Vụ Ám Sát Roger Ackroyd

Lượt đọc: 181 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9
Ao Cá Vàng

❊ ❊ ❊

Chúng tôi cùng nhau quay lại ngôi nhà. Chẳng thấy bóng dáng viên thanh tra đâu cả. Poirot dừng chân trên khoảng sân hiên, quay lưng về phía ngôi nhà, chậm rãi quay đầu nhìn quanh.

Cuối cùng, ông cất tiếng với vẻ đầy tán thưởng: “Une belle propriété. Ai là người thừa kế vậy?”

Câu nói của ông khiến tôi giật mình thon lót. Thật kỳ lạ, phải đến khoảnh khắc ấy, vấn đề thừa kế mới xuất hiện trong đầu tôi. Poirot chăm chú quan sát tôi.

Ông nói tiếp: “Ý nghĩ đó hoàn toàn mới mẻ đối với anh phải không? Anh chưa từng nghĩ tới điều này trước đây—hả?”

Tôi thành thật đáp: “Vâng. Ước gì tôi đã nghĩ đến.”

Ông lại nhìn tôi với vẻ tò mò.

Ông trầm ngâm bảo: “Tôi tự hỏi rốt cuộc anh muốn ám chỉ điều gì. À! Không,” ông nói ngay khi tôi định lên tiếng. “Inutile! Anh sẽ không đời nào nói cho tôi biết suy nghĩ thật của mình đâu.”

Tôi mỉm cười trích dẫn: “Ai mà chẳng có điều gì đó muốn giấu giếm.”

“Chính xác.”

“Anh vẫn tin là vậy sao?”

“Hơn bao giờ hết, bạn của tôi ạ. Nhưng che giấu mọi thứ với Hercule Poirot không phải chuyện dễ dàng. Ông ấy có biệt tài tìm ra tất cả.”

Vừa nói, ông vừa bước xuống những bậc thềm dẫn vào khu vườn kiểu Hà Lan.

“Chúng ta đi dạo một lát đi,” ông quay lại nói. “Hôm nay thời tiết thật dễ chịu.”

Tôi bước theo sau ông. Ông dẫn tôi vào một lối đi bên trái bị bao bọc bởi những hàng rào cây thủy tùng. Một con đường nhỏ chạy dọc ở giữa, hai bên là những luồn hoa được cắt tỉa ngăn nắp, và cuối đường là một góc lõm hình tròn được lát đá có đặt một chiếc ghế dài cùng một cái ao nuôi cá vàng. Thay vì đi đến cuối con đường, Poirot rẽ sang lối đi khác uốn lượn lên sườn đồi nhiều cây cối. Tại một khoảng trống, người ta đã phát quang cây cối và đặt một chiếc ghế băng. Ngồi ở đó, người ta có thể phóng tầm mắt ngắm nhìn phong cảnh đồng quê tuyệt đẹp, đồng thời nhìn thẳng xuống góc sân lát đá và ao cá vàng bên dưới.

“Đất nước Anh thật tươi đẹp,” Poirot nói, ánh mắt thẫn thờ ngắm nhìn khung cảnh trước mặt. Rồi ông mỉm cười. “Và các thiếu nữ Anh cũng vậy,” ông nói nhỏ hơn. “Khẽ nào bạn của tôi, hãy nhìn bức tranh xinh xắn bên dưới chúng ta kìa.”

Chính khoảnh khắc ấy tôi nhìn thấy Flora. Cô đang đi dọc theo con đường chúng tôi vừa rời khỏi và ngân nga một khúc ca nhỏ. Bước chân cô uyển chuyển tựa như đang múa hơn là đi bộ, và bất chấp bộ váy đen đang mặc, toát lên từ toàn bộ dáng vẻ của cô chỉ có niềm vui hân hoan. Cô bất ngờ nhón chân xoay một vòng, tà áo đen tung bay theo nhịp chuyển động. Cùng lúc đó, cô ngửa đầu ra sau và cất tiếng cười vang.

Đúng lúc ấy, một người đàn ông bước ra từ lùm cây. Đó là Hector Blunt.

Cô gái giật mình. Biểu cảm liền thay đổi đôi chút.

“Anh làm em giật cả mình—em không nhìn thấy anh.”

Blunt không nói gì, đứng lặng lẽ ngắm nhìn cô trong một hai phút.

Flora mang chút ít vẻ trêu chọc, lên tiếng: “Điều em thích ở anh chính là cuộc trò chuyện đầy vui vẻ này đấy.”

Tôi có cảm giác dưới lớp da rám nắng, mặt Blunt đã đỏ bừng lên. Khi anh cất lời, giọng nói nghe có vẻ khác lạ—ẩn chứa một sự khiêm nhường kỳ lạ.

“Tôi vốn chẳng phải là người giỏi ăn nói. Ngay cả khi còn trẻ cũng vậy.”

Flora nghiêm túc nói: “Chắc chuyện đó xảy ra từ lâu lắm rồi nhỉ.”

Tôi nhận ra tiếng cười ngầm trong giọng nói của cô, nhưng tôi không nghĩ Blunt có thể nhận ra điều đó.

Anh đơn giản đáp: “Ừ, đúng vậy.”

“Cảm giác làm cụ tổ Methuselah thế nào hả anh?” Flora hỏi.

Lần này tiếng cười đã rõ hơn, nhưng Blunt vẫn đang mải theo đuổi dòng suy nghĩ của riêng mình.

“Cô còn nhớ gã đã bán linh hồn cho quỷ dữ chứ? Để được đổi lấy tuổi trẻ ấy? Có cả một vở opera viết về chuyện đó đấy.”

“Ý anh là vở Faust phả không?”

“Đúng gã đó rồi. Câu chuyện nghe kỳ cục thật. Nghĩ lại, một số người trong chúng ta cũng sẽ làm thế nếu có cơ hội.”

Flora nửa bực bội, nửa buồn cười thốt lên: “Nghe anh nói chuyện, ai nấy chắc tưởng xương cốt anh đang kêu lục cục vì già nua ấy chứ.”

Blunt im lặng một lát. Sau đó, anh rời mắt khỏi Flora, nhìn ra khoảng không gian phía trước và lẩm bẩm với thân cây bên cạnh rằng đã đến lúc anh nên quay lại Châu Phi.

“Anh lại sắp đi thám hiểm nữa sao—đi săn bắn à?”

“Chắc vậy. Tôi vẫn thường thế mà, ý tôi là đi săn ấy.”

“Cái đầu thú treo ở sảnh là do anh bắn được phải không?”

Blunt gật đầu. Rồi anh bất ngờ thốt lên, mặt hơi đỏ bừng:

“Bất cứ lúc nào cô có hứng thú với những tấm da thú đẹp không? Nếu có, tôi có thể kiếm cho cô.”

Flora kêu lên: “Ồ! Làm ơn hãy kiếm cho em nhé! Thật chứ? Anh không được quên đâu đấy?”

Hector Blunt đáp: “Tôi sẽ không quên đâu.”

Anh bỗng trở nên cởi mở hơn và nói thêm:

“Đã đến lúc tôi phải đi rồi. Tôi chẳng hợp với kiểu sống này chút nào. Chẳng có nổi phép tắc xã giao cho ra hồn. Tôi là một kẻ cục cằn, chẳng tích sự gì ở chốn thượng lưu. Toàn quên những điều người ta mong đợi mình phải nói. Phải, đã đến lúc tôi nên đi.”

Flora kêu lên: “Nhưng anh không thể đi ngay bây giờ được. Không—không thể khi chúng ta đang gặp rắc rối thế này chứ. Ôi! Xin anh đấy. Nếu anh đi……”

Cô hơi quay mặt đi chỗ khác.

Blunt hỏi: “Cô muốn tôi ở lại ư?”

Anh nói rất chậm rãi nhưng vô cùng chân thành.

“Tất cả chúng tôi đều——”

Blunt thẳng thắn nói: “Ý tôi là cá nhân cô cơ.”

Flora chậm rãi quay lại và nhìn thẳng vào mắt anh.

Cô nói: “Em muốn anh ở lại, nếu—nếu điều đó có ích gì.”

Blunt đáp: “Nó có ích trong mọi chuyện.”

Một phút im lặng trôi qua. Họ ngồi xuống chiếc ghế đá cạnh ao cá vàng. Cả hai dường như đều không biết nên nói gì tiếp theo.

Cuối cùng Flora cất lời: “Tr—trời sáng nay đẹp thật đấy. Anh biết không, em không sao ngăn được cảm giác hạnh phúc, mặc cho—mặc cho mọi chuyện đang xảy ra. Chắc là tệ lắm phải không anh?”

Blunt nói: “Hoàn toàn bình thường. Mãi cho đến hai năm trước cô mới gặp bác mình lần đầu phải không? Đâu thể bắt cô phải đau buồn quá nhiều được. Sống thật lòng, không phải giả vờ giả vịt vẫn tốt hơn nhiều.”

Flora nói: “Anh có điều gì đó an ủi rất lớn lao đấy. Anh khiến mọi thứ trở nên thật đơn giản.”

Thợ săn thú lớn đáp: “Nói chung mọi thứ vốn dĩ đều đơn giản.”

Flora đáp: “Không phải lúc nào cũng vậy đâu.”

Giọng cô chùng xuống, và tôi thấy Blunt quay lại nhìn cô, dường như anh vừa thu hồi ánh mắt đang hướng về bờ biển châu Phi để làm việc đó. Rõ ràng anh đã tự suy diễn theo ý mình về sự thay đổi giọng điệu của cô, nên chỉ một lát sau, anh cất giọng có phần cụt lủn:

“Này, cô biết đấy, cô không được lo lắng đâu. Ý tôi là về gã thanh tra trẻ tuổi ấy. Hắn ta ngốc nghếch thật. Ai cũng rõ—thật hoàn toàn vô lý khi nghĩ rằng cậu ta có thể làm chuyện đó. Là kẻ từ bên ngoài đột nhập vào. Tên trộm cắp nào đó. Đó mới là giải pháp duy nhất khả dĩ.”

Flora quay sang nhìn anh.

“Anh thực sự nghĩ vậy sao?”

Blunt nhanh chóng đáp: “Cô không nghĩ thế à?”

“Em—ừm, có chứ, tất nhiên rồi.”

Lại một khoảng im lặng nữa trôi qua, rồi Flora bỗng thốt lên:

“Em—em sẽ nói cho anh biết tại sao sáng nay em lại cảm thấy hạnh phúc đến vậy. Dù anh có nghĩ em là kẻ nhẫn tâm đi chăng nữa, em vẫn muốn nói cho anh nghe. Đó là vì vị luật sư đã đến—ông Hammond. Ông ấy đã cho chúng tôi biết về di chúc. Bác Roger đã để lại cho em hai mươi nghìn bảng. Hãy nghĩ mà xem—hai mươi nghìn bảng tuyệt đẹp.”

Blunt lộ vẻ ngạc nhiên.

“Nó có ý nghĩa lớn đối với cô lắm sao?”

“Ý nghĩa lớn ư? Ôi, nó là tất cả đấy chứ. Là sự tự do—là cuộc sống—sẽ không còn cảnh toan tính, chắt bóp và dối trá nữa——”

Blunt sắc sảo cắt ngang: “Dối trá?”

Flora có vẻ sững sờ trong chốc lát.

Cô ngập ngừng đáp: “Anh thừa hiểu ý em mà. Là việc phải giả vờ biết ơn tất cả những món đồ cũ rách mà họ hàng giàu có ban phát cho. Những chiếc áo khoác, váy vóc và mũ nón của năm ngoái ấy.”

“Tôi không rành về trang phục phụ nữ cho lắm; nhưng tôi luôn thấy cô ăn mặc rất chỉnh tề mà.”

Flora trầm giọng nói: “Nhưng em cũng phải đánh đổi đấy chứ. Thôi, chúng ta đừng nói về những chuyện khó chịu đó nữa. Em đang hạnh phúc lắm. Em được tự do rồi. Tự do làm những gì mình thích. Tự do không phải——”

Cô chợt dừng bặt.

Blunt nhanh chóng hỏi: “Không phải làm gì cơ?”

“Em quên mất tiêu rồi. Chẳng có gì quan trọng đâu.”

Blunt đang cầm một chiếc gậy trên tay, anh chọc xuống ao, khua khoắng vào thứ gì đó.

“Đại tá Blunt, anh đang làm gì vậy?”

“Dưới đó có thứ gì sáng lấp lánh kìa. Tự hỏi không biết nó là gì—trông giống như một chiếc trâm cài áo bằng vàng. Giờ thì tôi quấy bùn lên nên nó chìm mất tiêu rồi.”

Flora gợi ý: “Biết đâu lại là một chiếc vương miện thì sao. Giống như cái mà Mélisande nhìn thấy dưới nước ấy.”

Blunt trầm ngâm nói: “Mélisande à—cô ta ở trong vở opera phải không?”

“Vâng, có vẻ như anh rành về opera lắm nhỉ.”

Blunt buồn rầu đáp: “Thỉnh thoảng mọi người cứ kéo tôi đi xem. Đúng là một ý tưởng giải trí kỳ quặc—còn nhức óc hơn cả tiếng trống tom-tom của thổ dân nữa.”

Flora phì cười.

Blunt nói tiếp: “Tôi nhớ Mélisande—lấy một ông già đáng tuổi cha chú.”

Anh ném một hòn đá lửa nhỏ xuống ao cá vàng. Sau đó, với thái độ thay đổi hẳn, anh quay sang phía Flora.

“Cô Ackroyd, tôi có thể giúp gì được không? Ý tôi là về vụ Paton ấy. Tôi biết cô hẳn đang lo lắng đến nhường nào.”

Flora lạnh lùng đáp: “Cảm ơn anh. Thật sự chẳng có việc gì cần làm đâu. Ralph sẽ ổn thôi. Em đã tìm được thám tử tuyệt vời nhất trên đời, và anh ấy sẽ tìm ra toàn bộ sự thật.”

Từ nãy đến giờ, tôi vẫn luôn cảm thấy bất an về vị trí của chúng tôi. Chúng tôi không hẳn là đang nghe lén, bởi vì hai người ở khu vườn phía dưới chỉ cần ngẩng đầu lên là có thể nhìn thấy chúng tôi. Dù vậy, lẽ ra tôi nên ra hiệu về sự hiện diện của mình từ lâu, nếu như người đồng hành không dùng lực bóp cảnh cáo lên bắp tay tôi. Rõ ràng ông muốn tôi tiếp tục im lặng.

Nhưng lúc này, ông dứt khoát đứng bật dậy, hắng giọng một tiếng.

Ông lớn tiếng kêu lên: “Tôi xin lỗi nhé. Tôi không thể để tiểu thư ca ngợi mình phóng đại như thế mà lại làm ngơ trước sự có mặt của bản thân được. Người ta vẫn bảo kẻ nghe lén chẳng bao giờ nghe được điều gì hay ho về mình, nhưng lần này thì không phải vậy. Để khỏi phải đỏ mặt ngượng ngùng, tôi đành phải đến tham gia cùng hai người và gửi lời xin lỗi vậy.”

Ông rảo bước đi xuống lối mòn với tôi bám sát phía sau, rồi tiến đến nhập bọn cùng hai người họ bên hồ nước.

Flora giới thiệu: “Đây là ông Hercule Poirot. Chắc anh đã từng nghe danh ông ấy.”

Poirot cúi đầu chào.

Ông lịch sự nói: “Tôi đã nghe danh Đại tá Blunt từ lâu. Rất vui được gặp ngài, thưa đại tá. Tôi đang cần một số thông tin mà ngài có thể cung cấp.”

Blunt nhìn ông với vẻ dò hỏi.

“Lần cuối cùng ngài nhìn thấy ông Ackroyd còn sống là khi nào?”

“Vào bữa tối.”

“Và sau đó ngài không hề nhìn thấy hay nghe thấy bất kỳ điều gì về ông ấy nữa sao?”

“Không thấy mặt. Chỉ nghe thấy tiếng thôi.”

“Sao lại thế ạ?”

“Tôi đi dạo ra sân hiên……”

“Xin lỗi ngài, lúc đó là mấy giờ?”

“Khoảng chín giờ rưỡi. Tôi đi lại hút thuốc ngay trước cửa sổ phòng khách. Tôi nghe thấy ông Ackroyd đang nói chuyện trong phòng làm việc……”

Poirot cúi người nhổ một cọng cỏ nhỏ ti ti.

Ông lẩm bẩm: “Chắc chắn là từ đoạn sân hiên đó ngài không thể nghe được giọng nói trong phòng làm việc chứ.”

Ông không nhìn Blunt, nhưng tôi thì có, và tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy đối phương đỏ bừng mặt.

Blunt miễn cưỡng giải thích: “Tôi đã đi ra tận góc sân.”

Poirot thốt lên: “À! Thế ra vậy ư?”

Với thái độ vô cùng ôn hòa, ông tạo cho người ta cảm giác rằng vẫn còn điều gì đó chưa được kể ra.

“Tưởng là nhìn thấy—một người phụ nữ biến vào lùm cây. Chỉ là một vệt trắng lướt qua thôi. Chắc là tôi nhầm. Chính lúc đứng ở góc sân hiên đó, tôi đã nghe thấy giọng ông Ackroyd đang nói chuyện với tay thư ký của ông ta.”

“Nói chuyện với ông Geoffrey Raymond sao?”

“Đúng vậy—lúc đó tôi tưởng thế. Xem ra tôi nhầm rồi.”

“Ông Ackroyd không gọi tên cậu ta à?”

“Ồ, không.”

“Vậy, nếu tôi được phép hỏi, tại sao ngài lại nghĩ rằng——?”

Blunt chật vật giải thích.

“Cứ đinh ninh đó là Raymond, bởi vì ngay trước khi tôi ra ngoài, cậu ta có nói là đang mang mấy tài liệu vào cho ông Ackroyd. Tôi chưa từng nghĩ đó có thể là ai khác.”

“Ngài có nhớ những từ mình nghe được là gì không?”

“E rằng không. Toàn những câu bình thường và chẳng có gì quan trọng. Tôi chỉ nghe lõm bõm được một đoạn thôi. Lúc đó tôi đang bận nghĩ vẩn vơ chuyện khác.”

Poirot lẩm bẩm: “Chẳng có gì quan trọng cả. Khi vào phòng làm việc sau khi thi thể được phát hiện, có phải ngài đã đẩy một chiếc ghế tựa sát vào tường không?”

“Ghế ư? Không—tôi làm thế để làm gì chứ?”

Poirot nhún vai nhưng không đáp. Ông quay sang Flora.

“Có một điều tôi rất muốn biết từ cô, thưa tiểu thư. Khi cô cùng Bác sĩ Sheppard xem xét các món đồ trong chiếc bàn bạc, con dao găm có nằm ở vị trí cũ của nó không, hay là không?”

Cằm Flora hếch lên.

Cô đầy bức xúc đáp: “Thanh tra Raglan cũng đã hỏi tôi điều đó rồi. Tôi đã nói với ông ấy, và giờ tôi cũng sẽ nói lại với ông. Tôi hoàn toàn chắc chắn con dao không hề ở đó. Ông ta nghĩ rằng nó có ở đó và Ralph đã lén lấy đi vào tối muộn. Và—và ông ấy không tin tôi. Ông ấy nghĩ tôi nói thế để—để che chở cho Ralph.”

Tôi nghiêm giọng hỏi: “Chẳng lẽ cô không làm thế thật sao?”

Flora dậm chân xuống đất.

“Cả anh nữa, Bác sĩ Sheppard! Ồ! Thật quá đáng lắm rồi.”

Poirot khéo léo đánh lạc hướng.

“Những gì tôi nghe Đại tá Blunt nói hoàn toàn chính xác. Có vật gì đó đang lấp lánh dưới ao kìa. Để xem tôi có với tới nó không nhé.”

Ông quỳ xuống bên mép ao, xắn tay áo lên tận khuỷu tay, rồi rất chậm rãi nhúng tay xuống để không làm khuấy động lớp bùn dưới đáy. Nhưng mặc cho mọi sự cẩn trọng đó, làn nước vẫn vẩn đục và xoáy tít, buộc ông phải rút tay không ra ngoài.

Ông cau mày nhìn lớp bùn bám trên tay. Tôi đưa chiếc khăn tay của mình ra, và ông đón lấy nó cùng những lời bày tỏ lòng biết ơn nồng nhiệt. Blunt nhìn đồng hồ.

Anh nói: “Gần đến giờ ăn trưa rồi. Chúng ta nên quay lại nhà thì hơn.”

Flora hỏi: “Ông Poirot sẽ dùng bữa trưa với chúng tôi chứ? Em rất muốn ông gặp mẹ em. Bà ấy—rất quý mến Ralph.”

Người đàn ông nhỏ bé cúi đầu.

“Tôi rất vinh hạnh, thưa tiểu thư.”

“Cả anh nữa, Bác sĩ Sheppard, anh cũng ở lại luôn nhé?”

Tôi ngập ngừng.

“Ồ, ở lại đi mà!”

Tôi vốn dĩ rất muốn ở lại, thế là tôi nhận lời mời mà chẳng cần thêm nghi thức khách sáo nào nữa.

Chúng tôi bắt đầu đi về phía ngôi nhà, Flora và Blunt đi ở phía trước.

Poirot khẽ gật đầu về phía Flora và thì thầm với tôi: “Mái tóc kìa. Vàng thật đấy! Họ sẽ thành một đôi đẹp đôi đây. Cô ấy và Đại capitán Paton điển trai, da ngăm đen. Phải thế không nhỉ?”

Tôi nhìn ông với vẻ dò hỏi, nhưng ông lại bận rộn phủi những giọt nước li ti bám trên tay áo khoác. Người đàn ông này đôi lúc khiến tôi liên tưởng đến loài mèo. Đôi mắt xanh lục và những thói quen vô cùng kiểu cách.

Tôi thông cảm lên tiếng: “Thế mà chẳng thu được gì cả. Không biết thứ dưới ao là gì nhỉ?”

Poirot hỏi: “Anh có muốn tận mắt thấy không?”

Tôi trợn tròn mắt nhìn ông. Ông gật đầu.

Ông dịu dàng trách móc: “Bạn hiền của tôi ơi, Hercule Poirot không đời nào liều lĩnh làm bẩn trang phục của mình nếu không chắc chắn đạt được mục đích. Làm thế thì thật ngớ ngẩn và nực cười. Tôi chưa bao giờ nực cười cả.”

Tôi phản bác: “Nhưng anh rút tay không về cơ mà.”

“Có những lúc sự kín đáo là điều vô cùng cần thiết. Này bác sĩ, có phải anh lúc nào cũng kể cho bệnh nhân nghe mọi thứ—mọi thứ không? Tôi nghĩ là không rồi. Mà anh cũng có kể mọi chuyện cho người chị tuyệt vời của mình nghe đâu, phải không nào? Trước khi chìa bàn tay trống không của mình ra, tôi đã thả vật trong đó sang tay kia rồi. Anh sẽ được thấy thứ đó là gì.”

Ông xòe bàn tay trái, lòng bàn tay ngửa ra. Trên đó nằm một vòng tròn bằng vàng nhỏ xíu. Một chiếc nhẫn cưới của phụ nữ.

Tôi cầm lấy nó từ tay ông.

Poirot ra lệnh: “Nhìn vào bên trong đi.”

Tôi làm theo. Bên trong khắc một dòng chữ nắn nót:

Từ R., ngày 13 tháng 3.

Tôi ngước lên nhìn Poirot, nhưng ông đang bận soi mình trong chiếc gương bỏ túi nhỏ xíu. Ông chăm chút vô cùng tỉ mỉ cho bộ ria mép của mình mà chẳng thèm đếm xỉa gì đến tôi nữa. Tôi hiểu rằng ông hoàn toàn không có ý định tiết lộ thêm điều gì.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.