Người Tuyết

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 97 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ngày Thứ Hai Mươi - 28
Căn Bệnh

❊ ❊ ❊

Bjørn Holm lái xe đưa Harry từ Aker Brygge đến Sở Cảnh sát. Vị thanh tra đã mặc lại bộ quần áo ướt, chiếc áo giả da kêu rin rít khi anh cựa mình.

“Delta đột kích căn hộ hai mươi phút trước,” Bjørn nói. “Cô ấy không có nhà. Họ đã cử ba người đứng gác ở cổng.”

“Cô ấy không quay lại đó nữa đâu,” Harry nói.

Về tới văn phòng ở tầng sáu, Harry thay sang bộ đồng phục cảnh sát treo trên mắc, anh không đụng đến nó kể từ sau đám tang Jack Halvorsen tới giờ. Khi soi gương, anh thấy mình như đang bơi trong áo vậy.

Gunnar Hagen đã nhận được tin báo và nhanh chóng có mặt tại văn phòng. Ông ta ngồi phía sau bàn lắng nghe Harry báo cáo. Sự việc kịch tính đến nỗi ông ta quên cả khó chịu với bộ đồng phục nhàu nhĩ của vị thanh tra.

“Người Tuyết là Katrine Bratt,” Hagen chậm rãi nhắc lại, như thể nói ra lời sẽ giúp sự thật trở nên dễ tiếp thu hơn.

Harry gật đầu.

“Và cậu có tin những gì Støp nói không?”

“Có,” Harry đáp.

“Có ai làm chứng cho lời khai của ông ta không?”

“Bọn họ đều chết cả rồi. Birte, Sylvia, Idar Vetlesen. Ông ta cũng có thể là Người Tuyết. Đó là điều Katrine muốn tìm hiểu.”

“Katrine ư? Nhưng cậu vừa bảo cô ta là Người tuyết còn gì. Sao lại…”

“Ý tôi là, cô ấy muốn tìm hiểu xem liệu ông ta có thể trở thành Người Tuyết được không. Cô ấy muốn dàn dựng một kẻ thế thân. Støp kể rằng khi ông ta nói mình không có chứng cứ ngoại phạm trong khoảng thời gian xảy ra những vụ án mạng, cô ấy bảo Tốt và nói ông ta đã được chỉ định làm Người Tuyết. Sau đó cô ấy bắt đầu thắt cổ ông ta. Nhưng rồi cô ấy nghe tiếng xe tông vào cửa trước, nhận ra cảnh sát đang tới nên bỏ trốn. Kế hoạch của cô ấy có lẽ là để cho chúng ta phát hiện ra Støp chết trong căn hộ, nhìn bề ngoài tưởng như ông ta thắt cổ tự tử. Như thế chúng ta sẽ buông lỏng cảnh giác vì tin rằng mình đã bắt được hung thủ. Đó cũng là mục đích của cô ấy khi giết Idar Vetlesen. Và khi cô ấy định bắn Filip Becker vào hôm ông ta bị bắt.”

“Cái gì? Cô ta định…”

“Cô ấy chĩa súng đã lên nòng vào ông ta. Tôi nghe thấy tiếng búa gõ nhả về vị trí cũ khi tôi đứng chắn ngang tầm bắn.”

Gunnar Hagen nhắm mắt lại, dùng đầu ngón tay day thái dương. “Tôi hiểu rồi. Nhưng tạm thời đó mới chỉ là suy đoán thôi, Harry ạ.”

“Lại còn lá thư kia nữa,” Harry nói.

“Lá thư?”

“Thư của Người Tuyết. Tôi tìm thấy nội dung lá thư trong máy tính của cô ấy ở nhà, nó có từ khi chúng ta chưa ai nghe nói đến Người Tuyết. Còn cả tờ giấy trong máy in.”

“Chết tiệt!” Hagen nện cùi chỏ xuống bàn rõ mạnh và úp mặt vào hai bàn tay. “Sở đã nhận cô ta vào làm! Cậu có biết điều đó nghĩa là gì không, Harry?”

“Ừm, một scandal gây chấn động. Mất niềm tin đối với lực lượng cảnh sát. Nhiều vị cấp cao sắp phải lãnh đủ.”

Mấy ngón tay Hagen hơi hé ra, ông ta ghé mắt nhìn Harry qua kẽ hở. “Cảm ơn vì đã thẳng ruột ngựa.”

“Không có chi.”

“Tôi sẽ cho mời giám đốc Sở và cảnh sát trưởng đến. Tạm thời tôi muốn cậu và Bjørn Holm cứ giữ kín việc này đã. Thế còn Arve Støp thì sao? Liệu ông ta có ba hoa gì không?”

“Không có đâu, sếp.” Harry nhếch mép cười. “Ông ta giờ hết rồi.”

“Hết gì cơ?”

“Chính trực ấy mà.”

Lúc này là mười giờ, đứng bên cửa sổ phòng làm việc, Harry ngắm nhìn ánh sáng ban ngày yếu ớt, gần như rụt rè phủ lên những mái nhà, bao trùm không gian tĩnh lặng của ngày Chủ nhật ở Grønland. Hơn sáu tiếng đã trôi qua kể từ khi Katrine Bratt bỏ trốn khỏi căn hộ của Støp, cho tới lúc này cuộc truy tìm vẫn chưa thu được kết quả gì. Cũng có khả năng cô vẫn còn ở Oslo, nhưng nếu đã lên kế hoạch cho chiến lược đào tẩu thì rất có thể giờ này cô đã cao chạy xa bay. Harry tin chắc cô chuẩn bị trước cả rồi.

Cũng như giờ đây anh tin chắc cô chính là Người Tuyết.

Trước hết, chứng cứ đã rành rành ra đó: lá thư và những lần toan giết người. Mọi linh cảm của anh hóa ra đều chuẩn xác: cảm giác mình bị theo dõi sát sao, dường như có ai đó đang thâm nhập vào cuộc sống của anh. Những bài báo dán trên tường, các báo cáo điều tra. Katrine đã tìm hiểu anh kỹ đến mức lường trước được hành động tiếp theo của anh, lợi dụng anh để thực hiện mưu đồ riêng. Giờ cô chẳng khác nào một thứ virus lan truyền trong huyết mạch anh, gián điệp ẩn trong trí não anh.

Anh nghe thấy tiếng người bước vào phòng, nhưng không ngoái lại.

“Chúng tôi đã lần theo tín hiệu điện thoại di động của Katrine,” giọng Skarre vang lên. “Cô ấy đang ở Thụy Điển.”

“Vậy sao?”

“Tổng đài Telenor cho biết tín hiệu đang di chuyển về phía Nam. Vị trí và tốc độ di chuyển khớp với chuyến tàu đi Copenhagen khởi hành ở Ga Trung tâm Oslo lúc năm giờ bảy phút. Tôi đã trao đổi với cảnh sát ở Helsingborg, họ cần có lệnh chính thức thì mới có thể tiến hành bắt giữ. Tàu sẽ đến nơi trong nửa tiếng nữa. Chúng ta phải làm sao đây?”

Harry chậm rãi gật đầu như thể đang nghĩ ngợi. Một con mòng biển sải cánh bay vụt qua rồi đột ngột đổi hướng và bổ nhào xuống rừng cây trong công viên. Có lẽ nó đã phát hiện ra thứ gì đó. Hoặc đơn giản chỉ là thay đổi quyết định. Cũng giống như con người vậy. Ga Oslo lúc bảy giờ sáng.

“Harry? Cô ấy rất có thể sẽ tới được Đan Mạch nếu chúng ta không…”

“Cậu bảo Hagen nói chuyện với bên Helsingborg,” Harry đáp, quay ngoắt lại vớ lấy áo khoác trên mắc bằng một động tác nhanh nhẹn.

Skarre ngỡ ngàng nhìn theo vị thanh tra đang sải những bước dài đầy quả quyết trên hành lang.

Sĩ quan Orø thuộc bộ phận Kho ở Sở Cảnh sát nhìn người thanh tra có mái tóc húi cua với vẻ kinh ngạc không cần che giấu và nhắc lại: “CS? Là hơi cay á?”

“Hai quả,” Harry nói. “Và một hộp đạn súng lục.”

Viên sĩ quan tập tễnh đi vào kho, miệng không ngừng lầm bầm nguyền rủa. Tay Hole này lập dị hết sức, điều đó ai cũng biết, nhưng gã cần lựu đạn hơi cay làm quái gì mới được chứ? Nếu ai khác ở Sở mà yêu cầu thứ đó, Oro chắc sẽ cho là để quậy trong bữa tiệc độc thân với lũ bạn. Nhưng theo như anh ta biết thì Hole chả có bạn bè gì, ít ra là ở trong ngành.

Vị thanh tra ho mấy tiếng khi Orø trở lại. “Katrine Bratt ở Đội Hình sự có xin cấp vũ khí gì ở đây không?”

“Cái cô làm ở Sở Cảnh sát Bergen ấy à? Chỉ một thứ theo đúng quy định thôi.”

“Quy định thế nào?”

“Trả lại toàn bộ vũ khí và đạn dược cho sở cảnh sát cũ trước lúc nghỉ, sau đó xin cấp súng lục mới cùng hai hộp đạn khi nhậm chức ở cơ quan mới.”

“Vậy là cô ấy không sở hữu vũ khí nào có uy lực lớn hơn súng lục?”

Orø lắc đầu với vẻ bối rối.

“Cảm ơn,” Hole nói, bỏ hai hộp đạn vào cái túi đen bên cạnh hai quả lựu đạn màu xanh lục đựng thứ hơi cay nồng nặc mùi hạt tiêu được Corso và Stoughton sáng chế vào năm 1928.

Người sĩ quan không đáp, chỉ đến khi nhận được biên bản giao nhận có chữ ký của Hole, anh ta mới lầm bầm câu: “Chúc Chủ nhật bình an.”

Harry ngồi trong phòng chờ ở Bệnh viện Ullevål với chiếc túi đen đặt bên cạnh. Nơi này tỏa ra mùi cồn, mùi của người già và cái chết đang từ từ kéo đến. Một bệnh nhân nữ ngồi trên ghế đối diện nhìn anh chòng chọc như thể đang cố kiếm tìm hình bóng ai đó không hiện diện nơi đây: người quen cũ, người tình chưa bao giờ xuất hiện, cậu con trai bà tưởng mình nhận ra.

Harry thở dài, xem đồng hồ đeo tay và hình dung ra cảnh tượng cảnh sát ập vào đoàn tàu ở Helsingborg. Người lái tàu theo lệnh của nhân viên điều hành cho dừng tàu khi còn cách ga một cây số. Các sĩ quan vũ trang vào vị trí ở hai bên đường ray, đứng gác cùng bầy cảnh khuyển. Cuộc khám xét nhanh gọn các toa, các gian và cả phòng vệ sinh. Phản ứng của những hành khách khiếp đảm khi chứng kiến sự xuất hiện của lực lượng cảnh sát vũ trang, cảnh tượng hiếm hoi ở xứ sở thần tiên trên bán đảo Scandinavia này. Những bàn tay phụ nữ run rẩy lục đồ khi bị yêu cầu xuất trình giấy tờ. Đôi vai còng xuống của những sĩ quan cảnh sát, cảm giác hồi hộp xen lẫn hy vọng. Nôn nóng, hoài nghi, bực bội, cuối cùng là thất vọng và chán nản khi không tìm được thứ mình cần. Sau chót, nếu bọn họ gặp may và đủ trình độ, thì sẽ là những lời rủa sả lớn tiếng khi tìm ra nguồn phát tín hiệu mà trạm thu phát gốc bắt được: chiếc điện thoại của Katrine Bratt nằm trong thùng rác.

Một khuôn mặt tươi tắn bỗng xuất hiện trước mắt anh. “Anh có thể vào thăm ông ấy được rồi.”

Harry đi theo tiếng lách cách của đôi sục gỗ và người phụ nữ vận đồ trắng có vòng hông nở nang, dáng nhanh nhẹn. Chị ta đẩy cửa mở. “Nhưng đừng nán lại lâu quá nhé. Ông ấy cần được nghỉ ngơi.”

Ståle Aune đang nằm trên giường ở phòng điều trị riêng. Khuôn mặt tròn trịa với những mạch máu đỏ li ti dưới da giờ hóp lại và nhợt nhạt đến nỗi gần như trùng với màu vỏ gối. Mái tóc lơ thơ như tóc trẻ con trên vầng trán đầy đặn của ông lão sáu mươi. Nếu không nhờ đôi mắt vẫn sắc sảo, tinh anh, có lẽ Harry đã tưởng đang nằm kia là di hài của chuyên gia tâm lý trực thuộc Đội Hình sự và cũng là người bạn tâm giao của anh.

“Trời đất quỷ thần ơi, Harry,” Ståle Aune nói. “Nhìn anh như bộ xương ấy. Anh không khỏe à?”

Harry không ngăn được nụ cười trên môi. Aune nhăn mặt gắng gượng ngồi dậy.

“Xin lỗi vì đã không tới thăm ông sớm hơn,” Harry nói, kéo rê chiếc ghế tới bên giường bệnh. “Chỉ là bệnh viện… nó… tôi cũng không biết phải nói sao.”

“Bệnh viện khiến anh nhớ đến mẹ anh hồi anh còn nhỏ. Tôi hiểu mà.”

Harry gật, cúi đầu nhìn hai bàn tay. “Họ đối xử với ông có tốt không?”

“Câu ấy chỉ hỏi khi đi thăm bạn ở tù, chứ không phải thăm người ốm, Harry à.”

Harry lại gật tiếp.

Ståle Aune thở dài. “Tôi hiểu là anh lo lắng cho tôi, Harry. Nhưng tôi đi guốc vào bụng anh rồi, chắc chắn đây không phải cuộc thăm hỏi xã giao. Thôi, có gì khai thật ra đi.”

“Để sau cũng được mà. Họ bảo ông vẫn chưa khỏe.”

“Khỏe là khái niệm mang tính tương đối. Mà nói một cách tương đối thì tôi đang khỏe như vâm đây. Anh phải thấy tôi hôm qua cơ. Ý tôi là, may mà anh không thấy tôi hôm qua.”

Harry cúi đầu cười.

“Là chuyện về Người Tuyết phải không?” Aune hỏi.

Harry gật.

“Tôi đợi mãi,” Aune nói. “Ở trong này chán chết được. Anh mau nói đi.”

Harry hít một hơi. Sau đó anh tóm tắt lại tất cả tình tiết trong chuyên án. Cố gắng lược đi những thông tin dài dòng không liên quan trong khi vẫn không kể sót chi tiết quan trọng nào. Aune chỉ chen ngang đôi lần để hỏi vài câu ngắn gọn, súc tích, ông chủ yếu im lặng lắng nghe với vẻ tập trung, gần giống như đang bị thôi miên. Khi Harry kể xong, người bệnh có vẻ tươi tỉnh hơn; hai má ông đã có chút khí sắc và ông ngồi thẳng hơn trên giường.

“Thú vị thật,” ông nói. “Nhưng anh đã biết hung thủ là ai rồi, vậy sao còn đến tìm tôi?”

“Người phụ nữ đó mất trí rồi, đúng không?”

“Người nào gây ra những tội ác khủng khiếp đến thế chắc chắn là mất trí. Tuy nhiên, nếu xét theo lĩnh vực tâm lý học tội phạm thì cũng không hẳn.”

“Bất luận thế nào, có đôi điều về cô ấy mà tôi vẫn chưa hiểu,” Harry nói.

“Trời đất, tôi đây cũng mới chỉ hiểu được đôi điều về con người thôi, trong trường hợp này, anh là chuyên gia tâm lý giỏi hơn tôi rồi đấy.”

“Cô ấy chỉ khoảng mười chín tuổi khi sát hại hai phụ nữ ở Bergen và Gert Rafto. Làm thế nào một người điên khùng như vậy lại có thể vượt qua các bài kiểm tra tâm lý ở Học viện Cảnh sát và hành nghề suốt từng ấy năm mà không ai phát hiện ra?”

“Câu hỏi hay lắm. Có thể cô ấy thuộc trường hợp cocktail.”

“Trường hợp cocktail ư?”

“Đó là trường hợp một người mắc mỗi bệnh một tí. Tâm thần phân liệt đến mức nghe thấy tiếng nói trong đầu nhưng biết cách giấu kín bệnh tình của mình với những người xung quanh. Rối loạn nhân cách ám ảnh cưỡng bức kết hợp với một chút hoang tưởng, điều đó tạo ra ảo giác về tình huống bệnh nhân đang gặp phải và cần làm gì để thoát ra, trong khi người ngoài nhìn vào thì chỉ cho rằng người đó trầm tính. Cơn thú tính bùng phát trong những vụ án mà anh mô tả trùng khớp với triệu chứng rối loạn nhân cách ranh giới, dù vẫn có thể kiểm soát được cơn thịnh nộ đó.”

“Ừm. Nói cách khác là ông không biết?”

Aune phá lên cười. Rồi tiếng cười dần chuyển thành cơn ho sặc sụa.

“Tôi xin lỗi, Harry,” ông khàn giọng nói. “Các trường hợp đa phần đều thế cả. Trong tâm lý học, chúng tôi dựng lên một cơ số chuồng, thế mà lũ súc vật nhất định không chịu chui vào. Chúng không gì khác hơn là những sinh vật vô sỉ, vô ơn, vô tri. Bao nhiêu công sức bỏ ra nghiên cứu chúng đều phí phạm!”

“Còn điều này nữa. Khi chúng tôi vô tình phát hiện ra xác Gert Rafto, cô ấy đã hoảng sợ thật sự. Ý tôi là, cô ấy không hề đóng kịch. Tôi thấy rõ vẻ sửng sốt, đôi đồng tử vẫn nở to và đen, dù tôi chiếu thẳng đèn pin vào mặt cô ấy.”

“A ha! Vụ này hay đây.” Aune chống tay ngồi thẳng hơn. “Sao anh lại chiếu đèn vào mặt cô ấy? Lúc đó anh đã nghi ngờ gì rồi sao?”

Harry không đáp.

“Có thể anh đúng đấy,” Aune nói. “Có thể ký ức về những vụ giết người đã bị lãng quên; việc đó không có gì khác thường cả. Anh kể rằng cô ấy tích cực tham gia điều tra và không làm gì để phá hoại. Điều này cho thấy có thể cô ấy đã nảy sinh nghi ngờ đối với bản thân và thực tâm mong muốn tìm ra chân tướng sự thật. Anh có biết gì nhiều về chứng mộng du không?”

“Tôi biết là người ta có thể vừa ngủ vừa đi lại. Nói năng. Ăn uống, mặc đồ, thậm chí ra khỏi nhà và lái ô tô nữa.”

“Chính xác. Nhạc trưởng Harry Rosenthal vừa ngủ vừa chỉ đạo và hát những phần trình diễn của các nhạc cụ trong cả một bản giao hưởng. Thực tế đã ghi nhận ít nhất năm vụ án mạng trong đó hung thủ được tha bổng do tòa phán quyết người đó mắc chứng parasomnia, nghĩa là các rối loạn giác ngủ. Ở Canada vài năm trước có một người đàn ông rời khỏi giường, lái xe hơn hai mươi cây số đến nhà bố mẹ vợ, giết bà mẹ vợ mà bình thường anh ta có mối quan hệ rất tốt đẹp, siết cổ bố vợ gần chết, sau đó lái xe về và lại trèo lên giường nằm. Anh ta cũng được tuyên trắng án.”

“Ý ông muốn nói cô ấy có thể đã gây án trong lúc ngủ say? Và cô ấy cũng mắc chứng parasomnia như những người đó?”

“Chẩn đoán này vẫn còn gây nhiều tranh cãi. Nhưng anh cứ tưởng tượng một người thường xuyên rơi vào trạng thái giống như mê ngủ và do đó không thể nhớ rõ việc mình làm. Trong ký ức người đó chỉ lưu giữ những mảnh ghép rời rạc, mờ mịt của những chuyện đã xảy ra, giống như một giác mơ vậy.”

“Ừm.”

“Trong quá trình điều tra, có thể cô ấy bắt đầu nhận thức được những việc mình gây ra.”

Harry chậm rãi gật đầu. “Và nhận ra rằng phải tìm một con tốt thí mạng thì mới có thể thoát tội.”

“Điều đó cũng dễ hiểu.” Ståle Aune nhăn mặt. “Nhưng thật ra, những việc liên quan đến tâm thức con người đa phần đều dễ hiểu. Vấn đề chẳng qua là chúng ta không thể nhìn thấy tận mắt những căn bệnh rối loạn mà ta đang nhắc đến, và chỉ đặt ra giả thuyết về sự tồn tại của chúng dựa vào những triệu chứng mà thôi.”

“Giống như nấm mốc vậy.”

“Gì cơ?”

“Do đâu mà một người như cô ấy lại mắc bệnh tâm lý nặng đến thế được?”

Aune rên lên. “Do tất cả mọi thứ! Và không gì cả! Do bẩm sinh lẫn nuôi dưỡng.”

“Một người cha rượu chè, vũ phu chăng?”

“Phải, phải, phải. Chín mươi phần trăm nguyên nhân là vì thế. Cộng thêm bà mẹ có tiền sử mắc bệnh tâm thần, một vài sang chấn tâm lý hồi nhỏ, thế là vừa chẵn một trăm.”

“Liệu có khả năng cô ấy trở nên mạnh mẽ hơn người cha rượu chè, vũ phu, và từ đó nảy sinh ý định hành hung ông ta? Hoặc thậm chí là giết?”

“Hoàn toàn có thể. Tôi còn nhớ một trường…” Ståle Aune đang nói đột nhiên im bặt. Ông nhìn xoáy vào Harry, sau đó nhoài người tới và thì thào với anh, cặp mắt sáng quắc. “Tôi không nghe nhầm câu hỏi đấy chứ?”

Harry Hole cúi đầu nhìn móng tay. “Khi xem ảnh chụp một sĩ quan của Sở Cảnh sát Bergen, tôi chợt nhận ra ở ông ta có điều gì đó quen thuộc lạ lùng, như thể tôi đã từng gặp ở đâu rồi. Chỉ đến bây giờ tôi mới hiểu. Đó là sự giống nhau giữa những người có cùng huyết thống. Trước khi kết hôn, Katrine Bratt mang họ Rafto. Gert Rafto chính là bố của cô ấy.”

Harry đang lái xe trên đường tới nhà ga bắt tàu cao tốc để ra sân bay thì nhận được điện thoại của Skarre. Hóa ra anh đã nhầm. Bọn họ không tìm thấy điện thoại di động của cô trong phòng vệ sinh, mà nó được giấu ở ngăn để hành lý.

Tám mươi phút sau, vây quanh anh là khung cảnh toàn một màu xám xịt. Cơ trưởng thông báo Bergen trời nhiều mây và có mưa. Tầm nhìn bằng 0, Harry thầm nghĩ. Lúc này máy bay vận hành chỉ dựa vào các thiết bị dẫn đường mà thôi.

Cửa chính mở toang chỉ vài giây sau khi sĩ quan Thomas Helle thuộc Đơn vị Tìm kiếm Người Mất tích nhấn chiếc chuông phía trên tấm biển đề chữ Andreas, Eli và Trygve Kvale.

“Tạ ơn trời đất, các anh đến nhanh thật.” Người đàn ông đứng trước mặt Helle ngó ra nhìn qua vai anh ta. “Những người khác đâu?”

“Chỉ có mình tôi thôi. Ông vẫn chưa có tin tức gì của bà nhà ư?”

Người đàn ông mà Helle đoán là Andreas Kvale, người gọi điện đến Sở Cảnh sát, tròn mắt ngạc nhiên nhìn anh ta. “Bà ấy mất tích, tôi nói anh rồi.”

“Chúng tôi biết, nhưng thường thì họ sẽ lại trở về.”

“Họ là ai?”

Thomas Helle thở dài. “Tôi có thể vào nhà được không, ông Kvale? Trời mưa quá…”

“Ôi, xin lỗi! Mời anh…” Người đàn ông ngoài năm mươi tuổi đứng sang một bên, và trong khung cảnh tù mù phía sau ông ta, Helle nhác thấy bóng dáng một thanh niên ngoài hai mươi có mái tóc sẫm màu.

Thomas Helle quyết định vào việc ngay tại hành lang. Lúc này ở Sở may ra chỉ đủ người để trực điện thoại vì hôm nay là Chủ nhật, hơn nữa, các sĩ quan trực ban đều được huy động đi tìm Katrine Bratt. Một đồng nghiệp của bọn họ. Việc này vốn tiến hành một cách âm thầm nhưng vẫn có tin đồn cô ta hình như có dính dáng gì đó tới vụ Người Tuyết.

“Ông phát hiện ra bà nhà mất tích như thế nào?” Helle hỏi, chuẩn bị ghi lại lời khai.

“Hôm nay Trygve và tôi mới về đến nhà sau chuyến cắm trại ở Nordmarka kéo dài hai ngày. Chúng tôi không mang theo điện thoại, chỉ có cần câu thôi. Khi về thì không thấy bà ấy đâu cả, cũng chẳng có nhắn nhủ gì, và như tôi đã báo, cửa ra vào không khóa. Bình thường vợ tôi kể cả ở nhà cũng vẫn khóa cửa. Tính bà ấy hay lo lắm. Áo khoác của bà ấy lại không mất cái nào. Giày cũng thế. Chỉ thiếu đôi dép đi trong nhà. Với thời tiết này…”

“Ông đã gọi điện cho người quen của bà nhà chưa? Cả hàng xóm nữa?”

“Tất nhiên rồi. Nhưng không ai có tin tức gì của bà ấy.”

Thomas Helle ghi lại. Một linh cảm đã bắt đầu nhen nhóm; cảm giác mô tuýp này sao quen quá. Phụ nữ mất tích, đã có chồng con.

“Vừa rồi ông nói là bà nhà tính hay lo,” Helle nói. “Vậy bà ấy chịu mở cửa cho những ai? Và liệu có thể cho phép người nào vào nhà?”

Anh ta trông thấy hai bố con họ đưa mắt nhìn nhau.

“Con số đó không nhiều đâu,” ông bố khẳng định. “Chắc chắn phải là người quen.”

“Hoặc ai đó không khiến bà ấy cảm thấy bị đe dọa chăng,” Helle nói. “Trẻ con hoặc phụ nữ chẳng hạn?”

Andreas Kvale gật đầu.

“Mà cũng có thể là một người có lý do thỏa đáng để vào nhà. Ví dụ như nhân viên công ty điện lực đến ghi chỉ số côngtơ.”

Người chồng ngần ngừ giây lát. “Có thể.”

“Ông có phát hiện điều gì bất thường ở xung quanh nhà không?”

“Bất thường ư? Ý anh là sao?”

Helle cắn môi dưới. Lên dây cót tinh thần. “Thứ gì đó giống như… người tuyết ấy?”

Andreas Kvale nhìn con trai, cậu ta lắc đầu lia lịa với vẻ kinh hoảng.

“Tôi hỏi thế để loại bỏ chi tiết này khỏi cuộc điều tra thôi,” Helle nói lấy lệ.

Cậu con trai bỗng lẩm bẩm câu gì.

“Sao cơ?” Helle hỏi.

“Nó bảo giờ này tuyết tan hết rồi còn đâu.”

“Vâng, đúng vậy.” Helle nhét cuốn sổ vào túi áo khoác. “Tôi sẽ thông báo cho xe tuần tra qua radio. Nếu đến tối mà bà ấy vẫn chưa về thì chúng tôi sẽ tăng cường tìm kiếm. Chín mươi chín phần trăm người mất tích sẽ trở về trong khoảng thời gian đó. Đây là danh thiếp của tôi…”

Helle chợt cảm thấy Andreas Kvale chạm vào cánh tay mình.

“Có thứ này tôi muốn chỉ cho anh, thưa sĩ quan.”

Thomas Helle theo Kvale đi qua cửa ở cuối hành lang, leo cầu thang xuống tầng hầm. Họ bước vào một căn phòng có mùi xà phòng và quần áo đang phơi. Trong góc có một cái máy vắt cũ kỹ đặt cạnh máy giặt hiệu Electrolux đời cổ. Sàn gạch đổ dốc về phía phễu thoát nước ở giữa phòng. Sàn ướt nhẹp, trên tường cũng có nước, cứ như thể vừa được xối rửa sạch sẽ bằng cái vòi màu xanh ở đằng kia. Nhưng điều khiến Thomas Helle chú ý hơn cả không phải thứ đó, mà là một trang phục treo trên dây với hai chiếc kẹp quần áo ở hai vai. Hay đúng hơn là những gì còn lại của trang phục. Phần từ ngực trở xuống đã bị cắt bỏ. Đường cắt xiên xẹo, đen sì với những sợi cotton cháy sém, nhăn nhúm.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Jo Nesbø

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.