Lớp đào tạo pháo thủ do đơn vị pháo cao xạ mở ra. Ngoài tốp pháo thủ của chúng tôi còn có mấy anh chị dân quân của xóm cùng tham gia. Có làm pháo thủ thật sự mới thấy sự chịu đựng của các chú các anh là vô hạn. Pháo bằng sắt thép, phơi giữa trời. Nắng gắt, ngồi ghế cũng nóng ran. Mùa đông lạnh thấu xương cái ghế ngồi cũng lạnh buốt. Vậy mà các anh bộ đội vẫn chịu đựng được. Nào có phải ngồi không đâu, đôi mắt phải dõi theo những diễn biến, thông số kĩ thuật của chuyên môn. Đôi tay còn oằn ra để vặn cho pháo quay đúng hướng. Đôi chân còn để đạp những cần phanh, cần chuyển hướng. Trong khẩu pháo cũ, tôi là anh đo xa. Nhưng nếu anh đo xa ở pháo thật thì cái máy đo xa mấy chục cân chỉ vác lên, ghé mắt vào đã là một khó khăn đối với tôi, chưa nói gì đến việc sử dụng. Vậy mà anh đo xa còn cầm nó, xê dịch hướng sao cho ống kính bám chặt vào máy bay địch. Lại phải căn, chỉnh, sao cho mình tính toán đọc được thông số khoảng cách từ mâm pháo đến máy bay địch!...
Cứ mỗi buổi chiều tập làm pháo thủ, về nhà, tôi mệt bã người, không dám mó vào việc gì cả. Cũng may thằng Vĩnh và thằng Bình em tôi cũng lo được việc cơm nước. Cái thằng Vĩnh tiếp xúc với chúng tôi, nó mạnh dạn hẳn lên, bà Ái mừng lắm. Đặc biệt là sau một thời gian tôi dạy nó học, nó đã biết đọc, biết viết, tuy chưa thành thạo nhưng cũng đủ để đọc sách chữ to, tức là sách vần vỡ lòng ấy mà. Bà Ái bảo, cháu đúng là con bố Loan, làm việc đâu ra đấy, không chê vào đâu được. Bà chỉ khéo động viên! Thì tôi đúng là con bố tôi chứ còn là con ai nữa! Bà Ái suốt ngày vùi đầu vào công việc chè. Cũng may có việc làm chứ ngồi không thì bứt rứt khó chịu lắm! Chắc buồn chết! Chè cháo cũng có cái hay là tạo thu nhập cho gia đình. Chứ nhà hai miệng ăn, cộng với hai miệng ăn ké là tôi và thằng Bình thì không biết ăn củ sắn, củ mài liệu có đủ không? Bố tôi bảo hàng tháng sẽ lên tiếp tế, nhưng từ khi lên đến bây giờ mới tiếp tế được vài lần. Mẹ tôi thì lên chốc lát chừng vài tiếng, lại bổ về ngay. Bà bảo đã mua vé về sớm, không ở lại được như bố tôi. Bà Ái là người nhân hậu lại rộng lượng hay thương người, bà chẳng để ý đến những thiệt thòi của mình chứ như người khác đo lọ nước mắm đếm củ dưa hành thì chắc chúng tôi bị trả về cho bố mẹ từ lâu rồi!... Tôi nghe chị Cúc báo tin là mấy hôm trước ông Nước đã đưa bạn Trong về Hà Nội chữa trị.
Chiều nay buổi tập pháo khá nặng. Tập tiếp đạn. Một hòm đạn gần 50 cân thanh niên phải vác trên vai chạy. Phải chạy vì pháo bắn ăn đạn như “thổ tả uống nước lã” ấy. Đấy là chữ mà một anh chị nào đó đã nói. Nếu không chạy, đang bắn, đúng lúc cần mà không có đạn thì… Chúng tôi, thiếu niên được phép hai đứa khiêng một hòm. Nặng lắm cũng phải cố thôi. Vậy mà chị Tuyển dân quân ở Nam Ngạn, Hàm Rồng một mình còn vác nổi hai hòm cơ đấy. Thật là vĩ đại. Con gái như chị, nặng chỉ hơn 40 cân, hai hòm đạn gấp đôi trọng lượng cơ thể! Lúc ấy là lúc rất cần đạn. Pháo bắn hết đạn. Có hai hòm đạn bị ríu vào nhau. Đến phiên chị, anh bốc đạn gỡ không được, chị nói thôi cứ chồng hai hòm, tôi vác… Thật là thần kì. Chị vác lên vai chạy băng băng!... Chúng tôi tập thôi, hai đứa khiêng một hòm thôi mà ì ạch mãi! Về nhà tôi đau dần cả hai cánh tay, ê ẩm cả người. Tôi chỉ kịp và mấy miếng cơm rồi đi nằm. Ngày mai không có bài vở gì nghỉ sớm cũng không sao. Thường các buổi tối, tôi dạy thằng Vĩnh và thằng Bình học. Hôm nay thì chịu. Thằng Bình cùng vào ngủ với tôi. Tôi trằn trọc. Mệt như vậy làm sao ngủ ngay được.
- Anh không ngủ được à?
- Sao mày biết?
- Em thấy anh vẫn thức !
- Ừ tao không ngủ được. Chắc vì quá mệt!
- Hay anh nhớ bố mẹ?
- Tao cũng không biết vì sao nữa! Mày ngủ đi, đừng chờ tao nữa!
- Vâng! Em ngủ đây!
- Bình này!
- !!?
- Nếu tao về Hà Nội mày ở lại một mình có được không?
- Em cũng về với anh!
- Không! Tao về mấy hôm rồi tao lên mà!
- Vậy cũng được! Anh phải lên sớm và mang nhiều quà cho em cơ!
- Tất nhiên là có quà chứ. Bố mẹ chắc chắn là gửi quà cho mày rồi!
- Anh về nhớ vào bệnh viện thăm chị Trong nhé!
- Sao mày biết cái Trong nó nằm viện ở Hà Nội?
- Thì hôm anh đi thăm chị Trong và cô Thơm về, anh kể cho em rồi đấy!
- Ừ! Thôi ngủ đi!
Tôi quyết định về Hà Nội để xem tôi có thể giúp Trong được việc gì đó chăng ?
…Bỗng nhiên tôi giơ hai cánh tay ngang vai. Tôi bay được. Ôi tôi bay được thật rồi. Tôi bay lên như chim. Tôi càng vẫy tay càng bay lên cao và bay nhanh nữa. Kìa! Ai trông mà quen quá!
- Ồ cậu Thanh! Cậu không nhận ra tôi à? Cậu chóng quên quá!
- Cháu bị hơi mệt, nên trí nhớ có giảm, ông thông cảm!
- Tôi là ông già Khôttabit đây mà! Có lần cậu mượn tôi tấm thảm bay, cậu chở cô Thơm đi thăm trận địa pháo và thôn cậu sơ tán ấy!
- À! Cháu nhớ ra rồi! Chết thật! Mới gặp ông mấy hôm mà sao cháu lại quên thế nhỉ ? Hôm nay ông cạo râu, cháu không nhận ra được
- Sao hôm nay cậu không mượn thảm bay của tôi ?
- Cháu… cháu tự bay được rồi nên không cần thảm bay nữa. Cháu vội quá. Thôi cháu chào ông nhé!
- Này cậu Thanh. Cậu về thăm và chăm sóc cho cô Trong chứ gì?
- Sao ông biết?
- Ta cái gì chả biết! Thôi bay nhanh lên kẻo cô Trong đang chờ cậu đấy!
- Vâng ạ !
Tôi càng đập mạnh cánh tay, lại thấy mình càng bay cao, bay xa.. Chả mấy chốc tôi đã về đến bầu trời Hà Nội. Chết thật không biết tôi có tàng hình không? Nếu không thì pháo phòng không Hà Nội hạ tôi mất! Bộ đội phòng không Hà Nội có nhiều tên lửa nữa, vậy tính sao đây? Tôi lại chợt nhớ ra, mình cũng tàng hình. Những người biết bay đều biết tàng hình. Chỉ trừ sắt thép mới bị phát hiện ra thôi. Máy bay tàng hình của các nước, làm bằng giấy các tông đấy! Tôi bay lui xuống phía nam Hà Nội một chút. Đây rồi, bệnh viện Bạch Mai. Em Trong đang điều trị ở đây. Tôi chuẩn bị hạ cánh thì một người từ trong bệnh viện bay vút lên. Người ấy mặc váy trắng. Chiếc váy bay bay theo gió. Tôi nhìn kĩ. Đúng là Trong rồi. Tôi gọi to: “Trong ơi! Trong ơi!” Người ấy bay đến bên tôi…
- Anh Thanh! Anh Thanh! Đúng anh Thanh rồi! Em biết là anh nên em bay ngay lên đón. Anh về nhà có lâu không?
- Anh về ít ngày thôi! Chủ yếu về thăm em. Nếu cần anh chăm sóc, anh sẽ ở bên chăm sóc em!
- Em khoẻ rồi anh ạ! Đây anh xem em vẫy tay bay còn nhanh hơn anh mà!
- Đừng giả vờ! Chỉ tháng trước thôi, anh gặp em ở bệnh viện Thái Nguyên, người ta bảo chắc em khó qua khỏi nên phải chuyển về Hà Nội chữa trị cơ mà! Thôi đừng giấu anh nữa! Hay là em đã là thiên thần rồi. Em đang về trong giấc mơ của anh!
Thì đây! Con người em đây anh có thấy vết thương nào đâu!
Tôi thấy cái Trong nhăn nhó rồi rơi phịch từ trên cao xuống đất.
- Trời ơi! Trong ơi! Trong ơi!...
- Anh Thanh! Anh Thanh! Anh làm sao thế?
Thằng Bình lay tôi dậy. Thì ra tôi lại mê, lại đang tơ tưởng!
- Anh mê rồi! Em thấy anh gọi tên chị Trong mãi! Có đúng anh mê không?
- Tao mê đâu mà mê. Tao vẫn tỉnh đấy chứ. Thôi ngủ đi!
Tôi biết mình lại mê thật. Tôi phải nói như vậy để trấn an thằng Bình.
Chiều hôm sau tôi nói với bà Ái tôi có việc cần về Hà Nội gấp. Bà đồng ý ngay. Bà dúi cho tôi ít tiền. Tôi không lấy vì tôi cũng có tiền rồi. Bà nói mãi, tôi đành cầm. Tôi nghĩ, thôi cứ mang theo biết đâu có lúc cần tiêu. Khi lên nếu còn tiền thì tôi mua quà cho bà và mọi người. Tôi cũng nói gửi lại bà trông hộ thằng Bình em tôi. Bà Bảo tôi cứ yên tâm. Thằng Bình giờ đã quen ở đây rồi không phải lo. Một điều nữa làm tôi yên tâm là thằng Bình và thằng Vĩnh giờ quấn nhau lắm. Không rời nhau ra nửa bước.
Khoảng 3 giờ chiều thằng Vòong chở tôi ra ga. Lạ thật mỗi lần qua cầu Gia Bảy là tôi lại nhớ đến chị Thơm, nhớ bà bán hàng nước tốt bụng. Tôi nói những tâm sự với thằng Vòong nó bảo tôi đúng là hay cả nghĩ. Mọi người gọi tôi là thằng tơ tưởng không sai.
Tôi mua được vé ngay. Tàu chiến tranh thường chạy về ban đêm. Chắc tôi phải chờ vài tiếng nữa. Tôi bảo thằng Vòong về đi kéo tối. Nó chào tôi và bảo tôi đi nhớ giữ gìn sức khoẻ. Cái thằng rất công thức. Nó là người dân tộc mà sao tôi chẳng thấy khác người Kinh ở chỗ nào cả. Nhiều lúc nó nói văn hoa còn hơn cả tôi nữa!
19 giờ 30 phút tôi lên tàu. Tàu chạy rất đúng giờ. Đây là ga thứ hai nó chỉ đỗ 15 phút thôi! Tôi lên một toa, tìm một chỗ khuất ôm gối ngủ.Tôi cũng không lo vì ga Hà Nội là ga cuối cùng. Cứ nghỉ đi để lấy sức, dại gì! Tôi cũng không để ý quan sát mọi người như lần đi lên, mặc dù không khí chiến tranh vẫn trải dài trên tàu. Cuộc sống vẫn như một dòng nước, nó vẫn chảy. Người ta vẫn phải đi lại, vẫn phải sống, vẫn phải vượt lên số phận để tới bờ vinh quang của từng người. Có những người số phận vẫn gặp những bất trắc và họ hơn ai hết vẫn phải sống, vẫn phải chạy theo vòng quay của cuộc sống. Cái triết lí đó hình như tôi đã đọc được ở đâu thì phải! Tôi phải về gặp Trong, người bạn gái đáng yêu, đáng thương và rất đáng trân trọng giờ này chắc đang cận kề cái chết… Tôi về chăm sóc Trong. Gia đình tôi ở Hà Nội chắc chắn sẽ giúp được Trong và ông Nước rất nhiều. Ông Nước, theo lời mọi người kể, ông ấy đã bỏ rượu. Biết đâu một lúc nào đó, con ma men lại rủ rê ông ấy, ông sẽ bỏ rơi đứa con bất hạnh của mình một lần nữa! Vậy sự đáng thương của Trong lại bị nhân lên gấp bội. Tôi mong mau chóng về nhà, nhưng con tàu vẫn cứ chầm chậm miết bánh trên đường ray. Tiếng xình xịch, xình xịnh của nó vẫn cứ như xiết vào đầu tôi. Sự hối lỗi của tôi có còn kịp để thể hiện không? Nếu với những vết thương trầm trọng ấy, Trong đã ra đi thì sao? Tôi chắc chẳng còn mặt mũi nào xuất hiện ở làng Nậm nữa. Tôi sẽ rất ngượng khi nhìn thấy các bạn thân yêu trong khẩu đội của mình. Ôi, cuộc sống nghiệt ngã làm sao. Chỉ một phút sai lầm mà phải trả giá một cuộc đời!… Tôi bừng tỉnh bởi những tiếng chuột kêu “Chít! Chít!...”. Thì ra là mày à! Cái con chuột đốn mạt mà tôi cắt đi của nó bốn bàn chân trong bãi rác hồ Bảy Mẫu lại xuất hiện. Nhưng mà sao nó còn nguyên bốn bàn chân, lành lặn? Con chuột lại nói được tiếng người: “Hỡi tên Thanh quá đốn mạt kia ơi! Mày ngạc nhiên khi thấy tao vẫn còn chân chứ gì? Chân giả đấy, chân gỗ đấy. Khi cái chân thật của con người bị mất đi thì được thay bằng chân gỗ! Vậy tao là con vật cũng là máu đỏ sao không thay chân thật bằng chân gỗ được. Mày chặt chân tao, tao chặt chân mày đó là quy luật trả đũa, mày thừa hiểu…” Tôi bảo con chuột đốn mạt, nó cũng bảo tôi là thằng đốn mạt. Nhưng mà… Tôi đang cố sửa chữa cái đốn mạt của tôi đây!... Còn con chuột nó đã chết thì còn sửa chữa gì được nữa? Chuột lại cưới sằng sặc: “Mày tưởng tao chết à? Tao làm sao mà chết được hả?”
Tôi sờ lại bàn chân, bàn tay của mình vẫn còn đầy đủ. Phải chăng con chuột này doạ tôi! Tôi nói với chuột:
- Mày đùa tao đấy à? Chân tay tao vẫn còn nguyên cả đây này. Mày đừng hòng hại tao nghe chưa? Trong túi tao lúc nào cũng vẫn có cái kéo i-nox vũ khí chống lại mày đấy. Biết chưa?
Tôi doạ nó thôi, chứ các bạn biết là chiếc kéo inox tôi đã vứt ngay tại bãi rác, sau cái bữa tôi bị cảm ở đấy rồi.
- Mày lại chậm hiểu rồi! Mày có trí tưởng tượng phong phú lắm cơ mà! Mày lại hiểu tay chân theo nghĩa đen như vậy ư? Phải hiểu theo nghĩa bóng. Đó là đệ tử của mày còn đang nằm trên giường bệnh ấy.
Thôi chết rồi! Nó, cái con chuột ấy làm hại Trong rồi! Tôi hét lên: “Không! Mày không được làm hại cái Trong bạn của tao được…”
Mấy anh soát vé gõ vào người tôi. Tôi trình cho họ xem vé của mình. Họ bảo tôi sao ngớ ngẩn thế, có vé không ra ghế mà ngồi lại chui vào xó này. Đã ngồi vào trong xó lại hét to thế! Tôi bảo, tôi cũng chẳng biết làm sao nữa! Họ vừa đi vừa cười những việc làm và những câu trả lời ngớ ngẩn của tôi. Con tàu rồi cũng phải đến bến. Ga Hàng Cỏ hiện ra. Lòng tôi khấp khởi mừng. Tôi chạy như bay về con phố Tô Hiến Thành thân yêu trong nhiều con mắt ngơ ngác. Chắc họ đặt câu hỏi: Thằng này làm sao mà nó chạy như bị ma đuổi vậy. Hay là nó bị điên? Hoặc ít nhất nó bị hâm đơ?... Tôi đứng trước cửa nhà tôi, đứng một lúc. Tôi quyết định gõ cửa. Vừa lúc bố tôi mở cửa. Bố tôi mở cửa hàng buổi sáng mà! Thấy tôi xuất hiện, ông cứ dụi dụi mắt. Chắc ông tưởng mình đang mơ. Tôi kể mọi sự tình cho bố tôi nghe và nói bố chở ngay đến bệnh viện Bạch Mai. Bố tôi nhanh chóng lấy xe đạp chở tôi đi. Tôi cũng chỉ kịp chào mẹ tôi một câu và nói: “Con đi với bố có chút việc, tí con về”. Tôi không hề nghĩ đến ăn uống, mặc dù tôi rất đói mệt và buồn ngủ. Mẹ tôi từ ngạc nhiên đến rơm rớm nước mắt.
Bố con tôi vào viện. May sao khoa Ngoại của bệnh viện không đi sơ tán. Khoa này chiến tranh thường bận rộn nhất, người ra vào tấp nập. Có kinh nghiệm thăm Trong ở bệnh viện Thái Nguyên rồi, tôi vào thẳng các bác sĩ phụ trách khoa, hỏi ngay những bệnh nhân các tỉnh nằm đâu, có bệnh nhân nào tên là Teo hoặc Tẹo không? Không thể chờ giở sổ sách, tôi lại đi nhìn mặt từng người. Trong, đúng Trong đây rồi, em đang ngủ. Trong ngủ rất ngon, hai tay duỗi thẳng theo người. Khuôn mặt vẫn xinh đẹp và đáng yêu làm sao! Thôi được rồi, em cứ ngủ đi. Anh sẵn lòng đợi cho đến khi em tỉnh dậy. Bố lẽo đẽo theo tôi. Ông đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Đến ngạc nhiên cuối cùng là… Tôi nắm tay Trong khi em vẫn đang ngủ. Kì lạ là, tôi một thằng mất ngủ cả đêm vẫn thức để chờ một người bạn đang ngủ say! Bố tôi dù đã biết Trong nhưng vẫn vô cùng ngạc nhiên với những hành động của tôi.
Chắc do đôi tay lạnh giá vì đi xa, vì thiếu ngủ của tôi nắm vào đôi tay ấm áp của Trong, em từ từ mở mắt và mắt em bỗng tròn xoe. Trong bỗng kêu lên một tiếng: “Ôi anh Thanh! Anh Thanh!”
- Ừ anh đây, anh đến thăm em đây!
- Ôi! Em vui quá!
Trong vươn cả hai bàn tay nắm lấy đôi tay tôi. Tay Trong run run!
Tôi bỗng nhớ đến câu nói đùa của bố tôi với Trong khi ông gặp Trong lần đầu. “Mày có làm dâu bác không?”, “Cháu còn bé mà bác! Nhưng mà cháu sợ người Hà Nội lắm!”, “Việc gì phải sợ, mày cứ quờ tay ra là có thằng Hà Nội ngay!”. Tôi bỗng cười và quay lại phía sau tìm bố tôi. Ồ hoá ra đứng sau tôi lại là ông Nước. Trời đất! Ông ấy già khọm, gày rộc đi trông thấy. Tôi chào ông và bỗng nhiên ôm chầm lấy ông. Một người cha thực tốt, chăm con mà trong túi không có tiền. Một điều tuyệt vời hơn nữa là tôi không còn ngửi thấy mùi rượu ở ông nữa!
Qua sự kể của ông Nước và của Trong nữa, tôi được biết, Trong với những vết thương số đông vào phần mềm, vì quả bom bi ấy nổ từ xa. Chỉ có vài vết thương khá trầm trọng. Trong bị mất máu quá nhiều cũng do lực kiệt nên phải đưa về Hà Nội điều trị. Do tập thể y bác sĩ tận tình cứu chữa, cũng do sự kiên cường dũng cảm chịu đựng vượt qua những nỗi đau của Trong, em dần bình phục. Còn ông Nước, như tôi đã nói, một người cha tuyệt vời, ông đã sống và chăm sóc con bằng tình thương của người cha và bằng sự đùm bọc của những người xung quanh. Ông đã sống và chăm sóc giọt máu thương yêu của mình. Theo lời kể của bà con. Nhiều bữa ông nhịn, còn lại là bà con chia sẻ phần ăn của họ dành cho ông. Trong chiến tranh mới thấy tình thương yêu của con người với nhau lớn đến như thế nào. Tôi vẫn nhớ câu: “Có khổ nhiều mới yêu thương lắm!” Ông Nước còn cho biết chỉ vài hôm nữa là Trong được xuất viện…
Bây giờ thì mọi sự trở nên dễ dàng rồi. Mấy ngày đó tôi với chiếc xe đạp của tôi, dĩ nhiên tốt hơn xe của thằng Vện vì bố tôi làm nghề này mà, thường xuyên mang cơm đến cho bố con Trong. Dù không phải sơn hào hải vị, nhưng cũng đủ ấm lòng. Cũng theo ông Nước, từ hôm có tôi, Trong vui hẳn lên, cười cười nói nói! Cái viên bi ở họng Trong đã được mổ gắp ra. Trong chỉ mong mau chóng đến bữa tôi mang cơm đến. Chắc không phải Trong đói, Đúng hơn, sự có mặt một người thân quen sẽ bớt đi những khổ đau mà Trong đã phải chịu đựng!
Ngay hôm về Hà Nội, sau khi đến thăm Trong, tôi đã sang thăm chị Thơm. Chị đã lành bệnh. Chị sắp đi làm. Tôi kể hết mọi chuyện cho chị nghe. Tôi ôm chầm lấy chị. Không hiểu sao lúc đó tôi lại khóc? Chị Thơm bảo tôi cứ đi chăm sóc bạn đi. Nếu cần gì thì chị giúp!... Còn thằng Huy, rất tiếc nó đi sơ tán theo trường nên tôi không gặp được nó!
Rồi Trong ra viện. Trong đến nhà tôi ở ít ngày cho khoẻ thêm. Tôi giới thiệu Trong với chị Thơm. Hai chị em ngồi nói chuyện với nhau. Nhìn họ, tôi thấy lòng mình thanh thản! Nghe câu chuyện, có vẻ hai người rất tâm đầu ý hợp!
Đến ngày Trong về nhà, tôi cùng ông Nước đưa em về. Khỏi phải nói, khẩu đội yêu quý của chúng tôi mừng vui đến thế nào! Trong kể với khẩu đội. Những vết sẹo này là vết bi đâm vào, giờ các bác sĩ đã mổ lấy hết bi ra rồi. Lành hẳn rồi mà! Trong đi đi, lại lại giữa những cái nhìn ngạc nhiên của các bạn trong khẩu đội…