Hôm nay là ngày 25, theo thư của chị Thơm gửi thì chị sẽ nghỉ phép và đi chuyến tàu chợ, 9 giờ sáng sẽ đến ga Đồng Quang. Sáng nay, chị Thơm sẽ lên thăm tôi và thằng Bình. Gọi là tôi đi đón chị Thơm thì không đúng bởi đi đón chị Thơm hôm nay có cả thằng Vện. Nhà thằng Vện có xe đạp. Không biết chiếc xe ấy sản xuất năm nào. Nếu tả nó thì không có một ông nhà văn nào tả nổi cái sự cũ kĩ của nó! Chiếc xe long sơn lòi sắt, gỉ ngoèn gỉ ngoẹt. Chắn bùn, chắn xích mất từ bao giờ không rõ? Cũng may xe vẫn còn chạy được và có cái đèo hàng. Nếu không, tôi không biết mình sẽ ngồi chỗ nào? Nó còn chịu tải những hai người nữa chứ! Tôi tính đi một mình, nhưng đường sá chưa biết, vả lại nhỡ có thằng nào trêu chọc hoặc bắt nạt, có thằng Vện đi cùng tôi yên tâm hơn. Lẽ tất nhiên lúc về tôi và chị Thơm sẽ đi xe ngựa như hôm tôi đến đây.
Xe thằng Vện cứ đi một đoạn lại tuột xích. Nó bảo cả nhà nó chỉ một mình nó biết đi xe đạp. Còn mọi người thì đi xe quệt. Tôi cười, nó ngơ ngác. Tôi biết nó nói thật nhưng vẫn buồn cười. Xe quệt trâu hay bò kéo là phương tiện giao thông chính của thôn này. Kể cũng hay, lên núi, vào rừng, xuống đồng… (Đi trên đường nhựa tôi có thấy đâu?) Đúng là mọi người trong thôn đều đi xe quệt. Xe đi chậm nhưng chắc chắn. Con trâu hay bò, là của nhà rất thuận lợi. Chúng quen với đường sá. Chỉ cần nằm trên xe đánh một giấc ngủ, trâu tự đi về nhà không hề bị đâm đổ, va quệt. Tôi cứ buồn cười khi thằng Vòong cho tôi đi xe quệt nhà nó. Đấy là lần đầu tiên tôi ngồi xe quệt. Nó bảo xe của nó hay lắm, đi với tốc độ 100 cây số… một tuần. Nó còn nói, nó đã để chế độ chạy tự động. Đúng là tự động thật, không phải điều khiển, xe vẫn cứ chạy từ rừng về nhà, từ nhà lên rừng không bị lạc! Nhưng chiếc xe quệt này không thể chạy đường nhựa vì… trâu nhà sợ xe đâm! Cái thằng đến là hài hước. Chúng tôi cười vui vẻ!
Phải công nhận thằng Vện đạp rất khỏe. Giá như tôi, lên dốc, lại chở thêm người chắc là tôi xỉu! Vậy mà thằng Vện cứ đạp băng băng! Chỉ có điều thằng này nhiều mồ hôi quá, mới đi được hơn cây số mà mồ hôi nó đã ướt lưng áo! Tôi ái ngại cho nó, thi thoảng gặp dốc cao tôi lại nhảy xuống đi bộ. Có những dốc cao quá, thằng Vện cũng phải dẫn bộ. Chỉ phiền một nỗi, xe đi một đoạn lại tuột xích. Thằng Vện bảo, kể ra sửa lại, chắc xích không tuột nhưng có mấy khi dùng. Thế mà cứ khi nào bất đắc dĩ như hôm nay dùng đến là mới nhớ phải sửa!
May mà đi một đoạn có một bác chở củi bằng xe quệt, tôi nhảy lên đi nhờ lên tận đỉnh dốc Măng Đắng. Qua dốc một đoạn là bắt đầu vào đường quốc lộ. Tôi và thằng Vện lại đi cùng. Đến đường bằng thì xe rất ít tuột xích. Chúng tôi cũng vui. Vi vu quên thời gian. Thằng Vện mải miết đạp, còn tôi ngồi sau ôm eo nó. Cái eo nó to quá, phải to hơn cả eo của chị Thơm!
Đi mãi cũng phải đến. Chúng tôi đi qua cầu Gia Bảy. Ồ sao hôm nay cầu nhộn nhịp hẳn lên? Cái bà bán nước rót luôn tay mà vẫn không đủ. Hôm nay sao bà lại chiều khách thế, mọi hôm khách phải tự rót cơ mà! Sao đông người đến vậy? Bộ đội, dân quân, học sinh… Ông chữa xe đạp cũng vui, vừa làm vừa nghêu ngao ca một đoạn cải lương không rõ xuất xứ…
Hôm nay trận địa pháo đầu cầu đông ghê. Các anh, chị thanh niên cùng với bộ đội đắp lại trận địa cho to hơn, chắc hơn. Họ vừa làm vừa hát, nói nói, cười cười đến là nhộn nhịp. Nhìn thấy chúng tôi đi qua, một chị nào đó nói: “Anh béo ơi! Đèo em đi đâu thế? Không lên đây làm việc với em à?” Thằng Vện quay lại, chị ta nhìn khuôn mặt non choẹt của thằng Vện, chị ta rú lên cười! Mặc họ, chúng tôi cứ phớt lờ như không nghe thấy. Thằng Vện càng đạp nhanh hơn. Nó cũng sợ người ta trêu. Chúng tôi đến ga rất sớm. Thành phố vẫn im lặng, cái im lặng bình thường của chiến tranh. Bà con đi sơ tán hết, nhà nào cũng đóng cửa. Lác đác cũng có nhà mở cửa nhưng tôi đoán chỉ nay mai họ lại đi thôi. Ga hôm nay còn vắng lặng hơn hôm chúng tôi đến. Họ đồn sắp đánh Thái Nguyên rồi. Mấy mục tiêu sẽ bị đánh và bà con cần sơ tán triệt để đó là: Khu gang thép, Nhà máy điện Cao Ngạn, Cầu Gia Bảy, Thành phố Thái Nguyên. Bọn giặc định đánh cầu với lí do duy nhất đây là huyết mạch - đường số 1B - con đường nối thông với nước bạn. Đạn dược, lương thực của bạn tiếp viện cho ta thường đi qua đường số 1, đường Hà Nội- Lạng Sơn. Nhưng con đường này địch kiềm tỏa gắt gao. Cấp trên đã quyết định mở thêm nhánh 1B để tăng cường vận chuyển và khi đường số 1A bị tê liệt thì ngay lập tức đường 1B thay thế. Xem ra không khí trận mạc đã tràn lan rồi. Đợi mãi đến gần 9 giờ, đói quá tôi rủ thằng Vện ăn một cái gì cho đỡ đói. Tìm mãi xung quanh ga chẳng có hàng quán gì. Mãi sau mới thấy một hàng phở. Chủ hàng đề biển: “Phở không người lái!”. Tôi tò mò không biết là gì. Tôi gọi hai bát. Một ông vừa là cửa hàng trưởng, vừa là người chan, vừa thu tiền và chạy bàn… Ông giải thích cho tôi hiểu. Hiện giặc trời có máy bay không người lái. Dưới đất ông cũng đáp lại phở không người lái. Tức là phở không. Không có thịt hoặc đậu. Chỉ có toòng teng mấy dọc hành và nước phở… Thôi đành, đói phải ăn thôi. Nước phở mà không có thịt thì làm gì có xương mà làm nước chan. Chỉ có nước muối pha thêm một ít mì chính. Đói, nên chúng tôi ăn cũng vẫn thấy ngon. Đúng là khi đói ăn mầm đá cũng ngon như một chuyện dân gian nào đó!
Chúng tôi vừa ăn xong thì nghe tin tàu đến. Một số khách đã xuống tàu. Ngược với dòng người, tôi và thằng Vện tìm chị Thơm. Hai thằng líu ríu chạy lại cửa ga. Khách hôm nay không đông như hôm bố con tôi xuống nhưng cũng đủ để khó tìm người nhà. Số đông là bà con đi chợ. Không biết chị Thơm có đi chuyến này không? Tôi gọi to: Chị Thơm ới!... Chị Thơm ơi!... Nếu có chị trong đám đông thì tôi nhận ra ngay. Cái dáng người đậm đậm ấy, làm sao tôi quên được. Đợi đến khi tàu chạy, rồi người khách cuối cùng ra khỏi ga. Thằng Vện dáng mệt mỏi, tiến về phía tôi:
- Chị Thơm mày không lên rồi!
- Tao nghĩ là chị ấy có lên. Tính chị Thơm tao biết, đã hẹn gì là làm cho bằng được. Chắc có lẽ chị xuống tàu lúc mình đang ăn phở!
- Thế bây giờ mày định thế nào?
- Tao nghĩ là đuổi theo dòng người. Biết đâu chị Thơm đã xuống ga!
Chúng tôi đi như chạy theo dòng người.
Vừa đến ngã tư bảo tàng, bỗng nghe thấy tiếng quát: “Mấy người kia muốn chết hả. Máy bay đấy.” Vậy là đã có báo động máy bay địch mà chúng tôi không biết. Tôi và thằng Vện dạt vào phía bên đường. Từ đây đến cầu Gia Bảy khá gần. Linh tính báo cho tôi biết, nếu đứng đây sẽ nguy hiểm. Tôi kéo thằng Vện lùi lại, càng xa cầu càng tốt. Cuối cùng chúng tôi cũng đến được vị trí khá an toàn, chui vào một hốc hàm ếch sát mép núi. Tiếng ì ầm của máy bay địch ngày càng gần. Nhìn lên khoảng trời nhỏ phía trên đầu, tôi thấy 3 chiếc máy bay F4 loại máy bay tiêm kích của địch chuyên làm nhiệm vụ chỉ đường. Chắc chắn sau đó là F105 máy bay cường kích. Loại máy bay cường kích chuyên mang bom đi ném vào mục tiêu đã được định sẵn. Thông tin này tôi đã nghe anh Thiều nói. Là một xạ thủ đo xa, tôi biết lúc này phải làm gì. Tôi bỗng nghĩ mình đang trên mâm pháo của đội pháo chúng tôi. Tôi nói: “Đề nghị các đồng chí sẵn sàng chiến đấu, máy bay địch đã đến gần. Hãy quan sát kĩ mục tiêu, hướng…” Thằng Vện bỗng phát vào lưng tôi: “Thanh, mày đang mơ đấy à? Đây có phải là trận địa của chúng mình đâu!” Tôi bỗng chợt tỉnh, cái bệnh tơ tưởng của tôi chắc nó lại tái phát. Ừ nhỉ. Không biết giờ này bọn ở nhà có lên trực trận địa không? Phen này chắc đánh nhau to đây. Thằng Vện bảo chắc chắn bọn ở nhà sẽ lên trận địa. Bỗng nhiên đất dưới chân tôi rung chuyển. Những tiếng nổ đinh tai nhức óc làm chúng tôi run lên. Mấy mảng đất trên trần hàm ếch cũng rơi xuống. Tiếng bom nổ gần lắm. Đích thị là chúng đánh cầu Gia Bảy rồi! Kế tiếp sau là ba đợt như vậy. Tôi run lên khiếp sợ. Ở nhà, tôi mới chỉ nghe tiếng máy bay ở xa, nên bình tĩnh hơn. Ở đây không chỉ có tiếng máy bay mà còn hơn cả là nhiều tiếng bom nổ rung chuyển đất trời. Ở nhà tôi ngồi bên bố, mẹ, chị Thơm, những người thân yêu của tôi. Ở đây chỉ có mỗi thằng Vện, cái thằng cũng sợ như tôi. Thậm chí nó còn sợ hơn cả tôi nữa! Tôi bỗng lo cho chị Thơm. Chị Thơm ơi! Chị đang ở đâu? Nếu biết đích xác chị ở chỗ nào tôi sẵn sàng vượt qua mưa bom, bão đạn chạy đến ôm chầm lấy chị…
Tôi cầu mong cho chị hôm nay không lên. Nếu chị có lên, tôi những mong chị đã đi qua cầu Gia Bảy hoặc chưa đến cầu như chúng tôi. Sau khoảng một giờ đồng hồ, xem ra có vẻ yên yên, chúng tôi nhô ra khỏi chỗ trú ẩn. Tôi thấy nhiều bộ đội và dân quân tự vệ tràn ra mặt đường. Họ dùng những cây tre, gỗ ngáng ngang mặt đường. Các anh chị nói trong niềm xúc động. Nó đánh cầu Gia Bảy rồi. Đánh đúng trận địa pháo đầu cầu. Ta chết và bị thương khá nhiều. Đồng bào bình tĩnh. Nếu ai không có nhiệm vụ thì hãy tìm nơi trú ẩn hoặc về với gia đình. Chúng tôi đang khắc phục hậu quả… Tôi và thằng Vện xin đi qua vì nhà chúng tôi ở bên kia cầu. Các anh bộ đội không cho chúng tôi qua. Các anh bảo các em nên tránh xa. Nếu có người nhà gần đây, hãy đến trú tạm. Chờ trời tối, khắc phục hậu quả xong chúng tôi sẽ được về. Giờ tôi mới thấy thằng Vện không dắt xe đạp, tôi hỏi nó xe đâu? Nó bảo nó vứt vào bụi rậm từ lúc đầu rồi. Thế cũng được. Tôi và thằng Vện kéo nhau ra mép sông, men theo bờ đê tìm được cái thuyền của ai đó, tìm cách vượt sông trở về nhà. Mặt sông thường ngày êm đềm, người ta thường nói, sông cầu nước chảy lơ thơ… Vậy mà hôm nay sông bỗng nổi sóng. Mặt sông trắng xóa. Cá! Vâng, cá bị bom chết đầy mặt sông. Bà con hai bên bờ đang thi nhau vớt cá. Có nhiều con cá cỡ phải đến hai cân, nổi, bơi lóp ngóp. Bà con dùng đủ các phương tiện để bắt cá. Những chiếc sào, gậy gộc thi nhau kều cá. Một số lại dùng rá rổ để vợt…Một số người khác có điều kiện hơn, họ dùng thuyền đi trên sông để vớt… Thật là nguy hiểm, nếu địch quay lại tiếp tục ném bom? Tôi bảo thằng Vện đi lên phía trên, tránh xa chỗ này nguy hiểm lắm. Chúng tôi vừa đi khỏi thì máy bay địch quay lại thật. Tôi và thằng Vện phải chạy. Chạy thục mạng mới hòng thoát qua điểm tử thần này. Tôi chạy đầu còn được, thằng Vện chạy sau cứ một đoạn lại vấp, một chốc lại ngã. Chúng tôi đã chạy được khá xa cầu. Đứng tại đây chúng tôi nhìn thấy toàn cảnh cây cầu.
Bọn địch vẫn ném bom cầu. Kì này nó ném mặt cầu. Chúng cho rằng trận địa đầu cầu đã bị diệt, giờ thì mặc sức thảnh thơi đánh cầu. Những tiếng nổ còn to hơn lúc nãy làm chúng tôi hoa mắt và phải ôm tai. Tôi và thằng Vện nằm bẹp bên sông. Chắc kì này chúng ném bom phá, loại bom chỉ dùng để tạo áp suất, giết người bằng áp suất. Nhiều cột nước từ sông bốc lên cao. Tội nghiệp, bà con vớt cá không chạy kịp. Họ đã bị dính bom! Có những chiếc thuyền con bị bật lên không trung, người bay lên theo rồi rơi xuống nước, đúng như những trọng vật người ta ném tòm xuống nước…
Chúng tôi khiếp sợ, chạy về chỗ cũ và nằm yên vị tại đấy chờ trời tối. Có thể nói đây là sự chứng kiến khốc liệt nhất của đời tôi. Tôi và thằng Vện không biết sẽ phải về như thế nào, chúng tôi ôm nhau khóc. Từ bé đến lớn, tôi chưa bao giờ khóc như thế, thực là khó tả. Giữa một triền sông nơi mà bao nhiêu người bị chết, bị thương, nhà cửa bị đổ sập, cây cối tan hoang. Người cứng rắn nhất cũng khó cầm được nước mắt. Chúng tôi cứ ôm nhau mà khóc, mà mếu…
Những chiếc xe cứu thương bóp còi inh ỏi. Chạy đi chạy về liên tục. Nhiều người chết và bị thương lắm đây! Bà Quý bán hàng nước, ông thợ sửa chữa xe đạp đầu cầu chắc khó thoát khỏi cái chết. Chúng tôi vừa trông thấy họ, họ vẫn tươi cười, thế mà giờ đây chỗ của họ đã bị cày xới! Lại còn anh chị em dân quân tự vệ và học sinh hôm nay ra đắp trận địa giúp bộ đội nữa. Lúc nãy tôi liếc nhìn về phía trận địa, một mảng đồi bị bạt thấp xuống. Bom đã đánh trúng trận địa! Các anh bộ đội có sao không? Lần sau máy bay địch đến, tôi vẫn thấy súng của các anh bắn lên giòn giã, không biết có chiếc máy bay nào bị rơi không? Bà Ái biết tôi đi đón chị Thơm, chắc bà lo lắng lắm! Chỉ có mỗi mình bà Ái là biết tôi đi thị xã thôi. Thằng Bình, tôi cũng không nói. Lúc tôi đi nó còn đang triền miên với giấc ngủ.
Trời tối, tôi và thằng Vện được phép về nhà. Chúng tôi được đi qua cầu để sang mạn Đồng Hỷ. Thằng Vện chạy đi lấy chiếc xe đạp. Xe vẫn còn nguyên. Trời tối, hi vọng máy bay địch không quay trở lại. Trời tối, chắc chúng tôi không thể thấy được sự khốc liệt của chiến tranh? Dưới ánh đèn pin loang loáng của những anh chị thu dọn hiện trường, tôi vẫn thấy sự thảm khốc nhưng không đầy đủ lắm. Đất đá rơi đầy mặt cầu. Các anh chị đã dọn đi khá nhiều. Trời đất ơi, tan hoang quá. Tôi đi không vững, khi mắt nhìn được những gì qua ánh đèn pin loang loáng: Trận địa đầu cầu giờ chỉ còn là đống đất đá ngổn ngang. Phía đầu cầu chỗ bà Quý bán hàng nước, có một hố bom sâu hoắm. Cây gạo to lớn là vậy, giờ đã bị đổ kềnh, cắt tiện tan tành. Điều làm mọi người ghê rợn là ngổn ngang đất, đá, cây que, quần áo, và có cả những mảnh cơ thể người nữa… đầy trên mặt cầu. Có nhiều mảnh vải rách vắt trên thành cầu… Ngang đường, mùi tanh nồng của máu làm chúng tôi buồn nôn. Chỗ này manh chiếu, chỗ kia chiếc áo, đây đó những gì lù lù, ghê rợn. Có cả những thứ mà tôi không dám nhìn, không dám tả. Tôi nhắc thằng Vện đi nhanh lên. Chúng tôi phải dắt xe vì đất đá ngổn ngang. Người ta mới chỉ kịp cứu người mà chưa dọn được đất đá. Chúng tôi lách qua những mô đất đá mà đi qua cầu. Kì lạ, bom ném là thế mà chiếc cầu vẫn đứng hiên ngang. Mà hình như cầu bị thủng một lỗ. Thằng Vện bỗng khựng lại. Xe đạp bị một cái gì đó quấn vào bàn đạp vương vướng. Nó gỡ ra. Trong ánh đèn pin của ai đó, tôi bỗng rùng mình. Tôi không tin vào mắt mình nữa, một vạt áo có chiếc túi thêu bông cúc trắng. Áo của chị Thơm? Đúng rồi, cái vạt áo dính máu, có thêu bông cúc trắng này là của chị Thơm. Tôi khụyu xuống, mắt mờ đi. Tôi không bước được nữa. Vậy là chị Thơm đã qua chỗ này, qua chỗ ác liệt nhất của cuộc chiến… Tôi không còn biết gì nữa. Thằng Vện kể lại. Lúc tôi cầm vạt áo chị Thơm, tôi ngất đi, nó phải nhờ một anh bộ đội dìu tôi sang phía bên kia cầu. Vện gọi tên tôi không biết bao nhiêu lần, những mong tôi tỉnh lại! Nó xin nước của nhà dân bên cầu táp vào mặt tôi. Tôi tỉnh lại, trên tay tôi vẫn cầm chiếc vạt áo của chị.
Tôi khẽ nói: “Vậy là chị Thơm đã chết. Chỉ vì em mà chị lên đây. Chị đi đúng vào chỗ ác liệt nhất. Vậy là chị đã được đi gặp bố mẹ chị, điều mà chị ước ao từ lâu. Chỉ có điều em, cái thằng em tồi tệ này không được tiễn chị đến nơi an nghỉ cuối cùng. Chị Thơm ơi! Chị Thơm ơi! Em không biết nói gì với chị bây giờ! Thế là vĩnh viễn em không được gặp chị nữa rồi! Mối thù này em phải trả. Bằng mọi giá, em hứa với chị sẽ trả thù cho chị. Tôi cứ ôm khư khư cái vạt áo có bông cúc trắng. Nước mắt tôi tràn mi. Tôi không còn khóc được nữa, nhưng sao nước mắt tôi cứ trào ra. Tôi lấy vạt áo của chị lau khô dòng nước mắt. Tôi như thấy mình đang áp mặt vào ngực chị. Chị Thơm ơi!... Tôi nghẹn ngào!... Chị có nghe em nói đấy không? Còn sống em sẽ nhớ lời chị. Em sẽ xây mộ cho chị như chị đã ao ước!...
Tôi như người bị mộng du, một tay ôm vạt áo chị Thơm, tay kia ôm chặt thằng Vện. Tôi không mê tín, nhưng hiển nhiên đây là điềm báo của chị cho tôi. Cái vạt áo này của chị sao nó lại quấn lấy chân chúng tôi!