Khi gặp nhau vào sáng hôm sau, các thành viên của tổ điều tra đã xác minh được sáu trong số bảy cái tên có trong danh sách của Katrine Bratt. Chỉ còn lại một cái tên duy nhất.
“Arve Støp?” Bjørn Holm và Magnus Skarre đồng thanh hỏi.
Katrine Bratt chỉ im lặng.
“Thôi được rồi,” Harry nói. “Tôi đã trao đổi với Krohn qua điện thoại. Gã nói rất rõ rằng Støp không muốn trả lời chất vấn về việc có hay không có chứng cứ ngoại phạm. Hoặc bất kỳ câu hỏi nào khác. Ta cứ việc bắt giam Støp nếu muốn, nhưng ông ta hoàn toàn có quyền không khai báo. Làm thế chúng ta chả được lợi lộc gì mà chỉ tổ khiến cả thế giới biết rằng Người Tuyết vẫn còn nhởn nhơ ngoài kia. Vấn đề cần quan tâm bây giờ là xác định xem Støp nói thật hay chỉ đang đóng kịch.”
“Nhưng người nổi tiếng hạng A mà lại là sát nhân ấy à,” Skarre nhăn nhó nói. “Đã ai nghe nói đến chuyện như thế bao giờ chưa?”
“Có O. J. Simpson đây,” Holm đáp. “Rồi cả Phil Spector. Bố của Marvin Gaye.”
“Phil Spector là thằng khỉ gió nào vậy?”
“Tốt hơn là mọi người cho tôi biết ý kiến của mình đi,” Harry nói. “Ngay và luôn, không nghĩ ngợi lâu la. Støp có điều gì cần che giấu không? Holm?”
Bjørn Holm xoa hai dải tóc mai nhìn như hai miếng thịt cốt lết. “Bị hỏi một câu quan trọng như ông ta đã ở đâu khi Vetlesen chết mà Støp lại không muốn trả lời thì đáng ngờ thật.”
“Bratt?”
“Tôi cho rằng Støp chỉ đang cảm thấy thích thú khi bị tình nghi thôi. Đối với tờ tạp chí của ông ta, việc này chẳng ảnh hưởng gì đến nó. Thậm chí ngược lại là khác. Nó càng củng cố được hình ảnh của mình. Một kẻ tử vì đạo kiên cường đứng vững giữa cơn bão dư luận, như xưa nay vẫn thế.”
“Phải đấy,” Holm nói. “Tôi đổi ý rồi. Nếu Støp có tội thật thì ông ta đã chẳng liều lĩnh như thế. Ông ta đang nhắm đến một tin sốt dẻo.”
“Skarre?” Harry hỏi.
“Lão này nói xạo. Toàn bố láo hết. Ai mà hiểu nổi bọn báo chí và mấy tôn chỉ này nọ của chúng chứ?”
Cả nhóm chẳng ai trả lời.
“Được rồi,” Harry nói. “Cứ cho là chân lý thuộc về số đông và Støp nói sự thật đi, vậy thì chúng ta phải tìm cách loại bỏ ông ta khỏi diện tình nghi càng sớm càng tốt và tiếp tục điều tra. Mọi người có biết ai có thể ở cùng ông ta vào thời điểm Vetlesen chết không?”
“Khó mà biết được,” Katrine đáp. “Tôi đã gọi điện cho một cô gái tôi quen đang làm ở Liberal. Cô ấy nói sau giờ làm việc Støp ít giao du lắm. Nói chung ông ta thường khép mình trong căn hộ riêng ở khu Aker Brygge. Tất nhiên là trừ khi dính đến đàn bà.”
Harry đưa mắt nhìn Katrine. Cô khiến anh liên tưởng đến một sinh viên quá hăng hái, người luôn đi trước giảng viên đến cả một học kỳ.
“Đàn bà theo nghĩa số nhiều á?” Skarre hỏi.
“Nói theo lời cô ấy thì Støp khét tiếng là kẻ ong bướm. Ngay sau khi màn gạ tình bị cự tuyệt, ông ta nói thẳng vào mặt bạn tôi rằng cô ấy chưa đáp ứng được kỳ vọng của ông ta với tư cách nhà báo và tốt nhất nên vác cần đi chỗ khác mà câu cơm.”
“Thằng khốn hai mặt,” Skarre hừ mũi.
“Cô ấy cũng kết luận giống anh vậy,” Katrine nói. “Nhưng thực sự mà nói thì cô ấy là một nhà báo tồi.”
Holm và Harry phá lên cười.
“Thử hỏi bạn cô xem cô ta có biết tên người tình nào của Støp không,” Harry nói và đứng dậy. “Sau đó gọi điện cho những nhân viên khác trong tòa soạn vẫn với câu hỏi trên. Tôi muốn ông ta biết cảnh sát đang cho ông ta vào tầm ngắm. Vì thế, tất cả vào việc đi thôi.”
“Vậy còn anh?” Katrine hỏi, vẫn ngồi nguyên đó.
“Tôi á?”
“Anh chưa nói cho tụi tôi biết anh có nghĩ rằng Støp đang nói dối không.”
“À,” Harry mỉm cười, “ông ta chắc chắn chưa khai ra toàn bộ sự thật.”
Ba người nhìn anh chăm chăm.
“Ông ta bảo không nhớ mình và Vetlesen đã nói với nhau những gì trong cuộc điện thoại cuối cùng giữa họ.”
“Thì sao?”
“Nếu anh phát hiện đối tượng mình vừa nói chuyện hôm trước là sát nhân hàng loạt bị truy nã và đã tự sát, chẳng lẽ anh không lập tức nhớ lại cuộc đối thoại, suy ngẫm kỹ từng chi tiết và tự hỏi lúc đó liệu có điểm gì bất thường mà mình không nhận ra hay không?”
Katrine chậm rãi gật đầu.
“Còn một điều nữa khiến tôi băn khoăn,” Harry nói, “đó là tại sao Người tuyết lại liên lạc với tôi bảo tôi truy tìm hắn. Thế rồi khi tôi tiến lại gần, như hắn tiên liệu, hắn lại cuống lên và tìm cách tạo dựng như thể Vetlesen mới là Người Tuyết?”
“Có thể ý định của hắn vốn dĩ là như thế,” Katrine nói. “Có thể hắn đổ tội cho Vetlesen vì một động cơ nào đó, vì ân oán chẳng hạn. Ngay từ đầu hắn đã dẫn dụ anh đi theo hướng này.”
“Hoặc đó là cách để hắn đánh bại anh,” Holm nêu ý kiến. “Buộc anh phải phạm sai lầm. Trong khi hắn âm thầm tận hưởng thắng lợi.”
“Thôi đi ông,” Skarre hừ mũi. “Ông nói cứ như thể giữa Người Tuyết và Harry Hole có tư thù gì ấy.”
Ba người còn lại giương mắt im lặng nhìn anh chàng thanh tra.
Skarre nhíu mày. “Có không vậy?”
Harry cầm lấy áo khoác trên mắc. “Katrine, tôi muốn cô đến tìm Borghild lần nữa. Bảo bà ta rằng chúng ta đã xin được lệnh tra xét hồ sơ bệnh án. Tội vạ đâu tôi chịu. Sau đó thử xem có khai thác được thông tin nào về Arve Støp không. Còn vấn đề gì cần trao đổi nữa không trước khi tôi biến?”
“Người phụ nữ ở Tveita,” Holm nói. “Camilla Lossius. Cô ta vẫn mất tích.”
“Cậu đến đó kiểm tra nhé, Holm.”
“Còn anh thì làm gì?” Skarre hỏi.
Harry khẽ cười. “Tôi đi học chơi poker.”
Khi đứng đợi bên ngoài căn hộ của Tresko trên tầng sáu tòa chung cư duy nhất nằm cạnh Frogner Plass, Harry có cảm giác hệt như hồi anh còn nhỏ và mọi người ở Oppsal đã đi nghỉ hết. Đây là hy vọng cuối cùng, tấm vé vớt vào phút chót, sau khi đã nhấn chuông tất cả những ngôi nhà khác. Tresko - tên cúng cơm là Asbjørn Treschow - ra mở cửa, nhìn Harry với vẻ sưng sỉa. Bởi cậu ta biết, ngày xưa đã vậy mà ngày nay cũng thế. Mình chỉ là tấm vé vớt mà thôi.
Đi từ cửa vào là không gian sống rộng ba mươi mét vuông, tử tế thì gọi là căn phòng với khu bếp mở, còn không thì chỉ như cái gian trọ. Mùi hôi bốc lên lợm giọng. Đó là mùi vi khuẩn phát triển trên chân ẩm ướt và không khí chua lòm, bởi thế trong tiếng Na Uy mới có từ lóng tåfis miêu tả rất chính xác thứ mùi gọi là mùi chân thối. Tresko được thừa hưởng bàn chân lắm mồ hôi từ ông bố, kèm theo cả biệt danh tresko, nghĩa là đôi sục gỗ, thứ giày dép vô tích sự bố cậu ta luôn đi vì tin rằng gỗ sẽ hút đi mùi ở chân.
Mùi chân của cậu Tresko Con ấy chỉ được mỗi ưu điểm là át đi mùi bát đĩa bẩn chất chồng ở bồn rửa, mấy cái gạt tàn đầy ú ụ hay đống áo phông đẫm mồ hôi đang hong trên thành ghế. Harry chợt nghĩ không khéo đôi chân bốc mùi của Tresko đã khiến các đối thủ gần như phát điên trong thời gian thi đấu để vào vòng bán kết giải vô địch poker thế giới tổ chức ở Las Vegas cũng nên.
“Lâu lắm rồi nhỉ,” Tresko nói.
“Ờ. Thật tốt là cậu có thời gian để gặp tôi.”
Tresko phá lên cười như thể Harry vừa kể chuyện đùa. Còn Harry, anh chẳng thích thú gì khi phải nán lại gian trọ này nên đi thẳng vào đề luôn.
“Tại sao bí quyết chơi poker lại nằm ở việc phát hiện đối thủ đang đóng kịch?”
Tresko có vẻ chẳng bận tâm đến việc thiếu vắng những lời thăm hỏi xã giao.
“Người ta cho rằng poker là trò chơi của tính toán, xác suất và cơ hội. Nhưng những tay chơi lão luyện nhất đều thuộc nằm lòng các xác suất, vì vậy đấu trường đỉnh cao không có chỗ cho mấy thứ ấy. Điều làm nên sự khác biệt của thần bài so với số đông chính là khả năng đọc vị đối thủ. Trước khi đến Las Vegas tôi đã biết mình sắp phải đối đầu với những tay cừ khôi nhất. Và tôi có thể xem họ chơi bài trên kênh Đỏ Đen qua truyền hình vệ tinh. Tôi thu chương trình vào băng, quan sát thật kỹ từng người chơi trong lúc thấu cáy. Rồi tôi cho chạy băng với tốc độ chậm, ghi nhận từng biểu hiện dù là nhỏ nhất trên khuôn mặt, cử chỉ, lời nói và các hành vi lặp đi lặp lại của họ. Sau khi nghiên cứu đủ lâu kiểu gì tôi cũng phát hiện ra gì đó, một cử động tái diễn. Người này gãi cánh mũi bên phải; kẻ khác vuốt mặt sau lá bài. Lúc rời Na Uy, tôi cứ đinh ninh mình sẽ giành phần thắng. Tiếc rằng không ngờ tôi lại có lắm cử chỉ lộ liễu còn hơn cả bọn họ.”
Tiếng cười u ám của Tresko nghe giống tiếng nấc hơn, khiến thân hình chẳng có đường nét rõ ràng của cậu ta rung lên bần bật.
“Vậy nếu tôi cho gọi một người đến thẩm vấn thì cậu sẽ nhận ra hắn nói thật hay nói dối chứ?”
Tresko lắc đầu. “Không đơn giản thế đâu. Thứ nhất, tôi cần có băng ghi hình. Thứ hai, tôi phải được xem bài của người chơi để còn biết khi nào hắn thấu cáy. Sau đó tôi có thể tua lại và phân tích xem những lúc như thế, hành vi của hắn thay đổi ra sao. Việc này cũng giống như thiết lập căn cứ cho máy phát hiện nói dối ấy. Trước khi tiến hành kiểm tra, ta yêu cầu đối tượng trả lời câu gì đó hiển nhiên đúng, như họ tên hắn chẳng hạn. Rồi đến một câu hiển nhiên sai. Sau đó ta in kết quả ra giấy và phân tích để lấy căn cứ.”
“Một câu hiển nhiên đúng,” Harry lẩm nhẩm. “Một câu hiển nhiên sai. Thu vào đoạn băng hình.”
“Nhưng như đã nói qua điện thoại lúc trước, tôi không dám đảm bảo đâu đây nhé.”
Harry tìm được Beate Lønn ở Nhà Đau đớn, nơi cô dành phần lớn thời gian làm việc khi còn ở Đơn vị Chống Cướp. Nhà Đau đớn là căn phòng không có cửa sổ chứa đủ thứ máy móc để xem và biên tập các đoạn băng được camera an ninh ghi lại, phóng to hình ảnh và nhận diện đối tượng qua những tấm hình bị nhiễu hoặc giọng nói trong băng ghi âm điện thoại không rõ tiếng. Nhưng bây giờ cô là sếp của Phòng Giám định Pháp y ở Brynsalléen, hơn nữa cô cũng vừa đi làm trở lại sau thời gian nghỉ thai sản.
Máy móc trong phòng đang chạy ro ro, không khí khô nóng đã tô hồng đôi má vốn nhợt nhạt gần như không màu của cô.
“Chào cô,” Harry nói, để cánh cửa sắt khép lại sau lưng.
Cô gái nhỏ nhắn với phong thái nhanh nhẹn đứng dậy, họ ôm lấy nhau, cả hai đều cảm thấy hơi gượng gạo.
“Anh gầy quá,” cô nói.
Harry nhún vai. “Tình hình cô… dạo này ra sao?”
“Greger ngủ khi cần ngủ, ăn khi cần ăn, và hầu như chẳng bao giờ quấy khóc.” Cô mỉm cười. “Với tôi giờ thì tất cả chỉ có vậy thôi.”
Anh nghĩ có lẽ anh nên nói đôi câu về Halvorsen. Câu gì đó để cho thấy anh không quên. Nhưng anh chẳng tìm được lời nào thích họp. Có điều, dường như Beate cũng hiểu nên thay vì vậy, cô lại hỏi thăm anh.
“Cũng bình thường,” anh nói và thả người xuống ghế. “Không đến nỗi. Tệ hết sức. Còn phải xem cô hỏi lúc nào.”
“Thế hôm nay thì sao?” Cô quay sang phía màn hình ti vi và nhấn một cái nút, vậy là những người trên đó bắt đầu chạy giật lùi về phía trung tâm thương mại Storo.
“Tôi bị hoang tưởng,” Harry nói. “Tôi cứ cảm thấy như đang chạy theo một kẻ thao túng mình, mọi việc hết sức hỗn loạn và hắn đang khiến tôi làm đúng như những gì hắn muốn. Cô có hiểu cảm giác ấy không?”
“Có,” Beate nói. “Tôi gọi hắn là Greger.” Cô dừng tua băng. “Anh có muốn xem tôi đã phát hiện được những gì không?”
Harry đẩy ghế lại gần hơn. Không có gì lạ khi Beate Lønn sở hữu tài năng thiên bẩm vì hồi hình thoi của cô - phần não ghi nhớ và nhận diện mặt người - cực kỳ phát triển và tinh nhạy đến mức khiến cô chẳng khác nào kho dữ liệu sống về tội phạm.
“Tôi đã xem ảnh anh gửi của những người có liên quan trong chuyên án,” cô nói. “Chồng con, nhân chứng, vv… Dĩ nhiên là tôi vẫn nhớ mặt các bạn cũ của chúng ta.”
Cô cho chạy lần lượt từng khung hình. “Đây,” cô nói và bấm dừng.
Tấm ảnh dừng lại và hiện lên màn hình, trên nền ảnh đen trắng nhòe nhiễu có vài người.
“Đâu?” Harry hỏi, cảm thấy mình vẫn cứ gà mờ hệt như mọi lần cùng Beate Lønn nghiên cứu những tấm ảnh trước đây.
“Đó. Chính là người trong ảnh này.” Cô lấy ra một tấm ảnh từ tập hồ sơ.
“Liệu đây có phải là kẻ đang theo dõi anh không, Harry?”
Harry sửng sốt nhìn chằm chằm tấm ảnh. Rồi anh chậm rãi gật đầu và vớ lấy điện thoại. Chỉ hai giây sau Katrine Bratt đã bắt máy.
“Cô cầm theo áo khoác rồi xuống đợi tôi ở gara,” Harry nói. “Chúng ta lái xe đi dạo một chuyến.”
Harry chạy xe trên phố Uranienborgveien và Majorstuveien để tránh đèn xanh đèn đỏ ở phố Bogstadveien.
“Cô ấy thực sự chắc chắn kẻ đó là ông ta ư?” Katrine hỏi. “Chất lượng ảnh từ camera giám sát…”
“Tin tôi đi,” Harry đáp. “Nếu Beate Lønn đã nói vậy thì không thể sai được. Cô gọi cho tổng đài xin số điện thoại nhà ông ta nhé.”
“Tôi có lưu trong di động đây rồi,” Katrine nói và mở danh bạ ra.
“Lưu rồi á?” Harry liếc xéo cô. “Với đối tượng nào cô cũng làm thế à?”
“Ừ. Xếp họ vào một nhóm. Khi nào giải quyết xong vụ án thì tôi xóa nhóm đó đi. Anh cứ thử áp dụng xem sao. Cảm giác bấm nút xóa thực sự rất đã. Rất… thật.”
Harry đỗ xe phía bên kia đường, đối diện với ngôi nhà sơn vàng ở Hoff.
Các ô cửa sổ đều tối om.
“Filip Becker,” Katrine nói. “Ai mà ngờ được chứ.”
“Nhớ là chỉ hỏi han thông thường thôi đấy. Biết đâu ông ta có lý do hợp lý để gọi điện cho Vetlesen.”
“Từ bốt điện thoại công cộng ở trung tâm thương mại Storo sao?”
Harry đưa mắt nhìn Katrine. Mạch của cô bên dưới làn da cổ mỏng manh đang đập nhanh thấy rõ. Anh quay đi và hướng ánh mắt về phía cửa sổ phòng khách.
“Đi nào,” anh nói. Nhưng vừa chạm vào tay nắm cửa xe thì di động của anh đổ chuông. “A lô?”
Giọng nói trong điện thoại có vẻ phấn khích song vẫn báo cáo một cách ngắn gọn, súc tích. Harry chen ngang giữa chừng với hai câu Ừm, một câu ngạc nhiên Gì cơ? và một câu Khi nào?
Cuối cùng thì đầu dây bên kia cũng nói xong.
“Cậu gọi cho Phòng Điều tra, bảo họ cử hai xe tuần tra gần nhất đến Hoffsveien,” Harry nói. “Nhắc họ đừng hú còi và bố trí mỗi xe ở một đầu khu dân cư… Gì cơ?… Vì trong nhà còn có trẻ con và không nên khiến Becker thêm kích động một cách không cần thiết. Được chứ?”
Hiển nhiên là được rồi.
“Holm vừa gọi.” Harry nhoài người qua chỗ Katrine, mở hộc để găng tay, lục lọi giây lát và lấy ra một chiếc còng. “Người của cậu ta tìm được kha khá dấu vân tay trên chiếc ô tô trong gara nhà Lossius. Họ đã đối chiếu chúng với những dấu vân tay thu được trong chuyên án.”
Hary rút chùm chìa khóa khỏi ổ khóa điện, cúi xuống và lôi từ dưới gầm ghế ra một cái hộp kim loại. Anh tra chìa vào ổ, mở hộp và lấy ra một khẩu Smith & Wesson màu đen nòng ngắn. “Trong số đó có một dấu trùng khớp với dấu in trên kính chắn gió.”
Katrine há hốc miệng im re hất đầu về phía ngôi nhà sơn vàng ra ý hỏi.
“Phải,” Harry đáp. “Chính là giáo sư Filip Becker.”
Anh thấy hai mắt Katrine trợn tròn. Nhưng cô vẫn giữ giọng bình thản. “Tôi có cảm giác sắp được bấm nút xóa rồi đây.”
“Có thể,” Harry nói, gạt mở hộp tiếp đạn hình trụ của khẩu súng và kiểm tra xem ổ đạn có đầy không.
“Không thể có đến hai gã bắt cóc phụ nữ theo cùng một cách được.” Cô bẻ cổ sang hai bên như thể đang khởi động trước khi vào trận đấm bốc.
“Giả thuyết hợp lý đấy.”
“Đáng lẽ chứng ta phải nhận ra ngay từ lần đầu tiên đến đây.”
Harry chăm chú quan sát cô, thầm hỏi vì sao anh lại không thấy phấn khích như cô và chẳng rõ niềm vui sướng ngất ngây khi tiến hành bắt giữ đã tan biến đi đằng nào. Phải chăng là bởi anh biết chẳng mấy chốc nó sẽ bị thay thế bởi cảm giác hụt hẫng vì đã đến quá muộn, anh sẽ chỉ như người lính cứu hỏa bới đống tro tàn mà thôi? Đúng, nhưng không chỉ có vậy. Vẫn còn một nguyên nhân khác nữa mà giờ anh mới bắt đầu nhận ra. Ấy là mối ngờ vực dai dẳng trong anh. Những dấu vân tay và băng ghi hình ở trung tâm thương mại Storo chắc chắn sẽ có sức thuyết phục trước tòa, nhưng mọi chuyện dường như quá dễ dàng thì phải. Hung thủ thực sự không hành động như thế; hắn sao có thể phạm những sai lầm ngớ ngẩn đến vậy. Người này không phải là kẻ đã cắm đầu của Sylvia Ottersen lên thân người tuyết, bỏ xác một viên cảnh sát vào cấp đông trong chính chiếc tủ đông lạnh của ông ta và gửi cho Harry lá thư với dòng chữ, Hãy tự hỏi bản thân điều này: “Ai đã tạo ra người tuyết?”
“Chúng ta làm gì bây giờ?” Katrine hỏi. “Có nên tự xông vào bắt hắn không?”
Nghe ngữ điệu của cô, Harry không rõ đó có phải câu hỏi hay không.
“Tạm thời cứ chờ đã,” Harry đáp. “Cho tới khi đội hỗ trợ vào vị trí. Sau đó mới gọi cửa.”
“Nếu hắn không có nhà thì sao?”
“Hắn có nhà.”
“Thế ư? Sao anh…”
“Nhìn cửa sổ phòng khách thì biết. Tập trung vào.”
Cô nhìn. Và khi ánh sáng màu trắng biến đổi phía đằng sau ô cửa sổ vách kính lớn, anh thấy rằng cô đã hiểu. Ánh sáng đó phát ra từ ti vi.
Hai người lặng lẽ đợi. Bốn bề tĩnh lặng tuyệt đối. Có tiếng quạ rúc lên một hồi. Sau đó lại yên ắng như tờ. Điện thoại của Harry chợt đổ chuông.
Đội hỗ trợ của họ đã vào vị trí.
Harry nhanh chóng dặn họ đôi điều. Anh không muốn bất cứ sĩ quan nào lộ diện khi chưa được gọi, có lẽ chỉ trừ trường hợp nghe thấy tiếng súng hoặc tiếng la hét.
“Bật chế độ im lặng đi,” Katrine nói sau khi anh ngắt máy.
Anh mỉm cười nhẹ, làm theo lời cô và lén liếc cô một cái. Nghĩ đến vẻ mặt cô khi cánh cửa tủ đông lạnh bật ra. Nhưng lúc này khuôn mặt ấy chẳng hề lộ vẻ khiếp sợ hay căng thẳng mà chỉ toát lên sự tập trung. Anh bỏ điện thoại vào túi áo khoác và nghe tiếng nó va vào khẩu súng lục.
Họ ra khỏi xe, băng qua đường và mở cổng. Lối đi rải sỏi ướt nhẹp như hút chặt lấy chân họ. Harry chú mục vào ô cửa sổ lớn, canh xem có bóng đen hoặc chuyển động nào hướng về phía bức tường sơn trắng hay không.
Thế rồi hai người cũng đến được cửa chính. Katrine liếc Harry, anh gật đầu. Cô nhấn chuông. Một tiếng kính coong trầm trầm dè dặt vang lên từ trong nhà.
Họ đợi. Không tiếng chân bước. Không bóng đen nào hiện lên trên tấm kính dợn sóng của ô cửa sổ hình ô van bên cạnh cửa chính.
Harry tiến tới và áp tai lên kính, cách đơn giản mà hiệu quả không ngờ khi thăm dò một ngôi nhà. Nhưng anh không nghe thấy gì, ngay cả tiếng ti vi. Anh lùi lại ba bước, bám lấy mái hiên nhô ra phía trên bậc tam cấp, dùng cả hai tay bấu chặt vào máng nước và đu người lên cao cho tới khi có thể trông thấy toàn cảnh phòng khách từ ngoài cửa sổ. Một bóng người mặc áo khoác màu xám đang ngồi khoanh chân trên sàn, lưng quay về phía anh. Chiếc tai nghe siêu bự ôm lây đầu người đó giống như vòng hào quang màu đen. Sợi cáp từ tai nghe nối vào chiếc ti vi.
“Ông ta đeo tai nghe nên không nghe thấy tiếng chuông,” Harry nói, anh nhảy xuống vừa kịp lúc trông thấy Katrine cầm lấy tay nắm cửa. Gioăng cao su bao quanh khung cửa nhả ra với một tiếng hít.
“Có vẻ chúng ta được chào đón thì phải,” Katrine nói khẽ và bước vào.
Bất ngờ trước hành động đó, Harry rủa thầm một câu rồi theo cô vào trong. Katrine đã đi tới phòng khách và mở cửa ra. Cô đứng nguyên đó cho đến khi Harry bắt kịp. Cô lùi lại, va phải một cái bệ khiến chiếc bình đặt trên đó nghiêng ngả một hồi như sắp đổ trước khi quyết định đứng vững.
Họ vẫn còn cách người đang ngồi quay lưng lại ít nhất là sáu mét.
Ti vi đang chiếu cảnh một đứa trẻ lẫm chẫm tập đi bằng cách nắm lấy ngón tay trỏ của một phụ nữ đang cười. Ánh sáng xanh trên nút bấm của đầu DVD phát ra từ bên dưới chiếc ti vi. Harry ngỡ như đã từng chứng kiến cảnh này, anh có cảm giác một thảm kịch lại sắp sửa tái diễn. Mọi chuyện diễn ra cũng y hệt: sự tĩnh lặng bao trùm, thước phim gợi nhớ về những khoảnh khắc hạnh phúc bên người thân, sự đối lập giữa quá khứ và hiện tại, thảm kịch vốn đã xảy ra rồi, giờ chỉ còn cần một cái kết nữa thôi.
Katrine chỉ tay, nhưng anh đã trông thấy từ trước.
Khẩu súng đặt ở sau lưng người đó, giữa chiếc bánh pizza ăn dở và máy điện tử Game Boy, trông nó chẳng khác gì món đồ chơi. Một khẩu Glock 21, Harry đoán vậy, cảm giác nôn nao dậy lên khi cơ thể anh chuẩn bị để sẵn sàng và bơm thêm adrenalin vào huyết mạch.
Họ có hai lựa chọn. Đứng yên ở cửa, kêu tên Becker và chấp nhận nguy cơ có thể xảy ra khi đối đầu với người có vũ khí. Hoặc tước vũ khí trước khi ông ta trông thấy họ. Harry đặt tay lên vai Katrine và đẩy cô lui về phía sau anh trong lúc nhẩm tính xem cần bao nhiêu thời gian để Becker quay lại, cầm lấy súng và ngắm bắn. Bốn bước dài chắc là đủ, hơn nữa, sau lưng Harry không có ánh đèn nên không lo hắt bóng, ti vi lại quá sáng, chẳng thể phản chiếu hình anh trên đó.
Harry hít thở sâu và bắt đầu hành động. Anh cố gắng bước thật khẽ trên sàn gỗ ghép. Cái lưng vẫn không có phản ứng gì. Đang sải bước chân thứ hai thì anh nghe thấy một tiếng choang từ phía sau. Trực giác mách bảo anh là cái bình vừa vỡ. Anh trông thấy bóng người quay phắt lại, gương mặt Filip Becker đầy vẻ đau đớn. Harry đứng đờ ra đó, hai người nhìn nhau chằm chằm. Màn hình ti vi phía sau Becker tắt phụt. Miệng Becker há ra như muốn nói. Cặp mắt ông ta đỏ vằn lên, hai má sưng phồng như thể vừa khóc.
“Súng kìa!”
Katrine la lên và Harry tự động ngước nhìn và trông thấy bóng cô in trên màn hình tối đen. Cô đang đứng ở cửa, chân giạng ra, hai tay chĩa thẳng về phía trước, nắm chặt một khẩu súng lục.
Thời gian như trôi chậm lại, hóa thành thứ vật chất đặc quánh vô định hình, trong đó chỉ duy nhất các giác quan của anh còn hoạt động trong thời gian thực.
Là một cảnh sát được đào tạo bài bản, lẽ ra theo bản năng Harry phải lập tức nằm rạp xuống đất và rút súng ra. Nhưng có điều gì đó đã tác động đến anh, một thứ chậm chạp hơn bản năng của anh nhưng lại có sức mạnh lớn lao hơn nhiều. Sau này anh sẽ nghĩ khác, nhưng ban đầu anh cho rằng hành động ấy của mình bắt nguồn từ một cảm giác quen thuộc nữa dường như anh đã từng trải qua, cảnh tượng một người đàn ông nằm chết trên sàn, từ giã cõi đời vì một viên đạn của cảnh sát bởi ông ta biết mình đã lâm vào đường cùng, chẳng thể tiếp tục vật lộn với bóng ma quá khứ được nữa.
Harry bước sang phải, đúng vào tầm ngắm của Katrine.
Anh nghe thấy một tiếng cách trơn tru vang lên rất ngọt từ phía sau. Âm thanh khi búa gõ hạ xuống, ngón tay nới lỏng cò súng.
Một tay Becker áp xuống sàn gần khẩu súng. Cả năm ngón và phần thịt giữa các ngón đều trắng bệch. Vậy là Becker đang dồn trọng lượng cơ thể mình vào đó. Tay còn lại, bàn tay phải, đang cầm chiếc điều khiển từ xa. Nếu Becker nhào đến lấy súng bằng tay phải trong tư thế này, ông ta sẽ mất thăng bằng.
“Cấm cử động,” Harry nói lớn.
Cử động duy nhất của Becker là hai cái chớp mắt, như thể muốn xóa đi hình ảnh Harry và Katrine. Harry tiến tới bình tĩnh nhưng dứt khoát. Anh cúi xuống nhặt khẩu súng không ngờ lại nhẹ tênh. Nhẹ đến nỗi chắc chắn trong hộp tiếp đạn chẳng có viên nào, anh nghĩ vậy.
Harry nhét súng vào túi áo khoác, kế bên khẩu súng lục của anh, sau đó ngồi thụp xuống. Qua màn hình ti vi anh có thể thấy bóng Katrine chĩa súng về phía anh và Becker trong lúc hồi hộp đổi chân trụ. Anh vươn tay về phía Becker, ông ta lùi lại như loài thú nhát sợ, rồi anh tháo chiếc tai nghe của ông ta ra.
“Jonas đâu?” Harry hỏi.
Becker chăm chú nhìn Harry như thể tình huống lúc này và thứ ngôn ngữ anh vừa nói đều nằm ngoài khả năng nhận thức của ông ta.
“Jonas đâu?” Harry hỏi lại. Rồi anh gọi to. “Jonas! Jonas, cháu có nhà không?”
“Suỵt,” Becker đáp. “Nó đang ngủ.” Ông ta lơ mơ nói như người chịu tác động của thuốc an thần.
Becker chỉ vào cái tai nghe. “Không được làm nó thức giác.”
Harry nuốt khan. “Thằng bé đâu?”
“Đâu á?” Becker nghiêng đầu nhìn Harry, xem chừng đến lúc này ông ta mới nhận ra anh. “Trên giường chứ còn ở đâu nữa. Đứa bé trai nào cũng phải ngủ giường riêng.” Giọng ông ta lên bổng xuống trầm tựa như đệm lại ca từ một bài hát.
Harry thọc tay vào túi áo bên kia và lôi ra chiếc còng. “Giơ tay ra,” anh bảo.
Becker lại chớp mắt.
“Vì sự an toàn của chính ông thôi,” Harry nói.
Đó là câu nói quen thuộc được nhồi vào đầu đám sinh viên ở Học viện Cảnh sát, mục đích chủ yếu là để trấn an tinh thần kẻ bị bắt. Thế nhưng khi nghe thấy câu nói ấy thốt ra từ miệng mình, Harry lập tức hiểu ra lý do anh dùng thân mình chắn trước họng súng. Và chẳng phải vì bóng ma nào cả.
Becker giơ tay về phía Harry như khẩn cầu, hai vòng thép bập vào cổ tay gầy gò lông lá của ông ta.
“Ở yên đây,” Harry nói. “Cô ấy sẽ lo liệu ông.”
Harry đứng dậy và đi ra cửa, tới chỗ Katrine đứng. Cô đã hạ súng xuống và mỉm cười với anh, mắt sáng lên vẻ tò mò. Những viên than hồng như đang âm ỉ cháy từ sâu thẳm bên trong đôi mắt ấy.
“Cô không sao chứ?” Harry khẽ hỏi. “Katrine?”
“Tất nhiên,” cô bật cười.
Harry ngần ngừ giây lát. Sau đó anh đi lên cầu thang. Anh còn nhớ vị trí phòng của Jonas nhưng vẫn mở cửa các phòng còn lại trước. Cố trì hoãn thời khắc đáng sợ. Tuy phòng riêng của Becker không bật đèn nhưng anh có thể thoáng thấy chiếc giường đôi. Tấm chăn đơn đã bị dẹp đi ở một bên. Như thể ông ta biết vợ mình sẽ không bao giờ trở về nữa.
Thế rồi Harry tới đứng bên ngoài phòng Jonas. Anh dẹp hết mọi ý nghĩ và hình dung trong tâm tưởng trước khi mở cửa. Những tiếng tinh tang lạc điệu lảnh lót vang lên trong bóng tối, dù không trông thấy gì nhưng anh vẫn biết luồng gió từ ngoài ùa vào đã khiến hàng ống kim loại mỏng manh va vào nhau, vì Oleg cũng treo một chiếc chuông gió như thế trên trần nhà. Harry bước vào và nhác thấy ai đó hoặc thứ gì đó bên dưới tấm chăn. Anh lắng tai tìm tiếng thở. Nhưng âm thanh duy nhất anh nghe được là tiếng chuông gió ngân mãi không thôi. Anh đặt tay lên chăn. Và trong khoảnh khắc ngắn ngủi, nỗi sợ khiến anh như tê liệt. Dù trong phòng không tiềm ẩn mối đe dọa về mặt thể chất, anh vẫn biết mình sợ điều gì. Bởi một người khác, Bjarne Møller sếp cũ của anh, đã từng nói với anh điều đó. Thứ anh sợ là đồng loại của chính anh.
Thận trọng, anh kéo tấm chăn khỏi thân người đang nằm. Là Jonas. Trong bóng tối, trông thằng bé hệt như đang ngủ. Chỉ trừ đôi mắt vẫn đang mở lớn đăm đăm nhìn lên trần nhà. Harry nhận thấy trên cẳng tay nó có dán miếng băng cá nhân. Anh cúi xuống nhìn cái miệng hé mở của thằng bé, khẽ chạm vào trán nó để rồi giật bắn mình khi sờ thấy làn da ấm nồng và cảm nhận luồng hơi phả vào tai. Một giọng ngái ngủ khẽ gọi: “Mẹ ơi?”
Harry hoàn toàn không lường trước được phản ứng của mình. Có lẽ là vì lúc này anh đang nghĩ đến Oleg. Hoặc cũng có thể là chính bản thân anh hồi còn nhỏ, khi anh tỉnh giấc, tưởng rằng mẹ vẫn còn sống nên chạy ào vào phòng bố mẹ ở Oppsal, và trông thấy chiếc giường đôi với tấm chăn đơn đã bị dẹp đi ở một bên.
Harry không sao ngăn được những giọt lệ bất ngờ ứa ra, ầng ậng trong mắt cho tới khi hình bóng khuôn mặt Jonas nhòa hẳn đi, rồi dòng lệ lăn dài xuống má, để lại vệt nước nóng hổi trước khi tìm thấy những nếp nhăn đưa chúng đến với khóe miệng, và Harry nếm thấy vị mặn trong nước mắt của chính mình.