Người Tuyết

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 97 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ngày Thứ Hai - 6
Điện Thoại Di Động

❊ ❊ ❊

Sĩ quan cảnh sát Magnus Skarre ngả người trên chiếc ghế xoay và nhắm mắt lại. Hình ảnh hiện ra liền sau đó vận bộ vét và đứng quay mặt về phía anh ta. Anh ta mở choàng mắt và nhìn đồng hồ đeo tay. Sáu giờ. Skarre quyết định mình xứng đáng được nghỉ ngơi sau khi hoàn tất quy trình cơ bản tìm kiếm người mất tích. Anh ta đã gọi điện đến các bệnh viện để xem họ có tiếp nhận bệnh nhân nào tên Birte Becker không. Rồi gọi cho hai hãng taxi, Norgestaxi và Oslo Taxi, để hỏi về những chuyến xe chạy gần khu Hoff đêm qua. Gọi đến ngân hàng của cô ta và được họ xác nhận cô ta không hề rút khoản tiền lớn nào trước khi mất tích, ngân hàng cũng không nhận lệnh rút tiền vào tối hôm trước và trong hôm nay. Cảnh sát ở sân bay Gardermoen được cho xem danh sách hành khách đi máy bay đêm qua, nhưng vị khách duy nhất mang họ Becker là Filip chồng cô ta, trên chuyến bay đến Bergen. Skarre cũng đã hỏi những công ty phà có tuyến chở khách đến Đan Mạch hoặc Anh, dù cô ta khó có khả năng chạy sang Anh nếu chồng cô đang giữ hộ chiếu và đã trình với cảnh sát. Anh chàng sĩ quan giàu tham vọng còn gửi cả bản fax bảo mật thông thường tới các khách sạn tại Oslo và Akershus, cuối cùng còn dặn tất cả các đơn vị tác nghiệp ở Oslo - bao gồm cả đội tuần tra - chú ý tìm kiếm cẩn thận.

Vấn đề duy nhất chưa giải quyết được chính là chiếc điện thoại di động.

Magnus gọi điện báo cáo tình hình cho Harry. Viên thanh tra thở không ra hơi, Magnus nghe thấy tiếng chim ríu rít vọng vào điện thoại. Harry hỏi han đôi câu về chiếc di động rồi ngắt máy. Sau đó Skarre đứng dậy bước ra hành lang. Cửa phòng làm việc của Katrine Bratt mở toang, đèn vẫn sáng nhưng không có người. Anh ta đi cầu thang lên căng tin ở tầng trên.

Lúc này căng tin không phục vụ đồ ăn, tuy nhiên vẫn có sẵn cà phê ấm trong bình giữ nhiệt, bánh nướng giòn và mứt trên xe đẩy cạnh lối vào. Chỉ có bốn người ngồi trong phòng, nhưng một trong số đó là Katrine Bratt ngồi ở bàn kê sát tường. Cô đang đọc tài liệu kẹp trong tập bìa hồ sơ. Trước mặt cô là một ly nước và hộp đồ ăn trưa với hai chiếc sandwich đã bóc. Cô đang đeo kính. Gọng và mắt kính mỏng đến nỗi khó mà nhận ra được.

Skarre rót cho mình cốc cà phê rồi bước tới bàn của cô.

“Tính làm thêm giờ, đúng không?” anh ta hỏi và ngồi xuống.

Magnus Skarre nghĩ hình như cô thở dài một tiếng trước khi ngẩng lên.

“Sao tôi đoán ra hả?” Anh ta mỉm cười. “Sandwich tự làm. Trước khi rời nhà, cô đã biết căng tin đóng cửa lúc năm giờ và cô sẽ ở lại làm thêm. Thật tiếc, nhưng nghề thanh tra cảnh sát là thế đấy.”

“Vậy sao?” cô nói mà chẳng thèm chớp mắt và lại cố đọc tiếp tài liệu.

“Phải,” Skarre đáp, nhấp cà phê và tranh thủ cơ hội ngắm cô thật kỹ. Cô ngồi ngả về phía trước, anh ta có thể trông thấy viền ren áo lót của cô lấp ló qua cổ áo cánh. “Như vụ điều tra người mất tích hôm nay chẳng hạn. Những thông tin tôi có thì người khác cũng có cả rồi. Thế nhưng tôi vẫn ngồi đây và ngẫm nghĩ biết đâu cô ta vẫn đang ở Hoff. Bị vùi dưới tuyết hoặc đống lá cây chẳng hạn. Hoặc có thể nằm dưới một cái hồ nhỏ hoặc dòng suối nào đó.”

Katrine Bratt không đáp.

“Cô có biết tại sao tôi lại nghĩ thế không?”

“Không,” cô đáp bằng giọng đều đều, không buồn rời mắt khỏi tập tài liệu.

Skarre nhoài người qua bàn và đặt một chiếc điện thoại di động ngay trước mặt cô. Katrine đành ngẩng lên với vẻ cam chịu.

“Đây là một chiếc điện thoại di động,” anh ta nói. “Chắc cô cho rằng nó là phát minh khá mới. Nhưng vào tháng Tư năm 1973, cha đẻ của nó, Martin Cooper, đã có cuộc nói chuyện đầu tiên qua điện thoại di động với bà vợ ở nhà. Dĩ nhiên lúc ấy ông ta không hề biết phát minh này sẽ trở thành một trong những biện pháp quan trọng nhất giúp cảnh sát truy tìm người mất tích. Nếu muốn trở thành thanh tra hạng khá, cô phải chịu khó lắng nghe và học hỏi, Bratt ạ.”

Katrine bỏ kính ra, nhìn Skarre và tủm tỉm cười, nụ cười anh ta thích nhưng không thực sự hiểu rõ ý nghĩa. “Tôi xin rửa tai lắng nghe.”

“Tốt,” Skarre nói. “Birte Becker cũng sở hữu một cái. Điện thoại di động phát ra những tín hiệu được các trạm thu phát sóng trong khu vực tiếp nhận. Không chỉ khi chúng ta liên lạc thì tín hiệu mới truyền đi, mà chỉ cần mang theo máy là đủ. Ngay từ đầu người Mỹ đã gọi điện thoại di động là ‘cellular phone’, vì nó hoạt động trong vùng phủ sóng của những trạm thu phát đặt ở các khu vực nhỏ, gọi là ‘cell’. Tôi đã yêu cầu nhà mạng Telenor kiểm tra, trạm thu phát sóng ở Hoff vẫn nhận được tín hiệu từ điện thoại di động của Birte. Nhưng chúng tôi lục soát toàn bộ ngôi nhà mà không tìm thấy chiếc điện thoại nào. Cô ta không thể đánh rơi đâu đó gần nhà, như vậy thì quá trùng hợp. Bởi thế…” Skarre giơ hai tay lên, điệu bộ như nhà ảo thuật vừa kết thúc màn trình diễn, “sau chầu cà phê này, tôi sẽ liên hệ với Phòng Điều tra và cử một đội tìm kiếm đến đó.”

“Chúc may mắn,” Katrine nói, đưa trả anh ta chiếc điện thoại và lật một trang tài liệu.

“Cô đang xem một trong những vụ án cũ của Hole đấy à?” Skarre hỏi.

“Đúng vậy.”

“Anh ta cho rằng có kẻ sát nhân hàng loạt đang lộng hành.”

“Tôi biết.”

“Vậy sao? Thế chắc cô cũng biết rằng anh ta sai toét chứ? Mà không phải là lần đầu đâu nhé. Tay Hole này bị ám ảnh lạ thường bởi những kẻ sát nhân hàng loạt. Anh ta cứ tưởng mình đang ở Mỹ. Nhưng anh ta đã tìm ra tên sát nhân hàng loạt nào trên đất nước này đâu.”

“Ở Thụy Điển cũng có vài tên. Thomas Quick. John Ausonius. Tore Hedin…”

Magnus Skarre phá lên cười. “Hóa ra cô cũng chịu khó tìm hiểu đấy. Nhưng nếu cô muốn học hỏi đôi điều về quy trình điều tra đúng nghĩa, thì tôi với cô làm chầu bia đi.”

“Cảm ơn, tôi không…”

“Và có lẽ kiếm cái bỏ bụng nữa. Hộp đồ ăn kia đâu có lớn.” Skarre cuối cùng cũng bắt được ánh mắt cô và giữ lấy. Cái nhìn của cô ánh lên tia sáng lạ, như thể ẩn sâu bên trong là một ngọn lửa đang âm ỉ cháy. Skarre chưa bao giờ trông thấy tia sáng nào như thế. Và anh ta cho rằng tất cả là do mình; anh ta đã thắp lên ngọn lửa đó và qua cuộc nói chuyện này, anh ta đã tiến vào hàng đồng minh của cô.

“Cô có thể xem như đó là…” anh ta mở lời rồi làm bộ như đang tìm từ thích hợp, “phụ đạo đi.”

Cô cười. Nụ cười tươi rói.

Skarre cảm thấy mạch đập dồn; người nóng bừng, chưa gì anh ta đã tưởng như có thể cảm nhận thân thể cô áp sát vào mình, một bên đầu gối đi tất đặt dưới ngón tay anh ta, những tiếng lách tách khi bàn tay anh ta trượt dần lên trên.

“Anh muốn gì hả Skarre? Muốn khui hàng váy mới trong đơn vị à?” Nụ cười càng rạng rỡ và ánh mắt càng sáng rực. “Quất cô ả càng sớm càng tốt, cái cách tụi con trai vẫn hay nhổ vào mấy miếng bánh sinh nhật lớn nhất để ung dung thưởng thức trước những đứa khác?”

Magnus Skarre có cảm giác hàm mình như vừa rớt xuống.

“Để tôi cho anh vài mẹo thiện chí nhé, Skarre. Đừng có dây vào gái cơ quan. Đừng phí thời gian uống cà phê trong căng tin nếu cho rằng mình đang có đầu mối sốt dẻo. Và đừng làm ra vẻ anh có quyền gọi cho Phòng Điều tra. Người anh phải gọi là thanh tra Hole, anh ấy mới có quyền quyết định triệu tập đội tìm kiếm hay không. Và sau đó anh ấy sẽ gọi cho Trung tâm Đáp ứng Khẩn cấp, khi các thành viên đã sẵn sàng, chứ không chỉ có mỗi một đội ở đây thôi đâu.”

Katrine vo tròn tờ giấy sáp gói bánh sandwich và ném về phía thùng rác sau lưng Skarre. Chẳng cần ngoái lại anh ta cũng biết cô ném trúng. Cô thu xếp tài liệu rồi đứng dậy, nhưng đến lúc này Skarre đã xoay xở trấn tĩnh lại được phần nào.

“Tôi không biết cô đang tưởng tượng gì, Bratt. Cái loại có chồng rồi còn đàng điếm như cô chắc ở nhà chưa ăn đủ nên mới hy vọng đàn ông như tôi thèm… thèm…” Skarre không tìm nổi từ nào để nói. Bố khỉ, không thể nói được gì mới chết chứ. “Tôi chỉ đề nghị bảo ban cho cô đôi điều thôi, đồ đĩ thõa.”

Khuôn mặt cô đột nhiên thay đổi - như thể một tấm màn vừa được vén lên cho anh ta nhìn thấu ngọn lửa. Trong giây lát, anh ta cho rằng cô sẽ đánh mình. Nhưng không có gì xảy ra cả. Và khi cô lên tiếng, anh ta nhận ra tất cả những điều đó chỉ xuất hiện trong đôi mắt cô mà thôi; Katrine không hề động một ngón tay và giọng nói của cô bình tĩnh tuyệt đối.

“Xin lỗi nếu tôi hiểu nhầm anh,” cô nói, dù nét mặt cô cho thấy điều đó khó lòng xảy ra. “Nhân tiện, Martin Cooper không gọi cho vợ mà gọi cho đối thủ của ông ta, Joel Engel ở Phòng thí nghiệm Bell. Anh nghĩ ông ta muốn bảo ban đôi điều hả Skarre? Hay khoe khoang?”

Skarre nhìn cô bỏ đi, nhìn bộ vét ôm lấy vòng ba của cô trong lúc cô uốn éo đi ra cửa căng tin. Khốn kiếp, ả đàn bà này đúng là mất trí rồi! Anh ta rất muốn đứng dậy cầm thứ gì đó ném cô ta. Nhưng anh ta biết mình sẽ ném trượt. Vả lại, anh cũng không có ý định nhúc nhích, vì sợ rằng đũng quần đang nhô lên của mình vẫn còn lộ quá.

Harry cảm thấy hai lá phổi như đang ép chặt vào mạng sườn. Nhịp thở của anh đã dần ổn định. Nhưng trái tim thì khác, nó vẫn đập như trống dồn trong lồng ngực. Bộ quần áo tập ướt đẫm mồ hôi khi anh dừng lại bên bìa rừng cạnh nhà hàng Ekeberg. Nhà hàng có thiết kế chú trọng công năng này được xây dựng trong thời kỳ trung gian giữa hai cuộc chiến, nơi đây từng là nguồn vui và niềm tự hào của Oslo, nằm cheo leo trên triền núi phía Đông nhìn xuống thành phố. Nhưng thực khách đã không còn muốn lặn lội đi từ trung tâm thành phố tới khu rừng nữa, thế nên nhà hàng làm ăn ngày một thua lỗ, dần lụn bại rồi trở thành chốn dừng chân tồi tàn của những vũ công hết thời, đám bợm rượu trung niên và những tâm hồn cô đơn đang muốn tìm đến với nhau. Cuối cùng, nơi này cũng bị đóng cửa. Harry luôn thích lái xe lên đây, lánh xa bầu không khí vàng vọt ngập ngụa khói xe ở thành phố bên dưới, chạy bộ theo những lối mòn chằng chịt trên địa hình dốc vừa là thử thách vừa khiến axit lactic thiêu đốt cơ bắp trên người anh. Anh hay dừng lại bên công trình đổ nát là nhà hàng đẹp đẽ thuở nào, ngồi trên mặt đất còn ướt nước mưa, cỏ cây um tùm, trông xuống thành phố từng thuộc về anh nhưng mọi cảm xúc giờ đã nguội lạnh, vật đổi sao dời, người cũ nay đã có tình mới.

Thành phố nằm trong thung lũng bốn bề là núi, muốn di tản chỉ có cách đi qua vùng vịnh hẹp. Các nhà địa chất nói rằng Oslo tọa lạc trên miệng của một núi lửa đã tắt. Và trong những buổi tối như hôm nay, Harry hình dung ánh đèn thành phố là những lỗ hổng trên mặt đất, qua đó có thể trông thấy dòng dung nham sáng rực bên dưới. Nhìn về phía khu [1] Holmenkollen có hình dấu phẩy màu trắng lung linh trên ngọn núi bên kia thành phố, anh cố ước đoán vị trí căn nhà của Rakel.

Anh lại nghĩ đến lá thư đó. Nghĩ đến cuộc điện thoại vừa rồi với Skarre về việc chiếc di động không rõ tăm tích của Birte vẫn phát ra tín hiệu. Giờ nhịp tim anh đã chậm lại, bơm máu và truyền tín hiệu ổn định, đều đặn đến não để nói rằng sự sống vẫn tồn tại. Giống như điện thoại di động với trạm thu phát sóng. Trái tim, Harry thầm nghĩ. Tín hiệu. Lá thư. Một ý nghĩ bệnh hoạn. Vậy mà sao anh vẫn chưa dẹp nó đi? Sao còn tính toán phải mất bao lâu để chạy đến chỗ chiếc ô tô, lái tới Hoff và xem xem ai mới là kẻ bệnh hoạn hơn?

Rakel đứng bên cửa sổ phòng bếp trông ra ngoài sân nhà, nơi những cây vân sam chắn hết tầm mắt của cô khi nhìn về phía nhà hàng xóm. Trong buổi họp khu dân cư, cô đã nêu ý kiến chặt bớt vài cây để lấy thêm ánh sáng, nhưng đáp lại cô là thái độ im ỉm thiếu nhiệt tình quá lộ liễu nên cô chẳng buồn đề nghị biểu quyết nữa. Hàng cây giúp che đi ánh mắt soi mói của người lạ và dân Holmenkollen thích như thế hơn. Tuyết vẫn phủ trắng khu vực phía trên thành phố, nơi những chiếc BMW và Volvo nhẹ nhàng lách qua những khúc cua để trở về mái ấm có cửa gara tự động cùng bữa tối được sửa soạn bởi chính tay các bà nội trợ dáng chuẩn đang tạm rời xa công việc, với sự giúp đỡ chút đỉnh của những cô trông trẻ.

Qua lớp sàn rắn chắc của căn nhà gỗ cha cô để lại, Rakel vẫn nghe thấy tiếng nhạc văng vẳng trong phòng Oleg ở tầng hai. Led Zeppelin và nhóm the Who. Hồi mười một tuổi, cô không tài nào hình dung nổi mình có thể nghe được âm nhạc của thế hệ bố mẹ. Nhưng Harry lại tặng mấy CD ấy cho Oleg và thằng bé có vẻ thực sự thích thú.

Cô nghĩ đến Harry ngày một gầy rộc đi, dần dần héo mòn. Ký ức của cô về anh cũng vậy. Có chăng thật đáng sợ khi một người từng thân thiết với ta lại có thể tàn lụi và tan biến. Hoặc cũng có thể lý do là đây; hai người một thời quá thân thì khi chia xa, tất cả bỗng đâu như không thực, như giấc mơ sẽ sớm rơi vào quên lãng vì nó chỉ xảy ra trong tâm trí ta mà thôi. Có thể vì thế cô mới sốc khi gặp lại anh. Khi ôm anh, hít hà mùi hương của anh, nghe giọng anh không phải qua điện thoại mà từ chính chiếc miệng với đôi môi mềm mại lạ kỳ trên gương mặt rắn rỏi nhiều nếp nhăn hơn bao giờ hết. Nhìn vào đôi mắt xanh ánh lên những tia sáng biến chuyển linh hoạt trong lúc anh nói chuyện. Y như ngày nào.

Vậy nhưng cô vẫn mừng vì chuyện hai người đã chấm dứt, cô đã để tất cả lại phía sau. Người đàn ông này đã trở thành người mà cô không thể cùng vun đắp tương lai, người sẽ không đem hiện thực lếch thếch của anh vào đời của mẹ con cô.

Cô thấy ổn hơn nhiều. Rất rất nhiều. Cô nhìn đồng hồ. Không lâu nữa anh ấy sẽ tới. Vì, khác hẳn với Harry, anh ấy thường rất đúng hẹn.

Mathias đến với cô hoàn toàn bất ngờ vào một ngày nọ. Tại bữa tiệc trong vườn được tài trợ bởi Hội đồng Dân cư Holmenkollen. Anh không sống tại đây nhưng được bạn bè mời đến dự, anh và Rakel đã ngồi tâm sự gần như cả tối. Chủ yếu nói về cô. Anh lắng nghe rất chăm chú, hơi giống kiểu của bác sĩ, cô nghĩ vậy. Rồi hai ngày sau anh gọi điện mời cô đi dự triển lãm ở Trung tâm Nghệ thuật Henie-Onstad tại Høvikodden. Anh mời cả Oleg đi cùng vì ở đó cũng đang có triển lãm dành cho thiếu nhi. Thời tiết hôm ấy rất tệ, triển lãm cũng xoàng còn Oleg thì quạu quọ cả buổi. Nhưng Mathias đã cố gắng thay đổi không khí bằng khiếu hài hước và những bình luận chua cay về tài năng của người nghệ sĩ. Sau đó anh lái xe đưa hai mẹ con cô về, xin lỗi vì đã mời họ đi chơi và mỉm cười hứa sẽ không bao giờ dẫn họ đến bất cứ đâu nữa. Dĩ nhiên là trừ phi mẹ con cô yêu cầu. Sau hôm ấy, Mathias đi Botswana một tuần. Và anh gọi cho cô đêm anh về tới nhà, hỏi xem liệu anh gặp lại cô lần nữa có được không.

Cô nghe thấy tiếng ô tô về số để lên lối đi dốc. Anh lái chiếc Honda Accord đời cổ. Không hiểu sao cô lại thích như vậy. Anh luôn đỗ phía trước gara chứ không bao giờ đánh xe vào trong. Và cô cũng thích cả điều đó nữa. Cô thích việc anh đem theo quần áo lót và đồ dùng vệ sinh cá nhân trong túi đựng đồ qua đêm mà anh luôn mang về khi chia tay cô vào sáng hôm sau. Cô thích việc anh hỏi cô có muốn gặp lại anh nữa không, anh không coi bất cứ điều gì là lẽ đương nhiên cả. Chuyện đó có thể sẽ thay đổi, nhưng cô đã sẵn sàng cho sự thay đổi ấy rồi.

Anh bước ra khỏi xe. Anh cao, gần bằng Harry, khuôn mặt trẻ trung cởi mở hướng về phía cửa sổ phòng bếp với một nụ cười, dù cô biết chắc anh đã kiệt sức sau ca làm việc kéo dài như hành xác. Đúng vậy, cô đã sẵn sàng cho điều đó. Cho người đàn ông đang ở bên cô, yêu cô và ưu ái ba người họ hơn hết thảy mọi thứ. Cô nghe thấy tiếng mở khóa cửa chính. Chìa khóa cô đã đưa cho anh vào tuần trước. Lúc ấy trông Mathias hết sức ngỡ ngàng, chẳng khác nào đứa trẻ vừa được trao tấm vé tham quan nhà máy sô cô la.

Cửa mở, anh bước vào nhà và cô nhào vào vòng tay anh. Dường như đến cả chiếc áo khoác len anh mặc cũng có mùi hương thật dễ chịu. Chất len mềm còn vương cái lạnh của mùa thu áp trên má cô, nhưng hơi ấm bình yên bên trong đã truyền sang cho cô.

“Sao vậy em?” Anh bật cười, vùi mặt vào tóc cô.

“Em chờ đợi điều này đã lâu lắm rồi,” cô thì thầm.

Cô nhắm mắt lại, họ đứng bên nhau như vậy một lúc.

Cô buông anh ra và ngước lên nhìn gương mặt tươi cười của anh. Anh thật ưa nhìn. Ưa nhìn hơn Harry.

Mathias lùi lại, cởi áo khoác, treo lên và bước tới bên bồn vệ sinh để rửa tay. Đó là thói quen của anh mỗi khi từ khoa Giải phẫu về, ở đó họ sử dụng thi hài thật để giảng bài. Và Harry cũng làm vậy mỗi lần về thẳng nhà sau các vụ án mạng. Mathias mở tủ bên dưới bồn rửa, bỏ khoai tây đựng trong bao vào bồn rửa bát và vặn vòi cho nước chảy ra.

“Ngày hôm nay em làm gì?”

Cô nghĩ phần lớn đàn ông sẽ hỏi thăm về buổi tối hôm trước; dù gì anh cũng biết cô có hẹn với Harry. Và cô cũng thích điều đó ở anh. Cô kể cho anh nghe trong lúc nhìn ra cửa sổ. Ánh mắt cô lướt qua hàng cây vân sam, hướng về phía thành phố đã bắt đầu lên đèn phía bên dưới. Anh đang ở đâu đó dưới kia. Dấn thân vào cuộc săn vô vọng vì một thứ chưa bao giờ và sẽ chẳng bao giờ anh tìm được. Cô thấy tội cho anh. Sự cảm thông là tất cả những gì còn sót lại. Thực ra, tối qua đã có lúc cả hai chìm vào im lặng, ánh mắt nhìn nhau không rời, chẳng thể nào dứt ra ngay được. Cảm giác như sốc điện, nhưng chỉ tích tắc sau, tất cả đã chấm dứt. Thật sự kết thúc. Không còn chút ma lực vấn vương. Cô đã có quyết định của mình rồi. Cô đứng phía sau Mathias, vòng tay ôm anh và tựa đầu lên tấm lưng vạm vỡ.

Cô cảm thấy những cơ bắp bên dưới áo anh đang cử động trong lúc anh gọt khoai và bỏ vào nồi.

“Giá có thêm vài củ nữa thì tốt,” anh nói.

Cô chợt nhận thấy có chuyển động ở cửa bếp và quay lại.

Oleg đang đứng đó nhìn họ.

“Con xuống tầng hầm lấy giúp mẹ mấy củ khoai tây nhé?” cô nói và thấy đôi mắt Oleg tối sầm lại.

Mathias ngoái nhìn. Oleg vẫn ở nguyên chỗ cũ.

“Để anh đi cho,” Mathias nói và lấy ra chiếc xô bên dưới bồn rửa.

“Không,” Oleg nói, tiến về phía trước hai bước. “Để cháu.” Nó cầm lấy cái xô trong tay Mathias rồi quay người bỏ đi.

“Thằng bé sao vậy em?” Mathias hỏi.

“Nó hơi sợ bóng tối,” Rakel thở dài.

“Anh cũng đoán ra được, nhưng sao nó còn đi?”

“Vì Harry bảo nó nên làm thế.”

“Làm gì cơ?”

Rakel lắc đầu. “Những việc nó sợ. Và không muốn tiếp tục sợ nữa. Trước đây, khi đến chơi, Harry thường sai Oleg xuống tầng hầm suốt.”

Mathias cau mày.

Rakel nở nụ cười buồn. “Anh ấy đâu phải bác sĩ tâm lý trẻ em. Mà Oleg sẽ chẳng chịu nghe em nếu Harry nêu ý kiến trước. Nói vậy chứ dưới đó làm gì có con quái vật nào.”

Mathias vặn núm điều khiển bếp và thấp giọng hỏi, “Làm sao em dám chắc?”

“Mathias?” Rakel bật cười. “Anh cũng từng sợ bóng tối à?”

“Có ai nói là đã từng đâu nhỉ?” Mathias cười ranh mãnh.

Phải, cô thích anh. Hãy cứ để mọi chuyện như thế này sẽ tốt hơn. Cuộc sống của cô cũng thế. Cô thích anh, đúng vậy, cô thực sự thích anh.

Harry tấp xe vào vệ đường phía trước nhà Becker. Anh ngồi trong ô tô đăm đăm nhìn ánh sáng vàng từ những ô cửa sổ hắt xuống sân vườn. Người tuyết đã tóp lại bằng một chú lùn. Nhưng bóng của nó vẫn vươn tới những hàng cây và kéo dài đến tận bờ rào.

Harry bước ra khỏi xe. Cánh cổng sắt kêu lên ai oán khiến anh nhăn mặt. Anh biết lẽ ra anh nên gọi điện trước; vườn hay nhà thì cũng đều nằm trên đất riêng. Nhưng anh không thể kiên nhẫn và cũng chẳng muốn trao đổi bất cứ điều gì với giáo sư Becker.

Mặt đất ướt có độ đàn hồi tốt. Anh ngồi thụp xuống. Ánh sáng phản xạ trên người tuyết như thể nó được làm từ thủy tinh mờ. Ban ngày tuyết tan ra khiến các tinh thể băng nhỏ xíu kết lại thành những tinh thể lớn, nhưng lúc này nhiệt độ lại giảm, hơi nước ngưng tụ rồi đóng băng phía trên. Kết quả là lớp tuyết trắng tinh xốp mịn lúc sáng giờ đã nén lại thành một khối xam xám thô ráp.

Harry giơ tay phải lên. Siết lại thành nắm đấm. Và thụi một cú.

Cái đầu người tuyết bị đấm vỡ rụng rời khỏi vai và lăn xuống bãi cỏ héo úa.

Harry đấm tiếp, lần này là từ trên xuống xuyên qua phần cổ. Ngón tay anh quặp lại như hình móng vuốt, bới trong đống tuyết cho tới khi tìm được thứ mình muốn.

Anh rút tay lên và đắc thắng giơ ra trước mặt người tuyết, cách Lý Tiểu Long vẫn làm, để đối thủ chứng kiến trái tim vừa được anh móc ra từ trong lồng ngực hắn.

Đó là một chiếc điện thoại di động Nokia màu đỏ và bạc. Máy vẫn còn đang bật.

Nhưng rồi niềm vui chiến thắng nhanh chóng lụi tàn. Vì anh biết đây không phải bước đột phá trong công tác điều tra mà chỉ là một cảnh nhỏ trong vở rối với những sợi dây vô hình được điều khiển bới bàn tay kẻ khác. Việc này quá ư đơn giản. Chiếc điện thoại được đặt ở đó là để cảnh sát tìm ra.

Harry bước tới cửa trước và nhấn chuông. Người ra mở là Filip Becker. Tóc tai ông ta rối bù, cà vạt thì xộc xệch. Ông ta chớp mắt vài cái thật mạnh như thể vừa ngủ dậy.

“Phải,” ông ta trả lời Harry. “Đây đúng là kiểu điện thoại cô ấy dùng.”

“Nhờ ông gọi vào máy bà được không?”

Filip Becker mất hút vào trong còn Harry đứng đó chờ đợi. Đột nhiên Jonas ló đầu ra qua ngưỡng cửa ở hiên nhà. Harry đang định chào thằng bé thì đúng lúc ấy, chiếc di động màu đỏ bỗng cất lên giai điệu ca khúc thiếu nhi: “Blåmann, blåmann, bukken min”. Harry nhớ lại câu hát tiếp theo in trong cuốn sách nhạc hồi còn đi học: Tenk på vesle gutten din. Hãy nghĩ đến cậu bé con.

Và anh thấy gương mặt Jonas sáng bừng lên. Thấy dòng tư duy liền mạch đang diễn ra trong tâm trí cậu bé, nét hoang mang hiện ra liền sau đó và niềm hân hoan khi nghe thấy tiếng chuông điện thoại của mẹ dần biến thành vẻ khiếp đảm cực độ. Harry nuốt khan. Đó là nỗi khiếp đảm quá đỗi quen thuộc đối với anh.

Bước vào căn hộ của mình, Harry ngửi thấy mùi thạch cao và mùn cưa. Những tấm thạch cao ở tường hành lang đã bị gỡ xuống và xếp thành chồng trên sàn. Có mấy vết lem mờ trên bức tường đằng sau. Harry quệt ngón tay lên lớp bụi màu trắng bám trên mặt sàn gỗ. Anh đưa lên miệng nếm. Có vị mặn. Đó là vị của nấm mốc ư? Hay chỉ là muối đang lan rộng, tòa nhà đang đổ mồ hôi? Harry đánh bật lửa và rướn người về phía bức tường. Chẳng có gì để mà thấy, mà ngửi.

Khi đã leo lên giường và nằm nhìn đăm đăm vào bóng tối kín bưng trong phòng, Harry chợt nghĩ đến Jonas. Và mẹ của mình. Nghĩ đến mùi của bệnh tật, khuôn mặt mẹ từ từ tan vào sắc trắng của chiếc gối. Ngày qua ngày, tuần qua tuần, anh chơi cùng Sis trong lúc bố anh dần trở nên trầm lặng và những người xung quanh hành xử như chẳng có chuyện gì xảy ra. Anh nghe thấy tiếng sột soạt khe khẽ đâu đó ngoài hành lang thì phải. Như thể những sợi dây múa rối vô hình đang nhân lên, dài ra và âm thầm lan đi khắp nơi trong lúc chúng nuốt chửng lây bóng tối, tạo nên thứ ánh sáng lung linh yếu ớt đang lay động và run rẩy.

❀ ❀ ❀

[1] Ski jump là một loại hình trượt tuyết đổ dốc kết hợp với nhảy xa.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Jo Nesbø

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.