Tuần Trăng Mật Thảm Khốc

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 2 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5

❊ ❊ ❊

NGƯỜI đàn ông BỊ HẠ SÁT Ở PENNSYLVANIA LÀ MỘT NHÀ THẦU KHOÁN Ở Hicksville

SCRANTON, Pa - Ngày hôm nay, Sở Cảnh Sát Tiểu Bang đã tìm được lý lịch nạn nhân của một vụ thanh toán đẫm máu: đó là Joseph P. Corelli một nhà thầu khoán xây cất ở Long Island cư trú tại Hicksville.

Corelli đã bị hạ sát một cách bí mật trong đêm chủ nhật, ngay phía trước ngôi biệt thự mà ông ta đã mướn ở Pomquit bên bờ hồ Wallenpaupack. Theo lời tuyên bố của ông Roy Fairland quận trưởng cảnh sát Pomquit, thì đây là một vụ có đầy đủ tính chất của một án mạng được thực hiện bởi những lên sát nhân chuyên nghiệp. Corelli đã bị bắn năm viên đạn vào đầu với hai khẩu súng lục khác nhau.

Lúc án mạng xảy ra, nạn nhân hiện trú ngụ tại Lữ quán Pomquit từ gần ba tháng nay. Ông ta ghi danh tại Lữ quán với cái tên Joseph Carroll và có đầy đủ giấy tờ căn cước giả mang tên này. Lý lịch thật của Corelli đã được tìm ra một cách dễ dàng nhờ hồ sơ dấu tay lưu trữ tại cơ quan FBI (Federal Bureau of Invesngation: Sở Điều Tra Liên Bang).

Corelli đã bị câu lưu ba lần trong vòng năm năm vừa qua, hai lần vì tội cưỡng đoạt và một lần vì tội lưu trữ biên lai đánh cá. Lần nào ông ta cũng được thả mà khỏi phải ra tòa theo lời tiết lộ của trung sĩ cảnh sát James Gregg tại Nữu-Ước. Trung sĩ Gregg lại còn xác nhận: “Ông ta (tức Corelli) rõ ràng có nhiều liên hệ với giới đạo tặc. Chúng tôi được biết rằng ông ta hiện đang giao thiệp với nhiều người đã từng can án và rất có thể chính ông ta cũng đang có nhiều hoạt động ngoài vòng pháp luật.”

Các viên chức cảnh sát quận Nassau cho hay không biết một hành động phi pháp nào của Corelli trong thời gian gần đây. Một viên chức tuyên bố: “Chúng tôi đã biết rõ những thành tích của ông ta, vẫn tiếp tục để ý theo dõi ông ta, nhưng nếu ông ta đang dính dấp vào một vụ mờ ám nào thì việc đó chỉ có thể xảy ra ở ngoài khu vực kiểm soát của chúng tôi”.

Corelli vẫn còn độc thân, hiện sống một mình tại 4113 đường Bayview ở Hicksville và điều khiển một văn phòng trong cao ốc Bascom, cũng ở tại Hicksville. Ông ta chỉ có một người em gái còn sống. Bà Raymond Romagirs, hiện ở Boston.

Khi chàng mở cửa phòng khách sạn, nàng đang ngồi trên giường nhấp nháy mắt. Sắc mặt nàng có vẻ xanh xao và bơ phờ. Chàng liền hỏi nàng có được khỏe hay không.

Nàng bảo:

- Chỉ hơi bần thần một chút. Em đã uống quá nhiều và đã ăn nói bậy bạ. Em ân hận lắm.

- Bỏ qua chuyện đó đi. Chuyện đã lên mặt báo đây này.

- Vụ Carroll?

Chàng đính chính:

- Corelli.

Chàng xếp tờ báo ở trang có đăng bài về vụ án mạng và đưa cho nàng. Thoạt tiên nàng không sao tìm ra nên chàng phải ngồi xuống bên cạnh nàng và chỉ cho nàng. Chàng quan sát vẻ mặt của nàng trong lúc nàng đọc bài báo. Tới nửa chừng, nàng ra dấu muốn hút thuốc lá và chàng liền châm cho nàng một điếu. Vừa hút hơi đầu nàng đã bị sặc khói nhưng vẫn tiếp tục đọc cho tới cuối bài. Đoạn nàng đặt tờ báo lên giường, bên cạnh nàng. Nàng hút hết điếu thuốc và dụi vào chiếc gạt tàn để trên chiếc bàn con ở đầu giường. Nàng vừa định bày tỏ ý kiến thì chợt nhận thấy lần đầu tiên rằng nàng hiện không có gì mặc trên người. Nàng tự nhìn mình và chạy ù vào buồng tắm.

Khi nàng trở ra, trông nàng như người vừa mới hồi sinh. Khuôn mặt của nàng có vẻ tươi mát và không còn vẻ xanh xao như ban nãy. Nàng đã tô son môi. Nàng hút một điếu thuốc trong lúc mặc áo và mang giày.

Nàng nói:

- Thì ra là Corelli. Thế mà em thấy ông ấy đâu có nét của người Ý.

- Quả thật khó biết được ông ta là người nước nào. Trông ông ta cũng không giống người Ai-nhĩ-lan.

- Có lẽ không phải?

- Có một nhà soạn nhạc tên Corelli. Hình như trước cả Bach. Mình đã đi gần đúng đường phải không anh? Về cá nhân ông ta. Ông ta là một nhà thầu khoán kiến trúc, nhưng còn là một tay găng-tơ.

- Chỉ thuộc hạng tép riu.

Chàng ngẫm nghĩ một lát, băn khoăn bảo:

- Có nhiều chi tiết không được trình bày trong bài báo này.

- Anh muốn nói về chuyện của mình chứ gì?

- Về chuyện của Carroll, về Corelli. Ông ta đang làm ăn những vụ mờ ám nào, bạn bè của ông ta là những ai. Họ nhắc đến những kẻ ông ta thường liên lạc, nhưng lại không nói rõ đó là ai. Mình biết dược những chuyện đó cũng có ích lắm.

- Mình làm sao mà thăm dò ra được?

- Nhờ cảnh sát.

- Anh muốn nói mình chỉ cần hỏi họ à?

- Không đúng hẳn.

*

*    *

Hai người bỏ qua bữa ăn điểm tâm. Họ rời khỏi khách sạn và tìm một phòng điện thoại trống trong một tiệm thuốc tây ở Đại Lộ Thứ Sáu. Chàng giải thích cặn kẽ nàng phải nói những gì và nàng ôn lại trong lúc chàng tìm số điện thoại của sở cảnh sát trung ương trong cuốn niên giám của Mã-nhật-tân. Chàng ghi lại hàng số trong cuốn sổ tay của chàng và nàng bảo:

- Bây giờ hãy để em nói thử lại. Anh nghe có được không?

Chàng lắng tai nghe nàng nhắc lại những lời nàng vừa tập. Đoạn chàng gật đầu:

- Anh thấy như thế được lắm rồi. Quả thật vai trò này hơi khó. Nhưng mình cứ thử xem sao.

Nàng bước vào buồng và đóng cửa lại. Rồi chàng quay hàng số chàng đã ghi. Có tiếng một người đàn ông trả lời ngay sau hồi chuông thứ nhất.

Nàng mở lời:

- Ông vui lòng cho tôi hỏi trung sĩ James Gregg. Đây là một đường dây từ xa gọi về.

Người đàn ông liền hỏi ai ở đầu dây bên kia. Nàng trả lời:

- Nhật báo Courier-Herald ở Scranton.

Người đàn ông yêu cầu nàng hãy giữ máy để ông ta đi xem có thể tìm ra Gregg hay không. Tiếp theo đó là một khoảng im lặng, mấy tiếng xì xào từ xa vọng đến, rồi lại im lặng và cuối cùng là một giọng nói khá trẻ:

- Gregg đây.

- Trung sĩ James Gregg?

- Vâng.

- Xin ông đừng rời máy.

Nàng mở cánh cửa buồng, bước ra ngoài và đưa ống nghe cho Dave. Chàng cầm lấy, bước vào trong buồng và đóng cửa lại.

Chàng lên tiếng:

- Trung sĩ Gregg? Tôi là Peter Miller, phóng viên nhật báo Courier-Herald. Chúng tôi muốn viết một bài điều tra về vụ án mạng Corelli và tôi xin được hỏi ông một vài câu.

- Hỏi gì nữa? Tôi mới nói cho các ông cách đây một giờ mà.

Chàng vội bảo:

- Tôi chỉ xin hỏi thêm một vài câu. Chúng tôi có ý định nhấn mạnh vào yếu tố nhân sự trong vụ Corelli. Những vụ thanh toán trong vùng này quả thật là gay cấn

- Gay cấn?

-... và dân chúng đang nóng lòng theo dõi. Ông có thể cho tôi biết thêm vài chi tiết về Corelli?

- Chà, lúc này tôi đang bận nhiều việc

- Tôi chỉ xin ông một phút thôi. Trước hết. tôi xin hỏi lại hình như ông hay một người nào khác đã tuyên bố rằng Corelli có liên lạc với giới đạo tặc?

Gregg trả lời với giọng hoài nghi:

- Quả thật vậy.

- Ông ta làm ăn những vụ mờ ám thuộc loại nào?

Viên trung sĩ im lặng một lát mới đáp:

- Nghề nghiệp ông ta là xây cất. Chúng tôi không biết rõ những hành vi khác của ông ta, những hành vi phi pháp, ông ta quen biết khá nhiều trong giới bài bạc và vụ câu lưu sau cùng của ông ta đã xảy ra tại đây, tại Mã-nhật-tân, trong một cuộc bố ráp các sòng bạc. Bởi vì chúng tôi không có bằng chứng chính xác nào để buộc tội ông ta nên chúng tôi đã thả ông ta ngay sau đó.

- Tôi hiểu.

- Ông ta chỉ hành nghề tại Long Island. Nơi này không thuộc khu vực kiểm soát của chúng tôi nên chúng tôi không thọc mũi vào đó. Chúng tôi biết ông ta có liên lạc với nhiều người trong thành phố, thuộc giới làm ăn mờ ám tại đây, nhưng chúng tôi không biết một cách rõ ràng. Nếu ông ta làm ăn ở Long Island thì... đó không phải là phận sự của chúng tôi.

- Ông có thể cho tôi biết một vài tên đồng bọn với ông ta tại Nữu-Ước?

- Tại sao?

- Như thế bài điều tra mới có chút màu mè.

Gregg liền bảo:

- Dù có biết một vài cái tên cũng không ích lợi gì cho ông. Ông hiện ở Scranton và giới bạn bè của Corelli, những tên mà chúng tôi đã biết rõ danh tánh, chỉ là những tay cờ bạc thuộc cỡ nhỏ. Những tên như George White và Eddie Mizell chỉ là những kẻ không ai nghe nói tới. Không có một tên nào thuộc vào hàng quan trọng.

Dave làm bộ vô tình hỏi:

- Tôi hiểu. Còn một người tên Lublin?

- Maurie Lublin? Ông ta có chuyện gì?

- Có phải ông ta là một đồng bạn của Corelli?

- Ông nghe cái tên đó ở đâu vậy?

- Tôi nghe ở đâu đó, bây giờ không còn nhớ. Có đúng thế không ông?

- Tôi chưa hề nghe nói chuyện đó. Nhưng cũng rất có thể đúng. Những người như Corelli thường quen biết rất nhiều, khó nói rõ được. Mới xét qua, tôi có thể bảo rằng Maurie Lublin thuộc vào cỡ quá lớn không thèm lưu ý tới Corelli.

- Ông có biết vì sao Corelli bị giết?

- Ông đã biết, chúng tôi không phải là người phụ trách vụ này. Hơn nữa lại không có gì rõ ràng. Chỉ có những lời đồn đãi.

- Những lời đồn đãi?

- Đúng thế.

Thật là giống như nhổ từng chiếc răng một, chàng thầm nghĩ. Chàng tiếp tục hỏi:

- Lời đồn ra làm sao?

- Người ta nghi rằng Corelli thiếu tiền.

- Với người nào đặc biệt hơn hết?

- Chúng tôi không biết. Vả lại dù sao tôi cũng không thể nói cho ông hay. Nhưng trời ơi các ông không phối hợp công việc lại với nhau hay sao? Tôi vừa kể lại, cũng tương tự như thế này, cho một phóng viên của tòa báo ông mà. Ông không thể hỏi ngay ông ta được à?

- Chắc ban nãy ông đã nói chuyện với một phóng viên lo chạy những tin vặt. Còn tôi mới là người đặc trách về vụ này.

- À!

- Tôi không dám làm phiền ông nhiều hơn nữa, tôi hiểu ông đang có nhiều việc cần phải làm. Ông vui lòng cho tôi hỏi một câu cuối cùng nữa thôi? Ông có phụ trách cuộc điều tra tại Nữu-Ước?

- Cuộc điều tra nào?

- Về cái chết của Corelli.

- Điều tra gì bây giờ?

Gregg có vẻ gần như tức giận:

- Đó là một người quê quán tại Long Island đã bị hạ sát ở ngoải tiểu bang. Chúng tôi không có gì dính dáng vào. Chúng tôi sẽ cộng tác với Pennsylvania nếu họ yêu cầu chúng tôi, nhưng ở tại đây thì chúng tôi không phải làm gì cả.

- Chắc sẽ có một cuộc điều tra tại Hicksville?

- Trên Đảo hay sao? Nhưng vì lý do gì mới dược chứ? Ông ta bị bắn chết ở ngoài địa phận tiểu bang kia mà!

Chàng thầm nghĩ thế là Pennsylvania sẽ chôn vùi nội vụ bởi vì Corelli là người Nữu-Ước và Nữu-Ước cũng buông trôi bởi vì án mạng xảy ra tại Pennsylvania. Chàng nói với viên trung sĩ:

- Tôi vô cùng cám ơn ông. Ông đã giúp ích tôi rất nhiều. Xin ông hãy tha lỗi tôi đã quấy rầy ông.

Gregg đáp ngay:

- Đâu có đáng bao nhiêu. Chúng tôi bao giờ cũng hết sức giúp đỡ các ông nhà báo.

Chàng ra khỏi buồng điện thoại. Nàng khởi sự hỏi chàng liền một câu, nhưng chàng lắc đầu và im lặng viết lên cuốn sổ tay nhỏ. Chàng ghi “Maurie Lublin” Và dưới đó là: “George White và Eddie Mizell” Hàng cuối cùng chàng viết: “Corelli mắc nợ tiền”. Rồi: “Không điều tra”.

Trong tiệm thuốc tây có quá nhiều người nên chàng không tiện nói. Chàng nắm cánh tay nàng, bỏ cuốn sổ tay trở vào túi áo trên ngực và dẫn Jill ra ngoài cửa hàng. Có một quán ăn ở về phía trước mặt. Hai người đợi cho đèn hiệu bật sáng màu đỏ mới băng qua Đại lộ Thứ Sáu và bước vào nhà hàng. Lúc ấy đã quá chín giờ. Đa số những người đến đây để dùng điểm tâm đều đến sở làm nên các căn phòng gần như không có ai, Họ ngồi vào một bàn có hai ghế ở trong cùng rồi gọi nước cam với cà phê và bánh mì nướng. Lúc cô gái hầu bàn đưa thức ăn uống tới, chàng đã kể hết nội dung cuộc nói chuyện của chàng với viên trung sĩ cảnh sát.

Nàng nói:

- Anh là một phóng viên giỏi.

- Còn em là một nữ điện thoại viên giỏi. Anh chỉ lo sợ mỗi một chuyện là anh ta hiểu hết rồi sẽ tự hỏi anh là ai và tại sao anh lừa phỉnh anh ta, nhưng may quá anh ta tin hoàn toàn từ đầu đến đuôi. Nhờ vậy mình đã biết thêm được nhiều chuyện.

- Hay quá.

- Rất nhiều. George White và Eddie Mizell - anh không biết mình có thể dùng hai tên này để làm gì. Nhưng còn có tên Lublin. Y là một tay găng-tơ và hiện ở quanh quẩn trong Nữu-Ước. Maurie Lublin. Anh đoán Maurice mới đúng hơn.

- Hay Morris.

- Một trong hai cái tên này. Và tất cả những suy diễn của mình đều ăn khớp với nhau. Quả thật Joe Corelli đã thiếu tiền. Vì thế ông ta đã trốn tránh.

Nàng gật đầu và uống một hớp cà phê. Chàng đốt một điếu thuốc lá rồi đặt trong một cái gạt tàn bằng thủy tinh có hình bầu dục.

- Điều quan trọng nhất là sẽ không có một cuộc điều tra nào ở Nữu-Ước cũng như ở Hicksville. Thành phố gì có cái tên kỳ cục quá?

- Chắc sẽ có phúc trình?

- Chắc có. Nhưng cảnh sát sẽ không húc đầu vào vụ án mạng này đâu. Có lẽ họ sẽ xếp hồ sơ Corelli lại và thế là xong. Nói một cách khác, nghĩa là chỉ có mình tìm tới đó.

- Tới Hicksville?

- Đúng thế.

- Ở đó mình có được yên thân không?

- Yên chứ. Chắc chắn mình sẽ không đụng đầu với cảnh sát, tại nhà riêng cũng như tại văn phòng của Corelli. Sở cảnh sát Nữu-Ước không còn để ý tới vụ Corelli nữa. Và người của Lublin cũng sẽ không có mặt tại đây.

- Anh làm sao biết được?

- Bọn chúng đã có ba tháng trường để lục soát nhà và văn phòng của Corelli. Có lẽ nhờ vậy mà chúng đã biết ông ta đi đâu và cho người đi tìm ông ta. Cái lữ quán đó nằm trong một xó xa vắng. Nhất định bọn chúng phải có ai cho tin nếu không thì còn khuya mới tìm ra ông ra được. Không chừng chúng đã đọc qua tất cả giấy tờ hồ sơ về các dịch vụ của ông ta. Bây giờ, ông ta đã bị thanh toán rồi, bọn chúng không thèm để ý tới nữa.

Nàng có vẻ trầm ngâm. Chàng liên khuyên bảo:

- Có lẽ em phải ở tại khách sạn. Anh sẽ đích thân tới đó xem qua.

- Không.

- Anh đi không lâu đâu. Và...

- Không. Anh đi đâu thì em theo đó, rồi có ra sao thì ra. Không, không hẳn như thế. Em chỉ thắc mắc mình sẽ tìm thấy gì ở đó hay không. Nếu bọn, chúng đã lục soát...

- Bọn chúng tìm hiểu những chuyện khác mình. Chúng muốn biết Corelli trốn ở đâu còn mình thì muốn khám phá lý do ông ta chạy trốn, và trốn ai. Thử xem đâu có mất mát gì.

- Dave, em sẽ đi với anh.

Chàng cố tìm thêm lời để thuyết phục nàng nhưng không ăn thua gì. Chàng đành phải chiều theo ý muốn của nàng. Vả lại chuyện cũng không đến nỗi nguy hiểm, thà để cho nàng đi theo chàng còn hơn để nàng ở một mình trong khách sạn với muôn nghìn ý nghĩ dằn vặt.

*

*    *

Người gác cổng của khách sạn Royalton đi lấy xe hơi ra cho họ. Anh ta giải thích với họ cách tìm đoạn đường hầm Queens-Midrown và sau đó phải đi ngả nào. Nền trời đầy những mây đen và không khí nặng nề báo hiệu cơn mưa sắp tới. Họ chạy qua đoạn đường hầm rồi quẹo về hướng đông băng ngang Queens theo một xa lộ. Đường đi khá rắc rối. Họ bỏ quên khúc quanh rẽ vào Hicksville, nên phải chạy thêm sáu cây số nữa mới có lối quay trở lui. Tới một trạm xăng Atlantic, họ đổ đầy thùng và hỏi thăm Đường Bayview ở đâu. Họ tìm được con đường này ở khóm nhà 2300 và sau khi lái xe qua nhiều con đường có tên bằng chữ số họ đã đến trước ngôi nhà có địa chỉ đăng trong nhật báo. Hicksville là một đô thị với những ngôi nhà gạch hai tầng kế tiếp nhau một cách đều đặn, nhà nào cũng có một cái sân không trồng cây ở phía trước. Bầu không khí ở đây có một vẻ tạm bợ khiến mình có cảm tưởng tất cả dân chúng chỉ sống qua ngày trong lúc đợi chờ có đủ phương tiện dọn đi một nơi khác, hoặc ra giữa Đảo hoặc tới gần đô thị hơn nữa.

Căn nhà của Corelli, căn mang số 4113, giống như bao căn khác, là một ngôi nhà xây cất bằng gạch nằm giữa căn 4111 và 4115. Phía sau có giăng mấy sợi dây để phơi áo quần. Căn cứ theo các hộp thư thì một người tên Haas hiện ở trên lầu nhất và một người tên Penner ở tầng trệt. Dave trở ra đường để kiểm chứng lại địa chỉ, rồi lấy bài báo trong ví ra, để cho chắc chắn mình đã không lầm: “Corelli vẫn còn độc thân hiện sống một mình tại 4113 đường Bayview ở Hicksville…”

Jill bảo, chàng hãy thử bấm chuông cửa ở tầng trệt. Nàng nói:

- Có lẽ đây là người chủ nhà. Thường thường họ mua nhà, chỉ ở tầng dưới và cho thuê tầng trên để lấy tiền cho thuê trả tiền mua nhà.

Chàng ấn chuông tầng trệt và chờ đợi. Có tiếng động vang lên ở bên trong nhà, nhưng vẫn không thấy gì lạ xảy ra. Chàng lại bấm chuông và một giọng nói khàn khàn vọng ra:

- Đợi một chút, tôi sắp ra đây.

Chàng đứng chờ. Cánh cửa xoay về phía trong và một người đàn bà ló mắt nhìn chàng với một vẻ nghi ngờ qua khung cửa mắt cáo. Rõ ràng bà ta tưởng lầm chàng là một gã chào hàng và không muốn mua một chút nào. Rồi bà ta nhận thấy Jill và tin chắc chàng không phải là người đi bán hàng quảng cáo, nên sắc mặt bà ta từ từ dịu lại. Căn cứ vào vẻ mặt thì bà ta không thích thú gì khi gặp chàng, nhưng ít nhất chàng cũng không mời bà ta mua một món gì và đó là một điều khỏe khoắn rồi.

Chàng lên tiếng:

- Bà Penner?

Bà ta gật đầu. Chàng cố tìm một câu thật thích hợp dù bà ta đã biết hay chưa biết rằng Corelli đã chết:

- Tôi tên là Peter Miller. Có phải người ở trên lầu là ông Joseph Corelli?

- Tại sao?

Chàng mỉm cười bảo:

- Chỉ là chuyện làm ăn.

- Trước kia ông ấy đã ở đây thật. Tôi đã cho thuê lại căn lầu sau khi ông ấy bỏ đi không thèm nói với tôi một tiếng nào. Ông ấy đã ở đây suốt ba năm và luôn luôn trả tiền nhà một cách đều đặn, đúng ngày đầu tháng. Thế rồi vào một ngày nọ, ông ấy biến đi đâu mất.

Bà ta dừng lại lắc đầu trước khi nói tiếp:

- Đột ngột biến mất, không báo trước một tiếng nào. Ông ấy không lấy theo một món đồ nào, như bàn ghế cùng mọi vật dụng khác. Tôi tự bảo chắc ông ấy sẽ trở về. Vì đồ đạc ông ấy vẫn còn để lại nguyên vẹn, ai mà không tin tưởng ông ấy sẽ trở về?

Chàng gật đầu. Bà ta không biết rằng Corelli đã chết, chàng thầm nghĩ. Có lẽ thế mà lại hay.

Người đàn bà lại tiếp tục kể:

- Nhưng ông ấy không hề trở lại. Ông ấy không hề trở lại, mà tôi vẫn giữ nguyên căn nhà suốt một tháng, chờ đợi ông ấy từng ngày một. Như thế nghĩa là tôi mất toi bảy chục Mỹ-kim tiền nhà thêm một tuần lễ nữa tôi mới cho thuê lại được. Tôi không muốn cho bọn da đen mướn nhà nên phải mất trọn một tuần sau mới có người dọn đến, ông bà Haas. Tổng cộng ông Corelli thiếu tôi tám mươi lăm Mỹ-kim.

- Bà còn giữ đồ đạc của ông ấy chứ? Bàn ghế cùng mọi thứ khác?

Lúc này bà Penner có vẻ thủ thế.

- Tôi đã cho thuê nhà luôn cả đồ đạc. Bà Haas, bà ấy không có một cái bàn ghế nào. Họ vừa mới thành hôn. Không con cái gì cả.

Bà ta lại lắc đầu:

- Nhưng trước sau gì họ chắc chắn sẽ có con. Những cặp vợ chồng son thì chẳng bao lâu là có con ngay mà, ông có thể tin chắc như thế. Về phần Corelli, tôi phải nhìn nhận ông ấy luôn luôn giữ yên tĩnh trên lầu. Còn đồ đạc của ông ấy? Có phải ông ấy đã nhờ ông đến đây?

Jill liền xen lời:

- Bà Penner, tôi là em gái của ông Corelli. Anh Joe tôi đã điện thoại cho tôi. Anh ấy hiện ở Arizona và đã phải rời Nữu-Ước một cách vội vã.

- Vì có chuyện lôi thôi với cảnh sát?

- Anh ấy không nói gì. Bà Penner...

- Cảnh sát đã đến đây ngay sau khi ông ấy đi. Họ đã cho tôi xem chứng minh thư và xáo tung tất cả đồ đạc của ông ấy.

Bà ta ngừng lại một lát rồi nói tiếp:

- Cả hai ông ấy đều không có vẻ gì giống cánh sát. Nhưng họ đã cho tôi xem chứng minh thư và đối với tôi như thế là đủ. Tôi không thích dính dáng tới những gì không liên quan với mình.

Jill bảo:

- Bà Penner, bà đã biết anh Joe tôi đặt cơ sở làm ăn tại đây. Anh ấy đang có chuyện kiện tụng với một khách hàng nên phải rời khỏi tiểu bang để tránh mọi chuyện lôi thôi. Nhưng vụ này hoàn toàn không dính dáng tới cảnh sát.

- Vậy sao?

Nàng nói tiếp:

- Hôm qua, anh ấy vừa mới điện thoại cho tôi. Anh ấy đã phải bỏ lại đây một số đồ đạc và anh lấy đã yêu cầu tôi đến lấy cho anh ấy.

- Lẽ tất nhiên.

- Tôi chỉ cần...

Khung cửa mắt cáo vẫn đóng và người đàn bà cương quyết nói:

- Ngay sau khi tôi đã được trả tám mươi lăm Mỹ-kim. Số tiền tám mươi lăm Mỹ-kim này đúng là số ông ấy đã mắc nợ tôi. Không có khế ước thuê mướn nhà, vì vậy chỉ còn mỗi cách đó: trả cho tôi tám mươi lăm Mỹ-kim, nhưng tôi phải nhận tiền rồi ông ấy mới lấy đi được.

Jill không đáp, Dave rút ra một điếu thuốc lá và bảo:

- Bà Penner, hiện giờ bà có thể giữ lại tất cả đồ đạc. Tôi nghĩ rằng chính Joe cũng muốn bà giữ lại như thế bà có thể cho thuê lại căn lầu với đầy đủ vật dụng. Những thứ đó trị giá cũng hơn tám mươi lăm Mỹ-kim. Nhưng, để đơn giản hóa vấn đề, bà có thể lấy hết số đồ đạc trong nhà để trừ vào số tiền thuê còn thiếu.

Chàng trông thấy bà ta suy nghĩ, cân nhắc hơn thiệt, có lẽ muốn đòi thêm năm sáu Mỹ-kim, nên chàng nói luôn:

- Trừ phi bà muốn lấy tiền. Trong trường hợp đó tôi sẽ cho một chiếc cam-nhông đến vào chiều nay đế dọn đồ.

Chàng hình dung cái cảnh bà ta cố tìm lời giải thích với ông bà Haas.

Quả nhiên bà ta vội vàng trả lời:

- Thôi, như vậy cũng được. Đó còn là giải pháp giản tiện hơn hết, phải không ông?

- Thì tôi đã nghĩ như thế. Bây giờ, tôi muốn xem quá những món đồ khác của Joe như quần áo và các thứ lặt vặt. Bà vẫn còn giữ đầy đủ chứ?

Bà ta đã đem tất cả xuống lầu bỏ vào trong những thùng giấy. Áo quần, cà vạt, đồ lót. Corelli có cả một cái tủ áo lộng lẫy với những bộ com-lê mang nhãn hiệu Phil Kronfeld và Martin Janss thuộc khu Broadway. Ngoài ra lại còn có một cái hộp đầy đủ giấy tờ. Dave liền lấy đem bỏ vào xe: Jill đợi chàng trong xe, và chàng trở vào nhà nói với bà Perner chàng sẽ cho một người khác đến lấy số đồ đạc còn lại.

Chàng quả quyết:

- Hôm nay hoặc ngày mai.

Bà ta hoàn toàn đồng ý. Chàng lên xe và chạy đi.

*

*    *

Ở Cao-ốc Bascom, trong khu vực doanh thương của Hicksville, Jill chờ chàng ngoài xe, với hộp đựng hồ sơ, trong lúc chàng đi vào bên trong và tìm cách để vào văn phòng của Corelli. Công việc này dễ dàng hơn, bởi lẽ người ta chưa dọn đồ đạc của ông ta đi vì ông ta không trả tiền mướn, ông ta bỏ đi đã ba tháng mà cảnh tượng vẫn như cũ, với cửa ra vào bị khóa chặt và không có gì thay đổi. Chàng đi tìm người gác-dan của cao-ốc và giải thích với ông ta rằng chàng muốn vào văn phòng của Corelli. Ông già trả lời chàng phải có chìa khóa hoặc giấy phép viết tay.

Dave kể với ông ta câu chuyện đầu tiên chạy qua đầu chàng: Corelli đã nhờ chàng đến lấy bản sao của một tờ hợp đồng, và vì chỉ mất khoảng một phút đồng hồ nên chàng không có thời gian yêu cầu Corelli viết giấy phép. Ông già gác-dan có vẻ không tin lời chàng một chút nào, nhưng ông ta vẫn lắc đầu, chờ đợi. Dave liền cho ông ta một giấy bạc mười Mỹ-kim, ông ta cất tiền nhanh như chớp rồi dẫn chàng lên lầu tới trước văn phòng và mở cửa cho chàng. Chắc hẳn ông ta cũng đã làm một công việc tương tự cho những kẻ đi tìm Corelli.

Ông ta bảo:

- Ông đừng ở lâu. Và sau khi ra nhớ khóa cửa lại.

Chàng không cần phải ở lâu. Văn phòng nhỏ xíu với một khung cửa sổ trông ra phía đường phố chính của Hicksville, một tủ hồ sơ duy nhất sơn màu xanh đậm, một cái bàn viết rẻ tiền bằng gỗ sồi, một giá máng áo. Chiếc ghế gỗ bọc một thứ nệm phảng phất mùi cao-su cũ.

Tủ hồ sơ có ba ngăn kéo. Ngăn dưới cùng đựng một chai Whiskey đã cạn một nửa. Ngăn giữa trống trơn. Trong ngăn phía trên là một lô hợp đồng để lộn xộn cùng với các thứ hóa đơn và thư từ. Trên đầu những bức thư mà chàng có thể xem qua có mấy hàng chữ cho thấy danh hiệu và địa chỉ của các công ty thuộc lãnh vực xây cất. Chàng gom tất cả giấy tờ lại thành một chồng và cho vào một phong bì lớn màu vàng nhạt.

Trên mặt bàn không có một vật gì. Chỉ có một lớp bụi dày bao bọc. Trong hộc trên cùng của bàn viết, chàng tìm thấy một hộp kim găm, một tờ báo Argosy cũ khoảng một năm trước mở ra ở trang có đăng một bài nói về vật liệu đi câu dưới đáy biển, một tập giấy còn nguyên vẹn chưa viết trang nào, hộp chiếc hộp quẹt Zippo khắc hai chữ “J. C”, một bức hình 12 X 15 phân chụp một cô gái mặc áo quần lót, một cuốn sổ ghi địa chỉ bằng da heo và một tập biên bản tiếp nhận công tác. Chàng bỏ cuốn sổ địa chỉ cùng với những giấy tờ khác vào một chiếc phong bì và đóng hộc lại. Trong cùng một hộc khác, chàng tìm thấy một khẩu súng lục không có đạn và kế đó là một hộp đạn gần như còn đầy nguyên.

Chàng cầm khẩu súng lên, rồi đứng sững lại và tự động liếc mắt về phía cửa sổ. Lẽ tất nhiên không có một ai dò xét chàng. Chàng để khẩu súng vào lòng bàn tay, xem thử nặng độ bao nhiêu. Chàng chỉ do dự trong giây lát, rồi chuồi nhanh khẩu súng vào túi quần. Chàng cất hộp đạn vào túi bên trái của chiếc áo vét, đốt một điếu thuốc lá và mở hộc bàn cuối cùng. Hộc này không có gì cả. Chàng liền đóng lại và đứng dậy.

Bên ngoài, trời đang hăm he mưa. Chàng ngồi vào sau tay lái và Jill hỏi chàng có tìm kiếm được cái gì quan trọng hay không. Chàng trả lời lúc này chàng chưa biết được, hai người cùng phải xem lại thật kỹ. Nàng cho hay nàng đã quên đường trở về trung tâm thành phố và hỏi chàng còn nhớ không. Chàng cho xe chạy và quả quyết với nàng chàng còn nhớ rõ.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Lawrence Block

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.