dường như giúp người ta tập trung hơn thì phải.

“Không có gì. Chắc là thăm khám bình thường thôi.” Becker gạt đi với một cái phẩy tay bực dọc. “Tôi nghĩ anh đến đây vì lý do khác chứ?”

“Đúng vậy,” Harry nói. “Tôi muốn biết chiều và tối qua ông đã ở đâu.”

“Gì cơ?”

“Chỉ là thủ tục thôi mà, ông Becker.”

“Việc này có liên quan gì tới… tới…” Becker hất đầu về phía tờ báo Dagbladet nằm trên đống giây tờ.

“Chúng tôi không biết,” Harry nói. “Xin ông vui lòng trả lời câu hỏi đó.”

“Nói xem, có phải các anh mất trí hết rồi không?”

Harry nhìn đồng hồ và im lặng không đáp.

Becker rên lên một tiếng. “Thôi được, tôi cũng muốn giúp anh. Tối qua tôi ngồi đây viết bài về bước sóng hydro, hy vọng sắp tới có thể xuất bản.”

“Có đồng nghiệp nào chứng thực cho ông không?”

“Những đề tài nghiên cứu của Na Uy đóng góp được quá ít ỏi cho thế giới là bởi sự tự mãn của giới nghiên cứu chỉ cúi đầu chịu thua trước tính lười nhác. Tôi làm việc hoàn toàn cô độc, như mọi khi.”

“Vậy còn Jonas?”

“Nó tự làm đồ ăn và xem ti vi cho tới khi tôi về.”

“Lúc đó là mấy giờ?”

“Chắc chỉ hơn chín giờ, tôi nghĩ thế.”

“Ừm.” Harry làm bộ như đang ghi chép. “Ông đã kiểm tra đồ đạc của bà Birte chưa?”

“Rồi.”

“Có tìm được gì không?”

Filip Becker vuốt ngón tay trên khóe miệng và lắc đầu. Harry đọ mắt với ông ta, dùng sự im lặng làm đòn bẩy. Nhưng Becker đã ngậm miệng hến rồi.

“Cảm ơn sự giúp đỡ của ông,” Harry nói, nhét cuốn sổ vào túi áo khoác và đứng dậy. “Tôi sẽ gọi Jonas cho ông.”

“Xin chờ một chút.”

Harry tìm thấy phòng uống cà phê nơi Jonas đang ngồi vẽ tranh, đầu lưỡi thò ra khỏi miệng. Anh đứng bên cậu bé, nhìn xuống tờ giấy hiện chỉ có đúng hai vòng tròn to nhỏ.

“Là người tuyết.”

“Vâng,” Jonas nói và ngước lên. “Làm thế nào chú biết ạ?”

“Vì sao mẹ lại đưa cháu đi khám bác sĩ vậy Jonas?”

“Cháu không biết.” Jonas vẽ sang cái đầu người tuyết.

“Thế bác sĩ tên gì?”

“Cháu không biết.”

“Phòng mạch đó ở đâu?”

“Cháu không được phép nói với bất cứ ai. Ngay cả với bố.” Jonas cúi rạp người trên tờ giấy và vẽ tóc trên đầu người tuyết. Một mái tóc dài.

“Chú là cảnh sát, Jonas ạ. Chú đang cố gắng tìm mẹ cháu.”

Cây bút chì di trên mặt giấy càng lúc càng mạnh, mái tóc mỗi lúc một đen hơn.

“Cháu không biết nơi đó tên là gì.”

“Cháu có nhớ chi tiết nào gần đó không?”

“Có công vua ạ.”

“Công vua ư?”

Jonas gật đầu. “Người phụ nữ ngồi phía sau cửa sổ tên là Borghild. Cháu được cho kẹo mút vì để bà ấy dùng kim lấy máu.”

“Cháu có đang vẽ chi tiết đặc biệt nào không?” Harry hỏi.

“Không ạ,” Jonas đáp, tập trung vào hai hàng mi.

Filip Becker đứng bên cửa sổ nhìn Harry Hole băng qua bãi đỗ xe. Mải chìm trong suy tư, ông ta lơ đãng đập cuốn sổ nhỏ màu đen vào lòng bàn tay. Ông ta tự hỏi không biết Hole có tin không khi ông ta vờ như không biết đến sự hiện diện của tay cảnh sát ở giảng đường. Hay khi ông ta nói buổi tối hôm trước mình bận viết bài. Hoặc lúc bảo rằng mình không tìm thấy gì trong đống đồ của Birte. Cuốn sổ đen được cất trong ngăn kéo bàn; cô ta thậm chí còn chẳng thèm giàu đi. Và những gì viết trong đó thì…

Ông ta suýt nữa phá lên cười. Ả đần đó cứ tưởng lừa được ông ta kia đấy.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Jo Nesbø

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.