Tôi đã nói dứt khoát với bố mẹ là tôi không đi sơ tán. Tôi không thể xa gia đình, xa bố mẹ được! Giờ đây ở ngay bên bố mẹ mà tôi còn chẳng ra làm sao nữa là xa bố mẹ. Lại còn đi tít mù tắp, ở nơi khỉ ho cò gáy, tôi sống thế nào? Bố mẹ lại còn bảo cho thằng Bình đi theo nữa. Tôi lo cho tôi còn chưa xong! Cái thằng Bình nó hay nhõng nhẽo. Đến đi nhà tiêu nó cũng phải nhờ mẹ tôi giúp…Tôi lại còn liên tưởng xa hơn: Bố mẹ tôi ở lại, nếu bị trúng bom chết thì tôi còn sống thế nào. Hai đứa bơ vơ không nơi nương tựa. Thà chết tất cả còn hơn! Bố mẹ tôi thì… hết dỗ dành rồi doạ nạt. Thú thật bố tôi doạ nạt theo đúng nghĩa của nó. Tất nhiên khả năng cuối cùng là “ban” cho tôi một trận đòn. Đòn thì tôi phải chịu thôi. Nhưng mẹ tôi thì ngược lại, mẹ thường dỗ dành năn nỉ với tôi. Có lúc bà dỗ bằng một biện pháp cuối cùng là… khóc lóc. Mẹ bảo. Nói dại, cứ cho là bố mẹ bị làm sao thì vẫn còn các con, vẫn còn nòi giống gia đình. Hai đứa sẽ sống, chiến đấu trả thù cho bố mẹ. Tôi đối lại ngay: “Con sẽ không sống được nếu bố mẹ chết, thì…làm sao mà chiến đấu trả thù nữa chứ!”. Thế là cứ nhùng nhà nhùng nhằng, chưa ấn định được ngày ra đi, mà ngày nào cũng có báo động, ngày nào cũng phải xuống hầm trú ẩn tránh máy bay địch!…Tôi còn tưởng tượng, cả nhà cùng núp dưới hầm và rồi một quả bom ném trúng hầm. Tất cả nhà đều chết. Nhưng mà như thế vẫn hơn. Chẳng còn ai phải khóc thương ai!...
Không biết ai đã đặt tên cho con phố thân yêu, nơi tôi đã sinh ra và lớn lên là Tô Hiến Thành, tên một ông quan Thái úy yêu nước thời nhà Lý. Ông Tô hết lòng trung thành với Vua, tuy bị gió lay, sóng dập mà vẫn đứng vững như cột đá giữa dòng, khiến trên yêu, dưới thuận, không thẹn với danh vị Đại thần. Những lời kể về Tô Hiến Thành của bố tôi vẫn cứ ngân vang mãi…Con phố nhỏ của tôi như một mũi tên chỉ vào hồ Bảy Mẫu. Đầu mũi tên, cạnh hồ là trường tôi học mang một cái tên rất thơ là Vân Hồ. Cuối mũi tên, là căn nhà nhỏ của chúng tôi. Căn nhà nhỏ đó có bốn người, bố, mẹ tôi, thằng Bình em tôi và tôi. Bố tôi, một anh bộ đội đã từng tham gia chiến dịch Điện Biên. Năm 1954, hoà bình lập lại, bố theo đoàn quân về tiếp quản Thủ đô, rồi ra quân. Bố xây dựng gia đình, mua căn nhà ở đó. Mẹ tôi, một cô gái Hà Nội làm nghề bán rau quả. Sau khi lấy chồng, mẹ ở nhà làm nội trợ. Nghĩa là ở nhà cơm nước, trông nom con cái, nhà cửa. Nhà của chúng tôi khoảng hai mươi mét vuông, lợp tôn. Nhà rất tuyềnh toàng, trước kia là chỗ của người ở, con sen hoặc thằng nhỏ gì đó. Tại đây bố mở một cửa hàng sửa chữa xe đạp. Thực ra cửa hàng chỉ sửa chữa, bơm vá lặt vặt thôi.
Tuổi thơ tôi cứ lặng lẽ trôi theo tháng năm. Sẽ chẳng có gì đáng kể nếu nó chỉ êm đềm như tuổi thơ những cậu bé Hà Nội khác: Ngày ngày cắp sách đến trường, đến bữa thì ăn, tối ngủ có bố mẹ mắc màn, quần áo thay ra bố mẹ giặt. Nhưng có những việc chen vào tuổi thơ và theo tôi suốt cuộc đời. Khi nào nghĩ đến, nó lại trỗi dậy, đó là những chuyện mà tôi sẽ kể cho các bạn nghe. Những chuyện trong quãng đời tuổi thơ mà tôi không thể nào quên…
Như tôi đã kể: Phố nhỏ của tôi cắm vào khu hồ Bảy Mẫu. Người ta gọi là hồ Bảy Mẫu vì nó có diện tích như vậy. Mỗi khi ai hỏi về hồ Bảy Mẫu là tôi lại huyên thuyên. Bảy mẫu có nghĩa là diện tích hồ hai vạn năm nghìn hai trăm mét vuông. Người nghe cứ trố mắt lên nhìn tôi mà thắc mắc: Sao thằng nhỏ lại rành đến như vậy? Có gì đâu, tôi đã nhẩm tính trước rồi. Một mẫu là mười sào, một sào là ba trăm sáu mươi mét vuông. Vậy là bảy mẫu là hai vạn năm nghìn hai trăm mét vuông! Đơn giản như vậy đó!
Cái thời tôi sống, hồ Bảy Mẫu rất rộng. Tất nhiên rộng là so với con người nhỏ bé của tôi, chứ diện tích thì vẫn giữ nguyên không có gì thay đổi. Xung quanh hồ là những đống rác cao như núi. Tôi có cảm tưởng đây là nơi tập kết rác của thành phố. Hoặc chí ít, là nơi tập kết rác của khu (trước kia địa danh quận gọi là khu), khu Bảy Mẫu của tôi. Người ta đã có ý định biến nơi đây thành một công viên lớn, có nhiều cây xanh, có nhiều khu vui chơi, có nhiều cửa hàng bán đủ các loại. Ai muốn mua gì thì có cái đó. Người lớn, trẻ em, người già sẽ đến đây nghỉ ngơi, vui chơi. Một viễn cảnh tươi sáng mở ra. Tuy nhiên để biến thành sự thật là cả một quá trình lâu dài…!
Chúng tôi có thói quen đi chơi bãi rác. Mấy đứa bọn tôi rất lạ. Rủ nhau “Thám hiểm” bãi rác. Bao giờ cũng vậy, cái mà người này bỏ đi, không dùng được, thì đối với người khác lại vẫn dùng tốt. Thói quen nhặt nhạnh đã đưa tôi đi theo những con đường mòn nhỏ xen giữa những núi rác. Vừa đi vừa nhìn, thấy cái gì thích là nhặt lên. Người ta đồn nhau, bãi rác rất thú vị bởi có người bắt được vàng. Ai đó giấu giếm, gói bọc, kĩ quá rồi quên. Cũng có thể rơi mất hoặc bị người khác ném vào sọt rác. Người giấu chết, không kịp nói lại với con cháu! Người bắt được, hưởng cả mấy cây vàng. Họ được đổi đời từ những đống rác. Bọn trẻ chúng tôi không hi vọng bắt được vàng, nhưng những gì chúng tôi nhặt được cũng đủ làm chúng tôi thích thú. Một con dao nhíp cũ gỉ họ vứt đi, chúng tôi nhặt và cạo gỉ, dùng giấy nháp đánh bóng. Thế là lại dùng! Một cái gương vẹt một góc, lau sạch, soi vẫn thấy hình chúng tôi toe toét cười trong gương. Một chiếc hộp sắt, hơi gỉ một chút, cạo hết gỉ đi, bôi chút dầu chống gỉ, cải lão hoàn đồng cho hộp xong, tôi mang về làm hộp đựng bút. Hay tuyệt...
Một hôm sau giờ tan học, bầu trời trưa nắng hồng rực rỡ, tôi rủ thằng Huy bạn thân, cùng lớp lại gần nhà, lang thang theo những con đường mòn, lượn vòng qua những đống rác. Tôi bỗng phát hiện một chiếc kéo xinh xắn. Tôi nhặt lên. Có lẽ là kéo inox. Tôi nhặt miếng vải rồi ra sức lau. Kì lạ, càng lau, cây kéo càng sáng ra. Ai là chủ nhân chiếc kéo này nếu thấy tôi lau xong chắc cũng sẽ đòi lại. Nó bóng lộn như mới. Tôi run lên vì sung sướng bởi những giờ thủ công tới đây tôi không còn phải dùng tới cái kéo han gỉ nữa. Tôi nghĩ, có lẽ phải thử độ sắc của kéo, mặc dù tôi tin rằng, không phải thử cũng biết chắc chắn nó rất sắc. Nhìn ra phía trước, một con chuột nằm tênh hênh trên nền một tấm các tông. Con chuột rất to, nằm chết còn cố nhe những chiếc răng nanh ra, cái bụng thì phồng to, như tỏ rằng chết đó nhưng vẫn còn có khả năng dọa nạt người đời. Tôi nói thầm: Giờ thì chẳng ai sợ mày nữa rồi, hỡi con chuột chết ơi! Nếu có ai sợ mày nhất thì giờ đây cũng dám đứng bên mày và rủa thầm: Hỡi con chuột chết! Mày rồi đời nhé! Giờ mày chỉ còn một vũ khí duy nhất mà mọi người sợ đó là mang theo bệnh dịch hạch gieo rắc cho đời. Tao đây thì không hề sợ. Một chút nữa thôi, tao sẽ về nhà tao. Mày thì ngược lại, vẫn nằm đây. Mày có gieo bệnh thì chỉ có bãi rác này là nhiễm thôi. Để chứng minh cho sự không hề sợ của tao thì… Mày thưởng thức nhé! Tôi xông lên, rồi cúi xuống phía con chuột, tôi dùng cây kéo vừa nhặt được, cắt rất ngọt bốn cái chân đang chổng lên trời của con chuột. Bốn chân lìa khỏi xác chuột, theo nhau rụng xuống bên thân. Tôi bỗng bàng hoàng. Ở bốn cái khúc xương còn lại bỗng rỉ máu. Vậy là con chuột này mới chết. Tôi nhìn lại cây kéo inox của mình, cũng thấy dính máu. Những vệt máu đỏ tươi dần tím sẫm lại. Tôi rùng mình! Tôi là kẻ sát sinh ư? Đâu phải. Con chuột đã chết. Tôi chỉ là người chặt chân tay nó. Chặt chân tay một xác chết thôi mà! Rồi tôi lại tự nhủ, dù sao hành động của mình cũng dã man, tàn bạo. Tự nhiên tôi thấy mình choáng váng, mắt hoa, đầu như ai bóp chặt. Thằng Huy thấy vậy chạy đến đỡ tôi ngồi xuống. Thôi, chúng ta về thôi! Nói rồi nó dìu tôi về. Tôi lấy hết sức bình sinh, tôi ôm chiếc cặp sách bên mình, cùng thằng Huy ra khỏi bãi rác. Chúng tôi mải miết, cắm cổ đi về nhà. Tôi quên rằng trên tay mình đang cầm một vũ khí có dính máu. Trời ơi, đây là bằng chứng cho sự khát máu của tôi. Hay là vứt quách nó đi? Nghĩ vậy, tôi cầm chiếc kéo dính máu, mặc dù rất tiếc, tôi lăng một cái thật mạnh cho nó bay xa…
Về đến nhà. Tôi thấy mình tối sầm mặt mũi. Chẳng lẽ con chuột nó nhập vào tôi chăng? Lấy chiếc chăn ra tôi đắp trùm kín cả người, cả mặt. Tôi như người mất hồn. Tôi nằm, rồi mê man. Thật khủng khiếp…Bỗng có một con chuột khổng lồ nó đi bằng bốn chân, nhưng nó đi không vững bởi không có bàn chân. Cũng may cho tôi. Nó mà đi hai chân như tôi, chắc tôi chết. Chuột đi bằng bốn đầu khúc của chân. Tiếng kêu của những bước đi nghe man dại như những tiếng nạng gỗ, lộc cộc gõ vào không gian. Những chỗ chân vừa bước hiện ra từng vệt, từng vệt máu tươi, loang lổ. Chuột đến chỗ tôi nằm. Nó nhe những chiếc răng nanh ra trông khiếp sợ. Tôi không dám cựa mình. Tôi nằm im giả vờ chết. Chuột bò luồn qua người tôi. Chuột có thể biết tôi giả vờ, nhưng nó vẫn tin chỉ với một cái ngoạm là tôi chết thật. Chuột lại bò lên, liếm tai tôi. Cái răng nanh của nó cào cào như gãi. Nó làm tôi buồn chết đi được. Hay là nó thích trước khi cắn chết tôi phải làm cho tôi cười. Ví như một người bị án tử hình trước khi bị bắn chết phải được ăn thật ngon để có một nụ cười, để ra đi được thanh thản. Cái con chuột này rõ lắm chuyện. Giết tao, thì giết quách đi cho xong. Mày muốn trả thù tao thì cứ cắn đi. Mày cũng nên nhớ, tao không giết mày mà tao chỉ lấy đi bộ giò của mày, khi mày chết rồi mà thôi! Chuột bò xuống phía chân tôi. Chắc chuột tưởng tôi chết thật, nó bỏ đi chăng? Ăn thịt sinh vật chết chán lắm! Tôi như mở cờ trong bụng. Vậy là cái trò giả chết của tôi lại có tác dụng. Tôi để ý thấy chuột ngửi ngửi. Cái mũi của nó dũi dũi vào tôi, nó tìm đến gót chân tôi. Chết tôi rồi, nó tìm đến gót chân Asin rồi. Chuột trả thù tôi đây. Tôi cắt chân nó, nó cắn gót chân của tôi. Nó tìm chỗ yếu nhất của chân tôi, “gót chân Asin”. Nó mà cắn đứt gân của tôi thì tôi chỉ còn nước đi nạng. Con chuột này quả là thông minh và ác độc! Tôi đạp, nhằm đúng cái mõm có chiếc răng nanh sắc nhọn của nó. Tôi không còn sợ nó nữa. Cuộc chiến không khoan nhượng này chỉ có một mạng sống. Mạng sống đó phải là tôi, con người. Con người phải là chúa tể. Con người phải thắng con vật. Vậy mà cái mõm của chuột với những chiếc răng nhọn, săc cắm chặt vào gót chân tôi…
Tôi hét lên:
- Mẹ ơi! Mẹ ơi!
Quả thật, khi nào đau khổ, con người đều kêu tiếng kêu đầu tiên và thống thiết là…Mẹ!…Mẹ ơi!
Mẹ tôi xuất hiện. Mẹ tôi cũng kêu thất thanh:
- Thanh, con làm sao thế? Con làm sao thế này?
Mẹ lật chăn ra, sờ vào trán tôi. Mẹ nói với bố:
- Thằng Thanh nó sốt cao lắm, ông xem xem thế nào.
Tôi mơ mơ, màng màng thấy bố mẹ tôi bàn nhau đưa tôi đi bệnh viện…
Tôi mở mắt, không thấy con chuột đâu cả…Thì ra tôi đã bị cảm từ trong bãi rác. Xú khí của bãi rác kết hợp cái nắng gay gắt làm cho tôi bị cảm sốt. Cũng may, tôi được thằng Huy dìu, nên vẫn đi được về nhà. Cái con chuột khốn kiếp nó đi vào giấc mơ khủng khiếp của tôi…
Tôi ngồi xích lô với mẹ tôi. Bố tôi đạp xe bên cạnh, đi thẳng tới bệnh viện. Giờ tôi mới để ý bàn tay của bố. Thì ra lúc đưa tôi đi bệnh viện vội quá, chưa kịp rửa. Bàn tay bố vẫn còn nhem nhuốc dầu mỡ. Chắc bố đang chữa chiếc xe đạp nào đó. Thấy tôi vậy, bố chỉ lấy giẻ lau qua rồi đưa tôi đi luôn. Hình ảnh đôi tay nhem nhuốc cầm ghi đông tay lái của bố, tôi còn nhớ mãi. Sau khi khám, bác sĩ bảo cho tôi về nhà, uống thuốc cảm và mua lá xông xông là khỏi… May mắn làm sao, thời điểm đi viện cấp cứu không có báo động. Tôi thầm cảm ơn ông trời đã phù hộ cho tôi. Cho cả nhà tôi.
Thời điểm này, giặc Mỹ đang leo thang ra miền Bắc, chúng bắn phá hậu phương lớn. Nơi là khởi điểm của các đoàn quân và hàng hóa, theo những đoàn xe, những chuyến tàu và những con người đi chi viện tiền tuyến lớn – Miền Nam.
Nhưng đó mới chỉ mừng thầm thôi. Tôi vừa về đến cổng thì còi báo động thành phố lại rúc lên. Tiềng loa phóng thanh nghe vang vang:
- “Đồng bào chú ý! Đồng bào chú ý! Máy bay địch cách Hà Nội 150 cây
số. Các lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu. Đồng bào nhanh chóng tìm nơi trú ẩn!...”
Cái âm thanh đó chúng tôi nghe đã quen. Nhưng lần nào cũng vậy cả nhà tôi lại vội vàng chui xuống chiếc hầm trú ẩn của gia đình. Vâng, gọi là hầm trú ẩn của gia đình vì nó được đào ngay trong nhà tôi. Theo lời kêu gọi của thành phố, cán bộ khối dân phố vận động mỗi nhà phải đào một chiếc hầm. Bố tôi chọn vị trí dưới chiếc phản lim. Cái phản lim này là của thừa kế duy nhất mà ông nội tôi cho bố tôi. Cái phản to hơn phản thường. Nó được làm bằng bốn tấm gỗ lim cực dày. Phải dày cỡ 5 phân. Chiều dài gần 3 mét. Ông tôi bảo: Tao thửa từ một cây gỗ lim to, tiếc phiến gỗ, cho nên phải tận dụng. Nó theo kích thước của ông, không theo kích thước chuẩn. Thường kích thước giường phản chuẩn là 1,6 x 2 mét, hoặc 1,5 x 1,8 mét… Ở quê, ông dùng phản này để cho thợ cấy, thợ gặt nằm. Ông bảo, nằm phản lim mùa hè rất mát. Mang ra nhà tôi, ông phải thuê cả một chuyến xe bò kéo. Nhà tôi hẹp, bộ ván này choán cả một góc. Chiến tranh tràn tới Hà Nội, bộ ván ấy lại được việc. Nó trở thành cái nóc kiên cố của cái hầm nhà tôi. Dưới cái phản ấy là chiếc hầm, được xây do công sức của cả nhà. Đào đất sâu xuống tạo một cái hào, sau đó bố tôi đặt những phiến xi măng. Bố tôi gọi đó là những tấm đan. Trên cùng là một hỗn hợp. Tôi cũng không biết gọi tên hỗn hợp ấy là gì nữa. Nó gồm vôi, cát, xi măng lại thêm chút đất đèn. Bố tôi trộn thật kĩ rồi đắp đầy lên trên những tấm đan. Bố tôi luôn tự hào, chiếc hầm nhà tôi là kiên cố nhất. Tôi cũng thích. Tôi ca ngợi cái hầm kiên cố đó. Nó là chỗ dựa của chúng tôi trong chiến tranh. Nhưng tôi thích nhiều hơn nữa là cái thuyết của bố tôi, nó làm tôi yên tâm khi ngồi gọn trong cái hầm này. Bố tôi bảo: “Mình phải luôn tạo cho mình sự vững dạ để không bao giờ sợ cả!” Bố tôi thường nói đùa: Khi có báo động, chưa chắc máy bay địch đã vào! Có vào chưa chắc nó đã ném bom! Địch ném bom đấy nhưng chưa chắc đã trúng! Mà trúng hầm mình, chưa chắc mình đã bị thương! Mà có bị thương chưa chắc đã chết…” Cứ thế suy luận thì đâu phải dễ chết, hay nói đúng hơn, ta chẳng hề sợ địch! Trong lúc mọi người lo sợ, thì tôi, và cả nhà tôi nữa, không sợ. Tôi nhẩm đọc cái thuyết “không sợ” đó của bố tôi. Tuy vậy có một người hàng xóm của tôi rất sợ. Đó là chị Thơm. Chị hơn tôi khoảng bảy tuổi. Chị là công nhân của nhà máy dệt Mùng 8 tháng 3. Chị làm ca nên rất nhiều lần, buổi chiều, tôi thấy chị ở nhà. Chị Thơm rất thích trú trong căn hầm nhà tôi. Một phần như chị nói, đương nhiên tôi cũng phải công nhận: “Hầm nhà em khá kiên cố”. Tuy vậy, còn có một nguyên nhân khác, nhà chị không có hầm. Nếu nhà tôi không cho chị trú thì chị chỉ còn nước chạy ra hè đường. Ở đấy có những chiếc hầm của nhà nước đào trên hè và thả xuống những khoanh bê tông người ta quen gọi là bi. Mãi sau này, hòa bình lập lại, những chiếc hầm không còn tác dụng nữa, thì những khoanh bi vẫn còn tác dụng. Người ta đào những khoanh bi lên, lót xuống những hố sâu, tạo thành những cái giếng nước. Mặc dù hầm trú ẩn ngoài đường cũng kiên cố, nhưng chị Thơm vẫn thích hầm nhà tôi. Chị bảo hầm ngoài đường không kiên cố bằng vì không có phản lim ở trên! Một lẽ nữa, nhà tôi thường có nhiều người ở nhà, chắc chắn sẽ vui hơn. Khi chị Thơm trú nhờ, bố tôi không có ý kiến gì. Nhưng mẹ tôi thì có vẻ như không hài lòng. Mẹ bảo, “thêm con Thơm sẽ rất chật”. Tất nhiên đó chỉ là bố mẹ bàn nhau, tôi nghe trộm được. Tôi để ý, bố tôi rất ít khi xuống hầm trú ẩn trong nhà. Bố thường chạy ra ngoài đường làm nhiệm vụ của dân phòng, khuyên nhủ, nhắc nhở bà con tìm nơi trú ẩn. Chỉ có tôi, thằng Bình, mẹ tôi và chị Thơm là xuống hầm. Còn một lẽ nữa đó là lí do của người lớn, mãi sau này lớn lên tôi mới hiểu… Cứ khi nào có chị Thơm là bố tôi không xuống hầm của nhà. Bố tôi ra đường như thường lệ. Cũng như thường lệ, mẹ tôi xuống trước, chui vào trong cùng. Sau đó là thằng Bình em tôi, đến tôi, chị Thơm là người xuống sau cùng, bởi chính chị sẽ là người đóng nắp hầm. Một khi nắp hầm đã đóng, những người trong hầm chỉ nhận nhau qua giọng nói. Vì nó tối om!
Tôi xin được kể thêm về chị Thơm. Chị là em ruột chú Thảo, hàng xóm nhà tôi. Gọi là hàng xóm nhưng chúng tôi chung sân, chung máy nước và chung nhà vệ sinh. Chú Thảo chỉ kém bố tôi chừng dăm tuổi. Ít khi thấy chú ở nhà. Không biết chú làm nghề gì, chỉ thấy sáng sớm chú đi tối mịt mới về. Bố tôi lúc vui cứ đùa chú ấy là có nuôi chó, nó cũng không biết chủ nó mồm ngang mũi dọc như thế nào?
Quê chị Thơm ở Nam Định. Chị theo anh trai ra Hà Nội vì bố chết trong kháng chiến chống Pháp, còn mẹ cũng mới qua đời, chỉ còn hai anh em đùm bọc lấy nhau. Cũng rất may, ra Hà Nội chị xin được ngay vào nhà máy dệt “Mùng 8 tháng 3”. Người ta đặt cho cái tên ấy theo ngày quốc tế phụ nữ mùng 8 tháng 3 vì công nhân nhà máy này toàn là phụ nữ… Chị Thơm vốn con nhà nông nên khỏe mạnh, chắc nịch. Tính tình chị hiền lành, chịu khó. Việc nhà chị, lúc nào làm xong, chị lại sang làm giúp nhà tôi. Những lúc như thế, mẹ tôi rất quý chị. Mẹ tôi coi chị như một người em. Mẹ thường bảo ban chị nấu những món ăn mà mẹ tôi đã học được ở bà ngoại. Những việc nặng của nhà tôi như: xách nước, bổ củi…chị làm hết. Chị chẳng phân biệt đâu là việc nhà tôi, đâu là việc nhà chị…Chị Thơm rất quý hai đứa chúng tôi. Chị Thơm kém tuổi mẹ tôi không nhiều lắm nhưng chị cứ gọi mẹ tôi là bác, xưng cháu. Chú Thảo, anh chị Thơm thì gọi bố mẹ tôi là anh chi, xưng em. Tôi gọi chị Thơm bằng chị, nhưng thằng Bình em tôi thì gọi chị là cô xưng cháu. Cứ loạn xạ như thế. Tiện đâu thì gọi đấy, có họ hàng gì với nhau đâu…
Tôi nhớ mãi một lần, còi báo động vừa dứt, đúng lúc chị Thơm đi làm về. Chị lao sang nhà tôi. Chị cũng kịp chui vào hầm nhà tôi và đóng nắp hầm lại. Trời thì lạnh, chị mặc phong phanh mỗi chiếc áo mỏng. Ngồi bên cạnh, chị cứ áp sát vào người tôi. Trong hầm, mọi người đều phải ngồi bó gối. Chị Thơm nắm lấy bàn tay tôi. Hình như hơi ấm của tôi truyền sang chị. Tôi thấy bàn tay của chị giá lạnh. Tôi dùng hai tay mình ôm ấp tay chị. Tôi cố mang sức nóng nhỏ bé của tay mình truyền sự ấm áp cho chị. Tôi thấy tay chị như run lên. Hình như cả người chị cũng run lên. Tôi nghĩ chị vẫn lạnh nên áp vào lưng chị. Tôi luồn tay vào nách chị. Chỗ ấy sao mà ấm và mềm mại thế… Tôi càng thấy ấm hơn khi để tay sâu vào trong… Giờ chính chị là người sưởi ấm cho tôi… Tôi như nóng bừng! Người chị cũng nóng lên rất nhanh. Tôi áp mũi mình vào mái tóc chị, một hương thơm thoang thoảng mùi lá xả. Chị thường gội đầu bằng lá xả. Chị bảo gội lá xả thơm lâu và tóc rất mượt… Tôi lại thấy lâng lâng như mình đang bám vào một cánh diều, bay bổng, diệu kì… Chị Thơm bay theo tôi, hai chị em quấn quýt lấy nhau. Chúng tôi vừa bay vừa duỗi cánh tay đập đập như chim trên không trung… Rồi cái giây phút ấm áp bỗng chấm dứt bởi tiếng đài báo yên “Đồng bào chú ý! Máy bay địch đã bay xa…” Tôi như bừng tỉnh, chị Thơm chắc cũng vậy. Chị Thơm đẩy nắp hầm ra. Tôi ngước nhìn chị. Khuôn mặt chị ửng hồng. Tôi bỗng thấy chị đẹp một cách lạ lùng. Có lẽ chưa bao gìờ chị Thơm đẹp như vậy! Mẹ tôi là người chui ra sau cùng, mẹ tôi cười. Không biết mẹ cười vì có báo yên, hay cười có ý gì khác. Tự nhiên tôi thấy mình thoáng lạnh. Thú thật, lúc này tôi chỉ muốn thành phố lại nổi còi báo động để tôi lại ngồi bên chị Thơm. Chị sẽ lại truyền hơi ấm cho tôi!
Tôi cũng xin tiết lộ một bí mật mà chỉ có tôi và chị Thơm biết. À mà có lẽ thằng Bình cũng biết mang máng. Nhưng nó còn bé, có nhìn thấy cũng chẳng hiểu gì. Đó là việc chị Thơm dạy tôi hôn. Vâng! Từ bé đến giờ, có ai dạy và học hôn đâu. Cái hôn tự nó đến như mình phải ăn cơm, uống nước và thở khí trời! Nhưng mà thực sự là chị dạy tôi hôn thật. Không hiểu chị đọc ở đâu? Hay là nghe ai “vẽ đường cho!”. Hôm ấy chị rủ tôi sang nhà chơi. Nhà tôi và nhà chị chung nhiều thứ mà! Tôi ngồi yên vị bên chị, chị bắt đầu nói. Thường khi chị Thơm ít nói, nhưng khi nào hứng lên là chị nói cũng hăng lắm…Chị bảo người ta quý nhau, yêu nhau, mới hôn nhau. Ông hôn cháu, mẹ hôn con, anh chị em hôn nhau. Nhưng cái hôn thắm thiết nhất là hai người yêu nhau. Tôi cũng đã được xem những bộ phim của nước ngoài, họ yêu nhau, ôm nhau và hôn nhau. Tôi cứ thắc mắc, hôn nhau thế thì thích thú gì. Một trong hai người bị bệnh truyền nhiễm, thì người kia chắc chắn bị lây, báu gì. Chị Thơm bảo hôn cũng có nhiều cách. Ông bà, cha mẹ hôn con cháu thường hôn vào trán. Người thân hôn nhau vào má, hoặc áp má vào nhau. Còn hôn môi chỉ có ở những đôi nam nữ yêu nhau hoặc vợ chồng… Nói đến đâu chị Thơm lại làm thị phạm và lấy tôi làm đối tượng. Tôi như bị tra tấn, bởi tôi như một “Ma rơ canh” một giáo cụ trực quan, không hơn, không kém. Thực sự mà nói, không hiểu sao lúc đó tôi lại chẳng có cảm giác gì! Lúc đầu chị Thơm rất sôi nổi, nhưng dần dần tôi thấy hứng thú của chị giảm hẳn…Tôi thích nhất là nhìn thấy bông hoa cúc trắng ở túi áo chị. Chị Thơm mặc chiếc áo bà ba màu gụ, như những chiếc áo khác nhưng trên miệng hai túi chị thêu hai bông hoa cúc trắng. Nhìn xa, ai không để ý cứ tưởng đó là cái khuy nhưng nhìn kĩ thì ra đó là hai bông hoa. Chị Thơm nói với tôi, hoa này chỉ để người quen ngắm thôi! Bông cúc trắng thêu rất cầu kì trên nền màu gụ sao nó đẹp đến như vậy! Tôi thì cứ ngắm cúc trắng, còn chị thì cứ thao thao bất tuyệt… Chị nói với tôi: Hôn nhau là cả hai đều nhiệt tình hưởng ứng. Nếu chỉ có một người chủ động, thì đó là cưỡng ép. Cuộc vui không thành! Thú thật lúc ấy tôi đang buồn ngủ thì làm sao hưởng ứng được. Mà theo tôi nghĩ, tập hôn để làm gì? Ai rồi cũng sẽ biết hôn mà! Chị Thơm thất vọng, thả cho tôi về. Mãi cho đến bây giờ, tôi cũng không thể hiểu nổi vì sao lúc đó tôi lại như vậy? Đúng là chị Thơm có yêu tôi với tình yêu của người chị dành cho đứa em. Là tôi đoán vậy. Dù thế nào đi chăng nữa, tình yêu đó cũng đáng trân trọng…
Tôi được biết, ở quê chị Thơm cũng có một chàng trai yêu chị đắm say. Thật oái oăm, gia đình anh ấy chê chị nghèo. Chị và anh ấy chỉ vụng trộm gặp nhau. Thế rồi anh lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi của tổ quốc. Sau ba tháng luyện quân, anh được điều động vào Nam chiến đấu. Rồi bặt tin. Chị hi vọng một ngày nào đó hòa bình, anh phục viên trở về, chị với anh sẽ tổ chức đám cưới. Rồi anh chị ở luôn ngoài Hà Nội này. “Làm sao mà ngăn cấm được chị.” Chị ra ngoài này ở với anh trai cũng vì ý ấy. Tôi cũng thương chị. Thương cảm với mối tình đầu của chị. Những mong cho nước nhà mau chóng thống nhất để anh chị cưới nhau. Thú thật tôi cũng thích đi dự đám cưới, đặc biệt là dự đám cưới chị Thơm, người mà tôi yêu mến. Đúng là có bao nhiêu chàng trai đều ra trận hết. Tội nghiệp những người con gái phải sống trong cô đơn, âm thầm chờ đợi… Tôi bỗng nghĩ đến đám cưới chị Thơm một ngày nào đó. Tôi là người thích nhất, bởi niềm vui của anh chị cũng là niềm vui của tôi. Tôi ríu rít cùng mấy thằng bạn trong phố mừng vui trong tiếng pháo nổ. Thú vị nhất là cướp những quả pháo chưa kịp nổ đã xịt ngòi. Chúng tôi sẽ là người đốt tiếp cho nó nổ. Lúc đó chỉ có chúng tôi, vâng chỉ riêng bọn tôi sướng thôi!...
Tiếng còi báo động máy bay lại cắt ngang ý nghĩ của tôi. Lại có báo động! Một ngày có biết bao nhiêu cuộc báo động. Người ta cứ trèo lên, trèo xuống căn hầm không biết bao nhiêu lần. Lần này lại có tiếng bom nổ đâu đó. Tôi gọi chị Thơm xuống hầm. Lạ thật, chị không xuống. Tôi chạy sang nhà kéo tay chị. Chị kiên quyết không sang nhà tôi để trú ẩn. Chị Thơm khóc. Không hiểu vì sao hai hàng nước mắt của chi tuôn rơi? Chị nói với tôi: “Thôi cứ để chị ở đây, chị không chết được đâu!” Cùng lúc ấy mẹ tôi gọi váng lên: “Thằng Thanh đâu rồi không xuống hầm đi à! Mày muốn chết hay sao?” Mẹ tôi còn gọi bố tôi mau xem tôi đâu. Tôi đành xuống hầm với mẹ. Tôi hì hục kéo nắp hầm. Bố tôi bảo để đấy bố đóng cho. Mẹ tôi lúc đó vẫn còn cằn nhằn: “Mày muốn chết hay sao đấy? Đạn bom uỳnh oàng như vậy mà vẫn còn nhởn nhơ được! Thật là lạ. Đúng là cha nào con ấy. Bố ương ngạnh, con cũng ương ương. Tao làm sao mà chịu được!” Tôi im lặng nhưng câu hỏi duy nhất của tôi lúc này là: Chị Thơm làm sao thế nhỉ? Tại chị nhớ người yêu chị hay tại chị dạy mình hôn, mình không nhiệt tình? Lát báo yên, chắc chắn mình phải hỏi cho rõ sự tình! Thế rồi lúc báo yên tôi lại quên béng đi mất. Tôi chú tâm vào câu chuyện của bố mẹ tôi nói với nhau lúc dưới hầm:
- Ông tính thế nào? Con cái người ta đưa nhau đi sơ tán hết. Mình cứ cho chúng ở lại, không đi, nếu xảy ra chuyện gì, rồi hối không kịp!
- Thì bà cũng biết đấy! Tôi bận trăm công nghìn việc. Với lại, mình cho chúng nó đi đâu bây giờ? Chúng nó còn học hành, còn ăn uống. Con cái xa bố mẹ là khó lắm, ai dạy dỗ chúng nữa chứ!
- Thì người ta cũng như mình chứ có khác gì đâu?
- Nhưng đưa chúng về đâu? Quê bà thì ở ngoại thành, quê tôi có còn ai đâu? Mà đi đâu phải xa xa một chút, chứ gần thì, ở quách nhà cho nó xong!
- Nhưng chần chừ, chúng leo thang đến, chết cả nút!
- Tôi cũng lo lắm. Còn lo hơn cả bà ấy chứ! Phải giữ lấy nòi giống nhà mình... Hay là tôi tính gửi chúng nó lên Thái Nguyên, nhà bà Ái mà có lần tôi kể cho bà nghe ấy. Chỉ có trên ấy là an toàn, không sợ máy bay, máy bò gì cả. Bà này hiền lành, chồng chết, nuôi một đứa con nuôi trạc tuổi thằng Thanh nhà mình, cũng ngoan. Mà chúng nó ở với nhau, cùng học, cùng chơi. Tháng tháng mình lên thăm chúng nó. Tàu Thái đi cũng tiện…Vào mạn trong lúc này là không an toàn chút nào.
- Ông tính thế nào thì tính. Chứ ở lại túm tụm thế này có mà chết cả nút. Lại còn cái nạn, chốc chốc lại chui xuống hầm… Khổ lắm!
- Các trường họ cũng đi gần hết. Thằng Thanh, thằng Bình có theo trường cũng cơ cực lắm. Bà nghe tôi, cho chúng sơ tán lên nhà bà Ái là thượng sách. Ở trên ấy đời sống cũng dễ chịu. Trên ấy cũng có trường học. Mà họ lại quý người…
- Nhưng mà đi xa như thế, tôi cũng thấy lo. Một thằng thì ương bướng (ý nói thằng Bình), còn một thằng thì hay…tơ tưởng (đó là tôi)!
Chắc tôi hay nghĩ lung tung nên mẹ hay bảo tôi là “Thằng tơ tưởng”! Đây là lần thứ hai mẹ tôi gọi tôi là thằng tơ tưởng. Lần trước tôi không hiểu, tôi đem thắc mắc hỏi bố tôi. Bố tôi bảo: Bố thì không giỏi văn chương, nhưng mà…bố nghĩ tơ tưởng tức là mơ hồ, nghĩ mãi về một điều gì đó, cũng có thể có thật mà cũng có thể không! Vậy tơ tưởng là một điều gì đó không hay lắm!...
Qua câu chuyện của bố mẹ, tôi hiểu là bố mẹ tôi định gửi hai đứa chúng tôi sơ tán lên Thái Nguyên, nơi bố tôi đóng quân trước đây. Chúng tôi sẽ ở với gia đình bà Ái. Chúng tôi sẽ cùng chơi, cùng học với thằng Vĩnh con bà Ái. Nghe đâu nó cũng trạc tuổi tôi. Bố mẹ tôi đã thống nhất rồi.
Tôi thì thực sự không muốn xa bố mẹ tôi. Không muốn xa cái phố nhỏ này, nơi tôi đã gắn bó với bao nhiêu kỉ niệm. Ở đây có bạn cùng trường, cùng lớp, cùng phố nữa. Có bố, mẹ và còn có chị Thơm, ngườì chị hàng xóm tốt nết. Lại còn phải xa thằng Huy cái thằng bạn thân nhất của tôi nữa!
Quả thật, thời gian này những tiếng gầm rú của máy bay cũng đã gần lắm rồi, không còn ở xa như dạo trước nữa. Tin địch ném bom ở Thanh Hóa, Nghệ An được đài thông báo hàng ngày và kèm theo là những tin quân và dân ta bắn rơi máy bay địch...
Ngày lên đường đựơc ấn định vào đầu tháng sau. Cái quyết định ấy của bố mẹ tôi, không cần tôi đồng ý hay là không! Vậy là sự chia li đã ở ngay trước mắt rồi. Tôi chắc chắn sẽ phải xa Hà Nội. Tôi sẽ xa phố phường mà tôi quý, tôi yêu. Tôi lại phải xa hồ Bảy Mẫu, xa bãi rác…Tôi cũng phải xa cái trường học Vân Hồ của tôi. Tôi có rất nhiều bạn học, nhưng thân nhất vẫn là thằng Huy, nó học cùng lớp lại ở ngay trước cửa nhà tôi. Cái thằng bạn mà với tôi, như người nói là “con chấy cắn đôi”. Người ta nói thế có nghĩa là thân nhau lắm, chứ con chấy nhỏ thế, ai còn chia đôi con chấy được!...Tuy nhiên có một đặc điểm là tôi với thằng Huy hay đọc chung một cuốn sách. Đứa nào có cuốn mới là chúng tôi xem chung. Thằng Huy đọc rất nhanh. Tôi thì đọc chậm. Lắm lúc nó đọc xong rồi mà tôi mới chỉ đọc được hai phần ba trang. Tất nhiên thằng Huy phải chờ tôi. Nhiều lúc đến phần hay, gay cấn, thằng Huy cứ muốn giở sang trang mà tôi chưa xong, nó cứ gãi đầu gãi tai. Rồi thằng Huy cũng tìm cách đọc được. Huy kéo nhẹ cái trang tôi đang đọc, nó giở lên một góc nhỏ khoảng 50 độ gì đó. Thế là cả hai thằng vẫn cùng đọc một lúc!…
Thời gian này Hà Nội đã tổ chức sơ tán triệt để. Các cơ quan, các trường học, lần lượt tìm địa điểm sơ tán để tránh những thiệt hại, đặc biệt là thương vong về con người. Những hi sinh đó là không cần thiết. Hà Nội dần vắng đi theo thời gian. Trường tôi cũng đã tìm được địa điểm là thôn Kim Lan, Gia Lâm. Địa điểm này chưa được coi là tốt, bởi lí do duy nhất là nó vẫn ở gần trung tâm thủ đô. Tuy nhiên, theo cô giáo chủ nhiệm nói, nếu không tìm được địa điểm nào khác thì cũng phải sang đấy rồi tìm sau. Cô còn nói: Nếu cá nhân học sinh nào có chỗ sơ tán thuận lợi thì có thể đi theo gia đình. Cô nói tháng sau, cùng lắm là cuối tháng sau trường sẽ chuyển dần những gì có thể chuyển được. Sau đó sẽ lập danh sách học sinh đi cùng. Chiến tranh có thể kéo dài, chưa biết lúc nào kết thúc. Thực sự chiến tranh ngày càng ác liệt. Địch đã leo thang bắn phá các tỉnh ngoại vi Thủ đô rồi. Việc nó sẽ ném bom Hà Nội chỉ còn là vấn đề thời gian. Rõ là như vậy, tôi sẽ phải đi Thái Nguyên như gia đình đã chọn. Tiểu khu, rồi khối phố của tôi, nhiều thanh niên đã lên đường nhập ngũ. Những chàng trai theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc gia nhập quân đội. Họ sẽ vào Miền Nam, nơi ấy đang cần họ trực tiếp đánh quân xâm lược.
Chị Thơm biết tin tôi phải đi sơ tán ở Thái Nguyên, chị gọi tôi sang nhà chị. Chị nói như khóc. Trong tiếng nói của chị, tôi thấy có một cái gì đó biểu hiện sự nuối tiếc, xót xa: “Ngày mai em phải xa chị rồi! Chị mất một người bạn để chia sẻ vui buồn!” Kể cũng đúng. Thường ngày tôi và chị hay nói chuyện với nhau. Có gì ngon, chị cũng gọi tôi cùng ăn. Đi học thì thôi chứ khi về nếu chị có ở nhà là tôi lại sang chơi với chị. Có lần tôi, thằng Bình và mấy đứa trẻ con cùng phố được chị dẫn đi cắm trại. Gọi là đi cắm trại cho nó sang thôi, chứ chúng tôi thường rủ nhau đi ra chơi ở nghĩa địa Tây. Gần nhà tôi, khoảng 300 mét có một nghĩa địa chỉ để chôn Tây, nên mọi người gọi đó là nghĩa địa Tây. Tuy là nghĩa địa nhưng những chiếc mộ ở đây chôn theo hàng lối rất đẹp. Số đông mộ ở đây chôn những lính Pháp chết trận. Mỗi phần mộ được kiến trúc như tòa nhà con. Hầu hết là đá ganito. Chúng tôi hay chơi đồ hàng ở trên những mộ chí, chui vào các lăng. Mỗi người xí một mộ. Coi đó là nhà mình. Rồi sang nhau, thăm hỏi như người lớn. Tất nhiên những lần có thêm mấy đứa hàng xóm. Cuộc chơi rất vui. Có lần chị Thơm nói một câu mà đến bây giờ tôi vẫn nhớ. Tôi cũng bị bất ngờ, liệu đó có phải là câu nói gở? Câu nói định mệnh? Chị bảo: “Bao giờ chị chết, chị cũng bảo anh chị làm một cái mộ cho chị như mộ Tây này!”. Chúng tôi còn cùng nhau đi nhặt hạt cườm. Mộ Tây bao giờ khi chôn cũng có những vòng hoa rất đẹp làm bằng những hạt nhựa hay thủy tinh gì đó, có lỗ xâu vào nhau tạo nên những cánh hoa, cành lá. Những vòng hoa chắc là gửi từ Pháp sang. Họ hàng không thể gửi hoa tươi được nên họ gửi những vòng hoa cườm. Chúng tôi nhặt. Chị Thơm tết rất khéo thành những vòng hoa đeo cổ hoặc những chiếc vòng nhẫn. Có lần tôi đeo nhẫn trên cả mười ngón tay… Rồi chúng tôi chơi đồ hàng, chơi trò vợ chồng, rất vui. Nhiều lần chúng tôi quên cả giờ về. Cũng có lần bố mẹ tôi đi tìm gặp chúng tôi đang ríu rít theo nhau về. Bố tôi bực quá liền cho tôi mấy cái bạt tai. Chị Thơm biết lỗi của mình nên cứ lầm lũi bước. Hôm ấy cũng may là bố tôi thấy, chứ mẹ tôi thì, chị Thơm sẽ bị mẹ tôi mắng ngay. Không chỉ có vậy, mẹ còn nói toáng lên cho hả giận...
Những chuyện cũ cứ được chị Thơm nhắc lại không sót chuyện nào. Tôi ngồi nghe như nuốt từng lời. Không hiểu sao chị Thơm lại nhớ đến như vậy ? Chị ôm chặt tôi, như là sợ mất tôi. Chị hôn rất nhiều lên trán tôi. Theo lời dạy của chị, đó là người trên hôn người dưới. Tôi bỗng thấy những giọt nước mắt nóng hổi rơi trên mặt tôi. Chị Thơm khóc thật. Tôi cố an ủi chị. Tôi đã không chịu đi. Nhưng xem ra tôi không thể cưỡng được. Bởi vì chiến tranh đã tới thềm nhà rồi. Người già và trẻ em không có quyền ở lại. Nói như bố tôi, trẻ con sẽ làm quẩn chân người lớn. Nếu tôi không đi Thái Nguyên theo sự sắp đặt của bố mẹ thì phải đi theo trường. Sẽ tệ hơn và khó khăn hơn khi hằng tuần bố mẹ lại phải đạp xe tiếp tế cho chúng tôi. Tôi chỉ an ủi chị Thơm bằng niềm an ủi duy nhất là: Thỉnh thoảng bố mẹ em lại cho em về thăm chị. Chiến tranh chắc cũng sẽ không lâu đâu. Chị em mình còn nhiều dịp gặp nhau cơ mà. Vậy mà chị Thơm vẫn cứ khóc! Nghĩ cũng tội nghiệp, liệu đó có phải là buổi gặp cuối cùng của tôi với chị chăng? Chiến tranh mà, biết ai mất, ai còn? Nếu là buổi gặp cuối cùng của tôi với chị Thơm thì buồn lắm! Mãi sau này lúc nào nhớ đến chị, tôi lại nhớ buổi chia li ấy! Tối hôm sau tôi đi. Chị Thơm bận đi làm. Vì đúng ca của chị...