Người Tuyết

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 97 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ngày 2 Tháng Mười Một Năm 2004 - 2
Mắt Sỏi

❊ ❊ ❊

Harry Hole giật mình bừng mở mắt. Căn phòng rét căm và từ trong bóng tối vọng đến tiếng nói đã khiến anh thức giấc. Tiếng nói ấy thông báo rằng ngày hôm nay người dân Mỹ sẽ quyết định liệu cương vị tổng thống cho bốn năm tới đây có tiếp tục thuộc về George Walker Bush nữa hay không. Tháng Mười một. Harry nghĩ bọn họ chắc chắn bước vào thời kỳ đen tối rồi. Anh hất chăn ra và đặt chân xuống sàn. Lớp vải lót sàn lạnh tê tái. Anh để mặc cho chiếc radio đi kèm đồng hồ báo thức ra rả đọc tin và bước vào phòng tắm. Anh soi mình trong gương. Tháng Mười một cũng đang hiện diện ở đây: phờ phạc, xám xịt, u ám. Và vẫn như mọi khi, mắt anh đỏ ngầu, lỗ chân lông trên mũi chẳng khác gì những hố thiên thạch to tướng đen sì. Hai bọng bên dưới cặp mắt xanh đã nhạt, do uống rượu lâu năm, sẽ biến mất sau khi cái mặt anh được chăm chút bằng nước nóng, khăn tắm và bữa sáng. Đúng hơn là anh nghĩ thế. Harry không chắc mặt mình sẽ phơi ra kiểu gì trong suốt một ngày dài khi giờ đây anh đã bước sang tuổi bốn mươi. Liệu rằng những nếp nhăn có giãn ra và vẻ thanh thản có khỏa lấp đi nét hoảng hốt luôn hiện hữu khi anh thức dậy sau những đêm bị ác mộng giày vò. Mà những đêm như thế thì nhiều lắm. Anh luôn tránh soi gương kể từ lúc rời khỏi căn hộ nhỏ, khắc khổ trên phố Sofies để hóa thân thành thanh tra Harry Hole của Đội Hình sự thuộc Sở Cảnh sát Oslo. Thế rồi khi nhìn những gương mặt khác để tìm những nỗi đau, những gót chân Achilles, những cơn ác mộng, động cơ và lý do để dối gạt chính mình; lắng nghe bao lời dối trá nhàm chán thốt ra từ miệng họ và cố kiếm tìm một ý nghĩa nào đó trong công việc anh làm: bỏ tù những kẻ vốn đã tự giam hãm trong nhà tù của chính họ. Nhà tù của oán hận và khinh miệt bản thân mà anh có thể nhận ra quá ư dễ dàng. Anh đưa tay vuốt mái tóc vàng húi cua, khoảng cách từ đó cho đến lòng bàn chân đang tê cóng của anh bằng đúng 1m92. Xương quai xanh gồ lên dưới da hệt như móc treo áo. Kể từ khi phá xong vụ án lần trước anh đã luyện tập rất chăm. Đến mức điên cuồng, có người nhận xét thế. Ngoài đạp xe anh bắt đầu đẩy tạ trong phòng tập nằm ở tầng dưới cùng của Sở Cảnh sát. Anh thích các cơn đau buốt và những ý nghĩ bị áp chế. Dù sao đi nữa, anh trở nên gọn gàng hơn. Mỡ tiêu đi và cơ luồn dưới lớp da và xương. Dù trước đây anh sở hữu bờ vai rộng và theo lời Rakel thì đúng là một vận động viên bẩm sinh, giờ đây ở anh bắt đầu xuất hiện những nét tương đồng với chú gấu Bắc Cực bị lột da trong bức ảnh anh từng xem: một thú săn mồi vạm vỡ, nhưng thiếu sức sống khủng khiếp. Nói đơn giản, anh đang ngày một héo hon. Nhưng điều ấy cũng đâu có gì quan trọng. Harry thở dài. Tháng Mười một. Rồi đây sẽ còn đen tối hơn nữa.

Anh đi vào bếp, uống một ly nước nhằm làm dịu cơn đau đầu và ghé mắt nhìn qua cửa sổ rồi ngỡ ngàng. Nóc tòa nhà phía bên kia phố Sofies đã biến thành một màu trắng toát và ánh sáng phản xạ chói lóa khiến mắt anh nhức nhối. Đợt tuyết đầu mùa đã xuất hiện trong đêm. Anh chợt nghĩ đến lá thư nọ. Thỉnh thoảng anh cũng nhận được thư từ kiểu như vậy, nhưng lá thư ấy lại rất đặc biệt. Trong thư có nhắc đến Toowoomba.

Radio bắt đầu phát một chương trình về tự nhiên và một giọng đang hứng khởi giới thiệu về loài hải cẩu. “Hằng năm, cứ đến hè là hải cẩu Berhaus lại đổ về eo biển Bering để kết đôi. Do hải cẩu đực luôn chiếm số lượng áp đảo nên cuộc tranh giành bạn tình diễn ra khốc liệt đến nỗi, con đực nào may mắn giành được con cái đều phải kè kè bên cạnh bạn tình trong suốt mùa giao phối. Hải cẩu đực sẽ chăm sóc bạn tình cho đến khi con non chào đời và đủ khả năng tự lập. Chúng ở lại không phải vì yêu thương bạn tình, mà vì chúng yêu bộ gen và vật chất di truyền của bản thân. Học thuyết của Darwin cho rằng chọn lọc tự nhiên mới là yếu tố quyết định chế độ một vợ một chồng của loài hải cẩu Berhaus, chứ không phải đạo đức.”

Hay thật, Harry nghĩ thầm.

Sự phấn khích khiến giọng nói trên radio bỗng chuyển tông the thé. “Nhưng trước khi rời khỏi eo Bering để quay về biển tìm thức ăn, hải cẩu đực sẽ tìm cách giết chết hải cẩu cái. Tại sao? Nguyên nhân là do hải cẩu Berhaus cái không bao giờ giao phối hai lần với cùng một con đực! Đối với chúng, làm vậy là nhân rộng nguy cơ tiềm ẩn trong vật chất di truyền, điều tương tự cũng đúng với thị trường chứng khoán. Với hải cẩu cái, việc giao phối không trùng lặp là hoàn toàn hợp lý về mặt sinh học, và hải cẩu đực cũng nhận thức được điều đó. Nếu giết chết hải cẩu cái, hải cẩu đực có thể ngăn chặn con của những đối thủ khác giành mất thức ăn của con mình.

“Nhân nói đến học thuyết Darwin, tại sao con người chúng ta lại không có được tư duy như của loài hải cẩu nhỉ?

“Thực ra là có đấy! Xã hội loài người ngày nay cũng như trước đây không hề tuân thủ nghiêm ngặt chế độ một vợ một chồng như chúng ta vẫn tưởng. Một nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học Thụy Điển cho thấy, có từ mười lăm đến hai mươi phần trăm trẻ em ra đời không phải là con đẻ của bố chúng như chúng vẫn tưởng, nhưng cả hai bên đều không hay biết. Những hai mươi phần trăm! Tỷ lệ một trên năm! Những đứa trẻ phải sống trong sự lừa dối. Và đảm bảo cho sự đa dạng sinh học.”

Harry xoay núm dò radio để tìm kênh âm nhạc nào dễ nghe một chút. Anh dừng lại ở phiên bản Desperado cũ rích của giọng ca Johnny Cash.

Tiếng gõ cửa vang lên đanh gọn.

Harry vào phòng ngủ, mặc quần jean rồi trở ra sảnh và mở cửa.

“Harry Hole?” Bên ngoài là một người đàn ông mặc bộ đồ bảo hộ màu xanh, nhìn Harry qua cặp kính dày cui. Mắt anh ta sáng như mắt trẻ con.

Harry gật đầu.

“Anh có bị nấm không?” Người đàn ông hỏi câu này với vẻ mặt hoàn toàn nghiêm túc. Một vạt tóc lưa thưa vắt ngang trán và dính lại trên đó. Kẹp dưới cánh tay anh ta là một tập bìa hồ sơ bằng nhựa với tờ giấy in chữ chi chít.

Harry chờ đợi anh ta giải thích rõ hơn, nhưng người đó không nói gì thêm, vẫn giữ nguyên vẻ thành thực, cỏi mở ấy.

“Đúng ra mà nói thì,” Harry nói, “đó là chuyện riêng của tôi.”

Người đàn ông nở nụ cười như có như không để đáp lại trò đùa hẳn đã nghe đến phát chán. “Nấm ở trong nhà anh. Mốc ấy.”

“Tôi không có lý do gì để tin rằng nhà mình có thứ ấy,” Harry nói.

“Vấn đề của nấm mốc chính là ở chỗ đó. Hiếm khi có dấu hiệu rõ ràng cho thấy sự hiện diện của chúng.” Anh ta hít một hơi qua kẽ răng và nhún gót chân.

“Nhưng?” cuối cùng Harry đành hỏi.

“Nhưng có đấy.”

“Anh dựa vào cái gì mà dám khẳng định như vậy?”

“Hàng xóm nhà anh bị rồi.”

“Vậy hả? Thế là anh nghĩ chúng lây lan sang nhà tôi?”

“Nấm mốc không lây lan. Nhưng [1] thì có.”

“Thì sao…?”

“Hệ thống thông khí trong tường của tòa nhà bị lỗi kết cấu. Lỗi này khiến mục khô phát triển rất nhanh. Tôi có thể ngó qua bếp nhà anh được không?”

Harry đứng tránh sang một bên. Người đàn ông hăm hở đi vào bếp, vừa đến nơi, anh ta lập tức áp một thiết bị màu cam gần giống máy sấy tóc lên tường. Nó phát ra hai tiếng kin kít.

“Máy đo độ ẩm,” anh ta nói và chú mục đọc gì đó, hẳn là chỉ số của máy. “Tôi đoán không sai. Anh chắc chắn không trông thấy hoặc ngửi thấy mùi gì khác thường ư?”

Harry không rõ lắm cái sự khác thường mà anh ta nói tới có thể là gì.

“Như là một lớp phủ trên bề mặt bánh mì chua,” anh ta nói. “Hay mùi mốc meo chẳng hạn.”

Harry lắc đầu.

“Anh có bị đau mắt không? Thấy mệt? Đau đầu?”

Harry nhún vai. “Dĩ nhiên. Tôi bị từ lâu lắm rồi.”

“Ý anh có phải là từ khi sống tại đây?”

“Cũng có thể. Nhưng mà này…”

Người đàn ông không thèm nghe, anh ta rút một con dao giắt ở thắt lưng ra. Harry lùi lại, nhìn bàn tay cầm dao vung lên và thọc một cú thật lực. Âm thanh phát ra nghe như tiếng rên rỉ khi lưỡi dao xuyên qua lớp thạch cao phía sau bức tường. Anh ta rút dao ra và đâm thêm lần nữa, sau đó bẻ đi một miếng thạch cao đầy bột, để lại khoảng trống toang hoác trên tường. Tiếp đó, anh ta lấy ra chiếc đèn pin dạng bút nho nhỏ và chiếu vào trong khoảng trống. Hàng lông mày phía sau cặp kính quá khổ nhíu lại. Rồi anh ta chúi mũi vào sâu bên trong và hít ngửi.

“Phải rồi,” anh ta nói. “Chào tụi bây.”

“Chào ai cơ?” Harry hỏi và nhích tới gần.

“Aspergillus,” anh ta đáp. “Tên gọi của một chi nấm mốc. Trong chi này có đến ba, bốn trăm loài cho chúng ta tha hồ chọn, khó mà xác định được là loài nào vì chúng phát triển thành lớp quá mỏng, gần như vô hình trên bề mặt cứng này. Nhưng còn mùi thì không lẫn vào đâu được.”

“Vậy là có vấn đề phải không?” Harry hỏi, cố nhớ xem trong tài khoản ngân hàng của mình còn lại bao nhiêu sau khi hai bố con anh tổ chức chuyến tham quan Tây Ban Nha cho Sis, em gái anh, con bé mắc chứng bệnh mà nó tự gọi là hội chứng Down dạng nhẹ.

“Loại này không giống mục khô thật. Tòa nhà không dễ bị hạ gục,” anh ta nói. “Nhưng anh thì có đấy.”

“Tôi ư?”

“Nếu anh dễ bị ảnh hưởng. Một số người mắc bệnh vì hít thở không khí ở nơi có nấm mốc. Đau ốm liên miên, đi khám thì được bác sĩ kết luận mắc bệnh tưởng vì không tìm được nguyên nhân và người nhà thì vẫn khỏe như thường. Sau đó lũ nấm mốc ăn hết giấy dán tường và những tấm thạch cao trong nhà.”

“Ừm. Theo anh nên xử lý thế nào?”

“Dĩ nhiên là loại bỏ những phần nấm mốc rồi.”

“Vậy còn chi phí?”

“Đã có bảo hiểm tòa nhà lo, nên anh chẳng mất xu nào. Tôi chỉ cần anh cho phép lui tới căn hộ trong vài ngày.”

Harry tìm bộ chìa khóa dự phòng trong ngăn kéo tủ bếp và đưa cho anh ta.

“Sẽ chỉ có mình tôi làm thôi,” anh ta nói. “Thiết nghĩ cũng nên báo với anh như vậy. Gần đây xảy ra nhiều chuyện lạ lùng lắm.”

“Vậy ư?” Harry mỉm cười buồn bã, dõi mắt nhìn ra ngoài cửa sổ.

“Hả?”

“Không có gì,” Harry nói. “Dù sao ở đây cũng chẳng có gì mà lấy. Thôi tôi đi đây.”

Vầng mặt trời buổi sáng lấp lánh trên những ô kính của trụ sở cảnh sát Oslo, vốn ngự trị ở đây suốt ba mươi năm, trên đỉnh của một con dốc bên cạnh phố chính Grønlandsleiret. Dù không hoàn toàn có chủ đích khi xây dựng nhưng trụ sở lại được đặt gần những khu vực có tỷ lệ tội phạm ở mức cao tại phía Đông Oslo, còn trại giam, nằm trên khu đất của nhà máy bia cũ, là hàng xóm gần nhất. Bao quanh Sở là một bãi cỏ nâu, héo úa cùng những hàng cây thích và cây đoan chỉ sau một đêm đã khoác lên mình lớp tuyết mỏng màu trắng xám, vạn vật trong công viên trông như những món đồ phủ khăn trắng của ai đó đã qua đời.

Harry sải bước trên con đường trải nhựa đen để tới cổng chính và đi vào sảnh trung tâm, nơi bức tường với những hình trang trí bằng sứ của [2] cùng dòng nước chảy thì thầm những bí mật muôn đời. Anh gật đầu chào bảo vệ ở quầy lễ tân và lên Đội Hình sự ở tầng sáu. Đã sáu tháng trôi qua kể từ khi anh được cấp văn phòng mới ở vùng đỏ, thế nhưng thỉnh thoảng Harry vẫn về nhầm căn phòng chật chội, không có cửa sổ nơi anh từng làm việc cùng Jack Halvorsen. Giờ ngồi trong đó là Magnus Skarre. Còn Jack Halvorsen thì đã yên giấc ngàn thu tại nghĩa trang Vestre Aker. Ban đầu bố mẹ Jack muốn đem con trai về chôn cất ở quê nhà Steinkjer, vì Jack và Beate Lønn, sếp của Krimteknisk, Phòng Giám định Pháp y, chưa kết hôn, thậm chí còn chưa dọn về chung sống. Nhưng khi hay tin Beate mang thai và con của Jack sẽ chào đời vào mùa hè, bố mẹ anh đồng ý an táng con trai tại Oslo.

Harry bước vào văn phòng mới. Nơi này sẽ mãi được biết đến theo cách đó, y như sân nhà năm mươi năm tuổi của câu lạc bộ bóng đá Barcelona đến nay vẫn được gọi là Camp Nou, theo tiếng Catalan nghĩa là sân vận động mới. Anh thả người xuống ghế, bật radio lên và gật đầu chào buổi sáng với những khung ảnh đặt trên giá sách, dựa vào tường. Một ngày nào đó trong tương lai xa vời, nếu anh chịu nhớ ra và mua móc treo thì chúng sẽ có cơ hội ngự trị trên tường. Ellen Gjelten, Jack Halvorsen và Bjarne Møller. Lần lượt xếp theo trình tự thời gian. Hội Cảnh sát Quá cố.

Radio đang phát chương trình bình luận về cuộc bầu cử tổng thống Mỹ dưới góc nhìn của các chính trị gia và các nhà xã hội học Na Uy. Harry nhận ra giọng Arve Støp, ông chủ tạp chí Liberal ăn nên làm ra, được tiếng là một trong những tay có quan điểm thông tuệ nhất, ngạo mạn nhất và mua vui tốt nhất xứ này. Harry tăng âm lượng lên cho tới khi những tiếng nói vang vọng khắp bốn bức tường gạch, rồi vớ lấy chiếc còng số 8 hiệu Peerless đặt trên bàn làm việc mới. Anh thường luyện tập kỹ năng còng nhanh với một bên chân bàn mà giờ đã trở nên trầy trụa, sứt mẻ do thói quen xấu anh học được trong khóa huấn luyện của FBI tại Chicago và đem ra thực hành vào những buổi tối thui thủi một mình trong căn hộ tồi tàn ở khu Cabrini Green, giữa những tiếng cãi cọ nhà hàng xóm và chỉ có chai rượu Jim Beam bầu bạn. Mục tiêu là phải đập còng vào cổ tay kẻ bị bắt sao cho phần còng có lò xo khép lại quanh cổ tay đối tượng và khóa nghe đánh tách vào phía bên kia. Nếu đủ lực và chuẩn xác thì chỉ bằng một động tác đơn giản ta có thể còng tay mình với tay đối tượng khi hắn còn chưa kịp phản ứng. Harry chưa từng phải dùng đến chiếc còng và mới áp dụng đúng một lần một kiến thức khác học được ở Mỹ: làm thế nào để tóm cổ những tên sát nhân hàng loạt. Chiếc còng số 8 khóa lại quanh chân bàn và tiếng nói trên radio vẫn vang lên đều đều.

“Vì sao người dân Na Uy lại tỏ ra hoài nghi George Bush đến như vậy, thưa ông Arve Støp?”

“Vì Na Uy là đất nước được bao bọc quá đáng, chưa bao giờ tham gia cuộc chiến tranh nào. Chúng ta cứ vô tư nhường nhiệm vụ ấy cho những quốc gia khác: Anh, Liên Xô và Mỹ. Vâng, kể từ khi các cuộc chiến tranh Napoleon nổ ra, ta chỉ biết núp sau lưng các nước đàn anh. An ninh của Na Uy được tạo dựng trên cơ sở để cho những quốc gia khác gánh vác trách nhiệm khi có biến cố. Tình trạng này diễn ra trong thời gian quá dài nên chúng ta đã đánh mất khả năng nhìn nhận và đánh giá thực tế, ta tin rằng ngự trị trên trái đất này là những dân tộc hòa hảo luôn dành cho chúng ta - quốc gia giàu có nhất thế giới - chỉ toàn thiện ý. Na Uy chẳng khác nào cô nàng tóc vàng hoe lắm mồm, não ngắn lạc lối trong một ngõ hẻm ở khu Bronx và phẫn nộ trước cách hành xử quá bạo lực của anh chàng vệ sĩ đối với những tên cướp giật.”

Harry quay số của Rakel. Ngoài Sis ra thì Rakel là người duy nhất anh nhớ số điện thoại. Hồi còn trẻ người non dạ, anh tưởng trí nhớ tồi là điểm yếu đối với một điều tra viên. Giờ thì anh khôn ra rồi.

“Vậy tay vệ sĩ là ám chỉ Bush và nước Mỹ?” người dẫn chương trình hỏi.

“Đúng vậy. Lyndon B. Johnson từng nói rằng nước Mỹ không lựa chọn nghĩa vụ ấy cho mình, nhưng ông ta nhận ra chẳng còn ai cả, và ông ta nói rất đúng. Anh chàng vệ sĩ của chúng ta là một tín đồ Cơ đốc tái sinh, mắc [3], nát rượu, trí lực hữu hạn và không đủ bản lĩnh để hoàn thành nghĩa vụ quân sự một cách vẻ vang. Nói tóm lại, chúng ta nên vui mừng khi một kẻ như vậy sắp tái đắc cử tổng thống ngày hôm nay.”

“Hẳn là ông có ý mỉa mai?”

“Không hề. Một vị tổng thống nhu nhược như thế sẽ chỉ biết dựa vào đội ngũ cố vấn, mà tin tôi đi, Nhà Trắng lại sở hữu những tay giỏi nhất. Chương trình truyền hình đáng nực cười về Phòng Bầu dục có thể tạo ấn tượng sai lầm rằng tình báo là lĩnh vực độc quyền của phe Dân chủ, trong khi thực tế hoàn toàn ngược lại, phe cực hữu của đảng Cộng hòa mới là nơi sở hữu nhiều bộ óc sắc bén nhất. An ninh của Na Uy đang được gửi gắm vào tay những con người tài năng nhất.”

“Bạn gái của bạn gái ông đã lên giường với ông đấy.”

“Thật sao?” Harry hỏi.

“Không phải anh,” Rakel nói. “Em đang nói với người khác kia. Tay Støp ấy.”

“Xin lỗi nhé,” Harry nói, vặn nhỏ radio xuống.

“Sau bài thuyết giảng ở Trondheim. Ông ta mời cô ả lên phòng mình. Cô nàng tỏ ra hứng thú, nhưng rồi lại khiến ông ta băn khoăn vì cô ta mới phẫu thuật cắt bỏ bầu vú. Ông ta bảo sẽ suy nghĩ thêm, sau đó đi ra quầy bar. Cuối cùng ông ta quay lại và đưa cô ta đi cùng.”

“Ừm. Hy vọng hai bên đều được thỏa nguyện.”

“Chẳng gì có thể làm người ta thỏa nguyện được.”

“Ừ,” Harry đáp, thầm hỏi không hiểu họ đang nói gì.

“Tối nay thế nào đây?” Rakel hỏi.

“Gặp nhau ở Palace Grill lúc tám giờ ổn đấy. Nhưng còn mấy tin đồn nhảm về chuyện không thể đặt chỗ trước ở đó thì sao?”

“Chắc họ bịa ra thế cho ra vẻ sang chảnh ấy mà.”

Họ thống nhất gặp nhau ở quầy bar trước. Sau khi cúp máy, Harry ngồi nghĩ suy. Giọng cô có vẻ hài lòng. Hoặc vui tươi. Vui tươi và hoan hỉ. Anh cố gắng cảm nhận xem mình có thành công trong việc vui mừng thay cho cô không, vui khi người phụ nữ anh yêu vô cùng đang hạnh phúc bên người đàn ông khác. Rakel và anh đã ở bên nhau, anh cũng được cho nhiều cơ hội. Anh đã bỏ lỡ. Vậy thì sao không vui lên khi cô vẫn sống tốt, sao không thể buông bỏ ý nghĩ mọi chuyện giữa hai người lẽ ra có thể đã khác và tiếp tục sống cuộc sống của anh? Anh thầm hứa sẽ cố gắng thêm một chút nữa.

Cuộc họp buổi sáng nhanh chóng kết thúc. Với vai trò là sếp Đội Hình sự, Politioverbetjent - gọi tắt là FOB - Gunnar Hagen nói sơ qua tình hình những vụ án đang theo. Con số đó không nhiều vì tạm thời không có vụ án mới nào đang trong quá trình điều tra, mà án mạng là điều duy nhất có thể khiến cả đội chạy ngược chạy xuôi. Thomas Helle, sĩ quan thuộc Ban Tìm kiếm Người Mất tích của đơn vị cảnh sát mặc đồng phục, cũng có mặt và trình bày báo cáo về vụ một phụ nữ mất tích ngay tại nhà cách đây một năm. Không có dấu vết bạo lực, dấu vết kẻ đột nhập và dấu vết người phụ nữ này. Cô ta là nội trợ và được trông thấy lần cuối ở nhà trẻ nơi cô ta đưa con trai và con gái đến gửi vào buổi sáng. Chồng và những người quen của cô ta đều có chứng cứ ngoại phạm và được xác định là vô can. Mọi người đều nhất trí rằng Đội Hình sự nên điều tra sâu hơn vụ này.

Magnus Skarre chuyển lời hỏi thăm của Ståle Aune, chuyên gia tâm lý thuộc Đội Hình sự, hiện đang được điều trị tại Bệnh viện Đại học Ullevål mà Skarre mới ghé thăm. Harry bỗng cảm thấy lương tâm cắn rứt. Ståle Aune không chỉ là cố vấn giúp đỡ anh trong những vụ trọng án mà ông còn là nguồn động viên tinh thần của anh trong cuộc chiến chống lại con ma men, người duy nhất anh có thể coi là thân tín. Đã hơn một tuần trôi qua kể từ khi Aune phải nhập viện với chẩn đoán không mấy rõ ràng, nhưng Harry vẫn chưa thể chiến thắng được nỗi e ngại khi phải đặt chân đến bệnh viện. Mai mình sẽ đi, anh thầm nghĩ. Hoặc là thứ Năm.

“Một sĩ quan mới sẽ gia nhập đội ngũ của chúng ta,” Gunnar Hagen thông báo. “Katrine Bratt.”

Một phụ nữ trẻ ngồi ở hàng ghế đầu đứng dậy mà chẳng đợi mời, nhưng cô không nở nụ cười. Một phụ nữ rất quyến rũ. Quyến rũ dù không cần cố gắng nhiều, Harry thầm nghĩ. Mái tóc mỏng gần như thưa thớt buồn tẻ rủ xuống hai bên khuôn mặt thanh tú với nước da trắng, mang nét trang nghiêm và mệt mỏi Harry thường thấy ở những phụ nữ sắc nước hương trời khác, những người đã quá quen với ánh nhìn của thiên hạ đến nỗi chẳng còn cảm thấy thích thú hay khó chịu gì nữa. Katrine Bratt mặc bộ vét màu xanh dương tôn lên nét nữ tính, nhưng đôi tất da chân dày màu đen lấp ló dưới gấu váy và đôi bốt đông hữu dụng đã đánh tan mọi nỗi nghi ngờ nếu có rằng cô đang cố ý thể hiện. Cô quét ánh mắt quanh phòng một lượt, như thể cô đứng lên để được nhìn thấy họ chứ không phải ngược lại. Harry đoán cô đã chọn trước bộ vét này và sắp xếp cả màn ra mắt nho nhỏ ở Sở Cảnh sát.

“Katrine đã có bốn năm công tác tại Sở Cảnh sát Bergen, chủ yếu xử lý những vụ quấy rối nơi công cộng, nhưng cô cũng tham gia Đội Hình sự trong thời gian ngắn,” Hagen nói tiếp, cúi xuống đọc tờ giấy Harry đoán là sơ yếu lý lịch của cô. “Lấy bằng luật của Đại học Bergen năm 1999, theo học tại Học viện Cảnh sát, và giờ cô được phân về đây. Hiện chưa có con, nhưng đã kết hôn.”

Một bên chân mày thanh mảnh của Katrine Bratt nhướn lên rất khẽ, và Hagen hoặc là trông thấy điều ấy hoặc nhận ra rằng mẩu thông tin cuối cùng đó chẳng liên quan, nên ông ta thêm vào, “Dành cho những ai quan tâm…”

Trong khoảng lặng khó xử cho thấy rõ ý tứ của mọi người, Hagen dường như nghĩ rằng mình vừa khiến tình hình thêm tồi tệ; ông ta ho hai tiếng rõ to và nói rằng ai chưa đăng ký tham gia tiệc Giáng sinh thì hãy ghi danh trước thứ Tư tới.

Trong phòng vang lên tiếng xô ghế, Harry vừa ra đến hành lang thì nghe thấy một giọng nói cất lên từ phía sau.

“Rõ ràng tôi thuộc về anh rồi.”

Harry quay người lại, nhìn vào gương mặt của Katrine Bratt. Tự hỏi cô sẽ còn quyến rũ đến đâu nếu chịu chăm chút hơn nữa.

“Hoặc anh thuộc về tôi,” cô nói, khoe hàm răng đều tăm tắp nhưng không để nụ cười lan tỏa trong ánh mắt. “Tùy theo cách anh nhìn nhận.” Cô nói giọng Na Uy chuẩn pha chút âm vùng Bergen với chữ r rung nhẹ, dựa vào đó Harry đồ rằng cô sống ở Fana, Kalfaret hoặc khu vực nào đó chỉ toàn tầng lớp trung lưu.

Anh lại đi tiếp, cô vội vã sải bước để bắt kịp anh. “Xem ra Politioverbetjent đã quên báo cho anh rồi.”

Cô thốt ra từ Politioverbetjent với một chút nhấn nhá ở tất cả các âm tiết trong chức danh của Gunnar Hagen.

“Nhưng anh cũng nên đưa tôi đi tham quan một vòng và tận tình chỉ bảo cho tôi trong mấy ngày tới đây. Cho tới khi tôi vào guồng. Anh nghĩ anh có làm được vậy không?”

Nụ cười nhạt dần trên môi Harry. Tính đến giờ phút này thì anh khá mến cô, nhưng dĩ nhiên anh hoàn toàn có thể thay đổi ý kiến. Harry luôn sẵn lòng ban cho người khác cơ hội thứ hai để được lọt vào danh sách đen của anh.

“Tôi không biết nữa,” anh nói, dừng lại bên máy pha cà phê. “Bắt đầu với thứ này nhé.”

“Tôi không uống cà phê.”

“Cũng chẳng sao. Cơ chế máy không cần giải thích. Như mọi thứ ở đây. Cô nghĩ sao về vụ mất tích của người phụ nữ đó?”

Harry nhấn nút chọn cà phê Americano, và với cái máy này thì cà phê kiểu Mỹ cũng chẳng khác gì loại cà phê trên phà ở Na Uy.

“Ý anh là gì?”

“Cô nghĩ cô ta có còn sống không?” Harry cố gắng hỏi với thái độ bình thản để cô không nhận ra đây là màn thử thách anh dành cho cô.

“Anh nghĩ tôi ngu chắc?” cô nói và chăm chú nhìn cái máy khục khặc vài lần rồi phun thứ nước đen ngòm vào chiếc cốc nhựa màu trắng, gương mặt cô lộ rõ vẻ khinh miệt không cần giàu giếm. “Anh không nghe Politioverbetjent nói rằng tôi từng có bốn năm làm việc ở Ban Điều tra Tội phạm tình dục ư?”

“Hừm,” Harry nói. “Vậy là chết?”

“Chết ngắc,” Katrine Bratt đáp.

Harry cầm lấy chiếc cốc trắng. Anh trầm ngâm nghĩ lẽ nào mình vừa tìm được một đồng nghiệp có tiềm năng đáng để coi trọng.

Chiều đi bộ về nhà, Harry thấy đã sạch tuyết trên đường và vỉa hè, những bông tuyết mong manh yếu ớt xoay tròn trong không trung vừa rơi xuống đã bị mặt đường ướt nhẹp nuốt trọn. Anh ghé vào cửa hàng băng đĩa nhạc quen trên phố Akersgata và mua CD mới nhất của Neil Young, dẫu anh ngờ rằng CD này chắc dở òm.

Khi mở cửa căn hộ, Harry chợt phát hiện có điều gì đó khang khác. Hình như là có tiếng động. Hoặc mùi lạ. Vừa bước tới cửa phòng bếp, anh lập tức khựng lại. Cả một mặt tường nhà đã biến mất. Sáng sớm nay ở đó vẫn còn tấm thạch cao và giấy dán tường họa tiết hoa tươi tắn, nhưng giờ anh chỉ thấy những viên gạch đỏ quạch màu sắt gỉ với lớp vữa xám và khung gỗ vàng nhợt lỗ chỗ vết đinh. Trên sàn là hộp dụng cụ của người xử lý nấm mốc, còn trên mặt bàn bếp có tờ giấy ghi lời nhắn hôm sau anh ta sẽ quay lại làm tiếp.

Harry bước vào phòng khách, đẩy CD Neil Young vào đầu đĩa, mười lăm phút sau anh lại ỉu xìu lấy ra để thay bằng đĩa của Ryan Adams. Ý nghĩ muốn uống một ly không biết từ đâu xuất hiện. Harry nhắm mắt lại, chú mục vào những đốm đỏ nhảy nhót và tấm màn đen kịt trước mắt. Anh lại nhớ đến lá thư ấy. Tuyết đầu mùa. Toowoomba.

Tiếng chuông điện thoại reo vang cắt ngang giai điệu Shakedown on 9th Street của Ryan Adams.

Một phụ nữ tự giới thiệu mình là Oda, gọi điện đến từ chương trình Bosse và nói cô ta rất vui khi được gặp lại anh. Harry không nhớ ra người này, nhưng nhớ chương trình truyền hình kia. Họ có mời anh đến nói chuyện về đề tài sát nhân hàng loạt, vì anh là sĩ quan cảnh sát Na Uy duy nhất được huấn luyện cùng FBI, hơn nữa anh cũng đã đích thân truy lùng một tên sát nhân hàng loạt thật sự. Harry dại dột đến nỗi đi nhận lời mời của họ. Anh tự nhủ mình lên đó chỉ để truyền tải một vài thông điệp quan trọng và tương đối hạn hẹp về những kẻ sát nhân, chứ không phải để được xuất hiện trên chương trình đối thoại đình đám nhất cả nước. Giờ nghĩ lại, anh không chắc lắm về lý do ấy. Nhưng đây chưa phải điều tồi tệ nhất. Tệ hại nhất là việc anh uống rượu trước khi lên sóng. Harry đinh ninh rằng mình chỉ uống có mỗi một ly. Nhưng khi lên hình trông anh cứ như đã nốc đến năm ly. Cách nói của anh vẫn rõ ràng, lúc nào cũng thế. Có điều, hai mắt anh đờ đẫn, phân tích thì dài dòng và chẳng đi đến kết luận nào, vậy là người dẫn chương trình buộc phải giới thiệu một khách mời khác, người mới giành chức quán quân cuộc thi cắm hoa châu Âu. Harry ngồi đó không nói nửa lời, nhưng ngôn ngữ cơ thể cho thấy quá rõ anh nghĩ gì về cuộc tranh luận hoa cỏ này. Khi người dẫn chương trình, với nụ cười kín đáo, hỏi anh một điều tra viên trọng án hiểu gì về nghệ thuật cắm hoa, Harry đáp rằng những vòng hoa tang của Na Uy chắc chắn vẫn thuộc đẳng cấp cao trên thế giới. Có lẽ chính thái độ tưng tửng, hơi ngờ nghệch của Harry đã lấy được tiếng cười của khán giả trong trường quay và những cái vỗ vai khoái trá từ các nhân viên nhà đài sau khi chương trình kết thúc. Họ nói anh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Anh cùng một nhóm nhân viên kéo nhau đến nhà hàng nằm ở tầng trệt của phòng tranh Kunstnernes Hus, mặc sức ăn uống để rồi hôm sau anh thức dậy, từng tế bào trong cơ thể gào thét, đòi nạp thêm rượu. Hôm ấy là thứ Sáu và anh uống suốt mấy ngày cuối tuần. Anh ngồi ở quán Schroder gào lên gọi bia khi quán nháy đèn nhắc khách đã đến giờ ra về, cô phục vụ Rita phải đến tận bàn nói với Harry rằng sau này anh sẽ bị cấm cửa ở đây nếu không chịu về, tốt hơn hết là về giường. Đúng tám giờ sáng thứ Hai Harry có mặt tại Sở. Anh chẳng đóng góp được điều gì hữu ích cho đội, nôn thốc nôn tháo ở chậu rửa sau cuộc họp buổi sáng, bám gí lấy chiếc ghế trong văn phòng, uống cà phê, hút thuốc rồi lại nôn tiếp, có điều lần này là ở trong nhà vệ sinh. Và đó là lần cuối cùng anh chịu khuất phục trước rượu bia; kể từ ngày ấy đến nay, anh không hề động đến một giọt nào.

Bây giờ họ lại muốn mời anh lên sóng.

Người phụ nữ đó nói rằng chương trình sắp tới sẽ xoay quanh đề tài chủ nghĩa khủng bố ở các nước Ả Rập và điều gì đã khiến nhiều trí thức trung lưu trở thành những cỗ máy giết chóc. Harry vội ngắt lời trước khi cô ta kịp nói hết.

“Không.”

“Nhưng chúng tôi rất muốn anh tham dự. Anh rất… rất… có phong cách rock ‘n’ roll!” Cô ta bật cười, sự nhiệt tình trong đó là thật hay giả thì Harry không rõ, có điều, giờ anh nhận ra giọng nói này rồi. Cô ta cũng có mặt ở Kunstnernes Hus tối hôm đó. Trông cô ta ưa nhìn nhưng theo kiểu nhàm chán và non nớt, cách nói chuyện cũng nhàm chán, non nớt như thế. Cô ta nhìn Harry bằng ánh mắt thèm thuồng như thể anh là món ăn xứ lạ cô ta đang cân nhắc nếm thử; có thật là anh khác lạ lắm không?

“Mời người khác đi,” Harry nói rồi cúp máy. Sau đó, anh nhắm mắt lại và nghe Ryan Adams băn khoăn tự vấn, Ôi, người yêu dấu, tại sao anh lại nhớ em đến nhường này?

Cậu bé ngẩng lên nhìn người đàn ông đứng cạnh mình ở bàn bếp. Ánh sáng từ ngoài vườn tuyết phủ trắng hắt lên làn da nhẵn nhụi không có lấy một sợi tóc quanh hộp sọ to tướng của ông bố. Mẹ từng nói đầu bố to như vậy vì bố là bộ não khủng. Thằng bé từng hỏi sao mẹ lại nói bố là bộ não khủng chứ không phải bố có não, mẹ phì cười vuốt trán nó và bảo rằng các giáo sư vật lý đều như vậy cả. Lúc này đây, bộ não ấy đang đứng rửa khoai tây dưới vòi nước rồi thả vào nồi.

“Bố không gọt vỏ trước khi nấu ạ? Mẹ toàn…”

“Giờ mẹ không có nhà, Jonas ạ. Thế nên ta sẽ làm theo cách của bố.”

Người bố không hề lớn tiếng nhưng giọng nói của ông vẫn ẩn chứa sự bực bội khiến Jonas rùng mình. Nó chẳng bao giờ hiểu được vì sao bố lại hay giận đến thế. Hoặc, đôi lúc thậm chí nó cũng không biết có phải bố đang cáu hay không, cho tới khi thằng bé trông thấy khuôn mặt người mẹ với khóe miệng xịu xuống đầy lo lắng, dường như điều đó càng làm bố nó thêm tức tối. Nó thầm cầu mong mẹ sớm về.

“Nhà mình không dùng mấy đía này đâu bố!”

Ông bố đóng sầm cửa tủ bếp, Jonas lo lắng cắn môi dưới. Ông cúi xuống sát mặt thằng bé. Cặp kính vuông mỏng manh sáng lên lấp lánh.

“Là ‘đĩa’, không phải ‘đía’,” ông nói. “Bố phải nhắc con bao nhiêu lần nữa hả Jonas?”

“Nhưng mẹ vẫn bảo…”

“Mẹ nói không đúng. Con có hiểu không hả? Ở nơi mẹ từng sống, trong gia đình mẹ lớn lên, người ta không coi trọng cách ăn nói.” Hơi thở của ông có mùi mằn mặn như tảo thối vậy.

Cửa chính bất ngờ đóng sầm lại.

“Chào cả nhà,” tiếng mẹ vọng đến từ ngoài hành lang.

Jonas định chạy ra đón mẹ nhưng bị bố tóm lấy vai giữ lại và chỉ vào chiếc bàn ăn vẫn chưa có bát đĩa gì.

“Con trai mẹ ngoan quá!”

Jonas cảm nhận được nụ cười trong giọng nói đứt hơi của mẹ khi bà đứng ở ngưỡng cửa phòng bếp phía sau nó trong khi nó cuống cuồng bày biện cốc tách và dao dĩa.

“Hai bố con đắp được người tuyết to ghê!”

Jonas ngạc nhiên quay lại, nhìn mẹ đang cởi áo khoác. Trông mẹ mới đẹp làm sao. Làn da sẫm màu, mái tóc sẫm màu, giống y hệt nó, và ánh mắt mẹ gần như lúc nào cũng xiết bao dịu dàng. Gần như thế. Giờ mẹ không còn thon thả như trong mấy tấm hình hồi mẹ và bố lấy nhau, nhưng nó vẫn nhận thấy ánh mắt những người đàn ông khác nhìn mẹ mỗi khi hai mẹ con cùng nhau dạo phố.

“Bố con con có đắp người tuyết nào đâu ạ,” Jonas nói.

“Không ư?” Mẹ nhíu mày trong lúc cởi chiếc khăn quàng màu hồng to sụ, món quà Jonas tặng bà dịp Giáng sinh.

Bố bước tới bên cửa sổ. “Chắc là bọn trẻ con nhà hàng xóm đấy,” ông nói.

Jonas trèo lên một chiếc ghế trong bếp và nhìn ra ngoài. Quả nhiên, trên bãi cỏ trước nhà có một người tuyết. Mẹ nói đúng, người tuyết to thật. Cặp mắt và cái miệng làm từ ba viên sỏi, còn mũi là củ cà rốt. Người tuyết không đội mũ, cũng chẳng quàng khăn, chỉ còn độc một cánh tay là nhánh cây gầy guộc Jonas đoán ai đó đã bẻ ở bờ giậu rồi gắn lên. Thế nhưng người tuyết này có gì đó là lạ. Nó bị đặt sai hướng mất rồi. Jonas không hiểu lắm, chỉ nghĩ đơn giản rằng người tuyết thì phải quay mặt ra đường, hướng về phía không gian mở mới đúng.

“Tại sao…” Thằng bé vừa lên tiếng thì bị bố cắt ngang.

“Để anh sang đó nói chuyện với họ.”

“Sao phải thế hả anh?” Giọng mẹ vọng vào từ hành lang, Jonas nghe thấy tiếng bà kéo khóa, cởi đôi bốt da màu đen cao cổ. “Có gì to tát đâu nào.”

“Anh không muốn cái ngữ ấy loanh quanh trên đất nhà mình. Khi nào về anh sẽ xử lý.”

“Sao người tuyết lại không nhìn ra đường ạ?” Jonas hỏi.

Ngoài hành lang, mẹ nó thở dài. “Bao giờ anh về?”

“Trong ngày mai.”

“Mấy giờ?”

“Sao? Có hẹn với ai à?” Giọng nói có chút bông đùa của bố khiến Jonas rùng mình.

“Em hỏi để chuẩn bị cơm nước thôi,” mẹ đáp và bước vào phòng, tới bên chiếc bếp, ngó qua mấy cái chảo rồi tăng nhiệt độ hai bếp đơn lên.

“Cứ nấu đi,” bố nói, quay sang xấp báo đặt trên mặt bàn bếp. “Rồi anh sẽ về.”

“Vâng.” Mẹ bước lại gần và vòng tay ôm bố từ phía sau. “Nhưng tối nay anh nhất định phải đến Bergen hay sao?”

“Anh có tiết dạy lúc tám giờ sáng,” bố nói. “Sau khi máy bay hạ cánh, còn phải đi cả tiếng mới tới trường đại học, nên nếu anh bay chuyến sớm nhất ngày mai thì không kịp.”

Nhìn những bó cơ trên cổ bố, Jonas biết rằng ông đang cảm thấy thoải mái, và một lần nữa mẹ nó lại khôn khéo biết lựa đúng lời để nói.

“Sao người tuyết lại nhìn về phía nhà mình ạ?” Jonas hỏi.

“Ra rửa tay đi con,” mẹ nó giục.

Cả nhà lặng lẽ ăn tối, sự im lặng chỉ bị phá vỡ nhờ mấy câu hỏi lấy lệ xoay quanh việc học hành và những lời đáp chung chung, đại khái của thằng bé. Jonas biết rằng trả lời chi tiết chỉ tổ khơi lên những câu hỏi khó từ phía ông bố, chuyện bọn trẻ được học hoặc không học môn gì ở cái trường chẳng ra hồn ấy. Hoặc là những lời chất vấn trút xuống như mưa khi Jonas nhắc đến người bạn cùng chơi nào đó, bố nó sẽ hỏi cha mẹ cậu ta làm nghề gì, quê quán ở đâu. Toàn nhũng câu Jonas không có cách nào trả lời khiến ông hài lòng.

Khi đã lên giường nằm, Jonas nghe thấy bố chào tạm biệt mẹ ở dưới nhà, cửa đóng lại và tiếng ô tô khởi động ngoài đường rồi đi xa dần. Một lần nữa trong nhà chỉ còn mỗi hai mẹ con. Mẹ nó bật ti vi lên xem. Jonas nghĩ đến một điều mẹ từng hỏi. Vì sao nó hầu như không rủ các bạn về nhà chơi nữa. Thằng bé không biết phải trả lời ra sao, nó không muốn làm mẹ buồn. Thế nhưng giờ đây người buồn lại là nó. Jonas cắn phần bên trong má, một cảm giác vừa dễ chịu vừa đau đớn truyền đến hai tai, nó đăm đăm nhìn những ống kim loại của chiếc chuông gió treo trên trần nhà. Nó rời khỏi giường rồi lê chân đến bên cửa sổ.

Chút ánh sáng phản xạ trên lớp tuyết trong vườn cũng đủ để Jonas nhác thấy người tuyết dưới kia. Trông nó cô độc quá. Ai đó đáng lẽ phải đội mũ với quàng khăn cho nó chứ. Hay là cắm thêm cán chổi cho nó cầm chẳng hạn. Đúng lúc ấy vầng trăng ló ra từ phía sau đám mây. Đập vào mắt nó là một hàm răng đen ngòm. Và cặp mắt kia nữa. Theo phản xạ, Jonas hít mạnh một hơi và lùi về sau hai bước. Cặp mắt sỏi lóe sáng. Chúng không hướng vào trong nhà mà đang ngước lên. Nhìn lên phía trên này. Jonas kéo rèm lại và rón rén quay về giường.

❀ ❀ ❀

[1] Mục khô là hiện tượng mục gỗ hay loại nấm làm mục gỗ tấn công thành phần xenlulô của gỗ, làm cho gỗ trở nên sẫm màu và bở vụn ra.

[2] Kari Margrethe Christensen (1938-1997): nghệ nhân gốm sứ nổi tiếng của Na Uy.

[3] Phức cảm người cha trong tâm lý học là một loại phức cảm trong đó người bệnh dành cho cha mình những tình cảm thái quá theo hướng tích cực (ngưỡng mộ, thần tượng…) hoặc tiêu cực (căm ghét, nghi kỵ…).

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Jo Nesbø

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.