Thằng Tơ Tưởng

Lượt đọc: 17 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
15. Nghe chị Thơm kể lại

❊ ❊ ❊

Đúng chị Thơm! Cả ông Thảo cũng đúng. Thì ra ông Thảo lên đón chị Thơm về. Hôm nay chị Thơm ra viện. Cũng may, hôm nay chúng tôi đi thăm cái Trong nên gặp được chị. Thật là trùng hợp đến lạ kì. Không biết có phải do ông trời xót thương chúng tôi hay không? Chị Thơm và cái Trong hai người con gái gắn bó thân thiết với đời tôi. Tôi mong ước, thì giờ được gặp lại. Tôi cảm ơn ông trời đã ban cho tôi niềm hạnh phúc lớn lao này.

Chị Thơm cũng bị bất ngờ, chị ôm tôi thật chặt như thể sợ tôi bay mất. Ông Thảo cất lời:

- Vậy là quá hay, chị em lại gặp nhau! Giờ tàu chạy còn xa, thôi ta vào phòng chờ này một chút.

Mấy đứa đi cùng tôi cũng ngơ ngác, chúng không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Thằng Voòng hỏi:

- Mẹ mày đấy à?

Đúng là thằng Vòong chưa gặp mẹ tôi. Một lần mẹ tôi lên có mấy tiếng nên chẳng đứa nào gặp cả. Chỉ có cái Trong, thằng Vĩnh là biết thôi!

- Không! Đây là chị tao!

Thấy tôi muốn nói chuyện riêng với chị Thơm nên chúng toả ra sân bệnh viện có ý chờ.

Chị Thơm ngồi xuống ghế thật khó khăn. Một chiếc chân bó bột thẳng đuỗn, cứng đờ. Khuôn mặt chị nhợt nhạt, đôi mắt thâm quầng. Vẫn là chị Thơm của tôi ngày nào mà sao hôm nay khác quá! Chắc thời gian qua với chị là những ngày thảm hoạ. Chiếc chân bó bột đau nên mỗi lần chị di chuyển, khuôn mặt chị nhăn nhó. Giọng chị không còn trong, khỏe như những ngày trước, tuy nhiên vẫn rành rọt. Chị kể:

- Hôm ấy, trước khi đi, bố em dặn chị rất kĩ. Khi xuống tàu, phải lập tức tìm phương tiện để đi về phía cầu Gia Bảy bởi ga cũng là trọng điểm bắn phá của địch. Chị xuống tàu, đi bộ ra bến xe ngựa. Không thấy chiếc xe nào. Chắc là sớm quá. Bố em còn bảo nếu không thấy xe ngựa, chịu khó đi bộ khoảng hai cây số là đến cầu Gia Bảy. Đây chính là con đường độc đạo để vẫy xe đi về làng Nậm. Chị đi cũng nhanh, bởi mấy cân gạo và chút quà cho em chẳng thấm vào đâu với sức khoẻ của chị…

Tôi nghĩ, lúc ấy chúng tôi chắc đang ăn phở. Lúc chúng tôi đến ga thì hành khách bắt đầu xuống tàu. Có biết đâu chị đã nhanh chóng xuống tàu trước khi chúng tôi đến! Chị lại kể tiếp:

…Đến đúng cầu Gia Bảy, chị cũng thấy hơi mệt mà nghỉ chân tại đây cũng là đúng ý của bố em. Chị vào hàng nước, quán bà béo. Không ngờ chính lúc ấy có báo động. Mọi người chẳng kịp trở tay vì vừa báo động thì máy bay đến ngay. Chúng ném bom đầu tiên là trận địa 12li7 trên đồi, ngay đầu cầu. Chắc đây là trận địa của đơn vị bộ đội bảo vệ cầu. Chị chỉ kịp men ra vệ sông để tránh bom. Chúng ném rất nhiều, chị thấy đất trên trận địa bắn tung lên. Thật không may, hôm ấy là chủ nhật, các thanh niên, học sinh nghỉ nên đã đến tham gia đắp ụ pháo cho bộ đội vì vậy nên thương vong rất lớn. Là một chiến sĩ tự vệ của Hà Nội, lại biết sơ cứu thương, chị cùng bà con lên đồi cấp cứu cho mọi người. Thật thảm khốc khi chị nhìn thấy khung cảnh ở đấy, người bị chết, thân thể có người không còn nguyên vẹn. Người bị thương máu me đầy người… Tiếng kêu rên thật thê thảm. Xe cứu thương đến đưa các chiến sĩ bị thương và cả những liệt sĩ vào viện. Mỗi một chuyến xe chỉ chở được dăm người. Hết chuyến nọ đến chuyến kia. Bọn chị xúm lại sơ cứu những người bị thương…

…Thật bất ngờ, lúc lâu sau bọn giặc lại đến. Kì này máy bay của chúng ném xuống trận địa lần thứ hai hòng tiêu diệt những chiến sĩ còn lại. Nhưng kì này xem ra mục đích chính của chúng là đánh cầu. Chúng ngang nhiên đánh cầu bởi không có, hay nói đúng hơn chỉ có vài tiếng súng yêu ớt của dân quân tự vệ. Trận bom trước đã làm tê liệt trận địa. Kì này chúng ném bom phá, loại bom có sức công phá mạnh. Bom ném trúng cầu và chị bị thương ngay lúc ấy. Chị không biết gì sau những tiếng bom nổ. Lúc tỉnh dậy thấy mình nằm trong bệnh viện, áo quần rách bươm, người đắp một tấm mền bộ đội…

Vậy là mảnh áo có thêu bông hoa cúc trắng chúng tôi nhặt được đúng là của chị. Cái mảnh áo mà chúng tôi lấy làm đồ thờ chị. Đúng lúc ấy có lẽ chúng tôi cũng có mặt ở men sông Cầu.

Chị Thơm lại kể tiếp: Chị bị sức ép bom ngất đi, chị còn bị gãy cổ chân trái. Các bác sĩ bó bột cho chị. Chị cứ nghĩ đến em, cũng tìm cách liên hệ tìm em mà không làm sao liên hệ được. Chị chỉ nhớ huyện thôi, không làm sao nhớ nổi cái xóm, cái xã em sơ tán tên là gì? Lại còn cái nhà bà gì nữa! Cái giấy bố em viết cho chị đã bị bay mất rồi. May có người về Hà Nội, chị nhắn tin cho anh Thảo, anh Thảo bổ lên đây với chị. Anh Thảo lên đây chỉ mục đích đón chị về, nên cũng chẳng hỏi địa chỉ của em! Anh cũng an ủi: Thôi để hôm nào em về, gặp cũng được. Đây là điềm gở rồi, cô cứ muốn lên thăm nó nữa rồi lại gở tiếp cho mà xem. Thế là chị phải nghe theo lời anh Thảo. Chị nghĩ, nếu chị em mình vẫn còn sống, sau chiến tranh làm gì mà không gặp được nhau. Thật là trời đất run rủi chị em mình lại gặp nhau ở đây!

Nói rồi chị khóc! Tôi ôm chầm lấy chị. Chị thật là người mẹ thứ hai của tôi. Chắc không thể nào tôi quên được tấm lòng của chị. Tôi cầu mong trời phật phù hộ cho chị chóng khỏi để lại tiếp tục đi làm. Chị bảo chị chỉ xin nghỉ phép được có ba ngày. Chị tính ngày đi, ngày về ngày ở chơi với tôi. Vậy mà trận bom bên cầu ngày hôm ấy đã cướp đi những ngày lẽ ra là rất đẹp với chúng tôi. Tôi có ý định dẫn chị đi xem núi Voi, xem cái đầm lầy và đãi chị món ốc nướng ngon tuyệt đỉnh của chúng tôi! Vậy mà… Thôi chiến tranh mà ai biết được. Ngay cả sống chết còn không biết được nữa là! Chị em gặp nhau ở đây là tốt rồi. Chị bảo chị ân hận không còn quà cho tôi. Chị cũng bảo cả gạo bố mẹ tôi gửi cho chị cũng bị tung theo khói bụi! Tôi an ủi chị: "May mắn làm sao cả hai chị em mình đều sống sót sau trận chiến đấu ác liệt ấy."

Ông Thảo cứ nhìn đồng hồ, chắc ông canh giờ tàu chạy. Ông không nói ra nhưng tôi biết những thời khắc gần nhau của chị em tôi sắp hết. Tôi an ủi và úp mặt vào ngực chị. Vẫn mùi thơm quen thuộc toả ra từ ngực chị. Tôi ghì mặt vào giữa ngực chị, cái nơi mà những ngày trước đây tôi nghe thấy tiếng tim đập dồn dập của chị. Tôi bỗng nhận ra hương thơm thoang thoảng của mùi lá xả quen thuộc! Cái hương thơm ấy tôi luôn nghĩ tới. Chắc chắn ngày gần đây nhất tôi sẽ về với chị, dù chiến tranh có kết thúc hay không!

…Tôi bỗng giật mình vì một tiếng gọi:

-  Cháu Thanh đấy à?

Tôi nhìn lên, một ông già người nước ngoài râu dài trông quen quen. Hình như tôi đã gặp ở đâu thì phải.!... Đúng rồi! Đây là ông già Khôt-ta-bit đây mà!

-  Dạ con chào ông! Ông có việc gì đến đây vậy?

- Ta đang bay trên bầu trời Việt Nam để xem các con đánh giặc, bảo vệ tổ quốc như thế nào. Ta cũng thấy con đang cần đến ta. Ta cho con mượn tấm thảm bay này, hai chị em con bay trên vùng trời Thái Nguyên này mà xem…

Tôi và chị Thơm cùng nói :

-  Thời gian của chị em con gấp gáp lắm!

-  Không sao đâu, nhanh thôi mà!

…Thế là chúng tôi bay lên bằng tấm thảm của ông già Khôt-ta-bit cho mượn. Tôi chỉ cho chị Thơm cái nóc nhà cao nhất, đó là bảo tàng Việt Bắc. Còn kia là trận địa pháo mà chị bị thương. Cái trận địa cao to là thế mà bây giờ bị san gần như bằng địa. Còn con sông Cầu nước chảy lơ thơ vẫn đó, sông như một dải lụa mềm uốn ôm lấy thành phố. Chị Thơm cười rất tươi khi nhìn thấy con sông Cầu. Tôi có cảm tưởng là chân chị bây giờ không còn đau nữa! Tôi chỉ cho chị cái cầu đâm vào trận địa pháo đó là cái cầu Gia Bảy. Chị gật đầu nói to như sợ tôi không nghe thấy. Chị biết rồi, chỗ đó chị đứng chờ xe ngựa và chờ em đấy!

Chúng tôi lại bay tiếp về phía làng Nậm. Tôi chỉ cho chị biết cái dốc có tên là Măng Đắng, nơi rẽ vào làng Nậm. Tôi bảo măng ở đó đắng lắm không ăn được đâu, nếu không biết làm. Chị Thơm cười. Chị lại hét to trong không gian vùn vụt: Chị rất thích ăn đắng! Có đắng cay mới ngon, mới thú vị, mà mới có ngọt bùi!... Tôi chỉ cho chị cái trận địa pháo của chúng tôi, mãi chị mới phát hiện ra. Hoá ra mấy đứa ở lại, nguỵ trang khéo quá, rất khó nhận thấy. Vậy mà với phương tiện tối tân, địch vẫn phát hiện ra bọn tôi và ném bom xuống. Chết thật, tôi chưa báo cho các chú bộ đội pháo cao xạ là chúng tôi đang bay trên bầu trời các chú bảo vệ. Tôi bò ra mép thảm vẫy vẫy tay báo với các chú. Mà hình như mọi người dưới đất không nhìn thấy bọn tôi. Thôi tốt nhất là cứ cởi cái may ô trắng của tôi giơ lên xin hàng các chú. Mình hàng mình có sao đâu! Chị Thơm kéo tôi lại. Chị bảo tôi: Em quên rồi à? Đây là tấm thảm tàng hình cơ mà. Lúc bấy giờ tôi chợt nhớ ra. Ừ nhỉ, mình quên thật. Tôi chỉ cho chị Thơm cái đầm Vực, nơi chúng tôi hay tụ tập ăn ốc nướng và tán chuyện tào lao. Chị bảo, chị cũng khoái ăn ốc nướng lắm…

Bỗng một bàn tay đập nhẹ lên vai tôi. Thì ra là ông Thảo. Ông bảo tôi mê gì mà nói lảm nhảm thế? Đến giờ đi rồi! Tôi nhìn lại chị Thơm. Chị vẫn khóc, những giọt nước mắt lăn xuống từ má chị. Tôi cũng không cầm được nước mắt…

Giờ chia tay của chúng tôi đã đến. Chúng tôi ra cửa bệnh viện, rất may một chiếc xe ngựa vừa tới, chúng tôi vẫy, xe dừng lại đón. Chị bước lên xe ngựa. Tôi hình dung chị như một một nàng công chúa bước lên một chiếc xe hoa với bốn con ngựa kéo, chiếc xe kết đầy hoa tươi nhiều màu sắc rực rỡ. Dưới ánh nắng lung linh, chị - nàng công chúa với xiêm y lộng lẫy một màu trắng tinh khôi như một tiên nga giáng trần. Chúng tôi vẫy tay chào chị. Bất giác chị khẽ mỉm cười, một nụ cười thật đôn hậu, thật đáng yêu làm sao.

Trên đường về, cứ mỗi đoạn lại gợi cho tôi những kỉ niệm. Cái đoạn này cạnh Bảo tàng Việt Bắc, nơi mà hôm ấy tôi nghe thấy còi báo động là cùng thằng Vện nhảy ngay xuống ven sông. Nếu chúng tôi vẫn cứ đi tiếp thì sự thể chẳng biết sẽ ra sao? Chúng tôi về qua cầu Gia Bảy. Một lỗ bom lớn đầu cầu lại gợi cho chúng tôi những gì đã được chứng kiến. Đau thương biết bao những con người vô tội đi vớt cá chết. Anh hùng xiết bao những chiến sĩ đã hi sinh trên trận địa đầu cầu, cả những anh chị em học sinh, sinh viên ngày hôm ấy đã tham gia đắp ụ pháo! Ngày mai, cái ngày chúng ta toàn thắng, nơi đây chắc chắn sẽ dựng lên một tượng đài cao sừng sững và rất oai nghiêm để tưởng nhớ những người anh hùng đã hi sinh tại nơi này. Họ là những chiến sĩ không bao giờ chết trong lòng chúng tôi và mọi người!

Chúng tôi cũng vẫy một chiếc xe ngựa. Lên xe, cả bọn đều im lặng. Tôi không nói gì, bọn chúng cũng không đứa nào dám nói. Ông xà ích mọi khi pha trò vui là vậy mà giờ cũng im lặng. Con ngựa như chạy chậm lại những khi lên dốc, tôi thấy nó thở phì phò rất nặmg nề. Bầu trời một màu tím ngắt. Tiếng móng ngựa gõ trên đường vẫn lốp cốp mà sao tôi nghe thấy nó rời rạc đến vậy! Cuộc chiến của chúng tôi vói bọn máy bay giặc là không cân sức. Chúng có bom đạn thật, máy bay thật ném bom xuống chúng tôi thật. Còn chúng tôi ngoàì tinh thần yêu nước, căm thù giặc ra, chúng tôi chẳng có gì cả. Khẩu pháo chúng tôi mất công làm ra bằng cả mồ hôi, trí tuệ của cả bọn lại không là thật. Không bắn được. Giá như khẩu cao xạ của chúng tôi là thật thì chúng tôi đã giáng trả bọn địch những đòn chí mạng. Chí ít, tôi không phải bỏ chạy! Không để lại những vết thương trên người Trong, người thiếu niên đáng yêu, đáng kính phục, đáng trân trọng. Giá giờ đây tôi có một phép màu nào đó, chỉ có một phép màu thôi, tôi sẽ biến tôi thành Trong để chịu những nỗi đau mà em đang gánh chịu. Nếu Trong có làm sao thì không biết tôi sẽ như thế nào? Trong ơi, em có hiểu tấm lòng anh bây giờ không? Hãy tha thứ cho anh. Hãy tha thứ cho những phút yếu đuối của anh. Từ những phút yếu đuối ấy đã xảy ra bao nhiêu điều mà không thể gì bù đắp được. Trong lại chuyển về Hà Nội nơi tôi sinh ra và lớn lên. Giá như tôi được đến bên Trong để chăm sóc em những lúc này. Hãy tha thứ cho anh, Trong nhé!... Liệu giờ đây phải làm gì để trả thù cho Trong, cho chị Thơm? Có lẽ chúng tôi phải mở một cuộc họp bàn mời chị Cúc và anh Thiều tham dự? Phải tìm ra một cách gì đó để chúng tôi được góp sức cùng mọi người đánh thắng quân xâm lược! Phải tham gia trực tiếp với các anh chị, cô chú…

Cứ mải miết suy nghĩ, về đến dốc Măng Đắng, thằng Dình đập vào vai tôi, tôi mới chợt tỉnh.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.