Walden Và Nghĩa Vụ Bất Tuân Dân Sự

Lượt đọc: 246 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Các Quy Luật Cao Hơn

❊ ❊ ❊

Khi tôi thẩn thẩn tha thẩn kéo theo chiếc cần câu, tay xách chuỗi cá bước về nhà qua ngọn rừng lúc trời đã sẩm tối, tôi chợt thoáng thấy một con mộc thử đang len lén băng qua lối đi. Cảm giác phấn khích hoang dại dâng lên trong tôi một niềm vui kỳ lạ, và tôi bỗng thèm thuồng đến tột độ muốn chộp lấy nó rồi ăn tươi nuốt sống – không phải vì lúc đó tôi đói, mà là vì thèm cái hoang dã mà nó tượng trưng. Thế nhưng, có một hoặc hai lần, trong suốt quãng thời gian sống bên bờ hồ, tôi từng thấy mình lang thang trong rừng như một con chó săn đói lả, với một sự buông thả kỳ lạ, đi tìm thứ thịt rừng nào đó để có thể ngấu nghiến, và khi ấy không một miếng mồi nào là quá dã thú đối với tôi. Những khung cảnh hoang dã nhất đã trở nên quen thuộc đến khó hiểu. Tôi nhận thấy ở bản thân mình, và cho đến nay vẫn vậy, một bản năng hướng tới một cuộc sống cao đẹp hơn, hay như người ta gọi là đời sống tâm linh, giống như hầu hết mọi người; đồng thời lại có một bản năng khác hướng về thời kỳ nguyên thủy và dã thú, và tôi kính trọng cả hai. Tôi yêu sự hoang dã cũng chẳng kém gì sự lương thiện. Sự hoang dã và phiêu lưu ẩn chứa trong việc câu cá vẫn luôn khiến tôi gắn bó với nó. Có những lúc tôi thích nắm bắt lấy cuộc sống một cách mạnh mẽ và dành trọn ngày sống như loài vật. Có lẽ tôi phải cảm ơn công việc này cùng những chuyến đi săn thuở thiếu thời vì đã cho tôi mối thâm tình sâu sắc nhất với Tự nhiên. Chúng sớm đưa ta đến và giữ ta lại giữa những cảnh sắc mà nếu ở lứa tuổi đó, ta khó lòng có dịp dập dìu dạo bước. Những người đánh cá, thợ săn, tiều phu và bao người khác nữa, quanh năm suốt tháng gắn bó với đồng ruộng và rừng sâu, theo một nghĩa đặc biệt nào đó, chính là một phần của Tự nhiên, nên thường có tâm trạng thuận lợi hơn để quan sát bà, trong những khoảng nghỉ giữa những bận rộn mưu sinh, thậm chí còn hơn cả những nhà triết học hay thi nhân tiếp cận thiên nhiên với đầy rẫy sự kỳ vọng. Bản thân thiên nhiên chẳng hề e dè khi bày tỏ lòng mình trước họ. Kẻ lữ hành trên thảo nguyên tự nhiên cũng là một thợ săn, trên thượng nguồn sông Missouri và Columbia là một tay săn bẫy lông thú, còn tại thác St. Mary lại là một ngư phủ. Kẻ nào chỉ thuần túy là một vị khách du lịch thì chỉ thu nhặt được những điều qua loa, nghe lại từ người khác, và chẳng đáng để ta tin cậy. Chúng ta cảm thấy hứng thú nhất khi khoa học thuật lại những điều mà những con người kia đã biết rõ bằng thực tiễn hoặc bản năng, bởi chỉ có thế mới là nhân tính đích thực, hay là chứng thực cho kinh nghiệm của con người.

Thật sai lầm khi cho rằng người Yankee có ít trò tiêu khiển vì họ không có nhiều ngày lễ hội công cộng, và đàn ông lẫn trẻ con không chơi nhiều môn thể thao như ở Anh quốc; bởi lẽ tại đây, những trò giải trí nguyên sơ nhưng cô độc hơn như săn bắn, câu cá và tương tự thế vẫn chưa nhường chỗ cho những hình thức kể trên. Hầu như mọi đứa trẻ New England cùng thời với tôi đều vác súng săn trên vai khi ở độ tuổi từ mười đến mười bốn; và bãi săn hay vùng câu của chúng không hề bị giới hạn như những khu rừng cấm của một nhà quý tộc Anh, mà thậm chí còn vô tận hơn cả lãnh địa của người da đỏ. Thế nên chẳng có gì lạ khi chúng không thường xuyên nán lại để chơi đùa ngoài bãi cỏ chung của làng. Nhưng một sự thay đổi đang dần diễn ra, không phải do lòng nhân ái tăng lên, mà vì thú vật ngày càng trở nên khan hiếm; bởi có lẽ thợ săn mới chính là người bạn lớn nhất của muông thú bị săn đuổi, nếu không muốn nói là vượt hơn cả Hội Bảo vệ Động vật.

Hơn nữa, khi ở bên hồ, đôi khi tôi muốn bổ sung cá vào khẩu phần ăn của mình để đổi món. Thực ra tôi đi câu vì đúng cái thứ nhu cầu nguyên thủy mà những ngư phủ đầu tiên từng trải qua. Bất kỳ sự trắc ẩn nhân đạo nào mà tôi cố gảy lên để chống lại điều đó đều là thứ đạo đức giả tạo, liên quan đến triết lý sống của tôi nhiều hơn là cảm xúc thật. Bây giờ tôi chỉ nói chuyện câu cá, bởi vì tôi đã sớm có cách nhìn khác về việc bắn chim, và đã bán cây súng của mình trước khi vào rừng. Không phải tôi ít lòng nhân từ hơn người khác, nhưng tôi không thấy cảm xúc của mình bị dao động nhiều lắm. Tôi chẳng thương xót gì những con cá hay con giun. Đó là thói quen. Còn về việc săn chim, trong những năm tháng cuối cùng cầm súng, lý do của tôi là đang nghiên cứu về loài học chim, và chỉ tìm kiếm những loài chim mới hoặc hiếm. Nhưng tôi phải thú nhận rằng giờ đây tôi nghiêng về ý kiến cho rằng có một cách nghiên cứu chim muôn tinh tế hơn thế nhiều. Nó đòi hỏi sự chú ý sát sao hơn hẳn đối với tập tính của loài chim, và chỉ riêng lý do đó thôi cũng đủ khiến tôi sẵn sàng gác lại khẩu súng. Dẫu vậy, dẫu vấp phải sự phản đối từ khía cạnh nhân đạo, tôi vẫn hoài nghi liệu có môn thể thao giá trị nào khác đủ sức thay thế cho những hoạt động này hay không; và khi một vài người bạn lo lắng hỏi tôi về con trai họ, rằng có nên cho chúng đi săn hay không, tôi đã trả lời là có – nhớ rằng đó từng là một phần tốt đẹp nhất trong nền giáo dục của tôi – hãy biến chúng thành những thợ săn, dẫu ban đầu chỉ là những tay chơi thể thao, rồi cuối cùng hãy trở thành những thợ săn vĩ đại, để chúng không còn thấy con mồi nào là đủ lớn trong vùng hoang dã thảo mộc này hay bất cứ đâu – trở thành những thợ săn cũng như những kẻ chài lưới tâm hồn người. Cho đến nay, tôi vẫn giữ quan điểm của nữ tu sĩ trong thơ của Chaucer, người

“Chẳng màng dù chỉ một cọng lông gà

Lời rằng thợ săn nào phải thánh nhân.”

Có một giai đoạn trong lịch sử của mỗi cá nhân, cũng như của cả nhân loại, khi mà những thợ săn chính là “những con người ưu tú nhất”, như người Algonquin từng gọi họ. Chúng ta không thể không thương cảm cho những đứa trẻ chưa từng một lần bóp cò súng; chúng chẳng hề nhân từ hơn, trong khi nền giáo dục của chúng lại bị bỏ quên một cách đáng tiếc. Đó là câu trả lời của tôi đối với những thanh thiếu niên mải miết theo đuổi con đường này, với niềm tin rằng chúng sẽ sớm vượt qua giai đoạn đó. Chẳng có con người nhân hậu nào, qua khỏi lứa tuổi bồng bột của thời thơ ấu, lại nhẫn tâm tusát bất kỳ sinh linh nào mang sự sống bằng sợi dây mỏng manh giống như chính họ. Con thỏ trong cơn cùng quẫn cất tiếng kêu la hệt như một đứa trẻ. Tôi xin cảnh báo các bà mẹ rằng sự đồng cảm của tôi không phải lúc nào cũng tuân theo những tiêu chuẩn nhân đạo thông thường.

Đó thường là cách một thanh niên bước chân vào chốn thung ngàn, và cũng là phần nguyên bản nhất trong con người cậu ta. Ban đầu cậu đến đó với tư cách là một thợ săn và kẻ chài lưới, cho đến tận lúc cuối cùng, nếu trong tâm can cậu ta ươm mầm một cuộc sống tốt đẹp hơn, cậu sẽ nhận ra sứ mệnh đích thực của mình, có thể là một thi nhân hay nhà tự nhiên học, và bỏ lại sau lưng khẩu súng cùng chiếc cần câu. Đa số mọi người vẫn và sẽ mãi mãi trẻ con về mặt này. Ở một số xứ sở, hình ảnh một mục sư đi săn không phải là điều gì hiếm lạ. Một kẻ như thế có lẽ hợp làm chó giữ cừu hơn, chứ còn lâu mới trở thành Mục Tử Nhân Lành. Tôi từng ngạc nhiên khi nhận ra rằng ngoại trừ việc đốn củi, cắt băng, hay những công việc tương tự, thì hoạt động duy nhất thu hút bất kỳ người đồng hương nào của tôi – dù là các bậc phụ huynh hay thiếu niên trong thị trấn – nán lại Hồ Walden trọn nửa ngày, với đúng một ngoại lệ duy nhất, chính là việc câu cá. Thông thường họ chẳng mảy may nghĩ rằng mình gặp may, hay thời gian bỏ ra được đền đáp xứng đáng, trừ khi họ kéo lên được một chuỗi cá dài, mặc dù họ có cơ hội ngắm nhìn mặt hồ suốt khoảng thời gian đó. Họ có thể đến đó cả ngàn lần trước khi cặn bã của việc câu cá lắng xuống đáy để giữ cho tâm hồn họ được thuần khiết; nhưng không còn nghi ngờ gì nữa, một quá trình thanh lọc như thế vẫn diễn ra trong suốt thời gian ấy. Viên thống đốc và hội đồng của ông chỉ còn mơ hồ nhớ về cái hồ, bởi họ từng đi câu ở đó khi còn là những cậu bé; nhưng giờ đây họ đã quá già và đường bệ để đi câu nữa, thế là họ vĩnh viễn không còn biết đến nó. Dẫu vậy, ngay cả họ vẫn mong cuối cùng sẽ được lên thiên đàng. Nếu hội đồng lập pháp có bận tâm đến hồ nước, thì chủ yếu cũng chỉ để quy định số lượng lưỡi câu được phép sử dụng ở đó; nhưng họ hoàn toàn mù tịt về chiếc lưỡi câu tối thượng dùng để câu chính cái hồ này, khi lấy chính hội đồng lập pháp làm mồi nhử. Như vậy, ngay cả trong những cộng đồng văn minh, con người phôi thai vẫn phải trải qua giai đoạn phát triển của một thợ săn.

Những năm gần đây, tôi nhận thấy hết lần này đến lần khác rằng mình không thể câu cá mà không làm tổn hại đôi chút lòng tự trọng của bản thân. Tôi đã thử đi thử lại nhiều lần. Tôi có tay nghề, và giống như nhiều người bạn đồng trang lứa, tôi có một bản năng nhất định với nó – thứ bản năng thỉnh thoảng lại trỗi dậy, nhưng sau mỗi lần làm xong, tôi đều cảm thấy giá như mình đừng đi câu thì hơn. Tôi nghĩ mình không lầm. Đó chỉ là một linh cảm mơ hồ, nhưng những tia nắng đầu tiên của buổi bình minh cũng mong manh như thế. Chắc chắn trong tôi có tồn tại bản năng thuộc về những bậc thấp kém hơn trong tạo hóa; thế nhưng qua mỗi năm, tôi càng ít mang dáng dấp của một ngư phủ hơn, dẫu không vì thế mà khôn ngoan hay nhân từ hơn; và hiện tại, tôi hoàn toàn chẳng còn là một ngư phủ nào nữa. Nhưng tôi hiểu rằng nếu mình sống giữa chốn hoang vu, tôi sẽ lại bị cám dỗ để trở thành một kẻ chài lưới và thợ săn thực thụ. Hơn nữa, chế độ ăn uống này và mọi loại thịt thà đều có bản chất uế tạp, và tôi bắt đầu nhận ra công việc nội trợ bắt nguồn từ đâu, cũng như từ đâu mà có nỗ lực tốn kém biết bao để giữ cho vẻ ngoài mỗi ngày luôn ngăn nắp, lịch sự, giữ cho ngôi nhà thơm tho, sạch bóng những mùi hôi và cảnh tượng chướng tai gai mắt. Từng tự tay làm đồ tể, làm kẻ rửa bát thuê, làm đầu bếp, đồng thời cũng chính là vị quý khách thưởng thức những món ăn đó, tôi có thể lên tiếng từ một trải nghiệm phong phú đến hiếm có. Về mặt thực tiễn, điều phản đối đối với thức ăn động vật trong trường hợp của tôi chính là sự uế tạp của nó; thêm vào đó, sau khi tôi đã bắt, làm sạch, nấu chín rồi ăn con cá của mình, chúng dường như chẳng hề nuôi dưỡng con người thực sự bên trong tôi. Điều đó thật phù phiếm, vô tích sự, và tốn kém hơn giá trị thực của nó. Một chút bánh mì hay vài củ khoai tây cũng đủ thay thế mà lại ít rắc rối và sạch sẽ hơn nhiều. Giống như nhiều người cùng thời, tôi hiếm khi sử dụng thịt động vật, chè, hay cà phê trong nhiều năm; không hẳn vì tôi tìm ra tác hại gì từ chúng, mà bởi vì chúng không phù hợp với trí tưởng tượng của tôi. Sự ác cảm với thức ăn động vật không phải là kết quả của kinh nghiệm, mà là một thứ bản năng. Sống đạm bạc và kham khổ xét trên nhiều phương diện có vẻ là một điều đẹp đẽ hơn; và dù tôi chưa bao giờ hoàn toàn làm được thế, tôi cũng đã đi đủ xa để thỏa mãn trí tưởng tượng của mình. Tôi tin rằng bất kỳ ai từng tha thiết gìn giữ các năng lực cao cả hoặc thiêng liêng của mình ở trạng thái tốt nhất đều có xu hướng đặc biệt muốn kiêng cữ thịt động vật, và kiêng bớt cả những món ăn phong phú nói chung. Có một sự thật đầy ý nghĩa được các nhà côn trùng học ghi nhận, tôi tìm thấy điều này ở Kirby và Spence, rằng “một số loài côn trùng khi ở giai đoạn trưởng thành, dù được trang bị các cơ quan ăn uống, lại chẳng hề sử dụng đến chúng;” và họ đưa ra như một “quy luật chung rằng hầu như tất cả côn trùng ở giai đoạn này ăn ít hơn rất nhiều so với khi còn là sâu bọ. Con sâu phàm ăn khi hóa thành bướm,” . . “và con giòi háu ăn khi biến thành ruồi,” chỉ tự thỏa mãn bằng một hoặc hai giọt mật hoa hay thứ chất lỏng ngọt ngào nào đó. Phần bụng dưới đôi cánh của con bướm vẫn tượng trưng cho hình hài của con sâu. Đó chính là món quà nhỏ hấp dẫn số phận côn trùng của nó. Kẻ ăn uống thô tục chính là một con người đang ở giai đoạn sâu bọ; và có cả những quốc gia đang chìm đắm trong tình trạng đó, những dân tộc không có trí tưởng tượng hay sự bay bổng, bị phơi bày qua phần bụng quá khổ của họ.

Thật khó để chuẩn bị và nấu nướng một chế độ ăn uống vừa đơn giản lại vừa sạch sẽ đến mức không làm tổn thương trí tưởng tượng; nhưng tôi nghĩ, trí tưởng tượng cũng cần được nuôi dưỡng khi ta nuôi cơ thể; cả hai nên cùng ngồi chung một bàn ăn. Tuy nhiên, có lẽ điều này vẫn có thể thực hiện được. Những loại trái cây được dùng một cách điều độ không khiến ta phải hổ thẹn vì sự thèm ăn của mình, cũng chẳng làm gián đoạn những theo đuổi cao quý nhất. Nhưng chỉ cần thêm một chút gia vị ngoại lai vào món ăn, bạn sẽ tự chuốc lấy độc dược vào người. Chẳng đáng gì khi phải sống vì những món ăn cầu kỳ. Hầu hết mọi người sẽ cảm thấy xấu hổ nếu bị bắt gặp đang tự tay chuẩn bị một bữa tối đúng như thế – dù là món mặn hay món chay – mà hàng ngày vẫn được người khác nấu cho mình. Thế nhưng chừng nào điều này chưa thay đổi, chúng ta vẫn chưa thể gọi là văn minh, và dẫu có là quý ông hay quý bà đi nữa, chúng ta cũng chưa phải là những con người chân chính. Điều này rõ ràng gợi ý về sự thay đổi cần phải được thực hiện. Có lẽ thật vô ích khi cứ gặng hỏi tại sao trí tưởng tượng lại không chịu dung hòa với thịt thà và mỡ màng. Tôi tin chắc rằng nó sẽ không bao giờ chịu. Chẳng phải là một nỗi hổ thẹn hay sao khi con người lại là một loài động vật ăn thịt? Quả thật, con người có thể và đang sinh tồn phần lớn bằng cách săn bắt các loài vật khác; nhưng đó là một cách sống khốn khổ – như bất kỳ ai đi bẫy thỏ hay giết cừu non đều có thể nhận ra – và ai dạy cho con người biết cách giới hạn bản thân trong một chế độ ăn uống lành mạnh và vô hại hơn sẽ được xem là một ân nhân của nhân loại. Dẫu thực tế của tôi ra sao, tôi không mảy may nghi ngờ rằng đó là một phần định mệnh của loài người trong quá trình tiến hóa dần dần, là từ bỏ việc ăn thịt động vật, cũng chắc chắn như việc các bộ lạc hoang dã đã từ bỏ việc ăn thịt đồng loại khi họ tiếp xúc với những nền văn minh tiến bộ hơn.

Nếu ai đó lắng nghe những lời gợi ý nhỏ nhiệm nhưng bền bỉ của thiên bính trong mình – những điều chắc chắn là chân lý – anh ta sẽ không thể lường trước chúng có thể dẫn dắt mình đi đến những cực đoan nào, thậm chí là sự điên rồ; thế nhưng, con đường của anh ta chính là ở đó, khi anh ta ngày một trở nên kiên định và trung thành hơn. Dù chỉ là một sự phản đối nhỏ nhất được cảm nhận bởi một tâm hồn khỏe mạnh, cuối cùng nó cũng sẽ chiến thắng những lập luận và tập tục của nhân loại. Chưa từng có ai đi theo thiên bính của mình mà lại bị nó dẫn đường lạc lối. Cho dù kết quả có là sự suy kiệt về thể xác đi chăng nữa, có lẽ cũng không ai phải hối tiếc về những hậu quả ấy, bởi vì đó chính là một cuộc sống hòa hợp với những nguyên tắc cao cả hơn. Nếu ngày và đêm mang lại cho bạn niềm vui sướng để chào đón chúng, nếu cuộc đời tỏa ra hương thơm tựa hoa tươi và thảo mộc ngào ngạt, trở nên thanh thoát hơn, lấp lánh ánh sao hơn, trường tồn hơn – đó chính là thành công của bạn. Cả tự nhiên đang chúc mừng bạn, và bạn có lý do để thầm cảm tạ chính mình trong từng khoảnh khắc. Những thành quả và giá trị vĩ đại nhất lại là những thứ ít được trân trọng nhất. Chúng ta rất dễ hoài nghi về sự tồn tại của chúng. Ta quên bẵng chúng đi một cách nhanh chóng. Chúng chính là hiện thực tối cao. Có lẽ những sự thật đáng kinh ngạc và chân thực nhất lại là những điều chưa bao giờ được con người thổ lộ với nhau. Mùa màng đích thực trong đời sống hằng ngày của tôi cũng mơ hồ và khó tả tựa như sắc màu của buổi ban mai hay hoàng chiều. Nó giống như một ít bụi sao lượm được, một mảnh cầu vồng mà tôi đã kịp chộp lấy.

Tuy nhiên, về phần mình, tôi chưa bao giờ là kẻ quá ư cầu kỳ hay dễ chạnh lòng; nếu cần thiết, thỉnh thoảng tôi vẫn có thể ăn một con chuột chiên giòn với vẻ ngon lành. Tôi vui mừng vì đã uống nước lã suốt ngần ấy bầu trời, cũng với lý do tương lai mà tôi thích bầu trời tự nhiên hơn là cõi thiên đường của kẻ nghiện thuốc phiện. Tôi hằng mong mình luôn giữ được sự tỉnh táo; và sự say sưa thì có vô vàn cấp độ. Tôi tin rằng nước là thức uống duy nhất dành cho người khôn ngoan; rượu chẳng phải là thứ nước uống cao quý gì cho cam; và hãy nghĩ đến cảnh làm vấy bẩn niềm hy vọng của một buổi sáng bằng một tách cà phê ấm, hay của một buổi tối bằng một chén trà! Ôi, tôi mới sa ngã làm sao khi bị chúng cám dỗ! Ngay cả âm nhạc cũng có thể gây say. Những nguyên nhân tưởng chừng nhỏ nhặt ấy đã tàn phá Hy Lạp và La Mã, rồi đây cũng sẽ tàn phá cả nước Anh và nước Mỹ. Trong mọi loại men say, ai mà lại không thích say đắm bầu không khí mình đang hít thở chứ? Tôi nhận ra rằng điểm bất lợi nghiêm trọng nhất của những lao động chân tay nặng nhọc kéo dài chính là việc chúng ép buộc tôi cũng phải ăn uống một cách thô tục. Nhưng thú thật, giờ đây tôi thấy mình bớt khắt khe hơn đôi chút về những mặt này. Tôi mang ít sự tôn nghiêm hơn lên bàn ăn, chẳng còn cầu nguyện trước bữa ăn; không phải vì tôi khôn ngoan hơn trước, mà ngậm ngùi thú nhận rằng, dẫu điều đó thật đáng tiếc, qua năm tháng tôi đã trở nên thô kệch và dửng dưng hơn. Có lẽ những vấn đề này chỉ được hoài niệm trong tuổi trẻ, như hầu hết mọi người vẫn tin về thơ ca. Thực tiễn của tôi là “chẳng ở đâu”, còn quan điểm của tôi lại nằm ngay đây. Dù vậy, tôi còn lâu mới xem mình là một trong số những kẻ đặc quyền mà kinh Veda nhắc tới khi nói rằng “kẻ nào có đức tin chân chính vào Đấng Tối Cao Hiện Diện Khắp Nơi có thể ăn mọi thứ tồn tại”, nghĩa là không bị ràng buộc phải hỏi xem thức ăn của mình là gì, hay ai là người chuẩn bị nó; và ngay cả trong trường hợp của họ, như một nhà chú giải theo đạo Hindu đã lưu ý, kinh Vedanta cũng giới hạn đặc quyền này chỉ trong “thời kỳ khốn khó”.

Có ai chưa từng tìm thấy niềm thỏa mãn khôn tả từ bữa ăn của mình, nơi mà sự thèm ăn không hề dự phần? Tôi từng run lên khi nghĩ rằng mình mang ơn vị giác – một giác quan vốn dĩ thô ráp – để có được nhận thức tinh thần, rằng tôi đã được truyền cảm hứng thông qua vòm họng, rằng vài quả mọng tôi hái ăn bên sườn đồi đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi. “Khi linh hồn không tự làm chủ được chính mình,” Thường Tử nói, “ta nhìn mà chẳng thấy; ta lắng nghe mà chẳng nghe; ta ăn mà chẳng biết hương vị của thức ăn.” Kẻ nào phân biệt được hương vị đích thực của thức ăn thì không bao giờ là kẻ phàm ăn; kẻ nào không làm được điều đó thì chắc chắn là kẻ tham ăn. Một tín đồ Thanh giáo có thể cắn miếng bánh mì đen cứng ngắc với cơn thèm thuồng chẳng kém gì một vị nghị viên đối với món súp rùa của ông ta. Không phải thức ăn đi vào miệng làm vế uế con người, mà là sự thèm thuồng khi ăn nó. Vấn đề không nằm ở chất lượng hay số lượng, mà là sự tôn sùng hương vị nhục dục; khi thứ được ăn không phải là món ăn để duy trì thể xác hay truyền cảm hứng cho đời sống tâm linh, mà là thức ăn cho lũ giòi bọ đang ngự trị trong ta. Nếu thợ săn có sở thích ăn rùa đất, chuột xạ và những món mồi dã thú tương tự, thì quý cô đài các lại chìm đắm trong sở thích ăn thạch làm từ chân bê, hoặc cá mòi từ bên kia đại dương, và họ cũng chẳng khác gì nhau. Anh ta ra đầm nước, cô ta đến với lọ mứt của mình. Điều kỳ lạ là làm thế nào họ, làm thế nào bạn và tôi, có thể sống một cuộc đời nhớp nhúa, thú tính như thế, chỉ để ăn với uống.

Toàn bộ cuộc đời chúng ta mang tính đạo đức đến giật mình. Chẳng có lấy một khoảnh khắc hưu chiến nào giữa đức hạnh và tội lỗi. Sự lương thiện là khoản đầu tư duy nhất không bao giờ thua lỗ. Trong khúc nhạc của chiếc đàn hạc ngân vang khắp thế giới, chính việc nhấn mạnh điều này mới là thứ làm chúng ta rung động. Chiếc đàn hạc ấy chính là kẻ rong ruổi rao giảng cho Công ty Bảo hiểm của Vũ trụ, ca ngợi những quy luật của nó, và chút lương thiện nhỏ nhoi của chúng ta chính là toàn bộ phí bảo hiểm mà ta đóng. Dẫu cho tuổi trẻ cuối cùng rồi cũng trở nên dửng dưng, các quy luật của vũ trụ chưa bao giờ dửng dưng, mà luôn đứng về phía những kẻ nhạy cảm nhất. Hãy lắng nghe từng ngọn gió thoảng để tìm kiếm một lời quở trách, bởi nó chắc chắn ở đó, và thật bất hạnh cho kẻ nào không tài nào nghe thấy. Chúng ta không thể gảy một sợi dây hay bấm một phím đàn nào mà không bị chấn động bởi bài học đạo đức đầy mê hoặc ấy. Rất nhiều thứ âm thanh khó chịu, nếu đi ra một quãng đường dài, lại được nghe như một thứ âm nhạc, một lời châm biếm kiêu hãnh và ngọt ngào về sự thấp hèn trong cuộc đời chúng ta.

Chúng ta đều ý thức được phần con ẩn giấu trong mình, thứ đang trỗi dậy tỷ lệ thuận với sự ngủ quên của bản tính cao cả hơn. Nó mang bản chất bò sát, nhục dục, và có lẽ không thể hoàn toàn gột rửa; giống như những con giòi bọ vẫn ngự trị trong cơ thể chúng ta ngay cả khi ta đang sống và khỏe mạnh. Có lẽ chúng ta có thể tách rời khỏi nó, chứ không bao giờ thay đổi được bản tính của nó. Tôi e rằng nó có thể tận hưởng một thứ sức khỏe riêng biệt của nó; rằng chúng ta có thể khỏe mạnh, nhưng lại chẳng hề thanh sạch. Hôm qua tôi vừa nhặt được chiếc hàm dưới của một con lợn, với những chiếc răng trắng khỏe và chiếc nanh vững chãi, điều đó gợi ý rằng có một sức khỏe và sự sung mãn mang tính động vật hoàn toàn tách biệt với đời sống tâm linh. Sinh vật này đã thành công bằng những phương thức khác ngoài sự tiết độ và thanh tịnh. Mạnh Tử nói rằng: “Điều khiến con người khác biệt với loài cầm thú thật vô cùng nhỏ bé; đám đông bình thường đánh mất nó rất nhanh chóng; còn người quân tử cẩn trọng gìn giữ nó.” Ai mà biết được loại cuộc sống nào sẽ thành hình nếu chúng ta đạt đến sự thanh tịnh? Nếu tôi biết một bậc hiền triết nào có thể dạy tôi sự thanh tịnh, tôi sẽ lên đường tìm kiếm ngài ngay lập tức. “Sự kiểm soát các dục vọng, các giác quan bên ngoài của cơ thể, và những hành động thiện lương được kinh Veda tuyên bố là không thể thiếu trong hành trình tâm trí tiến gần đến Thượng Đế.” Tuy nhiên, tâm hồn đôi khi vẫn có thể thấu suốt và kiểm soát mọi bộ phận cũng như chức năng của cơ thể, chuyển hóa những thứ vốn mang hình hài nhục dục thô tục nhất thành sự thanh tịnh và lòng sùng kính. Năng lượng sinh sản, thứ vốn phân tán và làm chúng ta uế tạp khi buông thả, lại tiếp thêm sinh lực và truyền cảm hứng cho ta khi sống tiết chế. Sự khiết tịnh chính là đóa hoa rực rỡ nhất của con người; và những thứ gọi là Thiên tài, Chủ nghĩa Anh hùng, Sự thánh thiện, và tương tự thế, chẳng qua chỉ là những thứ quả ngọt nở rộ sau đó. Con người lập tức hòa quyện vào Thượng Đế khi dòng kênh thanh tịnh được khơi thông. Hết sự thanh tịnh lại đến sự ô uế luân phiên truyền cảm hứng rồi quật ngã chúng ta. Thật diễm phúc cho kẻ nào chắc chắn rằng phần con trong mình đang lụi tàn từng ngày, và phần thiêng liêng đang được thiết lập vững vàng. Có lẽ chẳng có ai là không có lý do để hổ thẹn vì bản tính thấp hèn và thú tính mà mình đang mang theo. Tôi e rằng chúng ta chỉ là những vị thần hoặc á thần kiểu như thần rừng satyr và faun, là phần thiêng liêng gắn liền với loài vật, là những sinh vật của ham muốn, và ở một mức độ nào đó, chính cuộc đời chúng ta lại là nỗi ô nhục của chúng ta. —

“Hạnh phúc thay cho kẻ biết an bài chỗ đứng

Cho phần con trong mình và khai hoang tâm trí!

* * * * *

Biết sai khiến ngựa, dê, sói, và muôn loài dã thú,

Mà không tự biến mình thành lừa trước muôn loài!

Bằng không, loài người chẳng những là bầy lợn,

Mà còn là lũ quỷ từng xúi giục chúng nổi cơn cuồng nộ,

Và làm cho chúng càng trở nên tồi tệ hơn.”

Mọi thói nhục dục đều là một, dẫu khoác lên nhiều hình tướng; mọi sự thanh tịnh cũng là một. Hành động ăn, uống, giao hợp hay ngủ trong sự nhục dục đều chẳng khác gì nhau. Chúng chỉ là một thứ ham muốn duy nhất, và ta chỉ cần nhìn một người thực hiện bất kỳ điều nào trong số đó là đủ biết họ là kẻ nhục dục đến mức nào. Kẻ ô uế không thể đứng hay ngồi cùng sự thanh tịnh. Khi con bò sát bị tấn công ở cái hang này, nó lại ló dạng ở cái hang khác. Muốn giữ mình khiết tịnh, bạn buộc phải tiết độ. Khiết tịnh là gì? Làm sao một người biết được mình có khiết tịnh hay không? Anh ta sẽ chẳng thể biết được. Chúng ta từng nghe về đức hạnh này, nhưng chẳng hề biết nó là gì. Ta chỉ đang nói năng theo những lời đồn đại mà thôi. Sự chuyên cần mang lại trí tuệ và sự thanh tịnh; lười biếng sinh ra ngu dốt và nhục dục. Ở những kẻ sĩ, nhục dục là một thói quen trì trệ của tâm trí. Một kẻ uế tạp nhìn chung là kẻ lười nhác, kẻ suốt ngày ngồi bên lò sưởi, kẻ để ánh mặt trời chiếu rọi lên thân hình rệu rã, kẻ nghỉ ngơi mà chẳng hề mệt mỏi. Nếu muốn tránh xa sự uế tạp và mọi tội lỗi, hãy làm việc một cách tận tụy, dẫu đó chỉ là việc dọn dẹp chuồng ngựa. Bản chất tự nhiên thật khó khuất phục, nhưng bắt buộc phải khuất phục nó. Bạn có là Kitô hữu thì ích gì, nếu bạn chẳng thanh sạch hơn dân ngoại giáo, nếu bạn chẳng biết tự kìm chế bản thân hơn chút nào, nếu bạn không sống đạo đức hơn? Tôi biết có nhiều hệ thống tôn giáo bị xem là ngoại đạo mà những lời răn của chúng khiến người đọc phải đỏ mặt hổ thẹn, thôi thúc họ vươn lên những nỗ lực mới, dẫu chỉ là để thực hiện các nghi lễ đơn thuần.

Tôi ngần ngại khi phải thốt ra những điều này, nhưng không phải vì bản thân chủ đề – tôi chẳng bận tâm những lời nói của mình có thô tục đến đâu – mà bởi vì tôi không thể bàn về chúng mà không làm lộ tẩy sự uế tạp trong chính mình. Chúng ta có thể thoải mái bàn luận không chút hổ thẹn về một hình thức nhục dục này, nhưng lại nín thinh trước một hình thức khác. Chúng ta đã trở nên sa đọa đến mức không thể nói một cách đơn giản về những chức năng thiết yếu của bản chất con người. Trong những thời kỳ trước đây, ở một số quốc gia, mọi chức năng đều được nhắc đến một cách cung kính và được luật pháp điều tiết. Chẳng có gì là quá tầm thường đối với nhà lập pháp theo đạo Hindu, mặc cho nó có gai mắt đến đâu đối với gu thẩm mỹ hiện đại. Ông dạy cách ăn, uống, giao hợp, đại tiểu tiện và những thứ tương tự, nâng tầm những điều bé mạt, chứ không ngụy biện một cách giả dối bằng cách gọi những thứ đó là chuyệnn vặt vãnh.

Mỗi con người đều là kiến trúc sư của một ngôi đền mang tên thân xác mình, dâng lên vị thần mà họ tôn thờ, theo một phong cách hoàn toàn độc nhất của riêng họ, và anh ta không thể trốn tránh bằng cách đập phá đá cẩm thạch để thay thế. Tất cả chúng ta đều là những nhà điêu khắc và họa sĩ, và chất liệu của chúng ta chính là da thịt, máu xương của chính mình. Bất kỳ sự cao thượng nào cũng ngay lập tức làm tôn lên đường nét của một con người, còn sự ti tiện hay nhục dục chỉ biến họ thành loài cầm thú.

John Farmer ngồi trước hiên nhà vào một buổi tối tháng Chín, sau một ngày làm việc vất vả, tâm trí vẫn còn quẩn quanh với công việc ít nhiều. Sau khi tắm rửa, ông ngồi xuống để thư giãn phần trí tuệ trong con người mình. Trời khá se lạnh, và một số người hàng xóm đang lo sợ trời sẽ có sương giá. Ông vừa thả lỏng dòng suy nghĩ được không lâu thì nghe thấy tiếng ai đó thổi sáo, và âm thanh ấy hòa hợp đến lạ kỳ với tâm trạng của ông. Ông vẫn nghĩ về công việc của mình; nhưng trọng tâm suy nghĩ của ông là, dẫu thứ đó cứ văng vẳng trong đầu, và ông thấy mình cứ lo toan tính toán nó bất chấp ý muốn, thì nó chẳng hề can hệ mấy đến ông. Nó chẳng khác gì lớp biểu bì chết trên da, vốn bị bong tróc đi liên tục. Thế nhưng những nốt nhạc vang lên lọt vào tai ông như đến từ một thế giới khác hẳn với chốn lao động tầm thường, gợi mở công việc cho một số giác quan đang ngủ quên trong ông. Chúng nhẹ nhàng xóa nhòa con đường, ngôi làng, và cả tiểu bang nơi ông đang sống. Một giọng nói cất lên với ông rằng: – Tại sao anh lại cứ ở lại đây và sống cái cuộc đời nhọc nhằn, thấp hèn này, trong khi một sự tồn tại huy hoàng đang rộng mở chờ đón anh? Những vì sao ấy vẫn đang lấp lánh trên những cánh đồng khác kia mà. – Nhưng làm cách nào để thoát khỏi hoàn cảnh này và thực sự di cư đến đó? Tất cả những gì ông có thể nghĩ đến lúc bấy giờ là thực hành một số phép khắc khổ mới, để tâm trí mình lắng xuống cơ thể, cứu chuộc nó, và đối xử với bản thân bằng sự tôn trọng ngày càng sâu sắc hơn.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Henry David Thoreau

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.