TRONG tiệm ăn không có juke-box[1]. Từ phía sau quầy, một chiếc máy thâu thanh đang rống vang một bài hát cũ rích: “Stone Cold Dead in the Market” do Ella Fitzgerald và Louis Armstrong trình diễn. Không khí nồng nặc mùi xào nấu. Quán chỉ có hai căn buồng nhỏ, và cả hai đều đã có người chiếm chỗ lúc họ bước vào. Họ cùng ngồi bên cạnh nhau ở quầy. Chàng uống cà phê trong lúc chờ đợi viên chủ tiệm làm cho chàng một tô oatmeal. Nàng cũng vừa uống cà phê vừa ăn một ổ bánh mì nướng. Điếu thuốc lá của Dave cháy tiêu dần dần trong một gạt tàn. Jill không hút.
Tiệm ăn nằm trên Đại lộ Broadway, ngay phía dưới Union Square. Ra khỏi nhà Lublin, hai người đã đi dọc theo Đại lộ Newkirk cho tới Đường Mười Lăm là nơi có một trạm tàu điện ngầm. Họ bước xuống, mua hai tấm vé, đi qua cổng và lặng lẽ chờ chuyến tàu Mã-nhật-tân. Một lúc thật lâu sau, tàu mới đến, một chuyến tàu của đường BMT Brighton chỉ có vài toa với một số ít hành khách vì lúc ấy hãy còn quá sớm. Họ đi chuyến tàu này đến tận Đường Mười Bốn và xuống tàu tại đây. Ngay từ cửa trạm, họ đã trông thấy tiệm ăn. Họ bước vào tiệm lúc bảy giờ và đã ở đây được hai mươi phút.
Người đàn ông ngồi bên cạnh Jill xếp tờ báo lại, một tờ Times, và đi ra. Dave nghiêng mình vào sát nàng hơn và nói:
- Anh đã giết chết y.
Nàng cúi xuống nhìn vào tách cà phê của nàng và không trả lời.
Chàng lại nói:
- Anh đã ám sát một người.
Lúc bấy giờ nàng mới bảo:
- Không phải ám sát. Đó là một trường hợp tự vệ. Hai người đánh lộn nhau và...
Chàng lắc đầu.
- Nếu một kẻ trong lúc phạm pháp đã trực tiếp hay gián tiếp làm cho một người khác chết thì kẻ đó phải chịu tội sát nhân với trường hợp gia trọng.
- Mình đã làm chuyện phạm pháp hay sao?
- Rất nhiều là dàng khác. Trước hết là xâm nhập gia cư bất hợp pháp, rồi kế đó là tội đả thương. Và Carl lại chết. Nói tóm lại anh đã phạm tội sát nhân với trường hợp gia trọng và em là đồng lõa.
- Thế thì mình...?
- Mình sẽ gặp lôi thôi à? Không đâu.
Chàng dừng lại một lát, rồi mới tiếp:
- Cảnh sát sẽ không làm gì mình hết. Họ sẽ không hay biết gì về vụ này một cách chánh thức. Lublin sẽ tìm cách thủ tiêu tử thi của Carl.
- Bằng cách thả xuống sông?
- Anh không biết vào thời này người ta làm như thế nào. Anh đã đọc ở đâu đó anh không nhớ rõ người ta giấu xác chết vào dưới lòng đường. Chẳng hạn, họ có một người bạn đang thầu làm một xa lộ nào đó. Trong đêm tối, họ bỏ tử thì vào dưới lòng đường rồi ngày hôm sau cán nhựa lên trên. Anh đã nghe nói bên dưới Xa lộ New Jersey có tới hơn hai chục xác chết. Đủ loại xe chạy trên những xác người này mà đâu có biết.
Nàng kêu lên:
- Chúa ơi!
Món oatmeal của chàng cuối cùng đã được đem ra. Chàng rắc một chút đường và một chút sữa lên trên tô bột dẻo. Chàng chỉ nuốt được một miếng rồi bỏ cuộc, xô cái tô ra xa. Viên chủ tiệm liền hỏi chàng có gì không được vừa ý và chàng trả lời chỉ vì chàng không đói như chàng lầm tưởng. Chàng gọi một tách cà phê khác. Kỳ lạ thay, cà phê ở đây lại rất ngon.
Chàng bảo:
- Mình hiện đang lâm nguy.
- Vì Lublin?
- Phải, Y sẽ không bỏ qua vụ này đâu. Trước hết, mình đã dợt y một trận quá đích đáng. Y là một tay thuộc vào hạng chì và giỏi chịu đòn, thế mà lần này, y đã mang thương tích cùng mình vì anh. Anh đã đánh y nhừ tử và lại còn làm cho y mất mặt, anh biết rõ như thế. Y sẽ không bao giờ chịu tha thứ anh một cách dễ dàng. Nhưng quan trọng hơn cả là anh đã bắt y phải khai tên Washburn ra cùng những lý do khiến cho Corelli bị giết chết. Y đã bị tra khảo đến ngất ngư mới chịu cho anh biết cái tên Washburn. Lẽ tất nhiên không đời nào y muốn Washburn biết y đã khai và y tin chắc Washburn sẽ hiểu ngay khi mình tìm đến tên này. Vì vậy, y sẽ tìm đủ mọi cách để hạ mình trước. Y sẽ cho người giết mình.
- Không biết y có thể tìm ra mình hay không?
- Có thể lắm.
Chàng suy nghĩ một giây, rồi tiếp ngay:
- Y biết tên anh. Em đã gọi anh bằng cái tên Dave trước mặt y.
- Em đã vô tình buột miệng. Theo ý anh, y vẫn tưởng em tên là Rita chứ?
- Anh không biết. Có thể lắm.
- Em không muốn bị giết.
Nàng nói câu đó một cách bình tĩnh, với một giọng đều đều, tựa hồ nàng đã suy xét vấn đề hết sức kỹ trước khi đến cái kết luận rằng chết là một việc cần phải tránh bằng bất cứ giá nào. Rồi nàng lại nói:
- Em không muốn y giết được mình.
- Làm gì có chuyện ấy.
- Y biết tên anh, nhưng lại biết lầm tên em. Y chỉ biết có thế chưa kể hình tích của mình. Nhưng anh tính cũng chưa chắc đúng hẳn. Anh có nghĩ đã đến lúc em nên trở về với mái tóc vàng?
- Đó không phải là một ý nghĩ tệ.
Nàng liền bảo chàng:
- Anh hãy trả tiền, rồi ra đợi em ở góc đường bên ngoài.
Chàng uống cạn tách cà phê và trả tiền. Nàng đứng dậy và đi vào phòng rửa mặt ở phía sau. Chàng bỏ lại một ít tiền thưởng và đi ra ngoài. Lúc này bầu trời đã quang đãng, ánh nắng chói lọi khắp nơi. Chàng châm một điếu thuốc lá. Khói thuốc muốn đốt cháy cả hai buồng phổi của chàng. Chàng đã hút thuốc quá nhiều, đã trải qua quá nhiều giờ không ngủ. Chàng lại hút một hơi và bước về phía, góc Đường Mười Ba. Chàng hút hết điếu thuốc và liệng tàn xuống đường mương.
Lúc nàng tới gặp chàng, chàng nhìn sững nàng không nháy mắt. Sự biến đổi quả thật lạ lùng. Nàng lại biến thành Jill và trên mái tóc vàng của nàng phải để ý lắm mới có thể nhận thấy một vài dấu vết của thuốc nhuộm màu nâu còn sót lại. Nàng đã tháo hai cái bín và mái tóc của nàng lại ôm hai bên khuôn mặt nàng như từ trước tới nay. Khuôn mặt của nàng lúc này đã được rửa sạch lớp phấn hóa trang dày cộm. Nàng cũng đã chùi màu son đỏ sẫm và bôi lại màu quen thuộc. Và, với sự biến đổi này khuôn mặt của nàng đã mất hết vẻ lạnh lùng, hiền dịu trở lại, Nàng đã đóng vai một cô gái hạ cấp tài tình đến nỗi chàng suýt quên luôn hình ảnh cũ. Chàng đã không khỏi kinh ngạc khi thấy nàng trở lại như trước.
Nàng bảo:
- Em gội đầu không được kỹ. Em đã không nhúng ướt hết tóc, nên vẫn còn một chút thuốc nhuộm màu nâu. Rồi em sẽ gội lại kỹ hơn, nhưng bây giờ kể ra cũng tạm được. Anh thấy em thế nào?
Chàng liền nói cảm nghĩ của mình cho nàng nghe.
Nàng tiếp lời:
- Nhưng đóng hài kịch cũng vui đấy chứ. Em thích được biến thành Rita trong, chốc lát. Chắc em giống hệt một nữ nghệ sĩ đã hết thời.
- Hoặc một con điếm đã hết thời.
- Đã hết thời.
- Jill… anh xin lỗi em.
- Anh đừng có điên khùng.
- Anh chỉ muốn chọc em cho vui. Anh quên nghĩ...
- Lỗi tại em. Lẽ ra mình phải thỉnh thoảng nói đùa với nhau.
- Anh đã thiếu xã giao.
- Mình không nên tỏ ra xã giao đối với nhau. Ôi, mình bỏ qua chuyện đó đi. Bây giờ anh định làm gì?
- Anh không biết.
- Mình phải đi đâu?
Chàng bàn:
- Mình nên trở về khách sạn. Chắc em đã mệt lắm rồi.
- Không mệt lắm đâu
- Em không ngủ gì cả. Và đêm hôm qua em cũng ngủ không yên giấc. Em không mệt à?
- Khá mệt nhưng không buồn ngủ. Em không tin em có thể ngủ nổi. Anh có mệt không?
- Không.
- Anh có muốn trở về khách sạn?
- Không.
Chàng lại châm một điếu thuốc khác. Nàng lấy khỏi tay chàng và hút một hơi dài. Chàng bảo nàng cứ giữ lấy và đốt một điếu khác cho chàng. Rồi chàng nói:
- Theo ý anh, mình cần phải tìm hiểu thêm ra đôi chút về Washburn. Nếu y là một nhân vật quan trọng, chắc chắn y đã được báo chí nhắc nhở đến một đôi lần. Mình có thể đến thư viện tìm xem trong vòng một tiếng đổng hồ. Họ có lưu trữ một bộ Nữu-Ước Thời Báo chụp lại bằng vi phim, với số hiệu, theo thứ tự. Mình bỏ ra một giờ cũng không đến nỗi uổng công đâu.
- Cũng được. Anh có biết đường đi không? Đường đi đến thư viện.
Chàng đã từng đến tra cứu tài liệu ở đó một lần, trong lúc chàng chuẩn bị thi ra trường, và chàng vẫn còn nhớ nó ở đâu. Hai người không sao tìm được một chiếc tắc-xi. Lúc đó là giờ đi làm nên rất khó kiếm xe. Họ đành đi đọc theo Đường Mười Ba để đáp một chuyến xe buýt chạy về ngả trung tâm thành phố.
Chàng nói với Jill:
- Bây giờ Carl đã chết rồi, như thế bớt được một kẻ có thể nhận ra mình. Chỉ còn một mình Lublin có thể nhận diện.
- Anh đang rối trí, phải không?
Chàng quay nhìn nàng. Nàng lại bảo:
- Vì tên Carl.
- Bởi vì anh đã giết y?
- Phải.
Chàng lắc đầu, liệng điếu thuốc xuống đất.
- Chỉ một phần thôi. Anh lại còn hối tiếc đã không giết luôn Lublin. Đáng lẽ mình, đừng để cho y sống.
Nàng nói:
- Anh không thể làm việc đó.
Chàng gật đầu:
- Có lẽ anh không thể làm được thực.
*
* *
Francis James Washburn đã được tờ Nữu-Ước thời Báo nhắc nhở hơn mười lần trong vòng năm năm vừa qua. Ông ta đã được mời đến Hoa-thịnh đốn hai lần để làm chứng trước một ủy ban điều tra Thượng viện, lần thứ nhất về vụ ngành quyền Anh bị những bọn vô lại thao túng, và lần thứ hai về hoạt động mờ ám của một số nghiệp đoàn. Trong cả hai trường hợp, ông ta từ chối trả lời mọi câu hỏi, vin cớ không muốn bị liên lụy. Những câu hỏi ngụ ý Washburn đã có nhiều liên quan bí mật với một nghiệp đoàn xây cất địa phương, ông ta là chủ tịch bán chính thức của một nghiệp đoàn công nhân nhà hàng và khách sạn địa phương, ông ta làm ăn chia với một tay vô địch đô vật tên là Litle Kid Morton, và ngoài ra ông ta lại còn dính dáng quan trọng với nhiều hoạt động phi pháp mà ủy ban điều tra thượng viện đang theo dõi.
Ông ta đã bị câu lưu ba lần. Ông ta đã bị can tội đồng lõa trong một vụ hối lộ mà kẻ chính phạm là một công chức cao cấp thuộc Tòa Thị Sảnh, ông ta đã bị tình nghi can tội buôn bán ma túy. Ông ta đã bị bắt trong cuộc bố ráp một sòng bạc lưu động rồi bị can tội du đãng và cờ bạc bất hợp pháp. Lần nào cũng vậy, công tố viên không thể lên án vì thiếu bằng chứng, và Washburn lại được phóng thích. Theo một bài điều tra đăng trên tờ Thời Báo, Washburn đã bị hai năm tù trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, vì tội oa trữ đồ trộm cắp. Ông ta cũng đã lãnh một án tù trong khoảng thời gian từ 1930 đến 1939 vì tội đả thương và đã được tha bổng một tội cố sát vào năm 1937.
Tên tuổi ông ta còn được báo chí nhắc nhở trong nhiều trường hợp khác kém quan trọng hơn. Ông ta được xem là một trong số những nhà hảo tâm hào hiệp nhất đã đóng góp vào cuộc lạc quyên của một đảng viên Cộng Hòa thuộc Hội Đồng Tiểu bang Nữu-Ước, ông ta đã tham gia một dạ hội từ thiện của Tammany Hall[2], ông ta đã phụ khiêng quan tài trong đám tang của một chính trị gia.
Căn cứ vào tất cả những nguồn tin này, ta có thể hình dung một con người tuổi từ năm mươi đến sáu mươi, một con người đã từng khởi sự từ đám bất lương tép riu nhưng đã biết cách tiến thân để từ từ bước lên một địa vị tương đối được nhiều người phải kính nể. Washburn có nhiều hoa lợi trong nhiều tổ chức làm ăn. và giao thiệp với rất nhiều chính trị gia tên tuổi. Có thể nói ông ta là một nhân vật quan trọng và đã thành công trên nhiều phương diện. Muốn gặp được ông ta, chắc phải khó khăn hơn gặp Maurie Lublin nhiều lắm.
Hai người mất hơn một tiếng đồng hồ trong phòng vi phim của thư viện. Lúc họ trở về khách sạn, viên thư ký tiếp tân ban đêm đã được thay thế bằng một nhân viên khác. Họ lên cầu thang. Họ tắm, và Jill gội sạch thuốc nhuộm còn sót trên tóc rồi chải đầu lại. Dave mặc một bộ áo quần mùa hè. Jill mặc một cái váy và một chiếc sơ-mi. Họ ở trong phòng chừng một giờ, rồi xuống lầu và rời khỏi khách sạn.
Washburn ở tại số 47, Gramercy Park East. Vì họ không biết nơi đó ở đâu, nên Dave vào một tiệm thuốc để tìm xem họa đồ thành phố. Nơi đó tại Mạn Đông, gần Đường Hai Mươi, nằm giữa Đại Lộ Thứ Ba và Thứ Tư.
Họ đi tắc-xi và xuống ở cách ngã tư Đường Mười Bảy và Irving Place ba khóm nhà. Nơi đây chỉ cách tiệm ăn mà họ đã dùng điểm tâm mấy khóm nhà. Khu vực này thuộc vào hạng trung lưu, mang một vẻ khả kính thầm lặng. Đa số các tòa nhà đều tô đá rửa. Chung quanh có cây cối, nhưng không nhiều. Càng đi về phía Irving Place, nhà cửa trông càng phong quang hơn.
Chàng băn khoăn không rõ Lublin có cho người canh chừng nhà của Washburn. Có thể lắm, chàng thầm nghĩ. Chàng luồn tay vào bên trong chiếc áo vét và sờ nhẹ khẩu súng lục nhét ở thắt lưng. Hai người vẫn bước đều.
❀ ❀ ❀
[1] Juke-box: một loại máy hát thường dùng trong các nhà hàng, quán rượu... điều khiển bằng cách đút một đồng tiền vào một cái khe và bấm nút để lựa bản nhạc.
[2] Tammany Hall: một tổ chức chính trị có thế lực của đảng Dân Chủ tại Đô Thị Nữu-Ước, thành lập từ năm 1789 (chú thích của dịch giả).