Người Tuyết

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 144 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ngày Thứ Hai Mươi - 27
Khởi Đầu

❊ ❊ ❊

Arve Støp trông thấy Birte Becker lần đầu tiên vào một ngày đông lạnh lẽo ở Oslo, khi ông ta có buổi diễn thuyết cho một công ty truyền thông ở Hội trường Sentrum. Đó là hội thảo truyền cảm hứng trong đó các doanh nghiệp cử những nhân viên sức cùng lực kiệt đến để tham dự cái gọi là khóa học làm mới bản thân, mà thực chất là những buổi thuyết trình với mục đích thúc đẩy họ làm việc cật lực hơn nữa. Kinh nghiệm của Arve Støp cho thấy diễn giả trong các buổi hội thảo kiểu này phần lớn là những doanh nhân đã giắt lưng chút ít thành công nhờ đôi ba ý tưởng chẳng độc đáo gì cho lắm, vài vận động viên giành huy chương vàng trong giải đấu tầm cỡ của môn thể thao hạng xoàng nào đó, hoặc mấy nhà leo núi kiếm cơm bằng cách leo lên ngọn núi nọ kia rồi trèo xuống và kể lại trải nghiệm. Điểm chung của tất cả những người này là ở chỗ, họ đều tuyên bố thành công mình có được là nhờ tinh thần và nghị lực phi thường. Họ tràn đầy cảm hứng. Và câu chuyện về họ chính là để truyền cảm hứng cho người tham dự.

Arve Støp xuất hiện sau cùng, ông ta luôn đưa ra yêu cầu như vậy và coi đó là điều kiện bắt buộc nếu muốn ông ta tham gia chương trình. Mục đích là để ông ta mở đầu bài diễn thuyết bằng cách phê phán các diễn giả khác là những kẻ ái kỷ tham lam, chia bọn họ thành ba nhóm như đã nói ở trên và tự xếp mình vào nhóm thứ nhất: thành công nhờ ý tưởng kinh doanh chẳng lấy gì làm độc đáo. Ngày hội truyền cảm hứng kiểu này đúng là ném tiền qua cửa sổ; phần lớn khán giả có mặt trong hội trường chẳng bao giờ thành đạt được đến mức ấy, bởi lẽ họ may mắn không mắc phải chứng cuồng danh vọng như những người đứng trên bục diễn thuyết. Trong đó có ông ta. Hội chứng mà như ông ta nói là bắt nguồn từ sự thiếu vắng tình thương của cha. Chính vì thế ông ta buộc phải tìm kiếm tình cảm và lòng ái mộ từ những người xung quanh và lẽ ra nên làm diễn viên hoặc nhạc sĩ, chỉ có điều cả hai nghề đó ông ta đều không có năng khiếu.

Đến lúc này, sự ngỡ ngàng của khán giả đã chuyển thành tiếng cười vui vẻ. Và cả lòng cảm thông. Støp biết điều đó sẽ mang lại cho ông ta sự ngưỡng mộ. Vì ông ta đứng trên bục diễn thuyết và tỏa sáng. Tỏa sáng bởi ông ta và những người khác đều biết rằng dù có nói gì đi nữa thì ông ta vẫn cứ là biểu tượng của thành công, và chẳng ai có thể phê phán thành công, ngay cả chủ nhân của nó. Ông ta khẳng định may mắn là yếu tố quan trọng nhất, hạ thấp tài năng của bản thân và nhấn mạnh rằng năng lực yếu kém cùng thói lười biếng của giói doanh nghiệp Na Uy đã khiến cho ngay cả những kẻ tầm thường cũng có thể thành đạt.

Khi bài diễn thuyết kết thúc, khán giả đồng loạt đứng dậy vỗ tay nhiệt liệt.

Và ông ta mỉm cười khi liếc cô nàng xinh đẹp tóc sẫm màu ngồi ở hàng ghế đầu, người mà sau này ông ta được biết là Birte. Støp đã để ý đến cô ta ngay từ lúc bước vào. Ông ta biết sự kết hợp giữa đôi chân thon và bộ ngực khủng thường đồng nghĩa với hàng giả, nhưng ông ta không phản đối việc phẫu thuật thẩm mỹ ở phụ nữ. Sơn móng tay và silicone, về bản chất thì có khác gì nhau đâu? Giữa tiếng hoan hô như sâm bên tai, ông ta thản nhiên xuống khỏi sân khấu, đi dọc theo hàng ghế đầu và bắt tay khán giả. Đó là hành vi thật ngớ ngẩn, một điều chắc chỉ có tổng thống Mỹ mới làm, nhưng ông ta mặc xác; cứ chọc tức được ai là ông ta khoái rồi. Ông ta dừng lại trước mặt cô nàng tóc sẫm màu, người đáp lại ông ta với vẻ rạng rỡ và đôi má đỏ ửng vì sung sướng. Khi ông ta đi qua, cô ta còn nhún mình như thể cúi chào vua chúa, và Støp cảm thấy bốn góc của tấm danh thiếp chọc vào lòng bàn tay mình khi ông ta áp nó vào tay cô ta. Cô ta ngó nghiêng xem có chiếc nhẫn cưới nào không.

Chiếc nhẫn đã mờ xỉn. Bàn tay phải của cô ta thon dài và nhợt nhạt là thế, vậy mà siết lấy tay ông ta chặt đến không ngờ.

“Sylvia Ottersen,” cô ta nói với một nụ cười ngây ngốc. “Tôi ngưỡng mộ ông quá nên nhất định phải bắt tay mới được.”

Đó là lần đầu tiên ông ta gặp Sylvia Ottersen, tại cửa hiệu Hương vị châu Phi của cô ta, vào một ngày hè nóng bức ở Oslo. Ngoại hình tầm thường. Nhưng đã có chồng.

Arve Støp ngước nhìn những chiếc mặt nạ châu Phi và hỏi han đôi điều để cuộc gặp gỡ bớt phần khó xử. Nhưng không phải vì bản thân, mà ông ta nhận thấy người đàn bà đi bên cạnh mình sững lại khi Sylvia Ottersen bắt tay ông ta. Tên cô ta là Marita. Không phải, là Marite mới đúng. Cô ả nằng nặc đòi dẫn Støp đến đây để xem mấy cái gối tựa bằng da ngựa vằn mà Marite - hay Marita nhỉ? - cho rằng ông ta nhất định phải mua để trang trí cho chiếc giường bọn họ vừa rời khỏi cách đây chưa lâu và nay đã có mấy sợi tóc vàng dài vương lại, ông ta thầm nhủ phải nhớ nhặt sạch mới được.

“Chúng tôi không còn sản phẩm nào bọc da ngựa vằn,” Sylvia Ottersen nói. “Nhưng cô xem mấy thứ này có được không?”

Cô ta bước tới bên cái kệ cạnh cửa sổ; ánh sáng ngoài trời rọi lên những đường cong của cô ta mà theo như Støp thấy thì cũng không tệ chút nào. Chỉ có điều mái tóc nâu nhàm chán kia trông thật xơ xác và thiếu sức sống.

“Cái gì vậy?” người đàn bà có tên bắt đầu bằng chữ M hỏi.

“Da linh dương đầu bò giả đấy.”

“Giả ư?” M khịt mũi, hất mái tóc vàng ra sau vai. “Chúng tôi sẽ chờ tới khi cô có thêm da ngựa vằn.”

“Da ngựa vằn cũng là giả thôi,” Sylvia nói, mỉm cười theo kiểu người lớn với trẻ con khi phải giải thích với chúng rằng mặt trăng không được làm từ pho mát.

“Tôi hiểu rồi,” M nói, cặp môi đỏ phô ra nụ cười chua chát và khoác tay Arve. “Cảm ơn vì đã cho chúng tôi xem hàng.”

Ông không thích ý tưởng cùng nhau ra ngoài đi dạo trước bàn dân thiên hạ của M, lại càng không ưa cái cách cô ta đang siết lấy tay mình. Chắc cô cảm nhận được sự khó chịu của Støp khi hai người rời khỏi cửa hiệu. Dù thế nào đi nữa, cô cuối cùng cũng chịu buông. Ông liếc đồng hồ đeo tay.

“Ôi,” ông nói. “Đến giờ tôi phải đi họp rồi.”

“Không ăn trưa sao?” Cô nhìn Støp với vẻ ngỡ ngàng, không giấu nổi sự thất vọng.

“Tôi sẽ gọi điện cho em, có lẽ thế,” ông đáp.

Cô ả gọi cho ông ta. Mới ba mươi phút trôi qua kể từ lúc ông ta đứng trên sân khấu ở Sentrum, lúc này ông ta đang ngồi trong chiếc taxi phía sau cái xe ủi tuyết đang gạt những đụn tuyết bẩn thỉu sang lề đường.

“Lúc nãy em ngồi ngay trước mặt ông,” cô nói. “Em muốn cảm ơn ông vì bài diễn thuyết đó.”

“Hy vọng cái nhìn của tôi không quá lộ liễu,” ông ta đắc thắng nói to giữa tiếng bàn ủi bằng sắt cào trên mặt đường.

Cô khúc khích cười.

“Tối nay em có dự định gì chưa?” ông hỏi.

“À,” cô ta nói, “chẳng có dự định nào là không thay đổi được cả…” Giọng hay. Lời cũng hay nữa.

Từ đó cho đến hết buổi chiều, ông ta làm gì cũng nghĩ đến người đàn bà đó, mơ tưởng đến lúc làm tình với cô trên cái tủ ngăn kéo ở hành lang, đầu cô va vào bức tranh của Gerhard Richter mua tại Berlin. Và nghĩ rằng điều tuyệt vời hơn cả chính là sự chờ đợi.

Lúc tám giờ, cô nhấn chuông ở tầng dưới. Ông đứng đợi trên hành lang. Nghe âm thanh lạch cạch của hệ thống thang máy vọng lại, giống như tiếng vũ khí lên nòng. Tiếng u u từ dưới đi lên. Dòng máu đang chảy rần rần nơi hạ bộ của ông ta.

Và rồi cô ta xuất hiện. Støp có cảm tưởng như vừa nhận một cái tát.

“Cô là ai?” ông ta hỏi.

“Stine,” cô ta nói, chút ngỡ ngàng hiện lên trên khuôn mặt núng nính đang tươi cười. “Em đã gọi…”

Støp nhìn cô từ đầu đến chân, và trong giây lát ông ta vẫn cân nhắc; thỉnh thoảng ông ta cũng có hứng với tip phụ nữ tầm thường chẳng lấy gì làm hấp dẫn. Thế nhưng lúc này ông cảm thấy thằng nhỏ đã dần xìu xuống và gạt bỏ ý định ấy đi.

“Xin lỗi, nhưng tôi không chơi cùng cô được,” ông nói. “Tôi vừa bị gọi đi họp rồi.”

“Họp ư?” cô ta nói, không giấu nổi nét mặt khổ sở.

“Họp đột xuất. Tôi sẽ gọi cho cô sau, có lẽ thế.”

Ông ta đứng trên hành lang, lắng nghe tiếng cửa thang máy mở ra rồi đóng lại. Sau đó bắt đầu phá lên cười. Cười mãi cho đến khi ông chợt nhận ra có thể mình sẽ chẳng bao giờ được gặp lại cô em xinh đẹp tóc sẫm màu ngồi hàng ghế đầu nữa.

Một tiếng sau ông ta trở lại tìm Sylvia. Sau khi ăn trưa một mình ở nhà hàng có cái tên rất hợp: Bar&Restaurant, ông ta mua một bộ vét ở hiệu Kamikaze và mặc vào luôn, rồi đi qua cửa hàng Hương vị châu Phi hai lần, nơi này giống như chốn nghỉ chân để tránh cái nắng bỏng rát. Đến lần thứ ba thì ông ta bước vào.

“Đã quay lại rồi sao?” Sylvia Ottersen mỉm cười.

Cũng như một tiếng trước, cô ta ở một mình trong cửa hiệu mát mẻ, tối tăm.

“Tôi thích mấy cái gối đó,” ông nói.

“Vâng, trông trang nhã mà,” cô vừa đáp vừa vuốt ve lớp da linh dương giả.

“Có còn món gì cho tôi xem không?” ông hỏi.

Cô ta chống một tay lên hông. Đầu nghiêng nghiêng. Cô ấy biết rồi, Støp thầm nghĩ. Cô ấy có thể đánh hơi thấy.

“Còn tùy vào việc ông muốn xem cái gì,” cô nói.

Støp nghe thấy giọng mình run run khi đáp, “Tôi muốn xem cô bé của em.”

Cô ta để ông ta chơi mình trong căn phòng phía sau, thậm chí chẳng buồn khóa cửa chính.

Arve Støp xuất gần như ngay lập tức. Thỉnh thoảng, tuýp đàn bà tầm thường chẳng lấy gì làm hấp dẫn lại khiến ông ta có hứng ghê gớm.

“Chồng em trông cửa hàng vào thứ Ba và thứ Tư,” cô ta nói khi ông chuẩn bị ra về. “Hẹn thứ Năm nhé?”

“Có thể,” ông nói và nhận thấy bộ vét hiệu Kamikaze đã lấm lem mất rồi.

Khi những bông tuyết lả tả xoay tròn trong không trung giữa những tòa nhà văn phòng ở Aker Brygge, đó cũng là lúc Birte gọi điện đến.

Cô nói chắc hẳn ông ta đưa danh thiếp cho cô là có ý bảo cô liên lạc lại.

Đôi lúc Arve Støp cũng tự hỏi mình vì sao ông ta lại quan hệ với những phụ nữ ấy, vì sao lại muốn trải nghiệm cảm giác phấn khích, những cuộc giao hoan chẳng có ý nghĩa gì khác hơn ngoài một thứ nghi thức buông tuồng, phóng túng. Chẳng lẽ bấy nhiêu cuộc chinh phục từ xưa đến nay vẫn còn chưa đủ? Hay đó là do nỗi sợ tuổi già? Phải chăng ông ta tin rằng khi làm tình với phụ nữ, ông ta có thể bòn rút phần nào sức xuân của họ? Và tại sao màn mây mưa luôn diễn ra với nhịp điệu gấp gáp, cuồng nhiệt? Có lẽ điều này bắt nguồn từ nhận thức rõ ràng về căn bệnh ông ta đang mang, và không lâu nữa ông ta sẽ không còn là mình trước kia. Ông ta không trả lời được những câu hỏi đó, mà dù trả lời được đi nữa thì cũng có để làm gì đâu? Đêm hôm ấy, ông ta lắng nghe Birte rên rỉ, tiếng rên trầm trầm như đàn ông, đầu cô ta va vào bức họa của Gerhard Richter được mua về từ Berlin.

Arve Støp giải phóng chất dịch mang mầm bệnh của mình đúng lúc chiếc chuông trên cửa chính rung lên gay gắt báo hiệu có người bước vào cửa hiệu Hương vị châu Phi. Ông ta cố vùng ra nhưng Sylvia Ottersen chỉ nhe răng cười và càng quắp chặt lấy. Ông ta giằng ra và kéo quần lên. Sylvia trượt xuống khỏi quầy hàng, chỉnh lại cái váy mùa hè và đi vòng qua ngã rẽ để tiếp khách. Vừa quay lưng lại với căn phòng, Arve Støp vừa vội vã chạy tới chỗ những hàng kệ bày đồ trang trí và kéo khóa quần. Ông ta nghe thấy ở đằng sau vang lên một giọng đàn ông xin lỗi vì đã đến muộn, tìm chỗ đỗ xe khó quá. Sylvia xẵng giọng đáp rằng anh ta phải lường trước được điều đó chứ, kỳ nghỉ hè đã kết thúc nên sẽ đông người hơn. Cô ta có hẹn với em gái mà giờ đã muộn rồi, anh ta tự làm việc với khách hàng đi.

Arve Støp nghe thấy giọng nói đó cất lên từ phía sau. “Xin hỏi ông cần gì?”

Støp ngoái lại và trước mặt ông ta là một người đàn ông chỉ có da bọc xương với đôi mắt to bất thường sau cặp kính tròn, mặc áo vải flannel thò ra cái cổ như cổ cò.

Støp nhìn qua vai anh ta và thấy Sylvia đi ra cửa, gấu váy tốc lên, một dòng nước rỉ xuống phía sau đầu gối để trần. Ông ta chợt hiểu thì ra cô ả đã biết trước tên bù nhìn đó - người mà ông ta đoán là đức lang quân - sẽ tới vào giờ này. Cô ta muốn để cho gã bắt quả tang tại trận.

“Không có gì, cảm ơn anh. Tôi có được thứ mình muốn rồi,” ông ta đáp và đi ra cửa.

Thỉnh thoảng cũng có lúc Arve Støp tưởng tượng ông ta sẽ phản ứng ra sao nếu hay tin mình đã khiến người đàn bà nào đó dính bầu. Liệu ông ta có một mực yêu cầu phá thai không, hay sẽ bảo cô ta sinh đứa trẻ ra. Støp chỉ dám chắc chắn một điều duy nhất, đó là kiểu gì ông ta cũng sẽ chọn một trong hai cách trên; về bản chất ông ta không phải là người phó mặc quyền lựa chọn vào tay kẻ khác.

Birte Becker nói không cần dùng biện pháp bảo vệ vì cô chẳng thể có con. Nhưng sau ba tháng và sáu lần quan hệ, khi cô ta vui mừng hớn hở báo cho Støp biết hóa ra mình cũng có khả năng sinh nở, ông ta biết ngay Birte sẽ giữ lại đứa trẻ. Ông ta tá hỏa lên và kiên quyết đòi cô lựa chọn phương án còn lại.

“Tôi quen những người giỏi nhất,” ông ta nói. “Họ làm ở Thụy Sĩ. Sẽ không ai biết đâu.”

“Đây là cơ hội để em được làm mẹ, Arve ạ. Bác sĩ nói đó là một phép mầu mà có lẽ sẽ chẳng bao giờ đến lần thứ hai.”

“Vậy thì tôi không muốn nhìn thấy cả cô lẫn bất cứ đứa trẻ nào cô có thể sinh ra sau này. Nghe rõ chưa?”

“Nhưng đứa bé cần có bố, Arve à. Và một tổ ấm vững chãi.”

“Cả hai thứ đó cô đừng mong chờ gì ở tôi. Tôi mắc căn bệnh di truyền tệ hại lắm. Có hiểu không hả?”

Birte Becker hiểu. Là một phụ nữ thẳng thắn, nhanh trí, sinh ra trong một gia đình có người cha nát rượu và bà mẹ nhu nhược, từ nhỏ đã phải tự xoay xở lo thân nên cô ta biết phải làm gì. Cô ta tìm một ông bố và tổ ấm vững chãi cho đứa con của mình.

Filip Becker không sao tin nổi khi người phụ nữ xinh đẹp ông ta cố công chinh phục bấy lâu nay nhưng bất thành bỗng một ngày kia hồi tâm chuyển ý và nhận lời làm vợ ông ta. Và cũng chính bởi không tin nổi nên mầm mống ngờ vực đã gieo xuống. Lúc cô tuyên bố Becker đã làm mình có bầu chỉ một tuần sau khi trao thân cho ông ta, mầm mống ấy vẫn tiếp tục ăn sâu bám rễ.

Khi Birte gọi điện báo tin Jonas đã chào đời và thằng bé giống ông ta như tạc, Arve đứng đó, điện thoại áp vào tai, mắt nhìn xa xăm. Rồi ông ta hỏi xin một tấm ảnh. Ảnh được gửi đến qua thư và hai tuần sau, y hẹn, Birte có mặt tại một quán cà phê với Jonas trong lòng và chiếc nhẫn cưới trên ngón tay, còn Arve ngồi ở bàn khác vờ như đang đọc báo.

Đêm đó ông ta cứ trằn trọc thao thức, không ngừng nghĩ đến căn bệnh đang mang.

Việc này phải được giải quyết thật kín đáo, bởi một bác sĩ ông ta tin tưởng sẽ giữ mồm giữ miệng. Nói tóm lại, kẻ đó không thể là ai khác ngoài gã bác sĩ phẫu thuật đã dốt lại nhu nhược và thích xu nịnh, thành viên câu lạc bộ bi đá trên băng: Idar Vetlesen.

Ông ta liên lạc với Vetlesen, người đang làm tại phòng khám Marienlyst. Tên ngốc đó đồng ý nhận việc và nhận tiền, được Støp đài thọ chi phí đến Geneva, nơi các chuyên gia đầu ngành về hội chứng Fahr của châu Âu tổ chức hội thảo thường niên và cùng trao đổi về những thông tin đáng lo ngại mới được phát hiện trong quá trình nghiên cứu.

Những lần xét nghiệm đầu tiên của Jonas không cho thấy vấn đề gì, nhưng dù Vetlesen nhắc đi nhắc lại rằng các triệu chứng thường chỉ xuất hiện ở người trưởng thành - và chính Arve Støp cũng không hề có biểu hiện của bệnh cho tới khi bước sang tuổi bốn mươi - Støp vẫn khăng khăng yêu cầu thằng bé phải được xét nghiệm đều đặn mỗi năm một lần.

Hai năm đã trôi qua kể từ khi Støp trông thấy chất dịch của mình chảy thành dòng trên cẳng chân Sylvia Ottersen lúc cô ta bước ra khỏi cửa hiệu và ra khỏi cuộc đời ông ta. Støp đơn giản là chẳng liên lạc gì với cô ta nữa, và Sylvia cũng vậy. Cho tới tận ngày hôm nay. Khi cô gọi điện, Støp lập tức đáp rằng mình đang trên đường đi họp gấp, nhưng cô ta nói khá ngắn gọn. Chỉ trong bốn câu, Sylvia đã kịp thông báo hôm đó chất dịch rõ ràng chưa ra hết, giờ cô ta đã có hai đứa trẻ sinh đôi, chồng cô ta tưởng chúng là con mình, và họ cần một vị mạnh thường quân đầu tư để có thể tiếp tục duy trì Hương vị châu Phi.

“Tôi nghĩ mình đã bơm vào đó đủ rồi chứ,” Arve Støp nói, ông ta thường dùng những câu châm biếm để đáp lại tin xấu.

“Hoặc không thì tôi có thể huy động vốn bằng cách xuất hiện trên tạp chí Se og Hør. Bọn họ rất khoái nghe kể chuyện con rơi của người nổi tiếng mà, đúng không?”

“Bốc phét vừa thôi,” ông ta nói. “Cô có quá nhiều thứ để mất nếu làm thế.”

“Thời thế thay đổi rồi,” cô ta đáp. “Tôi sẽ đá Rolf nếu gom góp đủ tiền để mua đứt cửa hiệu đó cho riêng mình. Hạn chế của cửa hiệu là địa điểm, thế nên tôi sẽ ra điều kiện bắt Se og Hør đăng vài bức ảnh để quảng bá cho nó. Ông biết có bao nhiêu người đọc thứ rác rưới đó không?”

Arve Støp biết chứ. Ở Na Uy, cứ sáu người trưởng thành lại có một người đọc Se og Hør. Ông ta không phản đối việc thỉnh thoảng xuất hiện trong một scandal xàm xí nào đó, nhưng bị gắn mác Sở Khanh dùng danh tiếng để gạ tình một người đàn bà ngây thơ đã có chồng theo cách hèn hạ như vậy ư? Hình tượng hiên ngang bất khuất của Arve Støp trong mắt công chúng sẽ tan tành mây khói, và những lời kháng nghị đầy tính luân lý của Liberal sẽ bị liệt vào loại đạo đức giả. Mà cô ả này thậm chí còn chẳng đẹp đẽ, quyến rũ gì cho cam. Chuyện này không ổn rồi. Thực sự không ổn.

“Vậy tiền nong tính thế nào đây?” ông ta hỏi.

Khi đã đạt được thỏa thuận, Støp gọi điện cho Idar Vetlesen ở phòng khám Marienlyst báo rằng mình có thêm hai bệnh nhân mới. Bọn họ cũng tiến hành y như với Jonas, đầu tiên là cho cặp sinh đôi làm xét nghiệm ADN và gửi đến Viện Pháp y để xác định huyết thống cha con, sau đó bắt đầu kiểm tra các dấu hiệu nếu có của căn bệnh không được phép nhắc đến.

Sau khi cúp máy, Arve Støp ngả người trên chiếc ghế da lưng cao, ngắm nhìn vầng mặt trời đang tỏa nắng chói chang trên những tàng cây ở Bygdøy và bán đảo Snaroya, biết rằng trong hoàn cảnh này lẽ ra ông ta phải buồn phiền lắm. Nhưng không. Thay vào đó ông ta lại thấy phấn khởi. Đúng vậy, một cảm giác gần như là hạnh phúc.

Ký ức hạnh phúc xa vời ấy là điều đầu tiên xuất hiện trong tâm trí Arve Støp khi Idar Vetlesen gọi điện đến báo cho ông ta biết báo chí cho rằng người phụ nữ mất đầu ở Sollihøgda chính là Sylvia Ottersen.

“Đầu tiên là mẹ của Jonas Becker mất tích,” Vetlesen nói. “Bây giờ lại phát hiện mẹ của cặp sinh đôi bị giết. Tuy tôi không giỏi tính toán xác suất này nọ nhưng chúng ta phải báo cảnh sát thôi, Arve. Họ đang nóng lòng xác định mối liên quan giữa hai vụ đấy.”

Trong vài năm gần đây, Vetlesen đã thu về một số tiền không nhỏ nhờ việc tút tát ngoại hình cho những người nổi tiếng, thế nhưng trong mắt Arve Støp, tên này dốt vẫn hoàn dốt, hoặc cũng có thể cái sự ngu dốt đó là hậu quả tai hại của công việc.

“Không, ta sẽ không báo cảnh sát,” Arve nói.

“Không ư? Thế thì ông phải đưa ra được lý do thuyết phục.”

“Được thôi. Tiền nong tính thế nào đây?”

“Trời đất ơi, Arve, có phải tôi đang tống tiền ông đâu. Chỉ là tôi không thể…”

“Bao nhiêu?”

“Thôi ngay đi. Ông có chứng cứ ngoại phạm không?”

“Chứng cứ ngoại phạm thì không, nhưng tiền thì tôi có thừa. Muốn bao nhiêu số 0 cứ nói rồi tôi sẽ cân nhắc.”

“Arve, nếu ông không có gì phải che giấu…”

“Dĩ nhiên là tôi phải giấu rồi, đồ ngốc! Anh nghĩ tôi muốn bị phơi bày trước công luận vì tội phá hoại gia đình người khác và âm mưu giết người chắc? Chúng ta cần gặp nhau để trao đổi kỹ về việc này.”

“Thế cuối cùng các ông có gặp nhau không?” Harry Hole hỏi.

Arve Støp lắc đầu. Từ cửa sổ phòng ngủ nhìn ra, ông ta có thể trông thấy ánh hừng đông đang dần ló dạng, thế nhưng mặt nước vùng vịnh vẫn còn tối đen.

“Chúng tôi chưa kịp giải quyết việc đó thì anh ta đã chết rồi.”

“Sao ông không nói cho tôi biết những điều này khi tôi đến đây lần đầu?”

“Lý do chẳng phải đã quá rõ ràng rồi hay sao? Tôi không biết bất cứ thông tin nào có thể có giá trị đối với cảnh sát, thế thì tôi xen vào để làm gì chứ? Anh đừng quên là tôi còn phải chăm lo cho một thương hiệu, ấy là tên tuổi của tôi. Thương hiệu này thực sự là vốn liếng duy nhất của Liberal.”

“Theo tôi nhớ ông bảo vốn liếng duy nhất ông có là sự chính trực của bản thân cơ mà.”

Støp nhún vai tỏ ý bất mãn. “Chính trực. Thương hiệu. Như nhau cả thôi.”

“Vậy nếu một thứ nhìn bề ngoài có vẻ chính trực thì nghiễm nhiên được coi là chính trực thật à?”

Støp nhìn Harry chằm chằm. “Đó là điều giúp Liberal luôn đắt khách. Nếu độc giả cảm thấy thông tin đưa ra là thật thì họ sẽ thỏa mãn thôi.”

“Ừm.” Harry liếc đồng hồ đeo tay. “Thế theo ông, bây giờ tôi đã thỏa mãn chưa?”

Arve Støp im lặng không đáp.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Jo Nesbø

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.