Người Tuyết

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 97 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ngày Thứ Hai - 4
Mất Tích

❊ ❊ ❊

Đến trưa, tuyết ở khu vực trung tâm thành phố Oslo đã tan hết. Nhưng tại Hoff, những mảng tuyết vẫn còn tụ lại ở công viên hai bên đường khi Harry Hole và Katrine Bratt lái xe qua. Trên radio, Michael Stipe đang hát về một dự cảm chẳng lành, về nguồn cơn của dự cảm ấy, linh tính báo rằng có chuyện không hay xảy ra và về cậu bé dưới giếng. Khi đến giữa khu dân cư yên tĩnh ở con phố thậm chí còn yên tĩnh hơn, Harry chỉ tay về phía chiếc Toyota Corolla màu bạc bóng loáng đang đỗ bên bờ rào.

“Xe của Skarre kìa. Cô đỗ phía sau đi.”

Ngôi nhà khang trang được sơn màu vàng. Quá rộng rãi đối với một gia đình ba người, Harry thầm nghĩ, khi cả hai bước trên lối đi rải sỏi. Mọi thứ quanh đây đều ướt sũng và như đang buông tiếng thở dài. Vườn nhà có một người tuyết với dáng đứng hơi nghiêng và viễn cảnh tương lai không lấy gì làm sáng sủa.

Skarre ra mở cửa. Harry cúi xuống quan sát ổ khóa.

“Không có dấu hiệu đột nhập ở bất cứ đâu trong nhà,” Skarre nói.

Skarre dẫn họ vào phòng khách có cậu bé đang ngồi trên sàn xem hoạt hình trên ti vi, lưng quay về phía họ. Một người phụ nữ đứng dậy khỏi sofa, bắt tay Harry và giới thiệu mình là Ebba Bendiksen, hàng xóm.

“Birte chưa bao giờ hành động như thế này,” bà nói. “Ít ra là từ khi tôi quen cô ấy đến nay.”

“Đến nay nghĩa là bao lâu?” Harry hỏi, đưa mắt nhìn quanh. Phía trước ti vi đặt bộ sofa da đồ sộ và bàn uống nước hình bát giác làm bằng kính tối màu. Mấy chiếc ghế ống thép bày quanh bàn ăn trông thật thanh thoát và tao nhã, đúng kiểu Rakel thích. Trên tường treo hai bức chân dung hai người đàn ông có phong thái chủ ngân hàng nhìn từ trên cao xuống với vẻ nghiêm trang đạo mạo. Bên cạnh là bức họa theo phong cách trừu tượng chủ nghĩa tân thời đã đánh mất dần tính hiện đại trong đó, nhờ thế lại trở nên siêu hợp thời.

“Mười năm,” Ebba Bendiksen nói. “Chúng tôi chuyển tới căn nhà bên kia đường đúng vào ngày Jonas chào đời.” Bà hất hàm về phía cậu bé vẫn đang ngồi im chăm chú xem những chú chim bay vụt đi và bầy sói đồng cỏ nổ tung.

“Hẳn bà là người đã báo cảnh sát đêm qua?”

“Vâng, đúng vậy.”

“Cậu bé gọi cửa nhà họ vào khoảng một giờ mười lăm phút,” Skarre nói, cúi nhìn cuốn sổ ghi chép. “Cảnh sát nhận được tin báo lúc một giờ ba mươi.”

“Vợ chồng tôi cùng Jonas quay về nhà họ, tìm kiếm một lượt trước,” Ebba Bendiksen phân trần.

“Ông bà tìm ở những đâu?” Harry hỏi.

“Tầng hầm. Các phòng ngủ. Gara. Chỗ nào cũng tìm. Một người tự dưng bốc hơi như thế thật quá kỳ lạ.”

“Bốc hơi?”

“Biến mất. Mất tăm mất tích. Viên cảnh sát nhận tin hỏi chúng tôi có thể trông Jonas được không, anh ta còn bảo chúng tôi gọi điện cho tất cả người quen của Birte và những ai cô ấy có thể đang ở cùng. Sau đó đợi thêm cho tới đầu giờ sáng để xem có phải Birte đi làm đêm không. Anh ta nói mười vụ thì có đến tám vụ người mất tích lại quay về sau vài giờ. Chúng tôi đã cố liên lạc với Filip…”

“Đó là chồng cô ta,” Skarre nói chen vào. “Anh ta có buổi lên lớp ở Bergen. Là giáo sư dạy môn gì đó.”

“Vật lý,” Ebba Bendiksen mỉm cười. “Tuy nhiên di động của anh ta lại tắt. Mà chúng tôi cũng không biết anh ta ở khách sạn nào.”

“Sáng nay đã có người gọi đến Bergen báo cho anh ta rồi,” Skarre nói. “Anh ta sẽ sớm về đây.”

“Vâng, tạ ơn Chúa,” Ebba nói. “Đến sáng, khi gọi điện tới chỗ làm của Birte và biết cô ấy không đến làm như thường lệ, chúng tôi đã báo lại với các anh.”

Skarre gật đầu xác nhận. Harry ra hiệu cho Skarre tiếp tục lấy lời khai của Ebba Bendiksen, còn mình lại chỗ chiếc ti vi và ngồi xuống sàn cạnh cậu bé. Phim đang chiếu cảnh một chú chó sói châm lửa dây dẫn ở đầu thanh thuốc nổ.

“Chào cháu, Jonas. Tên chú là Harry. Những chuyện như thế này thường sẽ đâu vào đây cả thôi, chú cảnh sát kia đã nói cho cháu biết điều ấy chưa? Người ta biến mất rồi lại tự tìm về ấy?”

Cậu bé lắc đầu.

“Nhưng đúng là thế đấy,” Harry nói. “Cháu thử đoán xem, lúc này mẹ có thể đang ở đâu?”

Nó nhún vai. “Cháu không biết.”

“Điều đó chú hiểu, Jonas ạ. Lúc này mọi người chẳng ai biết cả. Nhưng nếu mẹ cháu không ở nhà hoặc chỗ làm, cháu sẽ nghĩ đến nơi nào đầu tiên? Đừng bận tâm chuyện chắc chắn hay không.”

Thằng bé không đáp mà chỉ chăm chú xem con sói cuống cuồng tìm cách ném thanh thuốc nổ đang dính chặt vào tay đi.

“Có căn nhà nghỉ hoặc nơi nào đó tương tự mà gia đình cháu thường đến không?”

Jonas lắc đầu.

“Nơi chốn đặc biệt mà mẹ cháu hay đến khi muốn ở riêng một mình chẳng hạn?”

“Mẹ không thích ở một mình,” Jonas nói. “Mẹ muốn ở bên cạnh cháu.”

“Chỉ với cháu thôi sao?”

Cậu bé quay lại nhìn Harry. Jonas có đôi mắt nâu, giống Oleg. Harry đọc được trong đó nỗi khiếp đảm đúng như anh dự liệu và cả sự giận dữ anh không hề ngờ tới.

“Tại sao họ lại bỏ đi?” Jonas hỏi. “Những người trở về ấy ạ?”

Cũng đôi mắt ấy, Harry thầm nghĩ. Cũng những câu hỏi ấy. Những câu hỏi hệ trọng.

“Lý do thì vô vàn cháu ạ,” Harry nói. “Có người bị lạc. Người ta có thể lạc lối theo nhiều cách khác nhau. Cũng có người chỉ muốn nghỉ ngơi trong chốc lát và tìm đến nơi nào đó để được yên tĩnh.”

Cửa chính đóng sầm lại, Harry thấy thằng bé giật bắn mình.

Đúng lúc đó thanh thuốc nổ trong tay con sói nổ tung, và sau lưng hai chú cháu, cửa phòng khách bật mở.

“Xin chào,” một giọng nói cất lên. Vừa đanh sắc lại vừa điềm tĩnh. “Có tin gì mới chưa?”

Harry quay lại vừa đúng lúc một người đàn ông trạc năm mươi tuổi mặc vét đang sải bước về phía bàn phòng khách và cầm lấy chiếc điều khiển từ xa. Một tích tắc sau hình ảnh hoạt hình tắt phụt trong một tia sáng trắng và chiếc ti vi rít lên phản kháng.

“Bố đã dặn thế nào về chuyện xem ti vi vào ban ngày hả, Jonas?” ông ta nói bằng giọng chán nản, như thể muốn những người có mặt trong phòng hiểu rằng nuôi dạy con thời buổi này là một việc vô vọng.

Harry đứng dậy và giới thiệu tên mình, Magnus Skarre và Katrine Bratt, người trước đó vẫn chỉ đứng ngoài cửa quan sát.

“Filip Becker,” người đàn ông nói, đẩy gọng kính vốn đã nằm cao trên sống mũi. Harry cố khiến ông ta nhìn thẳng vào mình, cố thiết lập ấn tượng ban đầu tối quan trọng về người có khả năng trở thành nghi phạm, nếu sự việc diễn biến theo chiều hướng ấy. Nhưng đôi mắt ông ta đã bị hình ảnh phản chiếu trên cặp kính che mất.

“Tôi đã bỏ thời gian gọi điện cho tất cả những người có thể đã liên lạc với cô ấy, nhưng họ đều không biết gì cả,” Filip Becker nói. “Các anh có gì rồi?”

“Hiện giờ thì chưa,” Harry đáp. “Nhưng trước tiên ông có thể giúp đỡ chúng tôi bằng cách kiểm tra xem trong nhà có mất va li, ba lô hay quần áo nào không, rồi chúng tôi đưa ra giả thuyết.” Harry chăm chú nhìn Becker rồi mới nói tiếp. “Rằng việc vợ ông biến mất là hành động ngẫu hứng hay được lên kế hoạch từ trước.”

Becker đáp trả cái nhìn thăm dò của Harry rồi mới gật đầu và đi lên tầng trên.

Harry ngồi thụp xuống bên cạnh Jonas, thằng bé vẫn nhìn chăm chăm vào màn hình ti vi tối thui.

“Vậy ra cháu thích mấy chú gà lôi à?” Harry hỏi.

Nó chỉ lặng lẽ lắc đầu.

“Sao lại không?”

Lời thì thầm của Jonas gần như không rõ tiếng: “Cháu thấy sói Wile E. thật đáng thương.”

Năm phút sau Becker trở lại phòng khách và báo rằng trong nhà không mất gì, túi du lịch và quần áo vẫn còn nguyên, chỉ trừ bộ trang phục cô vợ mặc lúc ông ta rời nhà, với cái áo khoác, đôi bốt và khăn quàng.

“Ừm.” Harry đưa tay gãi chiếc cằm chưa cạo râu và đưa mắt về phía Ebba Bendiksen. “Ông vào bếp cùng tôi một lát được chứ, ông Becker?”

Becker đi trước, và Harry ra hiệu cho Katrine đi cùng. Vừa đến nơi, ông giáo sư lập tức xúc cà phê vào phin và rót nước vào máy pha. Katrine đứng ở ngưỡng cửa, còn Harry bước tới bên cửa sổ nhìn ra ngoài. Cái đầu của người tuyết đã lún xuống giữa hai vai.

“Tối qua ông rời nhà lúc mấy giờ, bắt chuyến bay nào để đến Bergen?” Harry hỏi.

“Lúc tôi đi là khoảng chín rưỡi,” Becker đáp không chút do dự. “Máy bay cất cánh lúc mười một giờ năm phút.”

“Sau khi rời khỏi nhà ông có liên lạc gì với bà Birte không?”

“Không.”

“Theo ông thì chuyện gì đã xảy ra?”

“Tôi không biết, thanh tra ạ. Tôi thực sự không biết.”

“Hừm.” Harry nhìn ra con phố bên ngoài. Từ lúc tới đây, anh không hề nghe thấy tiếng ô tô chạy qua. Khu này quả là yên tĩnh. Chỉ riêng sự bình yên và tĩnh mịch ở khu vực này của thành phố chắc cũng đáng giá nửa triệu rồi. “Cuộc sống của vợ chồng ông thế nào?”

Harry nghe thấy Filip Becker bỗng dừng mọi việc đang làm lại nên anh vội nói thêm: “Tôi hỏi vậy là vì đôi lúc cũng có trường hợp người vợ hoặc chồng đột nhiên bỏ nhà ra đi.”

Filip Becker đằng hắng. “Xin khẳng định với anh rằng cuộc sống của vợ chồng tôi hoàn toàn tốt đẹp.”

“Ông đã nghĩ đến khả năng bà nhà ngoại tình sau lưng ông chưa?”

“Điều đó tuyệt đối không thể.”

“Tuyệt đối không thể là cụm từ khá mạnh đây, thưa ông Becker. Chuyện ngoại tình đầy ra đó.”

Filip Becker nở nụ cười yếu ớt. “Tôi không phải kẻ ngây thơ, thanh tra ạ. Birte là một phụ nữ hấp dẫn, lại trẻ hơn nhiều so với tôi. Cô ấy xuất thân trong một gia đình có tư tưởng tương đối thoáng, phải thú thật là như thế. Nhưng vợ tôi không phải loại người đó. Và nhìn chung tôi nắm khá rõ những việc cô ấy làm, có thể nói vậy.”

Chiếc máy pha cà phê rung ầm ầm như báo điềm gở khi Harry định lên tiếng tranh luận tiếp. Nhưng rồi anh lại đổi ý.

“Ông có nhận thấy tâm trạng bà nhà thay đổi thất thường không?”

“Birte không bị trầm cảm, thanh tra ạ. Cô ấy không đời nào một mình vào rừng rồi treo cổ hoặc nhảy xuống hồ tự tử. Cô ấy đang ở đâu đó và còn sống khỏe mạnh. Tôi có đọc được rằng rất nhiều người tự dưng biến mất rồi sau đó lại xuất hiện với những lý do hết sức tự nhiên và thường tình. Không phải vậy ư?”

Harry chậm rãi gật đầu. “Ông không phiền nếu tôi kiểm tra quanh nhà một lượt chứ?”

“Để làm gì?”

Câu hỏi cộc cằn của Filip Becker khiến Harry cho rằng người đàn ông này là kẻ thích kiểm soát. Luôn muốn người khác làm gì cũng phải báo cáo. Việc cô vợ bỗng dưng biến mất không một lời nhắn nhủ hoàn toàn mâu thuẫn với điều đó. Khả năng này Harry cũng đã loại trừ từ sớm. Những bà mẹ khỏe mạnh, thích ổn định không thể bỏ mặc đứa con lên mười mà đi giữa đêm. Và còn ti tỉ yếu tố khác nữa. Thường thì khi có người mất tích, trong giai đoạn đầu cảnh sát chỉ sử dụng nguồn lực tối thiểu để điều tra, trừ phi vụ việc có dấu hiệu tội phạm hoặc trọng án. Chính những yếu tố khác đã khiến Harry lặn lội tìm đến tận vùng Hoff này.

“Đôi khi ta chẳng thể biết được mình đang đi tìm thứ gì cho tới khi tìm thấy nó,” Harry đáp. “Đó là một phương pháp điều tra.”

Giờ thì anh đã thấy được đôi mắt của Becker đằng sau cặp kính. Khác với cậu con trai, đôi mắt của ông bố có màu xanh lơ, ánh lên tia sáng sắc sảo và tinh anh.

“Vậy thì xin mời,” Becker đáp. “Anh cứ việc kiểm tra.”

Căn phòng ngủ lạnh lẽo, không mùi, gọn gàng và ngăn nắp. Phủ trên chiếc giường đôi là tấm chăn sợi móc. Trên một kệ đầu giường có đặt bức ảnh một bà lão. Những nét tương đồng trong diện mạo khiến Harry đoán rằng giường bên đó là của Filip Becker. Chiếc kệ thứ hai bày ảnh của Jonas. Có hương nước hoa thoang thoảng trong tủ quần áo phụ nữ. Harry kiểm tra thấy rằng mắc treo trong đó cách đều nhau, thường là khi chủ nhân không đụng đến chúng một thời gian. Váy đen xẻ tà, áo len lửng với hoa văn hồng và nhũ. Dưới đáy tủ có mấy ngăn kéo. Harry kéo ngăn trên cùng ra. Nội y. Đen và đỏ. Ngăn tiếp theo. Quần tất và dây nịt tất. Ngăn thứ ba. Đồ trang sức đặt trong những hốc tròn lót vải nỉ đỏ tươi. Anh nhìn thấy một chiếc nhẫn màu mè to bản đính đá sáng lấp lánh. Tất cả trang sức đều mang chút hơi hướm của Vegas. Không một hốc nào để trống.

Trong phòng ngủ có một cánh cửa thông với nhà tắm mới được tân trang với buồng tắm hơi và hai bồn rửa bằng thép.

Bước sang phòng của Jonas, Harry ngồi xuống cái ghế nhỏ kê bên chiếc bàn cũng nhỏ. Trên bàn có một cái máy tính với nhiều chức năng tính toán phức tạp. Trông máy còn mới và có vẻ ít dùng. Treo phía trên bàn là tấm áp phích với bảy chú cá heo đang bơi tung tăng trong sóng và tờ lịch mười hai tháng. Vài ngày trong đó được khoanh tròn kèm theo những lời nhắc viết bé xíu. Harry đọc được ngày sinh nhật mẹ và ông, đi nghỉ ở Đan Mạch, hẹn nha sĩ lúc mười giờ và hai ngày trong tháng Bảy với chữ Bác sĩ bên trên. Nhưng Harry không thấy tên những trận bóng đá, những buổi xem phim hoặc tiệc sinh nhật. Anh chợt thấy trên giường có một chiếc khăn quàng màu hồng. Màu mà những cậu bé ở tuổi Jonas thà chết còn hơn phải dùng. Harry cầm chiếc khăn lên. Khăn vẫn ẩm, trên đó còn vương rất rõ mùi hương cơ thể, mùi tóc và cả hương nước hoa phụ nữ. Chính là mùi nước hoa trong tủ quần áo.

Anh trở lại nhà dưới. Dừng bước bên ngoài phòng bếp và lắng nghe Skarre tiếp tục thẩm vấn theo quy trình điều tra vụ mấy người mất tích. Có tiếng lanh canh của cốc cà phê va chạm. Bộ sofa trong phòng khách trông như càng vĩ đại hơn, có lẽ là do dáng người nhỏ bé đang ngồi đó đọc sách. Harry bước lại gần hơn và trông thấy bức ảnh chụp Charlie Chaplin trong bộ lễ phục chỉnh tề. Anh ngồi xuống bên cạnh Jonas.

“Cháu có biết Chaplin được phong tước hiệp sĩ không?” Harry hỏi. “Gọi là Sir Charlie Chaplin đấy.”

Jonas gật đầu. “Nhưng họ lại đuổi cổ ông ấy khỏi nước Mỹ.”

Jonas lật qua những trang sách.

“Đợt hè vừa rồi cháu bị bệnh à, Jonas?”

“Không ạ.”

“Nhưng cháu có đi khám bác sĩ mà. Những hai lần liền.”

“Mẹ cháu muốn đưa cháu đi khám. Mẹ…” Thằng bé bỗng dưng im bặt.

“Rồi mẹ sẽ sớm về thôi, cháu cứ chờ xem,” Harry nói, đặt tay lên đôi vai gầy guộc của Jonas. “Mẹ không mang theo khăn phải không? Chiếc khăn hồng trên giường của cháu ấy.”

“Có người đã quàng cái khăn đó cho người tuyết,” Jonas đáp. “Cháu đã mang nó vào.”

“Chắc mẹ cháu không muốn người tuyết bị lạnh cóng đây mà.”

“Mẹ sẽ chẳng bao giờ tặng chiếc khăn yêu thích của mình cho người tuyết đâu.”

“Thế thì hẳn là bố cháu rồi.”

“Không, là người khác quàng lên sau khi bố cháu đi. Tối hôm qua. Chính người đó đã bắt mẹ.”

Harry chậm rãi gật đầu. “Người tuyết là do ai đắp vậy Jonas?”

“Cháu không biết.”

Harry đưa mắt nhìn ra vườn qua cửa sổ. Đây là lý do anh tới đây. Một cơn gió lạnh thấu như thổi quanh bức tường và căn phòng.

Harry và Katrine lái xe dọc theo phố Sørkedalsveien hướng về khu Majorstuen.

“Cô nhận thấy điều gì trước nhất khi bước vào ngôi nhà đó?” Harry hỏi.

“Đôi vợ chồng này không hẳn tâm đầu ý hợp,” Katrine đáp, không dừng lại mà cho xe chạy thẳng qua trạm thu phí. “Có thể cuộc sống của họ không hạnh phúc, và nếu tôi đoán đúng, cô vợ là người khổ hơn cả.”

“Ừm. Sao cô nghĩ thế?”

“Rõ quá còn gì.” Katrine mỉm cười, đưa mắt nhìn vào gương. “Khiếu thẩm mỹ xung khắc chứ sao.”

“Giải thích đi.”

“Anh không thấy bộ sofa và cái bàn uống nước trông phát gớm đó à? Phong cách điển hình của thập niên 80, do đàn ông khuân về từ thập niên 90. Cô vợ thì lại chọn chiếc bàn ăn gỗ sồi màu trắng phủ sơn dầu với bốn chân bằng nhôm. Lại còn Vitra nữa chứ.”

“Vitra là sao?”

“Ghế phòng ăn ấy. Hàng Thụy Sĩ. Xịn lắm. Đắt đến nỗi nếu chọn một bộ khác có giá phải chăng hơn một chút, số tiền chênh lệch thừa sức cho cô ấy thay máu toàn bộ đồ nội thất chứ đếch phải dạng vừa đâu.”

Harry thấy hình như đếch không phải là từ bậy thường dùng của Katrine Bratt; sự đối lập thú vị trong cách dùng từ cho thấy con người cô là sự kết họp của hai giai tầng khác nhau.

“Nghĩa là?”

“Nhà to, lại nằm ở khúc đó Oslo, chứng tỏ tiền không phải là vấn đề. Cô vợ không được phép thay thế bộ sofa và bàn uống nước của chồng. Một gã đàn ông không có khiếu thẩm mỹ, cũng chẳng quan tâm đến bài trí nội thất, lại còn bảo thủ như vậy, thế là đủ biết ai trên cơ ai rồi còn gì.”

Harry gật đầu, chủ yếu là để cộng điểm cho chính mình. Ấn tượng ban đầu của anh về cô quả không sai. Katrine Bratt rất khá.

“Giờ nói tôi nghe anh nghĩ gì,” cô nói. “Tôi mới là người đang cần học hỏi.”

Harry hướng ánh mắt ra ngoài cửa sổ xe, ngắm nhìn quán cà phê Lepsvik cổ xưa, truyền thống, dù chẳng bao giờ được xếp vào hàng đáng trọng.

“Tôi không cho rằng Birte Becker tự nguyện đi khỏi nhà,” anh nói.

“Sao lại không? Trong nhà không hề có dấu hiệu bạo lực mà.”

“Vì mọi chuyện đã được sắp đặt kỹ càng.”

“Vậy thủ phạm là ai? Chồng cô ta à? Luôn là mấy ông chồng phải không?”

“Phải,” Harry đáp, biết rằng tâm trí đang trôi dạt đến tận phương nào. “Luôn là mấy ông chồng.”

“Chỉ có điều, người này đã đến Bergen vào tối qua.”

“Có vẻ thế.”

“Bay chuyến cuối, nên ông ta không thể quay về nhà mình rồi sau đó vẫn đến kịp tiết dạy đầu tiên.” Katrine cho xe tăng tốc và phóng vù qua giao lộ Majorstuen khi đèn đã chuyển vàng. “Nếu Filip Becker có tội thật thì ông ta đã sa vào cái bẫy anh giăng ra rồi.”

“Bẫy ư?”

“Ừ. Cái câu anh hỏi tâm trạng cô vợ có thất thường không ấy. Như vậy anh đã ngầm nói với Becker anh đang nghi ngờ cô ta tự sát.”

“Thế thì sao?”

Cô bật cười. “Thôi đi, Harry. Ai chẳng biết, và chính Becker cũng biết, cảnh sát chả bao giờ lãng phí nhân lực đi điều tra một vụ có khả năng là tự sát. Nói tóm lại, anh đã dâng cho ông ta cơ hội hùa theo một giả thuyết có thể tháo gỡ gần như toàn bộ vấn đề của ông ta, nếu ông ta thực sự là thủ phạm. Tuy nhiên, ông ta lại đáp rằng vợ mình lúc nào cũng vui như tết.”

“Ừm. Vậy cô cho rằng câu hỏi đó là để thử ông ta?”

“Anh lúc nào chẳng thích thử người khác. Harry. Đến tôi anh cũng có tha đâu.”

Harry không đáp cho tới khi cả hai đã đi được một đoạn khá xa trên phố Bogstadveien.

“Thường thì những người xung quanh thông minh hơn cô tưởng đấy,” anh nói rồi lại tiếp tục im lặng, chỉ đến lúc xe quành vào bãi đỗ của Sở Cảnh sát anh mới lên tiếng.

“Từ giờ đến hết ngày tôi cần làm việc độc lập.”

Harry nói vậy là vì nãy giờ anh cứ nghĩ mãi đến chiếc khăn màu hồng và đã đi đến một kết luận. Anh đang khẩn thiết muốn đọc báo cáo của Skarre về những vụ mất tích, cần xác thực gấp mối nghi hoặc cứ bám riết lấy anh. Và nếu sự việc diễn ra đúng như anh lo sợ, anh sẽ phải tới trình diện sếp Đội Hình sự Gunnar Hagen cùng với lá thư. Lá thư chết tiệt đó.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Jo Nesbø

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.