Người Tuyết

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 97 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ngày Thứ Hai Mươi Mốt - 32
Những Chiếc Bể

❊ ❊ ❊

Skarre lần theo những dấu vết trên tuyết để vào rừng, Harry đi đằng sau. Dù mới đầu giờ chiều nhưng không gian đã nhuốm màu u tối như báo hiệu mùa đông đang gần. Thấp thoáng phía trên cao là tháp truyền hình Tryvann, còn bên dưới kia là thành phố Oslo lấp lánh ánh đèn. Từ Sollihøgda Harry tới thẳng nơi đây và đánh xe vào bãi đỗ trống trải rộng thênh thang, nơi đám thanh niên vừa tốt nghiệp kéo đến tụ tập như lũ chuột lemming mỗi khi xuân sang để cùng hòa mình vào nghi lễ bắt buộc của giống loài: cuồng nhiệt trong vũ điệu quanh đống lửa, ngất ngư trong men say và phóng túng đến hoang dại trong những cuộc giao hoan. Ở thời Harry, lễ ăn mừng tốt nghiệp chẳng dính dáng gì đến ô tô cả. Bên cạnh anh chỉ có đúng hai người bạn đồng hành: Bruce Springsteen và ca khúc Independence Day ông ổng phát ra từ chiếc cát xét đặt trên căn hầm quân sự của người Đức để lại ở bãi biển Nordstrand.

“Một người đi bộ đã phát hiện ra,” Skarre nói.

“Và cho rằng cần phải báo cảnh sát khi bắt gặp một người tuyết trong rừng sao?”

“Ông ta đi cùng chú chó. Nó… ừm… anh cứ tới rồi sẽ biết.”

Hai người bước vào một bãi đất quang đãng. Một người đàn ông trẻ tuổi đứng thẳng dậy khi trông thấy Skarre và Harry xuất hiện, anh ta tiến lại chỗ họ.

“Thomas Helle, Đơn vị Tìm kiếm Người Mất tích,” anh ta nói. “Chúng tôi rất mừng vì anh đã đến, anh Hole.”

Harry tròn mắt ngạc nhiên nhìn viên sĩ quan trẻ, nhưng rồi anh hiểu ra anh ta nói hoàn toàn nghiêm chỉnh.

Harry quan sát Đội Điều tra Hiện trường đang làm việc trên ngọn đồi phía trước mặt. Skarre khom người chui qua dải băng cách ly màu đỏ của cảnh sát, còn Harry thì bước qua. Một lối mòn vạch rõ con đường họ được phép đi lại để không phương hại đến những chứng cứ pháp y hiếm hoi còn chưa bị phá hủy. Các sĩ quan của Đội Điều tra Hiện trường nhận thấy sự có mặt của Harry và Skarre, họ lặng lẽ dạt sang một bên để quan sát hai người mới đến. Cứ như thể họ đã chờ đợi điều này bấy lâu: một cơ hội để phô bày cảnh tượng. Và thăm dò phản ứng.

“Mẹ kiếp,” Skarre nói, lùi lại một bước.

Harry cảm thấy đầu mình bỗng lạnh buốt, chẳng khác nào máu huyết bị rút sạch khỏi não, để lại một cảm giác trống rỗng, tê liệt như đã chết.

Nguyên nhân không nằm ở các tiểu tiết, vì nhìn thoáng qua thì người phụ nữ lõa thể kia không có vẻ gì là đã bị cắt xẻ dã man. Không như Sylvia Ottersen hay Gert Rafto. Điều khiến anh hãi hùng tột độ là cách thức sắp đặt, tính toán kỹ càng và thủ đoạn tàn độc. Thi hài được đặt phía trên hai quả cầu tuyết lớn chồng lên nhau tại một gốc cây, nhìn như người tuyết chưa hoàn thiện. Cái xác dựa vào thân cây nhưng không nghiêng ngả sang hai bên do đã bị cố định bởi sợi dây thép buộc vào một cành to phía trên cao. Một đầu sợi dây được uốn thành hình thòng lọng cứng đơ bao quanh cổ người phụ nữ mà không chạm vào cả vai lẫn cổ, nhìn giống như cái thòng lọng bất chợt đứng im khi đang tròng qua đầu nạn nhân. Hai cánh tay bị trói phía sau lưng. Cặp mắt nhắm nghiền và đôi môi khép lại khiến diện mạo người chết trông thật thanh thản, cứ ngỡ như đang ngủ.

Cảnh tượng ấy dễ khiến người ta tưởng rằng cái xác được đặt ở đó một cách ân cần tỉ mỉ. Cho tới khi những vết khâu trên làn da trần trụi, tái nhợt dần hiện rõ. Hai mép da nối với nhau bằng hàng chỉ gần như vô hình, được ngăn cách bởi một lằn ranh rất mảnh và đều tăm tắp của máu đã thâm đen. Đường khâu thứ nhất cắt ngang thân trên, ngay phía dưới ngực người phụ nữ. Đường thứ hai chạy vòng quanh cổ. Quả là một tài nghệ tuyệt kỹ, Harry thầm nghĩ, vết khâu tuyệt không thấy lỗ chỉ, không xiên lệch.

“Trông cứ như mấy trò nghệ thuật trừu tượng,” Skarre nói. “Gọi là gì ấy nhỉ?”

“Nghệ thuật sắp đặt,” có tiếng người phía sau đáp.

Harry nghiêng đầu. Bọn họ nói đúng. Nhưng vẫn có điều gì đó bất hợp lý ẩn dưới vẻ bề ngoài của một công trình phẫu thuật không tì vết.

“Hắn chặt thi thể người phụ nữ này ra,” anh nói bằng giọng nghèn nghẹn như đang bị ai đó chẹn cổ. “Rồi ghép lại như cũ.”

“Hắn á?” Skarre thắc mắc.

“Có lẽ là để dễ mang vác,” Helle đáp. “Tôi nghĩ tôi biết nạn nhân là ai rồi. Hôm qua chồng bà ấy báo tin vợ mình mất tích. Ông ấy đang trên đường tới đây.”

“Sao anh lại cho rằng đây là bà ấy?”

“Chồng bà ấy tìm thấy bộ đầm có vết cháy sém.” Helle chỉ tay về phía thi thể. “Vị trí cũng tương ứng với vết khâu kia.”

Harry cố tập trung thở đều. Giờ anh nhận ra điểm không hoàn hảo rồi. Người Tuyết này chưa hoàn thiện. Những nút thắt thô kệch và sợi dây thép bện trông thật xiên xẹo. Chúng có vẻ quấy quá, tùy tiện, thiếu chắc chắn. Như thể đây là một mô hình thử nghiệm, một lần tập dượt. Bản nháp đầu tiên của công trình còn dang dở. Và hắn trói tay nạn nhân ra sau lưng để làm gì chứ? Bà ấy hẳn đã chết từ lâu trước khi được mang tới đây. Đó là một phần của mô hình ư? Anh hắng giọng.

“Tại sao không ai báo cho tôi sớm?”

“Tôi báo cáo với cấp trên, rồi sếp tôi mới báo lại cho giám đốc Sở,” Helle đáp. “Bọn tôi được dặn phải giữ kín vụ việc cho tới khi có thông báo mới. Tôi nghĩ lý do chắc là có liên quan tới…” anh ta liếc nhanh về phía các sĩ quan điều tra hiện trường, “nhân vật đào tẩu bí ẩn nọ.”

“Katrine Bratt ấy hả?” Skarre gợi ý.

“Tôi chưa nghe cái tên đó,” một giọng nói cất lên phía sau bọn họ.

Mọi người quay lại nhìn. Giám đốc Sở đang đứng đó, hai tay đút túi áo măng tô, chân giạng ra. Cặp mắt xanh lạnh lùng quan sát thi thể. “Thật xứng đáng góp mặt trong cuộc triển lãm nghệ thuật mùa thu.”

Những sĩ quan trẻ tuổi tròn mắt nhìn giám đốc Sở, người vẫn đứng im như tượng, chỉ quay sang nói với Harry.

“Nói riêng với anh vài lời nhé, thanh tra.”

Họ bước tới bên hàng rào cách ly.

“Thật là một mớ hổ lốn,” giám đốc Sở nói. Ông ta đứng đối diện với Harry nhưng ánh mắt lại lơ đãng nhìn xuống dòng sông ánh sáng phía dưới kia. “Chúng tôi vừa họp xong. Chính vì thế tôi mới phải gọi cậu ra nói chuyện riêng.”

“Ai họp cơ?”

“Điều đó không quan trọng, Harry ạ. Mấu chốt ở đây là chúng tôi đã đưa ra quyết định.”

“Vậy sao?”

Giám đốc Sở giậm mạnh chân trên tuyết, Harry thoáng băn khoăn không biết có nên nói với ông sếp của mình rằng ông ta đang phá hoại hiện trường vụ án không.

“Tôi đã định trao đổi chuyện này với cậu vào tối nay. Ở nơi nào đó yên tĩnh, đỡ bát nháo hơn. Nhưng tình hình đã trở nên cấp bách kể từ khi phát hiện ra xác nạn nhân mới. Chỉ vài tiếng nữa thôi là đám phóng viên sẽ vào cuộc. Thời gian còn lại không nhiều như kỳ vọng nên chúng ta đành phải công khai danh tính Người Tuyết trong buổi phát sóng trực tiếp. Và giải thích tại sao Katrine Bratt lại có thể được nhận vào làm để rồi âm thầm gây án mà không ai hay. Đương nhiên các cấp lãnh đạo sẽ đứng ra nhận trách nhiệm. Quản lý thì phải thế, khỏi nói cũng biết.”

“Thực sự vấn đề sếp muốn nói là gì?”

“Là sự tín nhiệm đối với Sở Cảnh sát Oslo. Bê bối cũng chịu tác động của lực hấp dẫn, Harry ạ. Càng từ trên cao trút xuống thì phạm vi ảnh hưởng đến toàn ngành càng rộng. Những cá nhân cấp thấp nếu phạm lỗi vẫn có thể cho qua. Nhưng một khi công chúng đã mất niềm tin vào năng lực của các cán bộ đầu ngành và khả năng kiểm soát tình hình ở một mức độ nào đó, thì coi như chúng ta đi đứt. Chắc cậu cũng hiểu nguy cơ chúng ta đang phải đối mặt lúc này.”

“Tôi đang vội lắm, sếp ạ.”

Ánh mắt giám đốc Sở kết thúc cuộc thăm thú chốn thành thị và trở về dán chặt vào vị thanh tra. “Cậu có biết kamikaze nghĩa là gì không?”

Harry đổi chân trụ. “Người Nhật, bị tẩy não, lái chiến đấu cơ quyết tử lao vào tàu sân bay của Mỹ?”

“Tôi cũng tưởng thế. Nhưng Gunnar Hagen lại nói người Nhật không hề sử dụng từ đó với nghĩa như vậy; những chuyên gia phá mã của Mỹ đã hiểu sai. Kamikaze là tên của một trận gió bão đã cứu sống quân Nhật trong trận chiến với người Mông cổ vào khoảng thế kỷ mười ba. Kamikaze nghĩa đen là thần phong. Cái tên khá ấn tượng, phải không?”

Harry im lặng không đáp.

“Lúc này chúng ta đang cần một cơn gió như thế,” giám đốc Sở nói.

Harry chậm rãi gật đầu. Anh hiểu ra rồi. “Sếp muốn có người gánh tội vì đã bổ nhiệm Katrine Bratt? Vì không phát giác ra âm mưu của cô ta? Vì toàn bộ đống hổ lốn này, tóm lại là thế chứ gì?”

“Đề nghị ai đó hy sinh bản thân theo cách này thực sự chẳng dễ dàng gì. Nhất là khi nhờ có sự hy sinh của người ta mà mình được tai qua nạn khỏi. Nhưng cậu cũng phải hiểu rằng tất cả là vì lợi ích chung của tập thể thay vì một cá nhân.” Ánh mắt của giám đốc Sở lại hướng về phía thành phố bên dưới. “Phải nhìn vào đại cục, Harry ạ. Bao mồ hôi nước mắt, rồi cả lòng tận trung, và đôi khi là những lần quên mình vì nhiệm vụ. Đại cục mới là thứ đáng để hy sinh tất cả.”

Harry đưa tay xoa mặt. Phản bội. Đâm sau lưng. Hèn hạ. Anh cố xoa dịu lửa giận bừng bừng. Tự nhủ những lời giám đốc Sở nói đều đúng. Phải có người chấp nhận hy sinh, tội trạng nên trút xuống đầu nhân vật càng thấp cổ bé họng càng tốt. Như thế cũng hợp lý thôi. Đúng là lẽ ra anh phải phát hiện được âm mưu của Katrine từ trước.

Harry đứng thẳng lên. Lạ thay, về một mặt nào đó, anh lại cảm thấy gần như nhẹ lòng. Từ rất lâu rồi anh đã có linh cảm sự nghiệp của mình sẽ kết thúc như thế này đây, lâu đến nỗi anh đã nghiễm nhiên chấp nhận điều ấy. Cái cách những đồng nghiệp trong Hội Cảnh sát Quá cố ra đi: không kèn không trống, không huân huy chương, không có bất cứ điều gì ngoài lòng tự tôn và sự kính trọng của những người hiểu họ - một vài cá nhân ít ỏi biết được mục đích thực sự của việc ra đi ấy. Là vì đại cục.

“Tôi hiểu,” Harry nói. “Và tôi chấp nhận. Sếp sẽ phải hướng dẫn tôi cách ứng đáp để tôi biết hành xử cho đúng ý sếp. Tuy vậy, tôi vẫn nghĩ rằng chúng ta nên lùi cuộc họp báo lại vài tiếng cho tới khi tìm hiểu thêm được đôi điều nữa.”

Giám đốc Sở lắc đầu. “Cậu chưa hiểu ý tôi rồi, Harry.”

“Có thể có vài tình tiết mới hé lộ trong vụ án.”

“Cậu không phải là người giơ đầu chịu báng.”

“Chúng tôi đang kiểm tra để…” Harry ngưng bặt. “Sếp vừa bảo gì cơ?”

“Đề xuất ban đầu là thế, nhưng Gunnar Hagen không tán thành. Vì vậy ông ấy sẽ đứng ra nhận trách nhiệm. Lúc này ông ấy đang ở văn phòng viết đơn từ chức. Tôi chỉ muốn nhắn để cậu biết thời gian diễn ra cuộc họp báo.”

“Hagen ư?” Harry hỏi.

“Một chiến sĩ mẫu mực,” giám đốc Sở nói, vỗ vai Harry. “Tôi đi đây. Họp báo lúc tám giờ ở Đại sảnh, nhớ nhé.”

Harry nhìn theo bóng lưng giám đốc Sở dần mất hút phía đằng xa, bỗng anh cảm thấy điện thoại rung lên trong túi áo. Anh nhìn màn hình trước khi bắt máy.

“Love me tender, Bjørn Holm nói bằng tiếng Anh. “Tôi đang ở Viện Pháp y.”

“Cậu thu được những gì rồi?”

“Máu ngấm vào ván sàn là máu người. Cô giám định viên bảo rằng thật không may, mẫu máu thường được đề cao quá mức trong việc phân tích ADN, thế nên cô ấy nghĩ chưa chắc đã tìm được vật chất tế bào để xác định ADN. Tuy nhiên cô ấy đã làm xét nghiệm nhóm máu, anh đoán xem kết quả thế nào.”

Bjørn Holm lấp lửng chờ đợi, sau đó anh chàng hiểu ra Harry rõ là chẳng có hứng thú chơi Ai là triệu phú nên đành phải tự mình nói tiếp.

“Có một nhóm máu giúp loại bỏ được phần lớn kẻ tình nghi, đại loại là thế. Tỷ lệ người sở hữu nhóm máu này là hai phần trăm, và trong toàn bộ hồ sơ tội phạm của chúng ta chỉ có một trăm hai mươi ba đối tượng thuộc diện đó. Nếu Katrine Bratt nằm trong số hai phần trăm nói trên thì đó là bằng chứng hùng hồn cho thấy cô ta đã chảy máu tại nhà kho của Ottersen.”

“Cậu gọi cho Phòng Điều tra để xác nhận nhé. Họ có thông tin nhóm máu của tất cả các sĩ quan ở Sở đấy.”

“Vậy sao? Xời, để tôi kiểm tra luôn.”

“Nhưng chớ có thất vọng nếu phát hiện cô ấy không thuộc nhóm máu B-.”

Harry lắng nghe cậu đồng nghiệp ở đầu dây bên kia chết lặng vì kinh ngạc, anh kiên nhẫn chờ đợi.

“Thánh thật, anh làm thế nào mà lại biết là B- thế?”

“Cậu làm thế nào đến gặp tôi ở khoa Giải phẫu thật nhanh được không?”

Lúc này là sáu giờ, những nhân viên không có giờ làm việc ở Bệnh viên Sandviken đều đã ra về từ trước. Thế nhưng văn phòng của Kjersti Rødsmoen vẫn sáng đèn. Vị bác sĩ tâm thần nhận thấy Knut Müller-Nilsen và Espen Lepsvik đã mở sổ sẵn sàng để ghi chép, chị ta cũng cúi xuống cuốn sổ của mình và bắt đầu vào việc.

“Katrine Rafto kể với tôi rằng cô ấy yêu cha hơn hết thảy mọi thứ trên đơi.” Chị ta ngước nhìn hai người đàn ông. “Hồi báo chí ném đá Rafto vì tính tình hung bạo, cô ấy vẫn còn là một đứa trẻ. Katrine bị tổn thương, sợ hãi và vô cùng rối loạn. Cô bé bị các bạn ở trường bắt nạt vì những điều viết trên báo. Không lâu sau đó, cha mẹ cô chia tay. Năm Katrine mười chín tuổi, cha cô đột nhiên biến mất cùng thời điểm xảy ra vụ án một phụ nữ bị giết ở Bergen và một phụ nữ khác mất tích. Cuộc điều tra bị hủy bỏ, nhưng trong sở cảnh sát và ngoài dư luận cho rằng chính cha của Katrine đã giết hai nạn nhân trên rồi tự tử vì biết mình không thể thoát tội. Chính vào lúc đó cô đã quyết định sẽ gia nhập ngành cảnh sát, phá án và báo thù cho cha.”

Kjersti Rødsmoen ngẩng lên. Hai người đàn ông không ai ghi chép gì; họ chỉ ngồi đó nhìn chị ta.

“Vậy là học xong trường luật, cô ấy nộp đơn vào Học viện Cảnh sát,” Rødsmoen nói tiếp. “Và khi ra trường, cô ấy xin vào làm trong Đội Hình sự ở Bergen. Tại đây, cô ấy nhanh chóng đi sâu tìm hiểu vụ án của cha mỗi khi có thời gian rảnh. Nhưng rồi việc này bại lộ và bị cấm, nên Katrine xin sang Đơn vị Phòng chống Tội phạm Tình dục. Những điều tôi nói đều đúng cả chứ?”

“Đúng,” Müller-Nilsen nói.

“Cấp trên đã sắp xếp để cô ấy không có cơ hội tiếp cận cuộc điều tra về Rafto, vì vậy Katrine chuyển sang tìm hiểu những vụ án có liên quan. Trong khi xem xét báo cáo của các vụ mất tích xảy ra trên cả nước, cô chợt phát hiện một chi tiết đáng chú ý. Đó là, kể từ sau khi cha cô biến mất, nhiều phụ nữ khác cũng mất tích và những trường hợp này ẩn chứa một số điểm tương đồng với vụ Onny Hetland.” Kjersti Rødsmoen lật sang trang sau. “Tuy nhiên, để tình hình tiến triển hơn thì cô ấy cần phải được trợ giúp, và Katrine biết không thể mong chờ điều đó ở Bergen. Bởi thế, cô quyết tâm tìm cách giao vụ án vào tay người có kinh nghiệm điều tra về sát nhân hàng loạt. Tuy nhiên, phải làm sao để không ai biết rằng cô, con gái của Rafto, là người đứng đằng sau.”

Espen Lepsvik, sĩ quan thuộc Kripos, chậm rãi lắc đầu trong lúc Kjersti nói tiếp.

“Sau khi tìm hiểu kỹ càng, nhân vật được chọn là thanh tra Harry Hole thuộc Đội Hình sự ở Oslo. Cô ấy viết một bức thư cho anh ta và ký tên bằng biệt danh bí hiểm: Người Tuyết, nhằm khơi gợi sự tò mò của anh ta, ngoài ra còn vì trong lời khai của một số nhân chứng liên quan đến những vụ mất tích có nhắc tới người tuyết. Chi tiết người tuyết cũng được đề cập trong bản ghi chép của cha cô về vụ giết người trên đỉnh núi Ulriken. Khi Đội Hình sự Oslo đăng tin tuyển thanh tra và ưu tiên ứng viên là nữ, Katrine nộp hồ sơ và được mời phỏng vân. Cô ấy nói họ đồng ý nhận cô khi cô thậm chí còn chưa kịp ngồi xuống.”

Rødsmoen ngừng nói, nhưng hai người kia vẫn im thin thít nên chị ta lại tiếp tục kể. “Ngay ngày đầu tiên đi làm, Katrine tìm mọi cách tiếp xúc với Harry Hole và được tham gia tổ điều tra. Dựa vào những thông tin thu được về Hole và chuyên án, cô có thể thao túng, dẫn dắt anh ta tìm hiểu về Bergen và vụ mất tích của cha cô một cách khá dễ dàng. Cũng nhờ sự giúp đỡ của Hole mà cô tìm thấy cha mình. Trong chiếc tủ đông lạnh trên đảo Finnøy.”

Kjersti tháo cặp kính đang đeo ra.

“Không khó hình dung hoàn cảnh ấy chính là căn nguyên gây ra phản ứng về mặt tâm lý. Tình trạng stress càng thêm trầm trọng khi ba lần cô ấy tưởng rằng kẻ sát nhân đã lộ diện. Đầu tiên là Idar Vetlesen, rồi đến…” chị ta giơ cuốn sổ ghi chép ra xa tầm mắt và đọc, “… Filip Becker. Cuối cùng là Arve Støp. Thế mà lần nào cũng bắt nhầm người. Đích thân cô ấy đã ép Støp nhận tội nhưng rồi đành từ bỏ khi hiểu ra ông ta không phải là kẻ mình đang săn lùng. Cô ấy bỏ trốn khỏi nhà ông ta khi biết đồng nghiệp đang trên đường tới đó, nói rằng không muốn bị bắt khi còn chưa hoàn thành nhiệm vụ. Đó là vạch mặt hung thủ. Đến lúc này, có thể kết luận chứng loạn thần của Katrine đã ở mức rất nghiêm trọng. Cô ấy trở lại Finnøy và tin chắc Hole sẽ tìm được mình. Và quả nhiên cô ấy đoán không sai. Khi Hole xuất hiện, cô ấy tước vũ khí của anh ta để khiến anh ta chịu lắng nghe cô chỉ dẫn bước tiếp theo trong cuộc điều tra.”

“Tước vũ khí ư?” Müller-Nilsen hỏi. “Theo như chúng tôi biết, cô ta đã ngoan ngoãn đầu hàng đấy chứ.”

“Cô ấy nói vết thương trên miệng là do Harry Hole gây ra khi cô ấy mất cảnh giác,” Kjersti Rødsmoen đáp.

“Lời nói của một kẻ loạn tinh thần liệu có tin được không?” Lepsvik hỏi.

“Cô ấy không còn loạn tinh thần nữa,” Rødsmoen tuyên bố chắc nịch. “Chúng tôi sẽ giữ cô ấy lại theo dõi thêm vài ngày, nhưng sau đó các anh nên chuẩn bị để tiếp nhận cô ấy đi. Nếu như các anh vẫn còn coi cô ấy là kẻ tình nghi.”

Dư âm của câu nói sau cùng vang vọng mãi, cho tới khi Espen Lepsvik nhoài người qua bàn.

“Phải chăng như vậy nghĩa là chị tin những lời Katrine Bratt nói là sự thật?”

“Điều đó không thuộc lĩnh vực chuyên môn của tôi, và tôi không thể đưa ra bình luận gì được,” Rødsmoen đáp và gấp sổ lại.

“Thế nếu tôi hỏi chị với tư cách không phải chuyên gia thì sao?”

Một nụ cười thoáng nở trên môi Rødsmoen. “Tôi nghĩ anh hãy cứ giữ lấy niềm tin của mình, thanh tra ạ.”

Bjørn Holm đi bộ một quãng ngắn từ Viện Pháp y sang khoa Giải phẫu ở kế bên và đợi sẵn trong gara khi Harry lái xe từ Tryvann tới. Đứng cạnh Holm là một kỹ thuật viên mặc đồ bảo hộ màu xanh lá cây, tai xỏ khuyên, chính là người đã đẩy chiếc bàn chở xác đi ra trong lần gần đây nhất Harry tới nơi này.

“Hôm nay Lund-Helgesen không đi làm,” Holm nói.

“Vậy chắc phải nhờ cậu dẫn bọn tôi đi thăm thú một vòng,” Harry nói với kỹ thuật viên.

“Chúng tôi không được phép cho…” người mặc đồ bảo hộ xanh lên tiếng, nhưng lập tức bị Harry ngắt lời.

“Tên cậu là gì?”

“Kai Robøle.”

“Được rồi, Robølle,” Harry nói và giơ thẻ cảnh sát ra. “Tôi cho phép đấy.”

Robøle nhún vai và mở khóa cửa. “Các anh may lắm mới gặp được ai ở đây. Cứ sau năm giờ là vắng người.”

“Tôi thấy hình như các cậu rất hay phải làm thêm giờ,” Harry nói.

Robøle lắc đầu. “Không phải dưới tầng hầm với đám chết queo ấy. Bọn tôi thích làm việc vào ban ngày cơ.” Anh ta mỉm cười dù khuôn mặt chẳng có vẻ vui tươi. “Các anh muốn xem gì?”

“Những thi hài mới nhất,” Harry nói.

Anh chàng kỹ thuật viên mở khóa và dẫn họ đi qua hai cửa ra vào, tới một căn phòng ốp gạch có tám cái bể ngầm, mỗi bên bốn cái với một lối đi hẹp ở giữa. Bể nào cũng có nắp đậy bằng kim loại.

“Bọn họ ở dưới này,” Robøle nói. “Mỗi bể bốn người. Các bể đều chứa đầy cồn.”

“Ngon,” Holm nhỏ giọng nói.

Không biết có phải người kỹ thuật viên cố tình hiểu sai ý Holm hay không mà lại đáp, “Bốn mươi phần trăm, không pha.”

“Vậy là ba mươi hai cái xác,” Harry nói. “Tất cả có chừng ấy à?”

“Chúng tôi giữ khoảng bốn mươi thi hài, nhưng đây là những thi hài mới nhất. Khoa để họ nằm dưới đó chừng một năm trước khi đưa vào sử dụng.”

“Họ được chuyển tới đây bằng cách nào?”

“Bằng ô tô từ nhà tang lễ. Một số là do chúng tôi tự đi nhận về.”

“Các cậu mang vào qua gara à?”

“Vâng.”

“Sau đó thì sao?”

“Sau đó á? Ừm, chúng tôi tiến hành bảo quản, rạch một phần ở phía trên đùi và bơm thuốc hãm vào. Như thế sẽ giữ được lâu. Tiếp đó chúng tôi làm một cái thẻ bằng kim loại và dập mã số in trên hồ sơ vào.”

“Hồ sơ nào?”

“Hồ sơ kèm theo mỗi thi hài ấy mà. Tất cả được lưu ở văn phòng. Một tấm thẻ gắn vào ngón chân, một ở ngón tay, và một ở tai. Chúng tôi cố gắng lưu trữ thông tin về các bộ phận ngay cả khi đã chia tách, để thi hài được toàn vẹn nhất có thể khi đến lúc cần đưa đi hỏa táng.”

“Các cậu có thường xuyên kiểm tra đối chiếu các thi hài với thông tin trong hồ sơ không?”

“Kiểm tra ấy à?” Anh ta gãi gãi đầu. “Chỉ khi nào cần chuyển đi thôi. Phần lớn thi hài được lưu giữ ở Oslo này để đưa tới các trường đại học ở Tromsø, Trondheim và Bergen khi nguồn cung ở đó khan hiếm.”

“Vậy có thể xảy ra trường hợp có thi hài nào đó được lưu giữ trái phép ở đây chứ?”

“Không đâu. Những người hiến xác cho Viện đều nêu rõ nguyện vọng trong di chúc mà.”

“Đấy chính là điều tôi đang thắc mắc,” Harry nói, ngồi thụp xuống bên cạnh một cái bể.

“Gì cơ?”

“Nghe này, Robøle. Tôi sẽ hỏi cậu một câu hỏi giả định. Và tôi muốn cậu suy nghĩ thật kỹ trước khi trả lời. Được không nào?”

Anh chàng kỹ thuật viên mau mắn gật đầu.

Harry đứng thẳng dậy. “Liệu có thể xảy ra trường hợp một người nào đó lợi dụng quyền được ra vào nơi này để đưa các xác chết tới đây vào ban đêm bằng lối đi thông qua gara, gắn thẻ kim loại có mã số giả rồi đặt cái xác vào một trong những cái bể này và tự tin cho rằng khả năng khá cao là nó sẽ không bao giờ bị phát hiện hay không?”

Kai Robøle ngập ngừng. Rồi lại gãi đầu. Lướt một ngón tay dọc theo hàng khuyên tai.

Harry đổi chân trụ. Miệng Holm lúc này đã hé mở.

“Theo cách nào đó thì đúng,” Robøle đáp. “Chẳng có gì ngăn được điều ấy xảy ra cả.”

“Chẳng có gì ngăn được ư?”

Robøle lắc đầu và bật ra tiếng cười ngắn ngủi. “Không, thực sự là không. Việc anh nói hoàn toàn khả thi.”

“Trong trường hợp đó, tôi cần kiểm tra các thi hài ngay.”

Robøle ngước nhìn viên cảnh sát cao nghều. “Ở đây? Bây giờ ư?”

“Cậu có thể bắt đầu từ phía cuối hàng bên trái.”

“Tôi nghĩ cần phải gọi điện cho ai đó để xin phép đã.”

“Nếu cậu muốn làm chậm quá trình điều tra án mạng của chúng tôi thì cứ việc.”

“Án mạng á?” Robøle nheo một bên mắt.

“Đã nghe nói đến Người Tuyết bao giờ chưa?”

Robøle chớp mắt hai cái. Rồi anh ta quay người bước tới chỗ những sợi xích của hệ thống ròng rọc được lắp động cơ gắn trên trần, kéo xuống cho chạm tới chiếc bể với một tiếng lạch xạch rõ to, sau đó lồng vào hai cái móc gắn trên nắp bể bằng kim loại, cầm lấy điều khiển từ xa và bấm nút. Ròng rọc rung lên ì ì và sợi xích bắt đầu cuộn lại. Harry và Holm chăm chú dõi theo nắp bể đang từ từ nâng lên. Gắn cố định bên dưới cái nắp là hai tấm kim loại nằm ngang, một tấm trên một tấm dưới, được ngăn cách bằng một vách đứng. Ở mỗi bên của phần trung tâm có đặt một thi thể lõa lồ trắng toát. Trông họ chẳng khác gì những con búp bê nhợt nhạt, ấn tượng đó càng được tô đậm nhờ những mảng cắt hình chữ nhật đen sì trên đùi. Khi cái nắp nâng lên đến ngang hông, kỹ thuật viên bấm nút dừng. Trong sự im lặng bao trùm sau đó, ba người nghe thấy tiếng thở dài não nề của những giọt cồn nhỏ tong tong, vọng khắp căn phòng ốp gạch trắng.

“Thế nào?” Robøle hỏi.

“Không phải,” Harry nói. “Tiếp đi.”

Kỹ thuật viên lặp lại quy trình trên. Bốn thi thể mới được nâng lên từ bên dưới cái bể cạnh đó.

Harry lắc đầu.

Khi bộ tứ thứ ba hiện ra trước mắt, Harry giật bắn mình. Kai Robøle nhầm tường phản ứng ấy của Harry là do kinh hãi, anh ta mỉm cười đắc chí.

“Cái gì thế kia?” Harry hỏi, chỉ tay về phía xác người phụ nữ không đầu.

“Chắc là được trường đại học nào đó trả về,” Robøle đáp. “Thi hài ở đây ban đầu thường nguyên vẹn lắm.”

Harry cúi xuống sờ thử. Thi thể lạnh toát, cảm giác săn chắc phi tự nhiên do ngâm trong thuốc hãm. Anh lướt ngón tay lên mép vết cắt. Mặt cắt nhẵn nhụi, phần thịt tái nhợt.

“Chúng tôi dùng dao mổ để xử lý phần bên ngoài, sau đó dùng cưa lưỡi mảnh,” anh chàng kỹ thuật viên giảng giải.

“Ừm.” Harry nhoài người qua thi thể, tóm lấy cánh tay phải của cô ta và kéo về phía mình để cô ta xoay sang đối diện với anh.

“Anh làm cái gì đấy?” Robøle hét toáng lên.

“Cậu thấy trên lưng cô ta có gì không?” Harry hỏi Holm đang đứng phía bên kia cái xác.

Holm gật đầu. “Một hình xăm. Nhìn như quốc kỳ vậy.”

“Của nước nào?”

“Chịu. Cờ ba màu xanh lá cây, vàng và đỏ. Với ngôi sao năm cánh ở giữa.”

“Ethiopia,” Harry nói và buông tay ra, cái xác lại trở về vị trí cũ. “Người phụ nữ này không tự nguyện hiến xác mà bị hiến, có thể nói như vậy. Cô ta chính là Sylvia Ottersen.”

Kai Robøle cứ chớp mắt liên tục như thể hy vọng xua tan được thứ gì đó nếu chớp đủ số lần.

Harry đặt tay lên vai anh ta. “Cậu hãy liên hệ với người có thẩm quyền xem xét hồ sơ của các thi hài và kiểm tra toàn bộ số hồ sơ đó. Làm ngay nhé. Giờ tôi phải đi đây.”

“Chuyện gì thế này?” Holm hỏi. “Thực sự tôi không tài nào hiểu nổi.”

“Cố lên,” Harry nói. “Hãy quên tất cả những gì cậu tưởng mình đã biết, và cố nghĩ xem.”

“Được rồi, nhưng chuyện gì đang diễn ra vậy?”

“Có hai điều có thể trả lời cho câu hỏi đó,” Harry đáp. “Điều thứ nhất là chúng ta sắp bắt được Người Tuyết rồi.”

“Thế còn điều thứ hai?”

“Tôi cũng không biết nữa.”

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Jo Nesbø

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.