“Quá tuyệt phải không chú?”
Giọng nói đầy hào hứng của Oleg át đi tiếng mỡ xèo xèo trong cửa hàng kebab đông nghịt khách khứa sau buổi trình diễn âm nhạc tại cung thể thao Oslo Spektrum. Harry gật đầu với Oleg, đang đứng đó trong chiếc áo nỉ có mũ, vẫn nhễ nhại mồ hôi, vẫn nhún nhảy theo nhịp beat và luôn miệng nhắc đến tên các thành viên trong ban nhạc Slipknot, những cái tên mà ngay cả Harry cũng chẳng biết vì những CD của Slipknot rất ít đề cập đến thông tin cá nhân, còn những tạp chí âm nhạc như MOJO và Uncut thì lại chẳng viết về mấy ban nhạc kiểu đó. Harry gọi hamburger và xem đồng hồ. Rakel nói cô sẽ đứng chờ ở ngoài lúc mười giờ. Harry đưa mắt nhìn Oleg một lần nữa. Nó vẫn nói không ngừng nghỉ. Chuyện này xảy ra từ lúc nào vậy nhỉ? Từ khi nào thằng bé mới mười một tuổi lại đi thích thể loại nhạc nói về cái chết ở mọi cấp độ, sự kỳ thị, cảm giác tê liệt và tận thế nói chung? Đáng lẽ Harry nên lo lắng mới phải, nhưng không. Đó là điểm khởi đầu, là nỗi tò mò cần được thỏa mãn, giống như những bộ quần áo phải thử mới biết có vừa hay không. Rồi sau này nhiều thứ khác nữa sẽ đến với thằng bé. Thứ tốt hơn. Thứ tệ hơn.
“Chú cũng thích đúng không Harry?”
Harry gật đầu. Anh không nỡ nói với Oleg rằng buổi biểu diễn này có phần đáng thất vọng đối với anh. Anh không rõ nguyên nhân vì đâu; có thể chỉ đơn giản là tối nay anh không có hứng. Khi hai chú cháu vừa hòa vào đám đông ở Spektrum, trong anh đã dậy lên cảm giác hoang tưởng thường xuất hiện mỗi lần uống say, nhưng suốt một năm nay nó vẫn tìm đến ngay cả những lúc anh tỉnh táo. Thế là thay vì đắm chìm trong không khí âm nhạc, anh lại cảm thấy như đang bị theo dõi và cứ đứng đó nhìn khắp đám đông khán giả, chăm chú quan sát tầng tầng lớp lớp những khuôn mặt quanh mình.
“Slipknot là số một,” Oleg nói. “Mấy cái mặt nạ cực chất luôn. Nhất là cái có mũi nhỏ, dài ấy ạ. Trông giống như… như…”
Harry nghe tai nọ ra tai kia, thầm mong Rakel sớm đến nơi. Không khí trong quán kebab bỗng trở nên nặng nề và ngột ngạt, như thể một lớp mỡ mỏng dính trên da và trên miệng. Anh cố gạt đi ý nghĩ đang lăm le xuất hiện. Nhưng nó vẫn đang trên đà kéo tới và đã sắp lộ diện. Ý nghĩ muốn uống một ly.
“Là mặt nạ người chết của thổ dân Anh điêng,” một giọng phụ nữ cất lên phía sau lưng hai chú cháu. “Và Slayer ăn đứt Slipknot.”
Harry kinh ngạc quay ngoắt lại.
“Slipknot hay phô diễn tạo dáng lắm, phải vậy không?” cô nói tiếp. “Ý tưởng toàn xào xáo lại, động tác thì vô nghĩa.”
Cô mặc chiếc áo khoác đen bóng ôm sát, dài đến mắt cá chân, cài cúc tới tận cổ, chỉ để lộ đôi bốt đen bên dưới. Khuôn mặt cô nhợt nhạt và đôi mắt được trang điểm.
“Không thể tin nổi,” Harry nói. “Cô lại thích thể loại nhạc đó kia đấy.”
Katrine Bratt cười nhẹ. “Tôi cũng có thể nói điều ngược lại.”
Cô không giải thích rõ hơn và ra hiệu bảo nhân viên trực quầy lấy cho cô chai nước khoáng Farris.
“Slayer dở ẹc,” Oleg khẽ lầm bầm.
Katrine quay sang phía cậu. “Chắc cháu là Oleg.”
“Vâng,” Oleg sưng sỉa đáp, kéo cao chiếc quần kiểu quân đội, trông như thể vừa thích vừa ghét khi được một phụ nữ trướng thành chú ý đến. “Sao cô biết?”
Katrine mỉm cười. “Sao cô biết? Với người sống ở Holmenkollen như cháu, đáng lẽ phải nói là Sao cô biết ạ? mới đúng chứ. Chú Harry làm hư cháu phải không?”
Hai má Oleg nóng bừng lên.
Katrine khẽ cười và vỗ vai Oleg. “Xin lỗi, cô tò mò chút thôi.”
Mặt thằng bé đỏ lựng đến nỗi lòng trắng trong đôi mắt sáng ánh lên.
“Tôi cũng đang tò mò đây,” Harry nói và đưa một cái hamburger cho Oleg. “Hẳn cô đã tìm ra mô thức mà tôi yêu cầu rồi. Vì cô có thời gian đi xem ca nhạc mà.”
Harry nhìn cô với ánh mắt thay lời cảnh cáo: Đừng trêu chọc thằng bé.
“Tôi đã tìm ra một chi tiết,” Katrine nói, vặn nắp chai nước khoáng Farris. “Nhưng giờ anh đang bận nên để mai nói cũng được.”
“Tôi không quá bận đâu,” Harry nói. Anh đã quên luôn mùi mỡ và cảm giác ngột ngạt ban nãy.
“Đó là vấn đề tối mật mà đây lại là chỗ đông người,” Katrine nói. “Nhưng tôi có thể nói nhỏ với anh đôi ba từ then chốt.”
Cô rướn người lại gần, ngoài mùi mỡ trong quán, anh có thể ngửi thấy hương nước hoa gần như nam tính của cô và cảm nhận hơi thở ấm áp phả vào tai mình.
“Một chiếc Volkswagen Passat màu bạc vừa đỗ lại ngoài kia. Người phụ nữ ngồi trong xe cố thu hút sự chú ý của anh. Tôi đoán đó là mẹ của Oleg…”
Harry giật mình đứng thẳng dậy và đưa mắt nhìn về phía chiếc xe qua ô cửa sổ lớn. Rakel đã hạ kính xe xuống và chăm chú nhìn họ.
“Đùng làm bẩn xe nhé,” Rakel nói với Oleg khi nó nhảy vào ghế sau với chiếc hamburger trong tay.
Harry đứng bên cửa sổ xe để ngỏ. Rakel mặc chiếc áo len trơn, màu xanh dương nhạt. Harry đã quá quen với chiếc áo ấy.
Anh biết rõ mùi hương, biết rõ cảm giác khi áp má và lòng bàn tay lên đó.
“Buổi biểu diễn có hay không?” cô hỏi.
“Em hỏi Oleg ấy.”
“Đúng ra là ban nhạc thuộc thể loại gì vậy?” Cô nhìn Oleg qua gương. “Những người ngoài kia ăn mặc hơi kỳ quái.”
“Toàn là tình ca nhẹ nhàng và mấy kiểu tương tự ấy mà mẹ,” Oleg nói và nháy mắt với Harry một cái thật nhanh khi cô rời mắt khỏi gương.
“Cảm ơn anh, Harry,” cô nói.
“Đừng khách sáo. Em lái xe cẩn thận nhé.”
“Người phụ nữ trong quán là ai vậy?”
“Một đồng nghiệp. Mới gia nhập.”
“Thế à? Vậy mà trông hai người cứ như quen thân lắm.”
“Sao lại thế?”
“Anh…” Đang nói nửa chừng thì cô ngưng bặt. Sau đó cô chậm rãi lắc đầu và bật cười. Tiếng cười trầm trầm nhưng vui tươi cất lên từ sâu trong cổ họng. Vừa tự tin lại vừa vô ưu. Tiếng cười đã khiến anh phải lòng cô.
“Xin lỗi, Harry. Chúc anh buổi tối tốt lành.”
Kính xe từ từ dựng lên; rồi chiếc ô tô màu bạc lướt đi.
Harry chen chúc giữa dòng người trên phố Brugata, đi qua những quán bar mở cửa bật nhạc ầm ĩ. Anh định đến quán Teddy’s Softbar uống cà phê, nhưng biết rõ đó là ý tưởng không lấy gì làm hay ho. Vì vậy anh quyết định đi tiếp.
“Cà phê á?” Anh chàng phục vụ ở quầy hỏi lại với vẻ kinh ngạc.
Máy phát nhạc ở Teddy đang chơi nhạc của Johnny Cash và Harry lướt một ngón tay lên môi trên.
“Anh có gợi ý nào hay hơn không?” Harry nghe giọng nói thốt ra từ miệng mình mà thấy vừa lạ vừa quen.
“À thì,” anh ta nói, lùa tay qua mái tóc bóng dầu, “cà phê pha không được mới lắm, thế nên hay là làm cốc bia tươi nhé?”
Johnny Cash đang hát về Chúa trời, lễ rửa tội và bao hứa hẹn mới mẻ.
“Được,” Harry nói.
Anh chàng kia toét miệng cười.
Đúng lúc ấy, Harry cảm thấy điện thoại di động trong túi rung lên. Anh vội vã, tham lam chộp lấy nó như thể đang mong ngóng cuộc gọi này.
Người gọi là Skarre.
“Chúng tôi vừa nhận được một cuộc gọi báo mất tích khớp với tiêu chí của ta. Phụ nữ đã lập gia đình và có con. Vài tiếng trước, ông chồng và các con về nhà nhưng không thấy cô ta đâu cả. Họ sống tít tận trong khu rừng ở Sollihøgda. Hàng xóm xung quanh không trông thấy cô vợ, và cô ta không thể lái xe bỏ đi vì ông chồng đang dùng xe. Trên đường cũng không thấy dấu chân nào.”
“Dấu chân ư?”
“Trên đó tuyết vẫn chưa tan.”
Cốc bia được đặt đánh cộp xuống trước mặt Harry.
“Harry? Anh có đó không vậy?”
“Có đây. Tôi đang mải nghĩ.”
“Nghĩ gì?”
“Ở đó có người tuyết nào không?”
“Hở?”
“Người tuyết ấy.”
“Làm sao tôi biết được?”
“Thì ta tới đó tìm hiểu xem. Cậu lái xe đến đón tôi ở bên ngoài trung tâm thương mại Gunerius trên phố Storgata nhé.”
“Để mai không được sao, Harry? Tối nay tôi có tí việc bận, mà người phụ nữ đó mới mất tích thôi, cần gì phải gấp.”
Harry nhìn đám bọt trườn xuống thân cốc bia như thể rắn bò.
“Đúng ra…” Harry nói, “… là gấp quá đi chứ.”
Anh chàng bartender ngỡ ngàng nhìn cốc bia vẫn còn nguyên, tờ năm mươi krone đặt trên mặt quầy và đôi vai rộng xăm xăm đi ra cửa trong tiếng nhạc Johnny Cash đang dần tắt lịm.
“Sylvia sẽ không đời nào bỏ đi như thế,” Rolf Ottersen nói.
Rolf Ottersen gầy tong teo. Nói đúng hơn là anh ta chỉ có da bọc xương. Anh ta mặc chiếc sơ mi vải flannel cài kín cúc, từ đó trồi lên một cái cổ cò hương và cái đầu khiến Harry liên tường đến một loài chim lội nước. Thò ra khỏi ống tay áo là đôi tay thuôn với những ngón dài gầy guộc liên tục cong lại, vặn vẹo, xoắn xuýt vào nhau. Bàn tay bên phải có móng dài được dũa sắc như vuốt. Phía sau cặp kính dày với gọng kim loại tròn đơn giản thường thấy ở những người theo quan điểm cấp tiến hồi thập niên bảy mươi, đôi mắt anh ta có vẻ to bất thường. Trên bức tường sơn màu vàng mù tạt treo một tấm áp phích có hình những người Anh điêng đang vác một con trăn Nam Mỹ. Harry nhận ra bìa đĩa LP của Joni Mitchell từ thời Đồ Đá của dân hippie. Cạnh đó là bản sao bức chân dung tự họa nổi tiếng của Frida Kahlo. Người phụ nữ khốn khổ, Harry thầm nghĩ. Bức tranh được một phụ nữ lựa chọn. Sàn nhà lát gỗ thông thô, căn phòng được chiếu sáng nhờ sự kết hợp của những cây đèn bão cổ và đèn bằng đất sét nung màu nâu trông như đồ tự làm. Dựa vào bức tường trong góc nhà là một cây ghita dây nylon, Harry đoán đó là lý do Rolf Ottersen để móng tay dài nhọn.
“Ông nói bà ấy không đời nào bỏ đi nghĩa là sao?” Harry hỏi.
Trên chiếc bàn phòng khách trước mặt Harry, Rolf Ottersen đã đặt sẵn tấm ảnh chụp vợ cùng hai cô con gái sinh đôi Olga và Emma mới lên mười. Sylvia Ottersen có đôi mắt to dại, giống như mắt người đeo kính lâu năm rồi sau chuyển sang dùng kính áp tròng hoặc phẫu thuật laser. Cặp sinh đôi được thừa hưởng đôi mắt của bà mẹ.
“Nếu đi, cô ấy sẽ nói,” Rolf Ottersen giải thích. “Hoặc để lại lời nhắn. Chắc chắn là cô ấy gặp chuyện rồi.”
Dù đang trong lúc tuyệt vọng nhưng giọng nói của anh ta vẫn khẽ khàng. Rolf Ottersen rút chiếc khăn mùi soa trong túi quần ra và đưa lên mặt. Anh ta có chiếc mũi lớn bất thường trên khuôn mặt nhỏ nhợt nhạt. Anh ta hỉ mũi một cái to như tiếng kèn đồng.
Skarre thò đầu vào qua ngưỡng cửa. “Đội huấn luyện chó nghiệp vụ đến rồi. Họ dẫn theo một con chó tìm xác.”
“Vậy tiến hành đi thôi,” Harry nói. “Cậu hỏi hết hàng xóm xung quanh chưa?”
“Đã hỏi. Vẫn không thu được gì cả.”
Skarre đóng cửa lại, và Harry nhận thấy đôi mắt Ottersen phía sau cặp kính càng mở lớn.
“Chó tìm xác ư?” Ottersen thì thầm.
“Đó là tên gọi chung thôi mà,” Harry nói, thầm nhủ phải nhớ chỉ cho Skarre vài mẹo để cậu ta chú ý lời ăn tiếng nói hơn mới được.
“Vậy các anh cũng dùng chúng để tìm người sống phải không?” Giọng người chồng nghe như đang van xin.
“Vâng, dĩ nhiên rồi,” Harry thà nói dối còn hơn phải thú thật với anh ta rằng chó tìm xác có nhiệm vụ đánh hơi tìm kiếm vị trí xác chết. Chúng không được dùng để tìm ma túy, tài sản thất lạc hoặc người sống. Chúng chỉ chuyên tìm người chết. Có thế thôi.
“Vậy ông nhìn thấy bà ấy lần cuối là vào lúc bốn giờ chiều nay,” Harry nói, cúi nhìn cuốn sổ tay. “Trước khi ông và hai con lái xe vào thành phố. Bố con ông tới đó để làm gì?”
“Tôi trông cửa hàng trong lúc các con đi học violin.”
“Cửa hàng?”
“Chúng tôi có một cửa hàng nhỏ ở khu Majorstuen chuyên bán hàng thủ công châu Phi. Mỹ nghệ, nội thất, vải vóc, quần áo, nhiều thứ lắm. Hàng nhập khẩu trực tiếp từ các nghệ nhân, họ được trả công xứng đáng. Sylvia trông cửa hàng là chính, nhưng thứ Năm hằng tuần chúng tôi mở cửa muộn, vì vậy cô ấy sẽ lái xe về nhà và tôi đưa hai đứa nhỏ đi. Tôi ở lại cửa hàng trong lúc chúng đi học violin ở Học viện Âm nhạc Barrat Due từ năm giờ đến bảy giờ. Học xong thì tôi đón chúng. Bố con tôi về tới nhà lúc hơn bảy rưỡi một chút.”
“Ừm. Còn ai làm việc ở cửa hàng nữa không?”
“Hết rồi.”
“Thế nghĩa là cửa hàng tạm đóng cửa trong khoảng thời gian ngắn vào các ngày thứ Nám. Chắc tầm một giờ nhỉ?”
Rolf Ottersen mỉm cười chua chát. “Cửa hàng bé lắm. Cũng chẳng có khách mấy. Gần như vắng tanh cho tới tận đợt giảm giá mùa Giáng sinh, nói thật là như vậy.”
“Sao lại thế?”
“Cơ quan Phát triển Quốc tế Na Uy. Họ hỗ trợ các cửa hàng và nhà cung cấp của chúng tôi như là một phần trong chương trình thương mại của chính phủ với những quốc gia thuộc thế giới thứ ba.” Anh ta khẽ ho mấy tiếng. “Thông điệp của chương trình đó quan trọng hơn so với tiền bạc và những lợi ích trước mắt, phải không?”
Harry gật đầu, dù rằng anh không hề nghĩ đến chương trình hỗ trợ phát triển và thương mại công bằng ở châu Phi mà đang muốn hỏi về quãng đường và thời gian lái xe ở Oslo. Từ trong phòng bếp nơi hai cô bé sinh đôi đang ngồi ăn nhẹ lúc tối muộn vọng ra tiếng radio. Anh không trông thấy chiếc ti vi nào trong nhà.
“Cảm ơn ông. Chúng tôi sẽ tiếp tục tìm kiếm.” Harry đứng dậy đi ra ngoài.
Trong sân có ba chiếc xe đang đỗ. Một trong số đó là chiếc Volvo Amazon của Bjørn Holm, được sơn lại bằng màu đen với một dải ca rô trên nắp capô và nóc xe. Harry ngước nhìn bầu trời đêm trong lành lấp lánh ánh sao phía trên trang trại nhỏ xíu nằm giữa khoảng rừng trống. Anh hít một hơi dài. Không khí thoang thoảng hương gỗ vân sam và mùi củi cháy. Từ bìa rừng, anh nghe thấy tiếng chó thở dốc và những lời khích lệ của viên cảnh sát.
Để tới nhà kho, Harry đi theo đường vòng mà cảnh sát đã vạch ra nhằm không làm ảnh hưởng đến những manh mối có thể sử dụng. Tiếng nói chuyện lao xao vọng ra từ cửa chính để ngỏ. Anh ngồi thụp xuống và chăm chú quan sát những vết chân trên tuyết dưới ánh sáng tỏa ra từ chiếc đèn ngoài sân. Sau đó anh đứng dậy, dựa vào khung cửa và lấy ra một bao thuốc.
“Trông có vẻ giống hiện trường vụ án,” anh nói. “Có máu, có xác và đồ đạc bị lật tung.”
Bjørn Holm và Magnus Skarre ngừng chuyện trò, quay sang và nhìn theo hướng của Harry. Nhà kho rộng rãi thoáng đãng được thắp sáng nhờ một bóng đèn dây tóc duy nhất treo lủng lẳng trên sợi dây cáp quấn quanh một xà nhà. Bên kia nhà kho có một cái máy tiện, đằng sau là tấm ván treo nhiều dụng cụ: búa, cưa, kìm, máy khoan. Không có thiết bị chạy điện. Ở đầu đối diện là một hàng rào dây thép và phía sau là đàn gà đang đậu trên mấy ô chuồng trong hốc tường hoặc đi lại cứng nhắc trên đống rơm. Ở giữa nhà, trên sàn gỗ mộc, xám xịt, dính đầy máu là ba cái xác không đầu. Harry đưa điếu thuốc lên môi mà không châm lửa, bước vào trong, cẩn thận để tránh giẫm phải máu, và ngồi thụp xuống bên cạnh khối gỗ dùng thay thớt để xem xét mấy cái đầu gà. Luồng sáng tỏa ra từ đèn pin chiếu vào những cặp mắt đen đờ đẫn. Trước hết anh cầm lên nửa chiếc lông vũ màu trắng trông như thể bị đốt cháy đen ở rìa, rồi anh nhìn kỹ vết chặt rất ngọt ở cổ mấy con gà. Máu đã đông lại và chuyển sang màu đen. Anh biết việc đó diễn ra nhanh thôi, chỉ chừng hơn nửa giờ đồng hồ một chút.
“Có tìm được điều gì hay ho không?” Bjørn Holm hỏi.
“Nghề này khiến não tôi đi đứt rồi Holm ạ. Giờ nó đang đi phân tích xác gà chết đây.”
Skarre phá lên cười và giơ tay viết tít báo trong không trung: “Án mạng ba con gà đẫm máu. Thuộc địa phận tà giáo. Harry Hole được chỉ định điều tra.”
“Thứ tôi không tìm được còn hay hơn ấy,” Harry nói.
Bjørn Holm nhướn một bên lông mày, đưa mắt quan sát xung quanh rồi chậm rãi gật đầu.
Skarre nhìn họ với vẻ ngờ vực. “Đó là gì?”
“Hung khí gây án,” Harry đáp.
“Một chiếc rìu,” Holm nói. “Cách giết gà đúng đắn nhất.”
Skarre khịt mũi. “Nếu cô vợ là người làm thịt gà, cô ta hẳn phải cất rìu về chỗ cũ. Nông dân ở đây ngăn nắp lắm.”
“Tôi cũng nghĩ vậy,” Harry nói, lắng nghe tiếng gà cục cục như phát ra từ bốn phía. “Vì thế mới thấy lạ khi khối gỗ dùng để chặt lại lộn tùng phèo, xác gà vứt lăn lóc xung quanh. Và cái rìu thì không nằm ở đúng chỗ của nó.”
“Chỗ của nó?” Skarre quay sang ngó Holm và đảo tròn mắt.
“Nếu cậu chịu khó xem xét thì sẽ thấy, Skarre ạ,” Harry nói mà không buồn nhúc nhích.
Skarre vẫn nhìn Holm, Holm hất đầu về phía tấm ván đằng sau cái máy tiện.
“Chết tiệt,” Skarre nói.
Trên khoảng trống giữa chiếc búa và cái cưa gỉ có dấu vết một chiếc rìu nhỏ để lại.
Từ ngoài vọng vào tiếng chó sủa, rên ư ử, và sau là tiếng quát của viên cảnh sát, không còn là những lời khích lệ nữa.
Harry đưa tay xoa cằm. “Chúng ta đã tìm khắp nhà kho này rồi, vì thế tạm thời có vẻ như Sylvia Ottersen đã rời khỏi đây trong lúc giết gà, mang theo cả chiếc rìu. Holm, cậu đo nhiệt độ cơ thể mấy con gà này và ước định thời điểm chết nhé?”
“Được.”
“Là sao?” Skarre hỏi.
“Tôi muốn biết cô ta chạy khỏi đây lúc nào,” Harry nói. “Cậu có thu được gì từ những dấu giày ngoài sân không, Holm?”
Anh chàng chuyên gia pháp y lắc đầu. “Nhiều vết giẫm đạp quá, mà tôi cũng cần có thêm ánh sáng. Tôi tìm thấy vài dấu bốt của Rolf Ottersen. Ngoài ra còn có mấy dấu chân của những người đi vào nhà kho, nhưng không thấy dấu chân nào từ đó đi ra. Có thể cô ta được ai đó vác đi chăng?”
“Ừm. Nếu vậy thì dấu chân của người vác sẽ hằn sâu hơn. Tiếc là không ai giẫm vào vết máu.” Harry căng mắt ra nhìn những bức tường u tối ngoài tầm chiếu sáng của chiếc bóng đèn. Họ nghe thấy tiếng chó rên tru rất tội nghiệp và tiếng rủa sả tức tối của viên cảnh sát ở ngoài sân.
“Cậu ra xem thử có chuyện gì đi, Skarre,” Harry nói.
Sau khi Skarre đi, Harry lại bật đèn pin lên và tiến về phía bức tường. Anh xoa tay trên những tấm ván gỗ không sơn.
“Anh đang…” Holm nói nhưng rồi ngừng bặt khi chiếc bốt của Harry đá vào bức tường với một tiếng cộp trầm đục.
Bầu trời sao lấp lánh bỗng hiện ra trước mắt họ.
“Là cửa sau,” Harry nói, đăm đăm nhìn khu rừng tối và hình bóng những cây vân sam in trên vòm sáng màu vàng đục của ánh đèn thành phố tỏa ra từ phía xa. Anh chiếu đèn pin lên tuyết. Ánh đèn lập tức soi tỏ những dấu chân để lại.
“Hai người,” Harry nói.
“Là con chó,” Skarre nói khi quay trở vào. “Nó không chịu nhúc nhích.”
“Không nhúc nhích ư?” Harry soi đèn lên loạt dấu chân. Lớp tuyết phản xạ ánh sáng, nhưng dấu vết dần mất hút trong bóng tối bên dưới rừng cây.
“Người huấn luyện không tài nào hiểu nổi. Anh ta nói dường như con chó sợ chết khiếp. Bảo thế nào nó cũng nhất định không chịu đi vào rừng.”
“Có thể nó đánh hơi thấy mùi của lũ cáo,” Holm nói. “Trong rừng này nhiều cáo lắm.”
“Cáo ư?” Skarre hừ mũi. “Con chó to tướng thế, sao lại sợ cáo được.”
“Có thể nó chưa gặp cáo bao giờ,” Harry nói. “Nhưng nó biết nó đánh hơi được mùi của thú săn mồi. Sợ hãi trước những gì mình không biết là điều rất bình thường. Con nào mà không sợ thì đừng mong sống lâu được.” Harry cảm thấy tim mình bắt đầu đập dồn. Và anh biết rõ nguyên nhân. Đó là do khu rừng. Do bóng tối. Nỗi sợ này thuộc loại không bình thường. Là loại cần phải vượt qua.
“Nơi này từ giờ sẽ được coi là hiện trường vụ án cho tới khi có thông báo khác,” Harry nói. “Mọi người vào việc đi. Tôi sẽ kiểm tra xem dấu vết kia dẫn tới đâu.”
“Được rồi.”
Harry nuốt khan rồi bước ra ngoài qua cửa sau. Chuyện xảy ra đã hơn ba mươi năm trước. Ấy thế mà đến giờ nó vẫn khiến anh sởn gai ốc.
Năm ấy, Harry đang trải qua kỳ nghỉ mùa thu tại nhà ông bà anh ở Åndalsnes. Trang trại nằm trên một sườn đồi bên dãy núi Romsdal hùng vĩ. Cậu bé Harry khi đó mới lên mười đi vào rừng kiếm con bò lạc mà ông cậu đang tìm. Cậu muốn tìm được nó trước ông và tất cả mọi người. Thế là cậu vội vã lao đi. Chạy điên cuồng qua những ngọn đồi với những bụi việt quất mềm mại và rặng bạch dương lùn với dáng hình cong queo, kỳ dị. Lối mòn thoắt ẩn thoắt hiện trong lúc cậu bé chạy theo đường thẳng đến nơi cậu ngỡ như có tiếng chuông vọng giữa rừng cây. Âm thanh ấy lại vang lên, lần này xa hơn một chút về phía bên phải. Cậu nhảy qua dòng suối, khom người luồn dưới tán cây, bì bõm lội qua đồng lầy, đám mây gây mưa đang mỗi lúc một đến gần. Cậu có thể trông thấy màn mưa phùn bên dưới đám mây đang trút xuống sườn núi dốc.
Cơn mưa nhỏ đến nỗi Harry không hề nhận ra bóng tối đang dần kéo đến; nó âm thầm trườn ra từ đầm lầy, lẩn lút giữa những tàng cây, tràn xuống qua bóng râm bên sườn núi như dòng sơn đen ngòm và tụ lại ở đáy thung lũng. Cậu bé ngẩng lên nhìn một con chim lớn đang sải cánh chao lượn trên đầu, cao đến chóng mặt, tới nỗi cậu trông thấy cả ngọn núi phía sau. Đột nhiên cậu vấp chân và ngã nhào. Harry chới với đổ sấp xuống. Mọi thứ trước mắt bỗng tối sầm, trong mũi và miệng cậu ngập tràn vị của đồng lầy và cái chết, của sự thối rữa và bóng tối. Khi nằm trên mặt đất, trong vài giây ngắn ngủi cậu còn nếm được cả vị của bóng tối. Rồi cậu lại đứng lên và thấy rằng ánh sáng đã hoàn toàn tan biến. Tan biến nơi ngọn núi sừng sững đứng đó trong câm lặng, oai nghiêm, thì thầm với cậu rằng cậu chẳng hay mình đang ở đâu, từ lâu rồi cậu nào có biết. Không nhận ra mình vừa đánh mất một chiếc ủng, cậu đứng dậy và bắt đầu chạy. Chẳng mấy chốc cậu sẽ trông thấy thứ gì đó quen thuộc thôi. Nhưng nơi đây dường như đã trở thành vùng đất bị phù phép; những tảng đá bỗng hóa thành cái đầu của đám sinh vật trỗi dậy từ lòng đất, những bụi cây giống những ngón tay cào xé đôi chân cậu, còn rặng bạch dương lùn là những mụ phù thủy vừa gập người cười như nắc nẻ vừa giơ tay chỉ đường, hướng này hay hướng kia, ấy là lối về hay dẫn tới chốn đọa đày muôn kiếp, đường tới nhà ông bà hay lạc đến chỗ Vực thẳm. Người lớn từng kể cho cậu nghe về Vực thẳm. Đó là một đầm lầy sâu không đáy, nơi gia súc, con người và cả xe ngựa đã biến mất, không bao giờ trở lại.
Mãi gần đến đêm Harry mới lảo đảo bước vào căn bếp, bà ôm chầm lấy cậu và nói rằng bố cậu, ông cậu và tất cả người lớn ở trang trại gần đó đi tìm cậu suốt thời gian qua. Cậu đã đi lạc ở đâu?
Trong rừng.
Nhưng cậu không nghe thấy tiếng họ gọi ư? Họ đã kêu tên Harry mãi; bà nghe thấy họ không ngừng gọi cậu mà.
Cậu không nhớ chút gì về điều đó cả, nhưng sau này, nhiều lần cậu được nghe kể lại rằng cậu ngồi trên chiếc hộp gỗ trước bếp lò, run rẩy vì lạnh, đăm đăm nhìn về phía xa với vẻ hờ hững, và đáp: “Cháu không nghĩ đấy là người lớn đang gọi mình.”
“Vậy cháu nghĩ là ai?”
“Những kẻ khác. Bóng tối cũng có vị của nó đấy, bà có biết không ạ?”
Harry bước vào trong rừng mới được vài mét thôi mà bầu không khí căng thẳng và tĩnh lặng gần như phi tự nhiên đã kịp bủa vây lấy anh. Anh chiếu đèn pin xuống mặt đất phía trước, vì cứ mỗi lần hướng luồng sáng về phía khu rừng, những cái bóng lại vụt qua rặng cây hệt như những linh hồn giật mình thảng thốt giữa màn đêm đen kịt. Được một vầng sáng soi rọi tách biệt khỏi bóng tối chẳng mang lại cho anh cảm giác an tâm chút nào. Ngược lại là đằng khác. Niềm tin vững chắc rằng anh là thứ dễ thấy nhất đang di chuyển trong khu rừng khiến anh cảm thấy như đang phơi mình trước hiểm họa. Những cành cây cào vào mặt anh chẳng khác nào những ngón tay kẻ mù lòa đang quờ quạng để nhận ra người lạ.
Hai hàng dấu chân dẫn đến một con suối nơi dòng nước róc rách đã nhấn chìm tiếng thở hổn hển của anh. Một hàng bỗng biến mất, còn hàng kia đi theo con suối đến chỗ đất thấp hơn.
Harry lại bước tiếp. Dòng suối uốn lượn quanh co, nhưng anh chẳng lo không xác định được phương hướng; anh cứ theo dấu chân cũ của mình là sẽ về đến nơi.
Một con cú, hẳn là đang đậu ở gần đó, bỗng rúc lên một hồi cảnh báo tuuýt tuuu. Ánh dạ quang xanh lục trên mặt đồng hồ đeo tay cho anh biết anh đi hơn mười lăm phút rồi. Đã đến lúc quay lại và cử một đội ngũ được trang bị đầy đủ vật dụng, dẫn theo một chú chó không sợ cáo thay anh tìm tiếp.
Tim Harry bỗng ngừng đập.
Nó bay vụt qua trước mặt anh. Không một tiếng động và nhanh như chớp đến nỗi anh không kịp nhìn thấy gì. Nhưng luồng gió đã để lộ hành tung của nó. Harry nghe thấy tiếng con cú đập cánh dưới tuyết và tiếng chít chít đáng thương của một loài gặm nhấm nhỏ bé vừa trở thành mồi ngon cho nó.
Anh từ tốn thở ra một hơi từ sâu trong lồng ngực. Chiếu đèn pin về phía rừng cây trước mặt lần cuối rồi quay người trở về. Anh bước một bước, sau đó bất ngờ khựng lại. Anh muốn tiến thêm một bước, hai bước, để ra khỏi đây. Nhưng việc cần làm vẫn phải làm. Anh chiếu đèn về phía sau. Và lại nhác thấy nó. Thứ gì đó lóe lên, ánh sáng phản xạ lẽ ra không thể xuất hiện giữa khu rừng tối đen. Anh tiến tới gần hơn. Ngoái lại và cố ghi nhớ vị trí này. Nó nằm cách dòng suối chừng mười lăm mét. Anh ngồi thụp xuống. Chỉ có phần bằng thép nhô lên, nhưng không cần gạt đi lớp tuyết phía trên anh cũng biết nó là thứ gì. Một chiếc rìu. Trước đó nếu lưỡi rìu có dính máu gà thì giờ cũng không còn nữa. Quanh chiếc rìu không có dấu chân nào. Harry rọi đèn và trông thấy một cành cây gãy nằm trên tuyết cách đó vài mét. Có người đã ném chiếc rìu tới đây bằng một lực cực mạnh.
Vào giây phút ấy, cảm giác quen thuộc lại trỗi dậy. Đó là cảm giác anh từng trải qua lúc ở cung thể thao Spektrum tối nay. Anh tưởng như mình đang bị theo dõi. Theo bản năng, anh tắt đèn đi, bóng tối như tấm chăn bao trùm lấy anh. Anh nín thở và lắng tai nghe. Đừng, anh thầm nhủ. Đừng để điều đó xảy ra. Cái ác không phải là một thực thể. Nó không cách nào chiếm hữu được mi. Ngược lại, nó là thứ vô định hình, là sự thiếu vắng của cái thiện. Thứ duy nhất đáng sợ ở đây chỉ là bản thân mi mà thôi.
Harry bật đèn lên và chiếu về phía khoảng rừng trống.
Là cô ta. Cô ta đang đứng bất động giữa rừng cây, nhìn anh không chớp mắt, vẫn đôi mắt to dại như trong ảnh. Điều đầu tiên Harry nghĩ đến là cô ta ăn vận giống như một cô dâu trong bộ váy trắng, đứng trước bàn thờ, ở đây, giữa khu rừng này. Ánh đèn rọi tới khiến cô ta tỏa sáng lấp lánh. Harry run rẩy hít một hơi và rút chiếc điện thoại di động trong túi áo khoác ra. Bjørn Holm nghe máy sau hai hồi chuông reo.
“Cậu cho người phong tỏa toàn bộ khu vực,” Harry nói. Cổ anh bỗng trở nên khô rát. “Tôi sẽ điều quân đến.”
“Xảy ra chuyện gì vậy?”
“Ở đây có một người tuyết.”
“Thế thì sao?”
Harry bèn giải thích cho anh ta hiểu.
“Câu cuối tôi không nghe được,” Holm gào lên. “Sóng kém quá…”
“Cái đầu,” Harry nhắc lại. “Đó là đầu của Sylvia Ottersen.”
Bên kia bỗng lặng thinh.
Harry bảo Holm đi theo dấu chân, rồi anh ngắt máy.
Tiếp đó anh ngồi xuống dựa vào một thân cây, cài cúc áo khoác cho bằng hết và tắt đèn đi để tiết kiệm pin trong lúc chờ đợi. Thầm nghĩ anh đã quên mùi vị nó như thế nào rồi, vị bóng tối.