TRONG tắc-xi, chàng chuyền khẩu súng lục từ túi này sang túi khác. Chàng có thể ngửi thấy mùi thuốc súng dính trên hai bàn tay của chàng, và hình như cả băng sau của chiếc tắc-xi cũng nồng nặc mùi khiến cho người tài xế không thể nào không nhận thấy. Chàng ngồi sững trên ghế, cố không nhìn trở lui để xem thử cảnh sát có đuổi theo hai người hay không. Họ đã đón được chiếc tắc-xi này ở Đại lộ Linden, và họ đã sắp sửa tới Cầu Mã-nhật-tân, nên họ dường như đã thoát nạn, nhưng chàng vẫn không thể xua đuổi cái cảm tưởng đang bị cảnh sát bám theo sát nút.
Họ đi vào địa hạt Mã-nhật-tân. Chàng chờ đợi cái mặc cảm phạm tội, chờ đợi nỗi hối hận xâm chiếm lòng mình, vì chàng đã vượt qua biên giới trọng đại của đạo đức. Nhưng chuyện đó đã không xảy ra. Chàng chỉ tự bảo mình quả thật là một gã vụng về vô cùng may mắn. Chàng đã khiến cho Jill suýt bị giết, và biến cuộc phục kích một chiều của chàng trở thành một trận đấu súng. Nhờ bắn hay và có một vị trí tốt, chàng đã dành được thắng lợi, và chàng phải may mắn lắm mới thoát khỏi cảnh hỗn loạn do chàng gây ra. Chàng không khỏi xấu hổ vì sự vụng về của mình, và chỉ biết thầm cảm tạ ơn Trên đã ban may mắn. Nhưng cái mặc cảm phạm tội mơ hồ đã tràn ngập tâm hồn chàng sau khi chàng đã lỡ tay giết chết gã cận vệ của Lublin - lần này chàng không bị ám ảnh nữa. Chàng ngạc nhiên không hiểu vì sao.
Họ xuống xe tắc-xi ở Đường Bốn Mươi Hai và bước nhanh vào trong một tiệm giải khát. Chàng đi thẳng tới quầy để mua cà-phê, nhưng sau khi đứng nối đuôi một lát với những người khách khác, chàng chợt nhận thấy mình không muốn uống cà-phê. Chàng liền ra khỏi tiệm và cùng Jill tới ngã tư quẹo quanh góc đường. Nơi đây có một quán rượu đã mở cửa. Họ ngồi vào một bàn. Chàng uống một ly Whiskey không pha, rồi một ly bia lạnh. Nàng không muốn uống gì.
Hai người đốt hai điếu thuốc lá, và nàng lên tiếng:
- Em thật quá ngu dại, chút nữa thì hoàn toàn hư sự. Em cứ tưởng mình xoay xở giỏi. Thế rồi, như một kẻ mất trí...
- Có chuyện gì vậy?
- Em cũng không hiểu. Em đợi chờ mãi mà vẫn không thấy anh trở về. Em không biết chuyên gì đang xảy ra. Em không chịu đựng nổi.
- Bây giờ thì yên ổn rồi.
- Em biết.
Nàng nhắm mắt một lát, rồi mở ra, và nói tiếp:
- Em đã như thường. Chỉ vì sự chờ đợi. Em vẫn tưởng em có thừa can đảm. Khi em đến nhà Lublin...
- Em đã tỏ ra quá can đảm là đằng khác.
- Nhưng công việc đó đâu có gì khó khăn. Em có việc để làm. Em có thể để ý xem chuyện đang xảy ra. Còn lần này, em chỉ biết đứng lên ngồi xuống, lo sợ đủ thứ. Em cần phải trông thấy rõ ràng chuyện gì đang xảy ra. Em đã lựa chọn không đúng lúc chút nào.
- Tất cả chỉ vì mình tính toán không được kỹ. Thôi, em đừng nghĩ tới làm gì nữa.
- Em xin lỗi anh.
- Em đừng buồn. Mình đã thoát nạn.
- Anh chắc chắn y đã...
- Phải, y đã chết.
Chàng đã bắn một phát ân huệ vào gáy tên giết mướn. Đúng rồi, tên Lee đã chết.
- Có ai trông thấy anh hay không?
- Tất cả xóm cùng trông thấy anh.
- Không biết người ta có truy ra bọn mình?
- Anh không tin.
Chàng uống một ngụm bia, rồi tiếp tục giải thích:
- Người ta sẽ biết qua hình dáng của mình, nhưng lại sẽ không biết tìm mình ở đâu, và kẻ họ muốn tìm tên là gì. Điều nguy hiểm hơn bết là bị thộp cổ tại trận. Trong trường hợp đó, kể như mình tiêu tùng. Ít nhất cũng có hơn mười người có thể nhận diện anh. Nhưng bây giờ thì anh tin mình không còn phải lo sợ gì nữa.
- Mình làm gì bây giờ?
Chàng trả lời:
- Bây giờ mình phải rời khỏi Royalton. Anh đã đã định gọi họ và yêu cầu họ cứ giữ phòng cho mình. Nhưng như thế thì điên khùng quá. Nếu mình không ở tại đó, mình nên đọn hết đồ đạc. Vả lại, ở đó có những thứ mình đang cần.
- Cái gì vậy?
- Áo quần của mình, với mọi thứ khác. Ngoài ra, còn mấy viên đạn.
- Em quên phức chuyện đó.
Chàng trầm tĩnh bảo:
- Mấy viên đạn dành cho tên Krause.
*
* *
Không có gì khó khăn tại khách sạn Royalton.
Chàng lên phòng, bỏ mọi thứ vào va-li, rồi gọi ban tiếp tân yêu cầu họ tính tiền và đem xe hơi ra khỏi ga-ra. Chàng thu xếp tất cả, và đích thân mang va-li xuống. Khách sạn bằng lòng nhận chi phiếu. Người gác cửa mang xe xa cho chàng, chàng cho anh ta một Mỹ-kim và chất va-li trên băng sau. Họ cùng lên xe. Chàng lái chạy quanh cho tới khi tìm ra một ga-ra tên Kinney ở Đường Ba Mươi Sáu giữa hai Đại lộ Thứ Tám và Thứ Chín, rồi bỏ xe tại đây. Hai người đưa va-li trở về Moorehead và bước lên cầu thang, thay vì chờ chiếc thang máy cũ rích.
Vào khoảng bốn giờ chiều, chàng đi xuống phố và trở lên phòng với một tập họa đồ, một bịch sáu hộp ginger ale và một chai VO. Hai người chơi mấy ván bài cào và uống rượu bằng ly uống nước. Không có nước đá. Lúc sáu giờ chàng tìm được một tiệm ăn và mua sandwich đem lên cho nàng. Họ cùng ăn trong phòng và uống thêm ginger ale, lần này không pha Whiskey. Chàng mua một tờ nhật báo, nhưng báo không hề nhắc nhở đến Ruger.
Nàng chợt bảo:
- Anh đã bỏ luôn mấy tờ nhật báo ở Scranton.
- Thế là mình mất tiêu một Mỹ-kim.
Lát sau chàng mới cảm thấy hứng thú tường thuật vụ đấu súng. Chàng kể lại cho nàng nghe chàng đã ngồi ở cửa sổ chăm chú nhìn Ruger với điếu xì-gà như thế nào, chàng đã chĩa súng về phía y như thế nào, và chàng đã có những cảm tưởng như thế nào.
Chàng nói:
- Anh không ngờ anh có thể bắn chết y một cách lạnh lùng như vậy.
- Nhưng anh đã bắn được.
- Bởi vì mọi việc xảy ra quá sức bất ngờ và khẩn bách. Anh không có thì giờ để nghĩ đến vấn đề lương tâm trong lúc tên khốn đó đang bắn mình.
- Dù sao anh cũng phải giết y.
- Anh không biết. Anh không hề thắc mắc về chuyện này. Và cũng không có một chút hối hận.
- Thế thì anh cảm thấy thế nào?
- Anh không biết.
Nàng nói:
- Về phần em, em cảm thấy nhẹ người.
- Nhẹ người?
- Vì cả hai đứa mình đều còn sống. Và cũng vì tên đó đã chết. Mình đến đây với một kế hoạch rõ rệt, mình vừa thực hiện xong một phân nửa, và mình hãy còn bình an vô sự, khiến em cảm thấy vô cùng vững tâm.
Hai người đi ngủ sớm. Cả hai đều uống hơi say. Nàng không cảm thấy mệt, mà chỉ buồn ngủ. Họ thay áo quần, lên giường nằm và nhờ có chút men rượu, giấc ngủ đã đến một cách khá nhanh. Lần này họ không dự tính làm tình với nhau, nên không có chuyện gì rắc rối. Chàng chỉ ôm nàng một lúc trong tay và hôn nàng, rồi chàng xoay người nằm nghiêng và họ cùng ngủ.
Sáng hôm sau, nàng hỏi chàng bây giờ hai người tính sao đối với Dago Krause.
Chàng bảo:
- Mình nên ẩn tránh một thời gian ngắn.
- Ở ngay trong khách sạn này?
- Nơi nào thì cũng vậy thôi. Nếu mình để cho mọi việc nguội lạnh, mình sẽ ở vào một tình thế khá hơn. Trước hết, mình phải nghĩ đến đám cảnh sát. Khi vụ án mạng hãy còn mới, họ sẽ để ý dò la khắp mọi nơi. Nếu có thời giờ lắng dịu bớt, họ sẽ xếp nội vụ như bao cuộc thanh toán khác trong giới côn đồ du đãng. Họ sẽ không hơi đâu bỏ hết công lao vào việc truy nã mình, hoặc canh giữ tên Krause. Chắc em còn nhớ họ đã lưu tâm tới mức độ nào trong vụ Corelli bị giết. Mọi người đều hân hoan cố tìm ra một lý do để khỏi phải đi tìm bọn đã bắn chết Corelli. Chuyện nơi đây rồi cũng sẽ như thế. Họ sẽ kết luận rằng Ruger đã bị hạ bởi một tay chuyên nghiệp, và họ sẽ chôn vùi nội vụ vào tủ hồ sơ.
- Tất cả sẽ xảy ra một cách tương tự với tên Krause. Lúc này y đang thận trọng đề phòng. Y sẽ không nói gì với cảnh sát. Y chắc chắn mình đang truy tầm y, và mỗi khi đi ra ngoài y sẽ trông trước nhìn sau hết sức kỹ càng. Nhưng ba ngày sau, y sẽ cố tự thuyết phục rằng giết một tên cũng đủ cho mình nguôi hận, hay là mình đã hoảng sợ sau khi giết Ruger nên bỏ trốn khỏi thị xã. Mình cứ để cho y lắng dịu lại.
- Mình làm sao tìm ra y?
- Thế nào mình cũng sẽ có cách tìm cho ra.
- Chắc chắn mình sẽ không tìm thấy tên y trong niên giám. Em muốn nói có cả triệu người mang họ Krause, dù y được ghi danh vào niên giám đi nữa, mình cũng đành chịu vì mình chỉ biết biệt hiệu của y, chứ đâu có biết tên thật của y. Theo ý anh, tại sao người ta gọi y bằng cái tên Dago Krause không phải là một cái họ gốc Ý, phải không anh?
- Không. Mình sẽ tìm ra y.
- Bằng cách nào?
- Mình sẽ tìm ra y. Bằng cách này hay cách khác, mình sẽ tìm ra y.
Hai người ở trong phòng khách sạn suốt buổi sáng. Tới trưa, chàng đến tiệm thuốc mua một chồng tạp chí và mấy tờ nhật báo buổi sáng. Tất cả các báo đều có bài tường thuật, nhưng không một tờ báo nào xem đấy là chuyện quan trọng. Đây không phải là loại tin tức sốt dẻo. Phóng viên thuật lại rằng vừa có một cuộc đấu súng xảy ra, nhưng không một khán giả nào thiệt mạng, và vì không ai trông thấy Jill nên người ta không nghi ngờ đây là một vụ án mạng vì tình. Giả thuyết được đa số dân chúng tin là Ruger đã bị thanh toán bởi một tên giết mướn chuyên nghiệp, một lối kết liễu tính mạng khá thông thường đối với một kẻ tội phạm. Lời khai của các nhân chứng mâu thuẫn với nhau một cách khác thường, và hình dạng tổng hợp của thủ phạm căn cứ theo những lời khai này cho thấy đó là người đàn ông lối ba mươi lăm tuổi, thấp và mập hơn Dave. Ngay cả bài tường thuật về vụ án mạng đăng trên các nhật báo cũng không giống nhau. Một nhân chứng quả quyết rằng Ruger đã bị tấn công bởi hai người đàn ông, một người bắn từ ngôi nhà có phòng cho thuê, và người kia bắn từ một bên hông của một chiếc xe hơi đang đậu. Bà già quản lý thì lại kể với các phóng viên rằng tên sát nhân đã trình cho bà xem giấy tờ căn cước giả mạo, khiến bà tưởng lầm y là một nhân viên của FBI.
Hai người cùng đọc tất cả các bài báo và chàng bật cười vang, rồi chàng xếp lại, đem ra cuối hành lang và liệng vào trong một giỏ rác lớn.
Chàng bảo Jill:
- Thật đúng như ý anh nghĩ. Họ có bắt được mình ngay tại chỗ thì mới có thể buộc tội mình. Bây giờ, họ không còn hy vọng gì nữa.
Hai người đi ra ngoài ăn trưa và ngồi hút thuốc lá uống cà-phê một hồi khá lâu. Sau đó, họ thả bộ tới Đường Bốn Mươi Hai. Có hai phim thuộc loại khoa học giả tưởng đang chiếu tại rạp Victory, và giá vé ban ngày chưa đầy một Mỹ-kim. Đây là một cơ hội quá tốt không sao bỏ qua. Hai người vào rạp giữa chừng một cuốn phim của Anh kể chuyện một đoàn thám hiểm lạc vào sao Alpha Centauri, và ngồi trên lầu. Khán giả không đông lắm. Họ xem đoạn cuối của phim này, một phim thời sự, ba phim hoạt họa ngắn, một đoạn quảng cáo của phim, sắp chiếu, và cuốn phim thứ hai, trong đó vận mạng của thế giới bị đe dọa bởi một giống chuột khổng lồ, lũ quái vật ồ ạt kéo nhau chạy xuống biển và nuốt sống tất cả những người bọn chúng bắt gặp giữa đường. Rồi họ xem tiếp phim Alpha Centauri tới đoạn họ vào rạp.
Họ cảm thấy an toàn một cách khoan khoái trong rạp hát, với cái cảm tưởng mình đang ở giữa một đám đông nhưng không phải là một thành phần, mình đang được bao quanh bởi những người không quen biết. Lúc đầu, họ rất khẩn trương và lưu ý đề phòng, nhưng chẳng bao lâu họ đã quên bẵng đi, và bị lôi cuốn vào những cảnh hoạt động trên màn ảnh.
Trên đường về khách sạn, chàng ghé mua báo chiều. Ngay khi vừa vào phòng, chàng duyệt qua các báo, trong lúc Jill xuống dưới đất để giặt đồ lót và mấy đôi vớ. Chàng không hy vọng tìm thấy gì đặc biệt trên mặt báo, chỉ duyệt qua cho có lệ. Đại khái, các bài viết về vụ đấu súng chỉ theo một luận điệu cũ tương tự trong báo buổi sáng với một vài chi tiết phụ về những thành tích của Ruger và những hoạt động của y, cùng mấy lời bình luận xa gần về cuộc điều tra án mạng mà cảnh sát đang tiến hành.
Nhưng đoạn cuối của một bài báo cho hay:
Philip Dago Krause, theo cảnh sát được biết là một người bạn thân và cũng là một người làm ăn chung với nạn nhân, đã được mời đến thẩm vấn cùng với các nhân chứng khác. Krause cư trú tại 2792 Đại lộ 23 ở Astoria, có một hồ sơ tư pháp với nhiều án tù từ 1948. Ông ta đã được thả sau một cuộc thẩm vấn cặn kẽ...
Chàng cầm tờ báo chạy ngay xuống đất, chỉ cho Jill xem và nói bằng một giọng đầy gay cấn:
- Em xem đây này. Anh đã bảo em anh sẽ tìm được y mà. Không ngờ chính mấy ông nhà báo vẽ giúp họa đồ cho mình!
Tối hôm ấy hai người đi ăn tại một nhà hàng sang trọng ở Đường Ba Mươi sáu. Sau đó họ trở về khách sạn, và uống thêm VO. Ginger ale đã hết. Chàng phải uống whiskey nguyên chất, còn nàng thì pha với nước trong vòi. Họ chơi bài cào một hồi lâu rồi xem mấy tờ tạp chí. Nàng giặt mấy đôi vớ cho chàng và phơi lên cây sắt dùng để treo màn cửa sổ. Chàng nghe nàng lẩm bẩm trong tuần trăng mật mà nàng phải làm công việc nội trợ và chàng mỉm cười một cách trầm tư. Đây là lần đầu tiên một trong hai người nhắc đến tiếng “tuần trăng mật”.
Ngày hôm sau là Thứ Bảy. Không có tin tức gì mới lạ về vụ án mạng Ruger trên các nhật báo. Một số lớn các báo không thèm nhắc nhở đến chuyện đó nữa. Trong một bài tổng kết tin tức hàng tuần, người ta chỉ bình luận một vài câu sơ lược, rồi thôi. Họ vẫn không hề đi đâu xa ra khỏi khách sạn.
Tới ngày Chủ Nhật, nàng tỏ vẻ sốt ruột, chỉ muốn kết thúc cho xong công việc.
Chàng đỗ dành nàng:
- Mình nên chờ thêm vài ba ngày nữa:
- Bây giờ mọi việc kể như sắp xong rồi.
Buổi chiều họ lại đi xem xi-nê ở một rạp chiếu bóng khác tại Đường Bốn Mươi Hai, và tối đến đi ăn ở nhà hàng Blue Ribbon tại Đường Bốn Mươi Bốn. Họ đã uống trước khi ăn và trong lúc ăn lại uống thêm Wurzburger, cuối cùng ăn xong còn uống Cognac, nên họ hơi ngây ngất khi ra khỏi nhà hàng. Chàng muốn trở về Moorehead, nhưng nàng đề nghị ghé vào một quán nhạc Jazz ở cùng đường và chàng chiều theo ý nàng. Họ ngồi ở một quầy hình vòng cung và lắng nghe một người đàn ông đánh dương cầm. Bỗng nàng cúi đầu xuống và nắm chặt lấy cổ tay của chàng.
Nàng khẽ bảo
- Anh khoan nhìn lên đã?
- Chuyện gì vậy?
- Có một người đàn ông ngồi đằng mút quầy, y chính là “một người khách” của Lublin đêm hôm trước. Em không nhớ tên y nhưng em đã gặp y ở đó. Người thắt chiếc-cà-vạt màu đỏ. Anh đừng nhìn thẳng vào mặt y, nhưng hãy xem thử y có nhìn mình hay không.
Chàng trông thấy gã đàn ông mà nàng muốn chỉ và kín đáo liếc về phía y. Gã đàn ông hình như chưa để ý tới họ.
Nàng lại nói nhỏ:
- Chắc y không nhận ra em đâu. Hôm ấy em khác hẳn bây giờ mà. Hơn nữa, đêm hôm đó em thấy y có vẻ khá say có phải, y đang nhìn về phía này?
- Không.
- Mình nên ra khỏi đây thì hơn. Anh hãy để em đi trước.
Nói đoạn nàng rời khỏi ghế. Chàng để tiền lên mặt quầy và theo nàng ra ngoài cửa. Nàng đang tựa lưng vào tường, thở hổn hển. Chàng liền nắm lấy cánh tay nàng và dẫn đi. Một chiếc tắc-xi ngừng lại mời họ. Họ lên xe và trở về khách sạn không nói với nhau một tiếng nào.
Vào trong phòng rồi, nàng mới bảo:
- Thật là nguy hiểm. Mình càng ở thêm trong thành phố này ngày nào…
- Anh hiểu.
Chàng đốt một điếu thuốc lá và nói tiếp:
- Ngày mai.
- Anh có nghĩ là quá sớm?
- Không. Anh đã định chờ tới ngày Thứ Ba hoặc Thứ Tư, nhưng em nói có lý, mình không thể ở đây quá lâu. Không sớm thì muộn sẽ có lúc mình đâm đầu vào một người nào. May là gã đó không nhận ra em.
- Phải, may thật.
- Và cũng may vì em đã nhận ra y.
Chàng ở bên cạnh nàng cho tới khi qua khỏi nửa đêm. Rồi chàng rời khỏi khách sạn và đi xuống phố, cách khách sạn chừng mười khóm nhà. Trên một con đường tối đen chàng tìm thấy một chiếc Chevrolet cũ độ hai năm mang bảng số New Jersey. Các bảng số được bắt vào dàn xe bằng bù-loong. Chàng dùng một đồng tiền hai mươi lăm xu để tháo bù-loong, lấy cả hai tấm bảng số giấu trong sơ mi đem về khách sạn.
Họ thu xếp tất cả đồ đạc vào va-li, ngoại trừ khẩu súng lục và hộp đạn. Chàng nạp năm viên đạn vào súng và đem những viên còn lại ra một đường phố tối đen khác. Trong hộp còn cả thảy chừng mười lăm viên. Chàng thả từng viên một xuống một miệng cống và liệng cái hộp không vào một giỏ rác.
*
* *
Bảy giờ sáng ngày hôm sau, chàng lại rời khỏi khách sạn và đi bộ đến ga ra Kinney, ngay lúc nơi này vừa mở cửa. Chàng lấy lại chiếc xe của chàng, sau khi trả ba Mỹ-kim rưỡi, và đậu quá khỏi khách sạn một khoảng. Rồi chàng lên lầu lấy hành lý. Jill đi xuống cùng với chàng. Nàng đã giấu khẩu súng vào trong ví tay. Họ đi tới chỗ xe đậu, chất hành lý vào thùng và khóa nắp lại. Chàng lái xe và nàng ngồi sát bên cạnh chàng. Chàng quẹo về phía tây tới Đường Chín Mươi Lăm, rồi chạy vào những con đường ngang giữa hai Đại Lộ Broadway và West End cho tới khi chàng tìm được những gì chàng muốn tìm: một con đường hẹp chạy dọc theo một kho hàng. Chàng lái xe qua con đường hẻm này, ra phía sau lưng của kho hàng và thay đổi bảng số. Chàng cất bảng số của mình trong thùng xe và gắn bảng số New Jersey vào chiếc Ford của chàng, với các bù-loong siết không cứng lắm. Đoạn chàng ra khỏi con đường hẻm và lại tới Đường 125 rồi quẹo về phía đông để qua Cầu Triborough.
Trên cầu, xe cộ đang chạy tấp nập về ngả Mã-nhật-tân, vì lúc này là giờ những người cư ngụ ở các vùng ngoại ô kéo nhau vào đô thị để làm việc. Chàng lái xe băng ngang khu Astoria, trong lúc nàng kiểm soát lộ trình nhờ cuốn họa đồ bỏ túi để cho chàng biết cần phải quẹo về hướng nào. Họ chỉ quẹo xe sai một lần, khiến họ lạc xa tới ba bốn khóm nhà, nhưng họ đã biết ngay mình lầm đường, và trở về chỗ cũ. Cuối cùng họ tìm ra khóm nhà của Krause, kế đó là ngôi cao ốc Krause hiện đang ở, và chàng lái xe chạy quanh để tìm chỗ đậu. Chỗ trống duy nhất ở gần một vòi nước cứu hỏa. Chàng chạy quanh khóm nhà hai lần và lần thứ hai chợt có một chiếc xe rời khỏi chỗ đậu và bỏ đi. Khoảng trống khá hẹp, nhưng chàng vẫn đậu chiếc Ford của chàng vào được chỗ đó.
Chàng tắt máy, ra khỏi xe. Chàng đi quanh về phía lề đường trong lúc nàng lách mình, ngồi vào phía sau tay lái. Chàng lại lên xe và ngồi bên cạnh nàng. Chiếc ví tay của nàng, với khẩu 38 đựng bên trong, nằm sẵn trên ghế ở giữa hai người. Từ chỗ chàng ngồi, chàng có thể trông thấy rõ cổng ra vào cao ốc của Krause. Nó chỉ cách xa chừng một trăm thước, cùng một phía với họ.
Và Krause hiện ở nhà. Dave có thể trông thấy chiếc Pontiac sáng lấp lánh của y đậu về phía bên kia đường trước mặt cao ốc. Krause hiện ở trong đó, và y không thể ở lì trong đó mãi.
Chàng trầm tĩnh bảo:
- Lần này, mình hành động rất đúng.
Nàng gật đầu. Hai bàn tay của nàng nắm tay lái một cách vững vàng và mắt chăm chú nhìn thẳng về phía trước mặt. Chàng đưa cho nàng một điếu thuốc lá nhưng nàng không muốn hút.
Cửa kính bên phía chàng đang đóng. Chàng quay xuống tận dưới cùng.
Chàng nói:
- Phương pháp dễ dàng nhất, đơn giản nhất. Em nhớ kỹ lời anh dặn, em hãy thụt lui xe lại càng nhiều càng tốt, và xoay tay lái thế nào cho mình có thể ra khỏi chỗ này thật nhanh. Mình đừng để cho bị bắt tại trận.
Nàng làm đúng theo lời chàng, thụt lui xe gần đụng chiếc phía sau và quay tay lái để cho họ có thể phóng ra nhanh khi đến lúc. Chàng hút một điếu thuốc lá và gạt tàn ra ngoài khung cửa xe đã mở.
Chàng nghĩ thầm chờ đợi bao giờ cũng là việc khó khăn nhất. Khi sự việc đã bắt đầu xảy ra, phần nhiều tác động của mình chỉ là những phản ứng tự nhiên. Lúc bấy giờ mình không thể ngồi yên và suy nghĩ, mình cũng không có thì giờ để lo sợ và để nhận xét. Nhưng sự chờ đợi đòi hỏi một thứ kỷ luật cá nhân đặc biệt. Mình phải chấp nhận rằng sự kéo dài của thời gian là một điều mình phải chịu đựng, một giai đoạn bất hoạt động trong đó mình phải ngoảnh mặt với chính mình và để mặc cho thời gian trôi qua.
Chàng duyệt lại trong trí mọi chi tiết. Chàng nghiên cứu lại kế hoạch về mọi phương diện, mà không tìm thấy một kẽ hở nào. Việc thật là đơn giản và rõ ràng. Không có một chút rắc rối, một trở ngại bất ngờ nào có thể gây thất bại. Kế hoạch của chàng vững như bàn thạch.
Một vài người rời khỏi cao ốc của Krause. Hai ba người khác đi vào trong đó. Có lần chàng bỗng trông thấy một người đàn ông đứng ở ngưỡng cửa giống hệt Krause, và chàng phải nhìn kỹ lại lần thứ hai mới nhận ra đó là một người khác. Ngồi trong một chiếc xe đậu như thế này, chàng cảm thấy như mọi người đều nhắm vào mình, nhưng chàng tự bảo không có gì nguy hiểm. Không một ai để ý tới họ làm gì. Biết bao nhiêu người vẫn thường ngồi trong những chiếc xe đậu. Đâu có luật lệ nào cấm đoán chuyện này. Và những người đi qua bên cạnh họ đều có vẻ hối hả, không có thì giờ rảnh để lưu tâm đến họ.
Bên ngoài, trời khá lạnh, nên đã có lúc chàng khởi sự quay kiếng lên. Nàng liền hỏi chàng đang làm gì vậy, và chàng vội vàng quay kiếng trở xuống. Chàng với tay, mở cái ví của nàng ra. Khẩu súng đang nằm yên trong đó, chờ đợi.
Lúc mười giờ hai mươi lăm, Dago Krause mới ra khỏi cao ốc.
Cả hai người trông thấy y cùng một lúc. Krause bước qua khỏi ngưỡng cửa với một điếu thuốc lá trên tay. Y hút một hơi thật dài, rồi búng điếu thuốc về phía đường. Y mặc một chiếc áo mưa màu xám nâu, không cột thắt lưng nên tà áo bay tung theo gió. Đôi giày của y sáng bóng như gương. Y tiến ra lề đường, và Jill liền xoay chìa khóa cho máy nổ rồi phóng xe ra khỏi chỗ đậu. Chiếc Ford trườn tới trước. Dave lấy khẩu súng ra khỏi ví tay của nàng và kềm chặt ở ngay phía dưới cửa xe.
Có hai chiếc xe hơi đậu phía trước cao ốc của Krause, cách nhau chừng một thước rưỡi. Krause dừng lại ở lề đường giữa hai chiếc xe đổ. Y chợt tiến tới một bước để băng qua, nhưng trông thấy chiếc Ford, y lại thụt lùi để nhường cho xe chạy. Chiếc Ford lúc này đang chạy ngang hàng với Krause. Dave kê mũi súng trên khung cửa. Jill đạp thắng, không gấp rút lắm, và chiếc xe hơi chạy chậm lại.
Bỗng Krause nhìn vào hai người. Trong vòng chưa đầy một giây đồng hồ, y đã nhận ra Dave, với khẩu súng. Rồi Dave trút hết đạn vào người y.
Một viên đạn bắn hụt làm vỡ cánh cửa kiếng của cao ốc. Bốn viên kia đều trúng đích. Ba viên cắm vào thân hình y, một vào bụng và hai vào chính giữa ngực. Viên cuối cùng bay vào người y trong lúc y đang té, và làm bể một nửa chiếc đầu của y. Sức mạnh phối hợp của tràng đạn hất Dago Krause lên khỏi mặt đất và ném y trở xuống lề đường. Y không kịp có một cử động nhỏ, không hề thốt lên được một tiếng kêu nào.
Jill thả bàn đạp thắng và nhấn lút chân ga. Chiếc Ford nhảy chồm về phía trước như hoảng hốt và trong nháy mắt đã vượt qua hai khóm nhà. Tới ngã tư thứ hai, họ gặp một đèn đỏ. Nàng cho xe chạy chậm lại, rồi quẹo trái, phóng nhanh qua hai khóm nhà nữa. Nàng lại quẹo xe, lần này về phía tay phải, và trở xuống tốc độ bình thường. Khẩu 38 đã được bỏ lại vào ví tay của nàng, cửa kiếng cũng được quay lên. Chiếc xe nồng nặc mùi thuốc súng, và chàng phải hé mở bộ phận thông hơi cho thoáng khí.
Tới một con đường có nhiều biệt thự cách xa lối hai cây số, nàng ngừng xe, và chàng xuống thay bảng số. Toàn thể công việc gỡ bảng số New Jersey ra và thay thế bảng số thật của chàng vào chỉ làm chàng mất chưa tới năm phút. Chàng trở lên xe và nàng hướng về phía cầu Triborough, trong lúc chàng chùi sạch dấu tay của chàng dính vào hai tấm bảng số mà chàng đã lấy trộm. Khi họ chạy qua một lô đất trống, nàng bớt ga, và chàng quay kiếng xuống để liệng hai tấm bảng vào giữa khu đất.
Họ qua cầu. Nàng lái xe băng ngang Mã-nhật-tân theo đường 125, ngừng lại ở đầu Đại lộ Henry Hudson và nhường tay lái cho chàng. Chàng trực chỉ về phương bắc theo Đại lộ Henry Hudson quẹo sang Đại lộ Saw Mill River, và nhìn các bảng chỉ dẫn để chạy ra xa lộ. Phải qua ba chiếc cầu và đóng thuế đường nhiều lần. Sự lưu thông trên Đại lộ Saw Mill River tương đối đông đảo, nhưng hai người vẫn ra tới xa lộ vào khoảng mười hai giờ trưa.