CHÀNG nằm mơ thấy mình đại diện cho một thân chủ trong một vụ thưa kiện đòi tiền bồi thường của một thương xá. Thân chủ của chàng bị té vào cầu thang tự động của thương xá và đòi bồi thường sáu mươi lăm ngàn Mỹ-kim. Nhân viên an ninh thương xá vừa chứng tỏ rằng thân chủ của Dave không phải tự nhiên té mà đã bị một kẻ vô danh xô. Dave liền đối tịch thẩm vấn[1]. Lý luận của chàng vô cùng sắc bén nhưng nhân chứng về phía bị cáo đã tránh né mỗi câu hỏi, vừa trả lời vừa nháy mắt với Dave một cách lén lút. Thật không còn gì là công lý nữa, chàng tức giận nghĩ, và chàng rút một khẩu súng lục ra chĩa vào bộ mặt xảo quyệt của gã nhân chứng. Chàng sừng sộ chất vấn y và dùng báng súng đánh như mưa lên đầu lên vai y. Máu phun từ những vết thương của y và y té xỉu trên ghế. Vị chánh án gõ búa lia lịa. Dave dơ cao súng lên và bắn ông ta. Một người lính gác tiến lới gần chàng, với súng cầm trên tay. Dave liền bắn luôn anh ta, rồi quay về phía đám khán giả trong phòng xử án, chàng bắn đại vào họ. Những khuôn mặt của khán giả dường như tan biến lúc bị trúng đạn.
Chàng choàng tỉnh dậy. Toàn thân ướt đẫm mồ hôi. Jill đang ngồi ở bờ giường bên cạnh chàng, nắm lấy vai chàng và hỏi chàng có chuyện gì.
Nàng đã mặc áo quần, khuôn mặt của nàng có vẻ tươi tỉnh hẳn. Ngọn đèn trên trần đã được bật sáng. Chàng quay về phía cửa sổ. Bên ngoài, trời hãy còn tối. Chàng lắc đầu để xua tan giấc mơ. Nàng lại hỏi chàng đang có chuyện gì.
Chàng bảo:
- Chỉ là một giấc mơ.
- Một ác mộng?
- Một giấc mơ kỳ lạ. Rất siêu hiện thực.
- Dave...
- Không hề gì đâu.
Chàng lại lắc đầu và hoa chân ra khỏi mép giường. Nàng đang hút một điếu thuốc lá. Chàng lấy điếu thuốc khỏi tay nàng và hút một hơi. Đoạn chàng hỏi nàng đã thức dậy từ lúc nào.
- Chi cách đây chừng vài phút.
- Mấy giờ rồi?
- Bốn giờ rưỡi.
- Mới nửa đêm.
Chàng đứng lên và đi ra buồng tắm ở cuối hành lang để rửa mặt. Chàng cảm thấy đắng miệng và cần cạo râu, nhưng chàng quên mua dao cạo cũng như bàn chải đánh răng. Chàng rửa miệng bằng xà phòng và súc bằng nước trong vòi. Trở về phòng, chàng thắt cà-vạt một thắt cà-vạt một cách kỹ lưỡng.
Chàng nói với nàng:
- Anh trông ghê quá.
- Anh chỉ cần cạo râu là được.
*
* *
Bên ngoài, đường phố tối đen và vắng vẻ. Tiệm thuốc ở góc đường còn đóng cửa. Các quán rượu cũng vậy. Chàng mua một cái dao cạo và một gói lưỡi dao ở một tiệm tạp hóa mở cửa thâu đêm tại Đường Bốn Mươi Hai. Gần đó, tiệm cà phê Hector đã mở Lúc này, ở Times Square chỉ có bốn nơi sáng đèn. Ngoài ra, tất cả đều chìm vào bóng tối, ngay mặt tiền rạp chớp bóng cũng tắt đèn. Hai người uống cà phê và ăn bánh mì ở tiệm Hector rồi chàng lên phòng vệ sinh đàn ông để cạo râu, thoa mặt bằng xà phòng rửa tay. Chàng làm đứt da, nhưng không đến nỗi nặng. Khi cạo xong, chàng vất luôn cả dao lẫn lưỡi vào giỏ rác và đi trở xuống. Tách cà-phê của chàng đã nguội, nhưng chàng vẫn uống cạn.
Chàng chợt lên tiếng:
- Anh đang suy nghĩ một chuyện.
- Chuyện gì?
- Trở về Binghamton. Em có nhận thấy câu chuyện mỗi lúc một thêm buồn cười hay không? Mình phải trở về nhà và làm việc trở lại.
- Anh muốn nói, sau vụ này?
- Phải.
Chàng đứng dậy, lấy cả hai cái tách đem đến quầy và yêu cầu rót thêm cà phê. Trở về bàn, chàng vừa quậy cà phê bằng một cái muỗng vừa khẽ nói:
- Mình sẽ trở về một thế giới khác. Anh sẽ tra cứu những bằng khoán, soạn thảo và cất giữ những chúc thư.
- Anh đâu phải chỉ làm những việc đó thôi.
- Đúng thế, nhưng thư luật pháp của mình rất trầm lặng và trật tự. Mình không phải thức dậy giữa đêm khuya. Hoặc mang theo súng trong người.
Nàng không nói gì.
Chàng uống một ngụm cà-phê, đặt tách vào dĩa, nói tiếp:
- Em sẽ là một người vợ chỉ lo việc nội trợ.
- Và mỗi tuần sẽ đánh bài một lần?
- Có lẽ.
- Như thế có gì tệ không?
- Em muốn nói chuyện đánh bài? Đàn bà không nên đánh bài một chút nào.
Nàng không mỉm cười:
- Em không ngụ ý nói như thế. Em chỉ muốn nói về chuyện mình trở về nhà và không biết cuộc đời của mình rồi đây sẽ ra sao.
- Không, sẽ không đến nỗi tệ đâu. Tại sao em có ý nghĩ đó?
- Em suy từ lời nói của anh.
Chàng liền bảo:
- Anh đâu có ngụ ý như vậy. Anh chỉ muốn nói lúc bấy giờ sẽ khác hẳn lúc này. Hôm nay là ngày thứ mấy?
- Có lẽ thứ năm.
- Anh phải đi lấy báo Scranton, ở sạp báo anh đã đặt cọc tiền. Nhưng thôi, anh nghĩ khỏi cần. Em chắc chắn hôm nay không phải là thứ sáu chứ?
- Không, hôm nay là thứ năm.
- Thời gian hình như dài thêm ra. Mình mới kết hôn chưa đầy một tuần lễ... em có thể tin được không?
- Thời gian như dài hơn thật.
- Anh vừa giết một người ngày hôm qua.
Lời nói như muốn thoát khỏi ra môi chàng.
Hôm nay trời đẹp quá. Có lẽ trời sắp mưa. Ngày hôm qua anh đã giết người. Em muốn uống cà phê nữa không?
- Anh đừng nên nghĩ đến chuyện đó nữa.
- Anh tin anh đang mơ ước chuyện đó. Không có một ai biết chuyện đó. Em và anh biết, Lublin biết, nhưng không có một ai khác biết được chuyện đó. Khi mình trở về nhà, sẽ không có một ai ngờ tới. Dù họ có nghe kể lại chuyện đó đi nữa, họ cũng sẽ không bao giờ tin.
- Rồi sao?
- Ồ! Anh chỉ nghĩ vậy thôi.
*
* *
Hai người phải trở về khách sạn Moorehead, khẩu súng vẫn còn ở chỗ cũ, giữa lớp nệm và mặt lò-xo. Mấy viên đạn rời hiện để trong phòng của họ ở Royalton, nên chàng không khỏi lo sợ một người bồi phòng vô tình tìm thấy trong lúc quét dọn. Hơn nữa, nhân viên của Royalton có thể nghi ngờ nếu họ mướn phòng mà lại không ở một ngày nào. Chàng định nói trong ngày hôm nay sẽ điện thoại với khách sạn.
Chàng khóa cửa phòng xem lại cuốn họa đồ bỏ túi để cố tìm lộ trình thuận tiện nhất đến Đại lộ Lorring. Có hai đường tàu điện hầm chạy qua gần đó Một đường chạy đến tận Đại lộ Pitkin, nhưng xem họa đồ chàng không sao tìm ra trạm nào gần nhất để lên tàu. Hình như nó khởi hành từ một chỗ nào đó ở Brooklyn. Đường tàu điện kia xuất phát từ Đại lộ Thứ Bảy chạy tới Đại lộ Livonia và Đường Ashford, là đường tàu có thể đưa họ tới một trạm chỉ cách Lorring mấy khóm nhà nhỏ. Và chàng có thể tìm được cách đáp chuyến tàu này. Lẽ tất nhiên họ có thể đi tắc-xi, nhưng chàng ngại gặp phải một gã tài xế lái xe chạy vòng quanh cho dài đường để lấy thêm tiền, thay vì chạy thẳng tới nơi theo đúng lộ trình ngắn nhất.
Xuống tới tầng trệt, chàng để chìa khóa ở quầy tiếp tân và trả trước năm Mỹ-kim rưỡi tiền phòng cho đêm kế tiếp. Họ có thể trở về khách sạn hoặc không, nhưng trả tiền trước như thế này thì phòng sẽ có sẵn nếu họ cần gấp. Số tiền năm Mỹ-kim rưỡi có thể xem như tiền bảo đảm vậy.
Họ tới trạm tàu điện hầm ở Đường Ba Mươi Bốn lúc chưa đầy bảy giờ sáng. Lúc đầu tàu rất vắng khách. Người lại càng ít hơn nữa khi tàu đến trạm Wall Street, và khi họ vào khu Brooklyn trong tòa chỉ có năm hành khách. Chàng đứng dậy để xem lại họa đồ dán trên vách tàu ở gần cửa. Tàu chạy qua đúng hai chục trạm trong khu vực Brooklyn. Một số người lên trong tàu chạy dọc theo Đại Lộ Flatbush, và đa số xuống ở trạm Eastern Parkway. Khẩu 38 lúc này đang nằm trong túi quần của Dave. Khi chàng ngồi xuống, hai vạt áo vét xòe ra, và chàng không muốn người khác để ý thấy báng súng. Túi quần của chàng cộm lên một cách khác lạ và chàng phải kềm chế ước muốn vỗ tay lên chỗ đó. Nhưng hình như không một ai lưu ý đến chi tiết bất thường này.
Con tàu như chạy mãi đến một nơi vô cùng tận. Có một lúc tàu trồi lên mặt đất và tiếp tục chạy trên trời suốt bốn trạm rồi mới chui lại xuống dưới đất.
Rồi nó trở lên mặt đất và chạy luôn trên này. Tám giờ mười lăm thì tàu đến trạm cuối cùng. Lúc đó trên toa chỉ còn hai người. Họ ra khỏi tàu và đi tới cầu thang ở cuối sân ga. Mặt trời đang chiếu sáng nhưng một cơn gió mạnh đang thổi qua trong bầu không khí tươi mát. Họ bước xuống cầu thang và đi qua cổng kiểm vé.
Một tấm bảng ở góc đường cho biết họ đang ở tại ngã tư New Lots và Livonia. Chàng lấy cuốn họa đồ bỏ túi ra dò xem phải đi theo ngả nào bây giờ. Chàng biết lộ trình cần phải theo nhưng chàng không rõ mình hiện xoay mặt về hướng nào nên không thể quyết định khởi sự đi đâu. Chàng quay nhìn lại sân ga, cố định hướng, trong lúc Jill thúc nhẹ cùi tay vào mình chàng. Chàng ngước mắt và chợt trông thấy một cảnh sát viên mặc sắc phục đang băng ngang ngã tư tiến về phía họ. Điều duy nhất chàng lo ngại là khẩu súng. Viên cảnh sát biết chàng đang mang súng trong mình, nên đang đi tới để bắt chàng. Nếu chàng không nghĩ kịp mình đã có ý nghĩ điên khùng, chắc hẳn chàng đã bỏ chạy. Viên cảnh sát đến gần hơn và hỏi nếu họ lạc đường ông ta sẽ sẵn lòng giúp đỡ.
Dave không thể nào nín được, bật cười thành tiếng. Viên cảnh sát ngạc nhiên nhìn sững chàng. Chàng ngừng cười và trả lời quả thật họ đi lạc, rồi hỏi đường tới Đại Lộ Lorring. Viên cảnh sát liền chỉ rõ cho họ: trước hết phải đi từ Đường Ashford tới Đại lộ Linden, rồi quẹo trái qua khỏi độ mười hai ngã tư là đến nơi, không sao lầm lẫn được. Họ cùng cám ơn viên cảnh sát và lên đường.
Khu vực này là một vùng tồi tàn, tuy ít đông đảo bằng những con đường hẻm ở Mã-nhật-tân nhưng về phần dơ bẩn thì lại không kém, cũng như bầu không khí nghèo khổ kinh niên. Đa số các ngôi nhà chỉ có hai hoặc ba tầng. Nhà nào nhà nấy, xây san sát vào nhau, không có sân cỏ và đường xe hơi. Các gian hàng đã bắt đầu mở cửa, bọn trẻ con đang kéo nhau đi học từng nhóm. Một phần ba trẻ con là dân Da Đen.
Xa hơn nữa dọc theo Đại lộ Linden quang cảnh có vẻ tươm tất hơn một chút. Nhà cửa tương tự khu vực Corelli đã ở tại Hicksville, nằm rời nhau, và mặt tiền có tường gạch. Các bãi cỏ ở đây nhỏ hơn và có vài nơi trông chỉ như một đám cỏ hoang mọc trên một lớp rác. Cây cối tuy có nhưng tất cả đều cằn cỗi.
Chàng bảo nàng, trong lúc hai người đứng chờ đèn hiệu đổi màu:
- Anh đã phạm phải một đều sơ suất. Anh đã nói với viên cảnh sát mình muốn tìm Đại lộ Lorring. Rất có thể ông ta sẽ nhớ lại sau này.
Nàng không trả lời. Chàng đốt một điếu thuốc mới, ngẫm nghĩ đây là một trong những điều chàng không tự tính. Đáng lẽ mình phải lo sợ tránh trước mấy ông cảnh sát cho chắc ăn. Đáng lẽ chàng chỉ nên hỏi đường tới Đại lộ Linden, rồi tự tìm cách tiếp tục. Còn có biết bao nhiêu điều cần phải học tới thêm, một quan niệm hoàn toàn mới về những tương quan của mình với cái xã hội mà từ lâu mình đã mang sẵn định kiến.
*
* *
Tới Đại lộ Fountain, Đại lộ Linden quẹo về phía tay trái bốn mươi lăm độ. Đại lộ Lorring bắt đầu từ ngã tư này và chạy dài qua phía đông. Đây là một con đường gần như chỉ có những ngôi nhà để ở. Thỉnh thoảng mới thấy một tòa nhà cũ kỹ còn sót lại với một tiệm tạp hóa hoặc một cửa hàng thực phẩm ở tầng trệt và những căn nhà để ở trên những tầng phía trên. Đa số những ngôi nhà còn lại đều xây cách biệt với nhau và gần như cùng một kiểu. Nhiều nhà có ăng-ten rất cao. Những chiếc xe hơi đậu dọc theo bờ lề hoặc trên lối đi trong sân là xe hiệu Ford, Plymouth, Rambler và Chevy. Ngoài ra còn có một số xe thùng và mấy chiếc Wolkswagen.
Khi hai người băng ngang Đường Grant, họ bắt đầu đi vào một khu vực xưa cũ hơn và cảnh vật khác hẳn. Một nửa khóm nhà ở một bên Đại lộ Lorring có mặt tiền bằng gạch, nhưng phần còn lại của khóm này và tất cả phía bên kia chỉ gồm những ngôi nhà hoàn toàn bằng gỗ ở cách đường khá xa. Ở cửa sổ một căn nhà ván sơn trắng có một tấm bảng chào mừng các du khách.
Phía sau Đường Grant là Elderts Lane. Lee Ruger ở tại 723 Lorring, giữa Elderts và Forbell. Ngôi nhà của y cũng giống như bao ngôi khác trong khóm, có cả thảy ba tầng. Một bảng gỗ dựng trên sân cỏ cho biết “Phòng Cho Thuê” và một tấm bảng khác nhỏ hơn bằng kim loại gắn ngay trên tường nhà gần cổng cũng cho thấy ba chữ đó.
Hai người bước qua phía trước và tiếp tục đi gần tới cuối khóm nhà. Chiếc Pontiac mà họ đã trông thấy ngày hôm qua không có trên lề đường cũng như bên hông nhà. Nhưng rất có thể nó nằm ở phía sau, hoặc trong một ga-ra.
Chàng nói:
- Anh không biết y ở nhà hay đi vắng. Mình không thấy chiếc xe, nhưng chiếc Pontiac đó có thể là xe của tên Krause.
- Bọn chúng không ở chung với nhau?
- Anh không nghĩ vậy. Rất có thể bọn chúng ở chung một nhà. Nhưng ở đây, người ta chỉ cho thuê những căn phòng với đầy đủ đồ đạc. Bọn chúng không thể ở chung một phòng. Trừ phi mỗi tên mướn một phòng trong cùng một ngôi nhà. Còn có rất nhiều chuyện mình không biết. Mình cần phải biết, có tên nào ở nhà không.
Khẩu súng lục vẫn còn để trong túi quần chàng và gây cho chàng một cảm giác khó chịu. Chàng liếc mắt nhìn quanh để biết chắc không có ai đang nhìn chàng, rồi rút khẩu súng ra khỏi túi và đút lại trong thắt lưng.
Chàng chợt bảo:
- Chuyện thật là điên cuồng.
- Chuyện gì?
- Chuyện mình hiện làm lúc này. Đứng khơi khơi ở góc đường đợi tên giết mướn lái xe chạy đến bắn banh óc mình ra. Đứng giữa đường như thế này, anh có cảm tưởng mình như một tấm bia.
- Mình có thể gọi điện thoại và...
Chàng gạt ngang:
- Không, không. Anh không muốn gọi y. Nghe điện thoại chỉ khiến cho y lưu ý đề phòng. Hơn nữa, anh đã chán ngấy trò điện thoại. Anh thấy chỉ có hai giả thuyết. Hoặc y hiện ở nhà, hoặc y đã đi vắng. Nếu y đi vắng, anh muốn biết rõ để tìm vào phòng y. Hay mướn một phòng khác trong nhà, như thế mình có thể bất thần thộp y khi y trở về.
Chàng ngừng một giây, rồi nói tiếp:
- Nếu y hiện ở nhà, không lý gì mình lại ẩn nấp chờ cho y đi ra. Lúc này, rất có thể y đang nằm trên giường, ngủ say như chết. Trời hãy còn sớm. Và có thể vẫn còn ngủ. Nếu y ở nhà, thì có mỗi một việc là đi thẳng vào phòng y và giết y.
Nàng rùng mình. Chàng liền bảo:
- Chính vì vậy mình mới tìm đến đây.
- Em hiểu. Anh có thể bắn y lúc y nằm trên giường?
- Nếu anh có cơ hội.
Nàng cúi mặt xuống đất. Bàn tay của chàng nắm lấy cằm nàng và chàng nâng mặt nàng lên để cho mắt hai người nhìn vào nhau. Rồi chàng nghiêm giọng:
- Em hãy nghe anh nói. Đây không nhải là trò chơi thanh nhã. Mình không phải đang đùa nghịch. Mấy hôm trước đây, bọn chúng cũng không đùa với Corelli, cũng như với mình, và bây giờ mình lại càng không đùa. Anh không phải là Hopalong Cassiday. Anh không muốn tỏ ra cao thượng và để cho tên chó đẻ đó rút súng ra trước. Thà rằng anh bắn vào lưng y, hay là trong lúc y đang ngủ.
Chàng chăm chú nhìn trong lúc nàng đưa lưỡi liếm môi dưới. Cuối cùng nàng gật đầu:
- Anh nghĩ rất phải.
- Em hiểu thật rồi chứ, Jill?
- Em hiểu.
- Chắc chắn không?
- Chắc. Nhưng...
- Nhưng gì?
- Không có gì hết.
Chàng chờ nàng nói tiếp, nhưng nàng bắc sang chuyện khác, rồi bỗng nắm chặt cánh tay chàng và chỉ cho chàng xem. Chàng với xoay người lại. Một chiếc xe hơi chạy trên Đại lộ Lorring đang phóng về phía hai người, một chiếc xe có màu giống hệt chiếc họ đã trông thấy ở Gramercy Park ngày hôm qua. Chàng đẩy Jill ra sau lưng chàng và tự động quỳ xuống một chân. Bàn tay chàng đi tìm khẩu súng. Đầu ruồi móc vào vải quần, nhưng rồi chàng cũng lấy súng ra kịp. Chiếc xe đang chạy đến gần hơn.
Tuy nhiên, đó chỉ là một chiếc xe mui trần, một chiếc Dodge, chứ không phải Pontiac, và người ngồi ở tay lái là một thiếu phụ. Ở băng sau có hai đứa bé và ba gói đồ lớn. Chiếc xe chạy qua trước họ, và chàng cúi nhìn khẩu súng trên tay, với cái cảm tưởng mình là một tên ngốc. Chàng đút súng vào thắt lưng và đứng thẳng người dậy. Nàng lên tiếng trước:
- Thế mà em đã tưởng...
- Anh cũng vậy.
Nói đoạn chàng chỉ tay về phía Đại lộ Forbell. Cách ngã tư chừng một khóm nhà có nhiều gian hàng, Chàng bảo nàng:
- Em hãy đi xuống đó.
- Tại sao?
- Bởi vì lúc này, nếu em theo anh, em chỉ khiến cho anh khó xoay trở. Anh phải vào trong đó, và anh phải đi một mình.
- Ngay bây giờ?
- Ngay bây giờ. Đợi chờ ở đây thì thật là vô nghĩa lý. Chiếc xe ban nãy không phải của bọn chúng, nhưng chiếc kế tiếp thì có thể lắm, và mình đứng như thế này là hai tấm bia ngon lành cho chúng. Em hãy đi ngay đi.
Nàng ngần ngại, rồi quay người và bước đi. Chàng chờ cho nàng tới gần góc đường, đoạn chàng trở lại số 723 và tiến nhanh đến cổng. Trên một bảng yết thị ở cửa sổ có ai ghi mấy chữ “Chúng tôi đã cho” và bên dưới là chiếc lông màu đỏ. Cửa sổ có màn che phía trong nên chàng không thể nhìn vào trong nhà. Chàng xô thử cánh cửa, nhưng cửa đã khóa. Chàng liền bấm nút chuông. Không có gì động tĩnh. Chàng thở ra một hơi dài và bấm chuông một lần nữa. Một giọng nói giận dữ, không biết của đàn ông hay đàn bà, vọng ra:
- Tôi ra ngay!
Chàng đứng chờ. Có tiếng bước chân mỗi lúc một gần hơn, và chàng cho tay vào trong áo đặt sẵn trên báng súng. Khẩu 38 lúc này đã rất ấm.
Cánh cửa mở ra một cách thận trọng. Chàng trông thấy một khuôn mặt, và trong một thoáng chàng đã tưởng đó là bộ mặt của Lee và bàn tay siết lấy khẩu súng, chuẩn bị rút ra. Rồi cánh cửa mở rộng hơn, và chàng trông thấy đó là một người đàn bà, một bà cụ già có râu mép như đàn ông và một đôi mắt bèm nhèm. Tóc bà cụ hãy còn đen, pha một ít muối tiêu. Bà cụ chăm chú nhìn chàng và chờ chàng nói trước.
- Có phải Lee Ruger ở đây?
Bà cụ nhìn thẳng vào mặt chàng, hỏi lại:
- Ruger? Phải. Tại sao?
- Ông ta ở nhà?
Mặt bà cụ có vẻ giận. Bà mở toang cửa, bước thụt lùi và càu nhàu:
- Ở đây có tất cả tám phòng và bảy phòng đã có người thuê. Chắc ông tưởng tôi là chủ nhân của ngôi nhà này? Thật ra tôi chỉ là quản lý, phụ trách việc quét dọn sạch sẽ và thâu tiền phòng. Ông còn muốn tôi phải lo luôn chuyện đi về của khách trọ? Tôi đã chán lắm rồi.
Chàng bước vào trong nhà, nhìn qua trên vai bà cụ về phía cầu thang. Trên cái bàn ở đầu cầu thang tầng hai có một bình cắm mấy cành hoa héo. Ngôi nhà phảng phất mùi khói thuốc lá và bàn ghế cũ, Chàng nhắc lại:
- Ruger…
- Phòng Sáu. Nếu ông ấy không đi vắng thì chỉ ở trong phòng. Nếu không có trong đó tức là đi chưa về. Ông cứ đi thẳng lên tới tầng cuối.
Bà cụ không thèm chờ nghe cám ơn, nặng nhọc quay gót trở vào nhà bếp, trong lúc chàng khởi sự lên cầu thang. Các nấc gỗ kêu răng rắc dưới bước chân của chàng. Thoạt tiên, chàng cố bước thật nhẹ và thật chậm, đặt chân lên mép các nấc thang để làm giảm tiếng kêu. Nhưng dù có ai nghe tiếng chàng tới gần cũng đâu hề gì. Lúc này chàng cũng như bất cứ một người nào khác đang đi lên cầu thang.
Mấy đóa hoa héo ở đầu tầng hai là hoa hồng, cánh đã rụng gần hết. Chàng thầm nghĩ bà già có thể là một nhân chứng, bà cụ có thể nhận diện chàng.
Nhưng điều này cũng không có gì nguy hại. Lời mô tả của bà cụ sẽ không sao đủ cho cảnh sát có thể tìm đến chàng, còn nếu chàng bị họ bắt quả tang tại chỗ, thì họ đâu cần bà cụ làm chứng. Nếu chàng và Jill bị bắt, chắc hai người sẽ thú thật tất cả. Chàng tin tưởng như vậy.
Chàng tiếp tục đi lên tới tầng trên cùng. Tầng nấy có bốn phòng đều mở cửa ra một hành lang nhỏ. Phòng 6 ở mút hành lang, xa cầu thang hơn hết. Cửa phòng đang đóng, Chàng bước tới trước cửa và cố lắng tai nghe tiếng động ở bên trong. Nhưng chàng không nghe gì cả, về phía tầng dưới, trong một khu khác của ngôi nhà, có ai vừa kéo nước xả cầu. Tiếng nước chảy vang thật rõ. Chàng đợi cho tiếng nước hết chảy rồi lại lắng tai nghe ở sát cửa. Bên trong không có một tiếng động nhỏ nào.
Chàng rút khẩu súng lục ra và nắm chặt trong bàn tay phải. Đứng một bên cửa, chàng chĩa mũi súng ở trên quả nắm một chút, ngón tay để sẵn lên cò. Chàng nín thở một lát, rồi từ từ thở ra, rồi lại hít vào. Bàn tay trái của chàng đưa tới quả nắm.
❀ ❀ ❀
[1] Cross-examine (đối tịch thẩm vấn): chất vấn lại một nhân chứng đã được đối phương thẩm vẩn để xác định giá trị của những lời nhân chứng vừa khai. ( Chú thích của dịch giả).