Tôi, bố tôi và thằng Bình, ra ga Hàng Cỏ (Tên ga Hà Nội bấy giờ) lúc 7 giờ tối. Chúng tôi gọi xích lô vì thằng Bình không đi bộ được. Mặc dù từ nhà tôi ra ga không xa.
Đêm ấy bầu trời đen kịt. Không trăng sao, nhưng bù lại những chiếc đèn đường cũng đủ sáng để cảm nhận. Không khí chiến tranh đã bao trùm trên đường phố. Đây đó những tốp công an tự vệ đi tuần tra. Nhiều tốp bộ đội hành quân. Có lẽ các anh đang chuyển quân ra chiến trường. Họ vừa đi vừa hát vui vẻ. Thi thoảng có những cô gái đi qua liền bị các anh bộ đội đùa vui. Đại loại: “Tạm biệt em yêu nhé! Anh đi vào Nam chiến đấu, ở nhà cố gắng đợi. Hòa bình anh sẽ về! Đừng có léng phéng với thằng nào nhé!...” Tôi chẳng hiểu gì. Bố tôi thì như không để ý đến những gì xảy ra xung quanh. Chắc bố đã quen với những chuyện chiến tranh. Bố cứ dặn dò thằng Bình: “Con chịu khó đi sơ tán ngoan, thỉnh thoảng bố sẽ lên thăm con. Con phải nghe lời anh, cả anh Vĩnh con bá Ái nữa!”. Mà tôi và thằng Bình đã biết anh Vĩnh như thế nào đâu…
Chiếc xích lô cứ lướt đi. Tâm trạng tôi thì rối bời. Tôi nhớ mẹ tôi. Tiễn chúng tôi, mẹ khóc. Mẹ không cầm được nước mắt. Người mẹ nào chẳng thế. Xa con, người mẹ rắn rỏi đến mấy cũng phải rơi nước mắt. Đằng này chúng tôi đi không biết ngày nào trở về. Nói dại nếu hai đứa chúng tôi có bị làm sao thì chắc mẹ không sống nổi. Chiến tranh là vậy. Chiến tranh là chia li, là đau khổ. Chiến tranh là mất mát, là chết chóc... Chiến tranh có thể ngược với quy luật. Không chết chàng trai ra trận mà chết người con gái ở hậu phương. Mà cũng lạ! Cuộc chiến tranh này, chỗ nào cùng là trận địa, chỗ nào cũng là chiến trường. Chỗ nào cũng có thể thương vong, chết chóc. Nghĩ đến cái chết, tôi lại rùng mình, sởn gai ốc. Tôi tưởng tượng mình bị chết mọi người đến đưa ma… Mấy lần đi đưa đám ma, tôi biết. Người nào cũng khóc, cũng xót thương cho người đã chết. Chết là hết mà… Chết không được đi học, không được đi chơi, không được ăn những món ngon. Không được gặp mọi người nữa. Tôi lại rùng mình!... Mẹ tôi cứ đòi theo chúng tôi ra ga. Bố không đồng ý. Ông không muốn có sự tiễn đưa khóc lóc tại sân ga. Ông đã quen lắm với chiến tranh rồi! Mẹ khóc, chắc chúng tôi cũng khóc theo. Bố bảo mẹ ở nhà còn trông nhà, tối tăm thế này nhà cửa lại tuyềnh toàng. Nói thế, mẹ tôi mới chịu ở nhà.
Không biết tàu chạy có đúng giờ không? Trong chiến tranh, các chuyến tàu đều chậm. Mọi chuyến tàu đều ưu tiên số một là chở bộ đội vào Nam. Chúng tôi đến ga. Không ngờ tối đêm rồi mà ga còn đông người đến như thế. Bố mua vé trước nên chúng tôi vào ga không mấy khó khăn. Đông nhất là bộ đội. Những anh bộ đội trẻ măng, quân phục mới, tề chỉnh, ba lô trên vai. Các anh nói cười vui vẻ lắm! Các anh ra mặt trận mà cứ như đi trẩy hội. Họ chào nhau, hẹn nhau ngày thắng lợi. Họ chia tay nhau. Có những cô gái quay mặt đi, lau vội dòng nước mắt bất chợt xuất hiện. Đất nước có giặc, toàn dân là lính! Sơ tán cũng như đi ra trận!... Chiếc ba lô rất nhiều dây kháng chiến năm nào bố tôi dùng, giờ lại được tôi mang trên vai. Tôi không có mũ, nhưng nhìn tôi thì giống bộ đội lắm rồi. Bộ quần áo màu rêu tôi mặc, mẹ tôi mới may. Mẹ bảo, giờ thì ai cũng là bộ đội nên mẹ may cho bộ quần áo màu rêu này! Mẹ rất muốn may cho tôi bộ quần áo màu sáng, nhưng những màu bắt mắt lại là màu làm mục tiêu cho máy bay địch. Mặc dù vậy, bộ quần áo của tôi trông cũng rất oách. Bố tôi bảo: Chỉ thiếu cái áo trấn thủ và cái mũ lưới nữa là giống bố, anh vệ quốc ngày xưa. Tôi không chịu. Tôi giống anh bộ đội hiện nay thì đúng hơn. Bố tôi cười. Giống ai thì cũng là anh bộ đội cụ Hồ cả thôi! Thằng Bình em tôi thì đeo một cái túi dết. Cái dây dài lướt thướt, khi di chuyển, cái túi cứ đập vào mông nó và phát ra tiếng kêu rất lạ. Trong túi có một bộ quần áo của nó. Tôi bảo để tôi mang tất cả. Bình không chịu, nó cũng thích được làm việc. Nó cũng thích mang vác như anh bộ đội. Chạy gằn theo chúng tôi một lúc, nó thở dốc. Nó đòi bố tôi cõng. Bố tôi cũng chiều nó. Tôi bỗng khựng lại trước một con tàu chuyển bánh. Các anh bộ đội xáo xác. Các anh thả những tờ giấy bay như bươm bướm. Các anh nói với những người ở sân ga: “Các bác ơi! Các bác chuyển thư dùm chúng con. Chúng con không về qua nhà được! Chúng con phải vào ngay miền Nam chiến đấu... Cô ơi, bác ơi! Giúp chúng con nhé! Nếu không chuyển được thì gửi qua bưu điện cho bọn con!” Tôi nhặt lên. Một lá thư viết vội. Không có phong bì, không đề ngày viết. Nội dung rất ngắn gọn: “Bố mẹ ơi! Con đang trên đường vào Nam chiến đấu. Con không kịp qua nhà! Con mong bố mẹ và các em mạnh khỏe. Con chào bố mẹ. Hết giặc con lại về!” - Ai nhặt được lá thư này xin chuyển hộ cháu đến số nhà ... phố Huế, cháu xin cảm ơn !
Vậy là anh bộ đội này bắt đầu vào Nam chiến đấu. Tôi nhìn lên cửa sổ toa tàu. Những khuôn mặt trẻ, những nụ cười tươi rói. Họ đi vào cuộc chiến đấu mà nhẹ nhàng như vậy đó! Chiến đấu là gian khổ là sinh tử, sao mà các anh vui vẻ thế. Các anh coi thường cái chết. Các anh coi cái chết nhẹ như lông hồng. Tôi đi sơ tán, khổ chẳng thấm vào đâu. Khó khăn chẳng là cái gì cả. À mà rất nhiều anh bộ đội đội mũ tai bèo, mũ của những chiến sĩ giải phóng quân. Đêm nay các anh phải đi suốt đêm để đến chiến trường! Sao các anh đáng yêu thế! Sao mà thương các anh quá! Giá mà tôi bỗng lớn lên như cậu bé Phù Đổng, có lẽ tôi cũng ở trong những đoàn quân ấy. Tôi bỗng dõi theo một chị. Chị còn rất trẻ. Chị chạy theo đoàn tàu đang bắt đầu chuyển bánh. Trên ô cửa, một anh bộ đội trẻ măng chìa đôi tay ra. Hai bàn tay chị cũng giơ lên với theo. Cứ thế hai đôi tay cứ chạy theo đoàn tàu mà chẳng nắm được nhau. Cả hai đôi tay cùng chuyển động theo đoàn tàu. Giá như có một phép màu nào đó tôi sẽ làm cho con tàu đỗ lại để anh và chị nắm được tay nhau, dù chỉ là chốc lát. Hoặc là Tôn Ngộ Không tôi sẽ giơ đôi tay của tôi ra, nâng đôi chân của chị cao hơn lên, chỉ cao lên một chút thôi là bàn tay chị nằm gọn trong bàn tay anh. Vậy mà những phép màu đó không có được. Đôi tay anh xa dần đôi tay chị. Xa dần, xa dần theo tốc độ tăng của đoàn tàu. Họ sẽ xa nhau mãi mà chẳng hề nắm được tay nhau !...
Tôi đang miên man nghĩ. Bố tôi bỗng giật mạnh tay tôi. Con nghĩ gì thế ? Tàu Thái đến rồi kìa! Chết thật, tôi lại tơ tưởng… Tôi đưa lá thư cho bố tôi và nói: Lúc nào về, bố chuyển giúp thư này, vì anh ấy ở gần nhà mình. Bố tôi cầm lá thư đút vào túi áo, rồi kéo chúng tôi lên tàu. Lên tàu, tôi cứ nghĩ mãi về các anh. Nếu khi tôi lớn mà vẫn còn giặc, chắc chắn tôi sẽ tòng quân đi chiến đấu. Bố tôi cõng thằng Bình, còn tôi cứ bị bố vừa lôi vừa kéo vào toa. Rất may, vẫn còn chỗ tạm đủ cho ba bố con tôi. Ngồi yên lặng, định thần lại, tôi nghĩ miên man. Cái tính tôi nó như vậy, cả nghĩ. Sao con người ta cứ phải đánh nhau nhỉ? Hai người lính ở hai chiến tuyến phải đánh nhau. Mà họ không biết nhau, không thù oán nhau. Họ đánh nhau vì lí do gì? Nhưng cái gì đã khiến họ cầm súng? Cuộc đời, ai chẳng thích bình yên. Rõ ràng, nếu những người bên kia chiến tuyến không kéo quân sang xâm lược nước ta, thì làm gì có đánh nhau? Họ mang súng, đạn, máy bay, tàu bò, đổ tiền, đổ của, tạo ra cuộc chiến? Tôi đã đánh trận giả, tôi biết, hai bên đều bị đau. Mà trận thật, chắc đau hơn! Trận thật, súng đạn thật cơ mà! Một lẽ đương nhiên, nó đánh ta thì ta đánh trả. Cái giá của hòa bình là phải chiến thắng chiến tranh… Các anh vào chiến trận, còn chúng tôi phải lùi xa. Trẻ con mà!...
Trời tối đen. Thi thoảng ánh sáng loe lóe nhưng yếu ớt từ dưới đường hắt lên. Ánh sáng yếu ớt ấy cũng đủ nhìn rõ mặt người. Một bà ngồi cạnh chúng tôi, một phụ nữ nông thôn. Bà ta chắc vừa đi thăm chồng ở Hà Nội. Bà mời chúng tôi ăn bánh chưng mùi thơm phức. Tôi mới ăn cơm chiều mà giờ ngửi mùi bánh chưng sao thấy thèm thế! Bố tôi không ăn. Tôi vẫn nhận một miếng. Bà còn động viên: “Ăn đi con ạ! Không biết thế nào! Nay sống mai chết, khôn lường. Cứ phải ăn cho khỏe. Phải sống. Phải sống thật khỏe mạnh con ạ! Để còn sức chờ đón ngày chiến thắng!” Với cái triết lí đơn giản ấy tôi thấy hay hay. Đúng như vậy. Hôm nay còn ngồi đây, ngày mai chưa biết sẽ ra sao? Đạn lạc, tên bay, biết thế nào? Ai sống, ai chết? Ngày mai ra đi, nhưng hôm nay phải sống. Phải sống khỏe mạnh. Phải biết yêu thương! Nhìn kĩ bà, tôi thấy toát lên vẻ đôn hậu đáng yêu. Vâng! Cuộc sống có nhiều người như thế. Cuộc sống đáng yêu biết bao! Thằng Bình em tôi không ăn của nếp. Món khoái khẩu của nó là bánh mì. Bố tôi kể ra cái khẩu vị của nó cho mọi người nghe. Thằng Bình thà nhịn đói còn hơn ăn miếng bánh chưng. Cũng một lẽ nữa, ăn của nếp là không hiểu sao người nó cứ bị mẩn ngứa. Phía ghế đằng trước chúng tôi có một bà còn khá trẻ. Bà lôi từ trong gầm ghế ra một chiếc tải. Đó là tải bánh mì. Bà cẩn thận tháo dây buộc, lấy ra một chiếc bánh nóng, thơm. Bà đưa cho thằng Bình và nói: “Cháu ăn đi!” Rồi bà kể: Cứ hai ngày một lần, bà từ Hà Nôi về Lưu Xá mua một tải bánh mì đưa về bán cho anh em công nhân gang thép. Thấy tôi có vẻ không hiểu, bà ta giảng giải. Trên này có khu gang thép là nơi họ nấu từ những cục quặng thành gang, thành thép để cung cấp cho các nhà máy cơ khí làm ra máy móc. Khu gang thép trên này có khá đông công nhân. Một cái bánh mì cũng đủ để ấm dạ, ấm lòng trước khi vào ca. Thằng Bình nhận chiếc bánh mì, ăn ngay không khách sáo. Nếu là ban ngày chắc tôi sẽ nhìn thấy khuôn mặt rạng rỡ của nó khi được nhận chiếc bánh này. Bố tôi cám ơn bà và ngỏ ý muốn trả tiền. Bà ta giãy nảy. Bà nói đáng là bao. Cháu nó ăn ngon miệng là nhà em sướng rồi! Bố tôi như cảm thấy mình có lỗi. Bố bảo, lần đầu tiên đưa bọn trẻ đi xa nên cũng không để ý đến chuyện ăn. Ba bố con tôi, trước khi ra ga đã cùng nhau chén một bụng căng rồi. Bố không nghĩ rằng nửa đêm sẽ đói. Mà đúng thật, khi đi, tôi no lắm, vậy mà giờ nếu không có miếng bánh chưng của bà khách cùng đi chắc tôi cũng không chịu được. Vậy mới biết vì sao những người làm đêm, làm ca ba phải tổ chức ăn ca ba. Tôi lại nhớ đến chị Thơm. Chị kể cho tôi rất nhiều về đời sống công nhân dệt, về những niềm vui, nỗi buồn của họ. Những nhọc mệt khi phải làm ca ba. Không biết giờ này chị ở đâu, chị đã về chưa? Nhiều lúc tôi để ý thấy chị thoáng buồn. Chị hay thở dài. Cuộc sống của chị có gì uẩn khúc chăng? Tôi dò hỏi, chị không nói…
Tàu đến ga Lưu Xá. Người đàn bà buôn bánh mì chào chúng tôi rồi xuống tàu. Bà ta còn dặn với lại: Chỉ còn ít ga nữa là đến ga Đồng Quang, đó chính là ga bố con tôi phải xuống. Đừng có ngủ quên mà đi quá thêm một ga nữa là ga cuối cùng, ga Quán Triều. Đến ga này chỉ còn nước nằm chờ tàu quay về, bởi ga này lúc đó không có tàu xuôi!... Sao mà những người dân bình thường họ tốt bụng thế nhỉ? Những người lao động chân chất, đáng yêu biết bao! Không để ghế trống, bà khách vừa xuống đã có người khác ngồi vào. Khách mới là hai mẹ con. Họ chắc là người dân tộc thiểu số. Bà nói với con những gì chúng tôi nghe không hiểu. Nghe tiếng cứ ríu rít như chim. Bà mẹ, lúc thì nói tiếng Kinh lúc thì nói tiếng dân tộc. Thằng bé đi theo mẹ nó chắc trạc tuổi tôi. Nó chẳng nói, chẳng rằng, chỉ gật đầu hoặc lắc. Ánh sáng loang loáng của đèn đường giúp tôi nhận ra khuôn mặt khá tuấn tú của nó. Nó mặc bộ quần áo màu chàm. Tôi được biết bộ quần áo này qua vở kịch của đội kịch trường tôi với hoạt cảnh “Anh Kim Đồng làm liên lạc” Anh Kim Đồng là người dân tộc Nùng. Chắc thằng bé ngồi trước mặt tôi cũng là người dân tộc Nùng hay Tày gì đấy. Trang phuc hai dân tộc ấy chỉ khác nhau ở chỗ áo dài áo ngắn thôi!... Cái thằng cũng kì. Nó không nói chuyện thì cũng được, nhưng nó cũng chẳng buồn nhìn ai. Tôi thấy nó nhìn lướt qua tôi một cái rồi quay đi chỗ khác. Cái thằng đến là khinh người! Tao cũng chẳng thèm nhìn mày đâu. Đừng có tưởng nhé! Tao hi vọng từ giờ đến khi tao xuống ga, tao sẽ không phải nói với mày câu nào! Nó cứ nhìn ra cửa rồi thỉnh thoảng vỗ tay vẻ thích thú. Qua câu chuyện của bố tôi và mẹ thằng đó, tạm gọi như vậy vì tôi chưa hề biết tên nó, tôi thấy hình như bố tôi hiểu được tiếng bà mẹ nói. Tôi chợt nhớ ra có thời gian dài bố tôi sống với đồng bào dân tộc. Bố cũng gật gù tán thưởng những điều bà ta nói. Thi thoảng bố tôi cũng nói một vài câu tiếng dân tộc… Con tàu đang chạy đều trên đường ray. Tiếng nó to nhưng đều đều. Tàu lại rung theo nhịp tiếng động. Nhiều người thiếp đi trong giấc ngủ. Cái thằng không nói câu nào cũng ngủ gà ngủ gật. Cái nóng cũng dịu đi, nhường chỗ cho những cơn gió thoảng qua, len lỏi vào trong toa. Bỗng nhiên tàu phanh lại. Tiếng bánh sắt rít trên đường ray. Nghe thật đáng sợ. Tôi đang mơ mơ màng màng chợt bừng tỉnh. Mọi người xì xào bàn tán.
- Sao thế nhỉ?
- Tai nạn à?
- Không! Báo động, có máy bay địch!
- Chết thật. Đang giữa đường thế này trốn vào đâu?
- Đề nghị bà con yên lặng, đang có máy bay địch! Ai soi đèn pin thế nhỉ? Có tắt ngay đi không? Chết cả nút bây giờ!
Một nhân viên chạy tàu nói. Nhiều người góp theo. Tiếng xì xào tăng dần. Kì lạ, tôi thấy thằng bé áo chàm vẫn ngủ. Chắc nó đi đường mệt quá nên thiếp đi. Mẹ nó lay nó dậy nói với nó gì đó như kiểu bảo đang có báo động. Nó giở mình một cái rồi làu bàu trong miệng, chẳng ra tiếng. Nhìn cái vẻ của nó tôi đoán là bất cần. Cứ ngủ đã!
Nhiều người lục tục kéo nhau xuống tàu. Họ đứng bên thành tàu dáng điệu lắng nghe. Tôi cũng định kéo bố tôi xuống tàu xem sao. Bỗng mọi người lại lục tục kéo lên. Họ nói với nhau: Máy bay địch đi xa rồi. Con tàu lại từ từ lăn bánh. Ai lại về chỗ của người ấy. Họ lại nằm ngủ như không hề có việc gì xảy ra. Họ chắc là những người đi tàu đã quen với chiến tranh, với báo động. Cuộc sống vẫn cứ trôi. Địch đến, cuộc sống tạm ngừng. Địch đi, cuộc sống lại trở lại bình thường như những gì vốn có của nó. Quả thật lần đầu tiên tôi tiếp xúc với cảnh báo động trên tàu, tôi cũng lo. Tôi nghĩ đến cảnh con rết đang bò, bỗng con gà mổ đứt đôi, rết vẫn ngọ nguậy, còn con tầu nếu bị bom ném trúng giữa chắc hai nửa tung lên. Chắc chắn có người tung bay theo và tất nhiên lại phải rơi xuống. Làm sao mà tránh nổi cái chết. Chiến tranh thì con người thường đi bên cái chết. Lúc ta mạnh, cái chết phải lùi xa, nhưng nếu ta yếu cái chết lại vồ ta, nhập vào ta... Ở nhà tôi có căn hầm trú ẩn của gia đình, cái hầm dưới tấm phản lim ấy. Tôi chỉ việc nhảy tót xuống hầm. Dưới đó tôi hoàn toàn yên tâm. Nghĩ đến hầm, tôi lại nhớ đến chị Thơm! Tôi nhớ những lần xuống hầm cùng chị. Hơi ấm của chị làm tôi ấm dần lên. Sự sợ hãi cứ như bay đâu mất. Còn bây giờ đây, hầm không có, chị Thơm cũng không. Sự lo lắng của tôi lại tăng lên gấp bội. Tôi thầm kêu: “Chị Thơm ơi! Chị đang ở đâu? Em bỗng nhớ chị quá. Chị đừng cười em nhé!” Hình như chị Thơm nghe thấy tôi nói. Chị bỗng xuất hiện ngay bên tôi. Chị vuốt má tôi, hôn vào trán tôi một cái hôn nồng nàn. Tôi ôm chầm lấy chị như thể không để chị tuột khỏi tay tôi. Tôi khẽ kêu: “Chị Thơm ơi! Em không cho chị đi đâu! Chị phải cùng em đi Thái Nguyên cơ!” Bỗng tiếng một bà ngồi cạnh gỡ tay tôi nói: “Thằng cu nó nói mê gì thế ông?” Nghe câu hỏi, bố tôi giật mình quay lại, thấy tôi đang ôm chầm bà ta… Bố tôi bảo tôi mệt quá, ngủ say và nói mê!... Tôi bừng tỉnh. Tôi lại tơ tưởng rồi! Chẳng có chị Thơm nào bên tôi cả!...
Con tàu lại đưa chúng tôi vào giấc ngủ bởi những tiếng đều đều của nó. Thằng áo chàm vẫn ngủ. Chắc nó không hề biết mọi người lo sợ chạy xuống tàu. Cũng may trời tối, chứ không thì mọi người đọc trên sắc mặt tôi sự lo lắng sợ sệt đến như thế nào? Cứ thế cứ thế, con tàu lắc lư đều đều, nó xuyên màn đêm đưa chúng tôi đến một nơi mà tôi chưa hề biết. Nơi ấy không có chị Thơm, một người chị, một người bạn chân thành đáng yêu. Cũng không có thằng Huy. Cái thằng đọc sách nhanh như chảo chớp ấy!
Trong bóng tối nhập nhòe, con tàu như tỉnh như mơ. Tàu giảm dần tốc độ rồi dừng hẳn. Con tàu đang vào ga. Đây là ga Đồng Quang. Người ta còn gọi là ga Thái Nguyên. Xuống đây là đoạn đường gần nhất để vào thị xã Thái Nguyên. Trong ánh sáng hưng hửng của bình minh, tôi đã nhìn thấy một nhà ga. Đúng là ga xép, chỉ có một khu nhà xây theo hình chữ u. Sân ga có khá đông người. Họ đang chờ lên tàu. Họ đi một ga nữa, ga cuối cùng có tên là Quán Triều. Như bà bán bánh mì cảnh báo. Ga này đỗ rất nhanh, chừng mười lăm phút. Nếu ai không để ý hoặc mải ngủ sẽ quên mất và sẽ phải theo con tàu đến ga cuối cùng. Chỉ còn nước chờ tàu xuôi. Mà tàu đó nghe nói không thể chạy ngay vì phải bốc dỡ hàng, đổ thêm nước, cùng sự nghỉ ngơi của công nhân chạy tàu…
Mọi người lục tục xuống tàu. Đúng hơn, những ai xuống thị xã Thái Nguyên xuống tàu. Hòa trong dòng người, bố tôi cõng thằng Bình lững thững bước. Tôi đi theo sau. Hai mẹ con thằng áo chàm cũng cùng đi. Lúc này tôi lại nhớ mẹ tôi. Mẹ tôi tuy hay mắng tôi, nhưng mẹ thật tốt. Tôi nghĩ người mẹ Việt Nam nào cũng tốt. Mẹ làm tất cả vì con. Xa con người mẹ nào chẳng khóc. Đúng là bố tôi cứng rắn hơn. Mẹ tôi mà ra ga tiễn chúng tôi thì chẳng biết mẹ có còn nước mắt để mà khóc nữa không. Tôi đã chứng kiến đám ma bà ngoại tôi, mẹ là người khóc to nhất, mẹ gào lên, khóc đến khản cả cổ! Lúc tôi chào mẹ, mẹ đã cố không khóc nhưng tôi nhìn thấy nước mắt mẹ cứ trào ra. Tôi đã bắt gặp mấy lần mẹ lén quay đi để lau nước mắt.
Tôi lại nhìn thằng áo chàm và mẹ nó đi bên. Nghe nói nó và mẹ nó cùng về nơi chúng tôi đến. Qua câu chuyện, hình như những người mà bố tôi nhắc đến thì mẹ nó cũng biết. Cái thằng cứ lầm lũi bước. Chắc mọi người đều mệt mỏi, không ai nói với ai câu nào. Trời sáng dần. Tôi đã nhìn rõ mặt thằng áo chàm. Mặt mũi nó cũng sáng sủa. Chỉ có nước da là ngăm đen. Chắc thằng này cũng lam lũ. Nhìn bộ mặt của nó, tôi thấy nó cũng đáng yêu. Tôi chủ động bắt chuyện.
- Đằng ấy tên là gì ?
- Sình Quai Dùng !
Cái tên đến lạ. Thằng Dùng trả lời dóng một, còn lạ hơn. Nó nói nhưng mặt tỉnh bơ, trông dễ ghét. Một cái tên tôi mới nghe lần đầu.
- Đằng ấy đi đâu về ?
- Thăm bố !
- Sao lại thăm bố ?
- Thăm bố là thăm bố chứ còn sao nữa !
Bà mẹ đi bên cạnh nghe, giải thích cho tôi:
- Chồng cô làm công nhân gang thép, ít được về nhà. Cô với thằng Dùng
thỉnh thoảng đến thăm ông ấy !
Thì ra là vậy.
- Ấy về đâu bây giờ ?
- Làng Nậm.
Cái tên làng Nậm, bố tôi đã nhắc đến nhiều lần. Chúng tôi sẽ về đấy sơ tán. Vậy là thằng Dùng ở đúng cái nơi chúng tôi sẽ đến.
- Về Nậm còn gần mười cây vớ! Không đi bộ được đâu! Chúng ta đi xe ngựa vớ! Để tôi xem có cái xe nào tôi vẫy!
Mẹ thằng Dùng xăng xái như một người hướng dẫn viên du lịch.
Thái Nguyên gọi là thị xã nhưng người đi lại rất thưa thớt. Chắc buổi sáng chưa đến giờ đi làm. À, mà chiến tranh họ cũng ít ra đường. Chúng tôi đi bộ được một đoạn. Một chiếc xe ngựa đi qua. Lần đầu tiên trong đời, tôi được nhìn thấy xe ngựa. Ở Hà Nội tôi chỉ nhìn thấy xe bò kéo. Chắc ở Hà Nội đông người nên không cho lưu hành xe ngựa. Ngựa chạy nhanh dễ xô vào người đi đường, không an toàn. Thằng Bình đã tỉnh ngủ. Nó nhìn con ngựa cũng với vẻ thích thú và hỏi bố tôi :
- Con gì thế hả bố ?
- Con ngựa mà cũng không biết!- Thằng Dùng hãnh diện trả lời. Cái mặt nó vênh lên.
Mẹ thằng Dùng đã hỏi đúng chuyến xe ngựa mà chúng tôi cần đi. Lên xe còn có hai người nữa. Đúng là xe ngựa chạy nhanh thật. Trong ánh hửng của buối sáng tốt lành, tiếng vó ngựa khua lốc cốc giòn giã trên mặt đường nhựa. Bầu trời xanh không một gợn mây. Phố xá hai bên lướt qua, như lùi sau chúng tôi. Tôi thấy lòng mình thanh thản.
- Cậu học lớp mấy ?
- Lớp bốn.
Vẫn những câu trả lời cộc lốc. Sao nó lại học lớp bốn nhỉ? Thằng Dùng trạc tuổi tôi. Nhìn kĩ, nó còn lớn tuổi hơn tôi. Nếu học dốt chậm lên lớp, cứ cho là đúp một năm thì giờ nó phải học lớp năm chứ. Sao lại mới học lớp bốn. Tôi không dám hỏi tiếp, sợ chạm vào lòng tự ái của nó.
Chiếc xe ngựa đưa chúng tôi xuyên qua thị xã. Giờ mới thấy hai bên đường có những dãy nhà to, cao. Nhiều nhà một tầng, nhưng xen kẽ có những tòa nhà hai tầng. Phố xá vẫn im ắng. Trong chiến tranh, thị xã vẫn thanh bình. Bên đường, không có hầm trú máy bay như ở Hà Nội. Những người dân ở đây vẫn sống bình thản, không hối hả, vội vàng như ở Hà Nội. Có nghĩa là chiến tranh chưa leo thang đến nơi này. Tôi càng thấy yên tâm với ý định sáng suốt của bố mẹ tôi khi chọn nơi này để cho tôi và thằng Bình sơ tán. Chiếc xe đi một đoạn đường khá xa. Tôi quan sát phía bên trái, một vách núi, bên phải một khoảng không, xa xa có một triền sông. Bà mẹ thằng Dùng giới thiệu như để cho tôi hiểu. Đây là sông Cầu. Vâng đúng rồi, tôi đã nghe một câu ca nào đó về con sông này. “Sông Cầu nước chảy lơ thơ...”. Chiếc xe ngựa đỗ lại. Ông lái xe ngựa nói, từ sáng đến giờ con ngựa và cả ông ta nữa, chạy một mạch không nghỉ. Chúng tôi xuống xe và vào một quán nước ven đường. Rõ đây là một trạm dừng chân thường ngày của ông và con ngựa. Một chiếc cầu với hai hàng lan can xa tít. Cầu rộng thênh thang. Tôi hỏi bà hàng nước tên của cây cầu này, bà hàng nước giảng giải. Cái cầu này hình như có hai tên. Người thì gọi nó là cầu Gia Bảy, cũng đúng. Xưa, khi cầu làm xong có bảy gia đình sống ngụ cư ở đầu cầu. Bảy gia đình này tạo nên một xóm dân cư có tên là Gia Bảy. Nó còn có một tên khác đó là Giao Bảy. Tên này cũng đúng. Cầu được bắc giao trên bảy nhịp, bởi vậy nên người ta gọi nó là Giao Bảy. Bà hàng nước hồn nhiên phán một câu: Ai muốn gọi nó là gì thì gọi. Nó vẫn là một chiếc cầu bắc qua sông, mà cái sông này là con sông Cầu.
Giờ tôi mới quan sát kĩ bà hàng nước. Bà ta béo. Tuy vậy, nhìn bà vẫn thấy sự gọn gàng nhanh nhẹn. Cứ xem cách bài trí sạp hàng nước thấy chủ của nó có vẻ ngăn nắp, sạch sẽ. Trên sạp có dăm chiếc chén, một chiếc ấm. Bố tôi gọi nước, bà hàng nước bảo: Nước đó, khắc pha, khắc uống! Tôi thắc mắc với bố: Sao lại vậy? Người uống nhiều, người uống ít thì sao? Bố bảo ở trên này như vậy đấy. Uống ít, uống nhiều cũng tính như nhau. Nhưng mà rẻ thôi. Bà hàng nước nói chuyện xởi lởi cứ như những người thân lâu lắm mới gặp nhau. Có lẽ bà hàng nước quen mẹ thằng Dùng. Cũng đúng thôi, chí ít, mỗi tháng bà ghé qua hàng nước một lần. Họ nói với nhau về cuộc sống, về con cái, về thời cuộc. Bà hàng nước hỏi thăm sức khỏe bố thằng Dùng. Bà ta còn biết mẹ thằng Dùng tên là Dín. Một cái tên rất dân tộc thiểu số. Theo cách ăn mặc thì bà Dín là người Tày…
Nhìn ra xa, giờ tôi mới thấy có con đường cắt ngang đầu cầu. Phía bên kia đường, chính là đầu chữ T, một khu đồi cao án ngữ. Trên đỉnh đồi hình như có một trận địa pháo. Như vậy chiếc cầu này được bảo vệ. Chiếc cầu là huyết mạch giao thông? Tôi hỏi bà hàng nước và được biết chiếc cầu này nối với đường số 1B. Đường 1B này là đường thẳng lên Bắc Cạn. Vậy đây cũng là một huyết mạch giao thông. Đi lên gần chục cây số là nơi chúng tôi sơ tán. Còn nhiều địa danh mà bà hàng nước với bà Dín nói chuyện, tôi chắp nối biết sơ qua lên nữa là La Đành. La Hiên, Đình Cả, Phủ Thông… nói chung đó là chiến khu cách mạng. Mà xa hơn nữa là nước láng giềng đang giúp chúng ta chống quân xâm lược bảo vệ tổ quốc. Vậy rõ đây là huyết mạch. Cũng con đường này giúp chúng ta đưa hàng từ phía cực Bắc vào Nam song song với đường số 1, chi viện cho chiến trường… Sông Cầu rất sâu. Tôi đứng ra lan can cầu nhìn xuống thấy hun hút. Dòng sông vẫn lững lờ trôi, có dăm chiếc thuyền câu, dăm chiếc bè chở gỗ xuôi dòng. Người dân rất bình thản. Có anh vừa chèo đò vừa hò nghe cũng thấy thú vị. Tôi không nghe rõ câu hò nhưng những âm thanh khoan nhặt vang xa tôi hiểu đó là những câu ca vui trong lao động. Một ông thợ chữa xe đạp cạnh bà hàng nước nói vọng ra với tôi: “Này cháu! Cẩn thận đấy! Lăn xuống sông khó cứu lắm đó!” Tôi bỗng giật mình. Giờ mới thấy sợ. Nếu trượt chân, rơi xuống sông, đúng là không thể cứu được. Mặt sông hút xa, sâu thăm thẳm… Tôi lùi lại. Đúng lúc này thằng Bình em tôi mon men ra. Tôi vội kéo nó vào. Bố tôi thì vẫn mải mê nói chuyện với hai người đàn bà và một ông bạn đồng nghiệp. Tính bố tôi vẫn vậy. Ông đã bắt chuyện là khó dứt ra nổi. Cũng may, có ông chữa xe đạp cảnh báo cho tôi. Không thì hậu quả khôn lường… Con ngựa vẫn ung dung ăn cỏ. Chắc chắn nó không hiểu ông thợ chữa xe đạp vừa làm một việc tốt! Ngựa ăn cỏ dưới nắng bình minh. Bóng ngựa in trên thành ta luy đường, trông thực đẹp. Thỉnh thoảng có người đạp xe qua đường. Người mặc trang phục dân tộc màu chàm, người trang phục Kinh xen lẫn. Thật như một bức tranh đẹp buổi sáng. Tôi dắt thằng Bình vào với bố. Bố lấy cho nó một chiếc kẹo lam. Nó chén ngon lành. Sát nhà ông chữa xe đạp là nhà cô thợ may. Cô còn trẻ. Trông khá xinh xắn. Hình như tôi đã gặp ở đâu rồi thì phải. Tôi tự cười mình. Chắc do cô thợ may này giống chị Thơm quá! Đúng cô ta giống chị Thơm nên tôi cứ tưởng đã gặp ở đâu… Rõ thật là!
Tiếng ông lái xe ngựa cắt ngang ý nghĩ của tôi. Ông đề nghị mọi người lên xe tiếp tục cuộc hành trình. Con ngựa đã được ông đóng vào xe từ lúc nào tôi cũng không biết. Nãy giờ, tôi quên sự có mặt của thằng Dình. Không xuống xe, nó nằm ngủ một giấc ngon lành trong khi mọi người xuống nghỉ chân. Chắc nó thiếu ngủ! Tôi hỏi thì nó bảo tất cả đều biết hết rồi! Đúng vậy! Mọi thứ rất mới lạ với tôi, nhưng với nó chẳng có gì là lạ cả. Hàng tháng, thậm chí hàng ngày, nó qua đây, mọi thứ với nó đều quá cũ! Nhưng với tôi tất cả đều mới mẻ, thậm chí là rất mới mẻ. Tôi lại tự cười mình!
Chiếc xe ngựa lên đường, một ông trung niên mắt hấp háy lên xe. Mùi rượu tỏa ra nồng nặc. Bà Dín biết ông ta, hình như ở cùng xóm. Bà nói ông ta tên là Nước, nhưng cả xóm gọi là Cay. Nếu gọi ghép thì là Nước Cay! Thật buồn cười, nước cay lại ở trong làng Nậm. Nước Cay tức là rượu trong nậm rượu. Một sự trùng hợp rất ngẫu nhiên! Ai đó cũng khéo tô vẽ !...