Trong lúc ấy, những luồng đậu của tôi — tính tổng chiều dài các hàng lên tới bảy dặm đã được gieo trồng — đang sốt ruột chờ được làm cỏ, bởi những khóm sớm đã lớn phổng lên trước khi những khóm muộn kịp cắm rễ xuống đất; quả thực, chúng chẳng dễ gì chịu đợi lâu. Ý nghĩa của công việc tuy nhỏ nhoi nhưng đầy kiên định, tự trọng và mang hơi hướng chiến công Hercules này là gì, tôi không hề hay biết. Tôi đâm ra yêu những luống đậu của mình, yêu từng hạt đậu, dẫu số lượng nhiều hơn mức tôi cần. Chúng neo giữ tôi với mặt đất, nhờ đó tôi thu được sức mạnh như Antæus. Nhưng cớ sao tôi phải trồng chúng? Chỉ có Trời mới biết. Suốt cả mùa hè, công việc kỳ lạ của tôi chính là biến phần bề mặt Trái Đất vốn trước kia chỉ mọc toàn cây dã mai, mâm xôi, nọc sởi cùng các loài tương tự — những thứ quả dại ngọt lành và hoa thơm — thành nơi sản sinh ra loại đậu này. Tôi sẽ học được gì từ đậu, hay đậu học được gì từ tôi? Tôi nâng niu chúng, làm cỏ cho chúng, sớm hôm chăm sóc; và đó là công việc trọn một ngày của tôi. Trông theo những tán lá rộng mới đẹp làm sao. Những trợ thủ của tôi là sương mai và những cơn mưa tưới tắm cho mảnh đất khô cằn này, cùng với độ mầu mỡ vốn có của chính đất mẹ, dẫu phần lớn đã nghèo kiệt và cạn sức. Kẻ thù của tôi là sâu bọ, những ngày trời lạnh, và hơn hết là loài marmot. Lũ sau cùng này đã gặm nhụi sạch sẽ của tôi một phần tư mẫu đất. Nhưng nào tôi có quyền gì mà hất cẳng cây nọc sởi cùng bao loài khác để phá vỡ khu vườn thảo mộc cổ xưa của chúng? Dù vậy, chẳng bao lâu nữa, những khóm đậu còn lại sẽ trở nên quá cứng cáp đối với bọn chúng, và sẽ vươn lên để đối mặt với những kẻ thù mới.
Khi tôi lên bốn tuổi, như tôi vẫn nhớ rõ, tôi được đưa từ Boston về thị trấn quê hương này, xuyên qua chính những khu rừng này, cánh đồng này, để đến bên bờ ao. Đó là một trong những ký ức lâu đời nhất còn khắc sâu trong tâm trí tôi. Và giờ đây, vào lúc đêm về, tiếng sáo của tôi đã đánh thức những âm vang trên chính mặt nước ấy. Những rặng thông vẫn đứng đó, già dặn hơn cả tôi; hoặc nếu có cây nào đã ngã xuống, tôi đã dùng gốc của chúng để nấu bữa tối, và một chồi non đang vươn lên khắp xung quanh, chuẩn bị một diện mạo khác cho những đôi mắt trẻ thơ mới chào đời. Gần như chính loài nọc sởi ấy lại nhú lên từ cái rễ lâu năm ấy trên mảnh đồng cỏ này, và bản thân tôi cuối cùng cũng góp phần tô điểm cho phong cảnh thần tiên trong những giấc mơ thời thơ ấu của mình, để rồi một trong những kết quả từ sự hiện diện và ảnh hưởng của tôi lại hiển hiện ở những chiếc lá đậu, ngọn ngô và dây khoai tây này.
Tôi đã gieo trồng khoảng hai mẫu rưỡi đất cao; và vì nơi đây mới được phát quang chừng mười lăm năm, bản thân tôi cũng tự tay bứng lấy hai, ba sải gốc cây, nên tôi không bón thêm chút phân nào; thế nhưng trong suốt mùa hè, qua những mũi tên đá mà tôi bới lên khi làm cỏ, người ta thấy rằng một bộ tộc đã tuyệt chủng từng sinh sống ở đây từ thời cổ đại, từng trồng ngô và đậu trước khi người da trắng đến khai hoang đất đai, và do đó, phần nào đã làm cho đất bị cạn kiệt đối với chính loại cây trồng này.
Khi chưa có con marmot hay chú sóc nào kịp chạy ngang qua con đường, hoặc khi mặt trời chưa nhô lên khỏi những lùm sồi lùn, lúc sương hãy còn đọng ướt — mặc dù những người nông dân đã cảnh báo tôi về điều đó (còn tôi thì khuyên bạn nếu có thể hãy hoàn thành mọi công việc khi sương còn đọng) — tôi bắt đầu san phẳng hàng ngũ những loài cỏ dại kiêu ngạo trên ruộng đậu của mình và rắc bụi lên đầu chúng. Sáng sớm, tôi làm việc chân trần, nghịch ngợm như một người thợ điêu khắc giữa lớp cát ẩm ướt và tơi xốp dưới làn sương sớm, nhưng đến trưa thì nắng đã làm phồng rộp cả bàn chân tôi. Ở đó, ánh mặt trời soi sáng cho tôi làm cỏ đậu, chậm rãi sải bước đi tới đi lui trên vùng đất cao pha sỏi vàng ấy, giữa những luống xanh dài mười lăm sải, một đầu giáp với lùm sồi lùn nơi tôi có thể nghỉ ngơi dưới bóng râm, đầu kia giáp với bãi mâm xôi nơi những quả mọng xanh sẫm dần màu sắc vào lúc tôi hoàn thành một vòng lao động. Nhổ bỏ cỏ dại, vun đất mới quanh gốc đậu, nuôi dưỡng loài cây cỏ do chính tay mình gieo trồng, bắt mảnh đất vàng giấu kín nỗi niềm mùa hè qua những chiếc lá và đóa hoa đậu thay vì ngải cứu, rau mùi và cỏ kê, bắt mặt đất thốt lên tiếng "đậu" thay vì tiếng "cỏ" — đó là công việc hằng ngày của tôi. Vì tôi nhận được rất ít sự trợ giúp từ ngựa bò, từ nhân công hay thiếu niên thuê mợ, hay từ những nông cụ cải tiến, nên tôi làm chậm hơn và do đó trở nên gần gũi với đám đậu của mình hơn bình thường. Nhưng lao động bằng đôi tay, dẫu có lúc bị đẩy đến bờ vực của sự nhọc nhằn, có lẽ chẳng bao giờ là hình thức lười biếng tồi tệ nhất. Nó mang một bài học đạo đức bền vững và bất biến, và đối với kẻ sĩ, nó mang lại một kết quả kinh điển. Tôi đích thực là một agricola laboriosus đối với những lữ khách trên đường hướng về phía tây qua Lincoln và Wayland đi đến chốn nào chẳng rõ; họ ngồi thảnh thơi trên những chiếc xe ngựa nhẹ, khuỷu tay tì lên đầu gối, dây cương lỏng lẻo buông thành những dải rủ; còn tôi là kẻ gắn bó với quê nhà, người lao động nhọc nhằn trên mảnh đất này. Nhưng chẳng mấy chốc, mái ấm của tôi đã khuất tầm mắt và tầm suy nghĩ của họ. Đó là mảnh đất trống và được cày cấy duy nhất trong một khoảng cách dài ở cả hai bên đường; thế nên họ tận dụng tối đa cơ hội ấy; và đôi khi người làm việc ngoài đồng còn nghe được những lời bàn tán, bông đùa của lữ khách vốn chẳng định dành cho tai mình: “Đậu gì mà muộn thế! Đậu Hà Lan gì mà muộn thế!” — bởi tôi vẫn tiếp tục gieo trồng khi người ta đã bắt đầu làm cỏ — điều mà vị nông phu mục sư kia chưa từng ngờ tới. “Nô-cô-lai ơi, ngô làm thức ăn chăn nuôi nhé; ngô làm thức ăn chăn nuôi.” “Hắn ta sống ở đó à?” chiếc mũ trùm đầu đen hỏi chiếc áo khoác xám; và người nông dân với những đường nét khắc khổ liền kéo cương chú ngựa hiền lành để hỏi xem bạn đang làm quái gì ở nơi chẳng thấy bóng phân bón nào trong luống cày, đồng thời gợi ý một ít mùn cưa, hoặc bất kỳ vật liệu phế thải nào, hay có khi là tro hoặc thạch cao. Nhưng ở đây là hai mẫu rưỡi luống cày, và chỉ có một chiếc cuốc làm xe chở cùng đôi tay để kéo — bởi có sự e ngại đối với những loại xe và ngựa khác — trong khi mùn cưa thì ở tận đẩu tận đâu. Những người bạn đồng hành khi lướt qua trên xe đã lớn tiếng so sánh nó với những cánh đồng mà họ vừa đi qua, nhờ đó mà tôi biết được vị thế của mình trong thế giới nông nghiệp. Đây là một mảnh đất không hề có trong báo cáo của ông Coleman. Nhân tiện, có ai ước tính giá trị của mùa màng mà thiên nhiên sản sinh ra trên những cánh đồng còn hoang sơ chưa được con người cải tạo không? Cỏ khô Anh quốc được cân đo cẩn thận, độ ẩm được tính toán, cả chất silicat và kali; nhưng trong mọi thung lũng, hũng ao trong rừng, trên đồng cỏ và đầm lầy đều mọc lên một thảm thực vật phong phú và đa dạng mà chỉ có con người là không gặt hái. Ruộng của tôi, có thể nói, chính là nhịp cầu nối giữa những cánh đồng hoang và những thửa ruộng canh tác; cũng như có những quốc gia văn minh, có những nước bán văn minh, và có những nước dã man hoặc man rợ, thì cánh đồng của tôi — dẫu không theo nghĩa xấu — là một mảnh đồng ruộng bán canh tác. Thứ tôi gieo trồng là những khóm đậu đang vui tươi trở lại với trạng thái hoang dã và nguyên thuỷ của chúng, và chiếc cuốc của tôi đã tấu lên khúc Ranz des Vaches dành cho chúng.
Ngay gần đó, trên ngọn chót vót của một nhành bạch dương, chú chim hoét nâu — hay hoét đỏ, theo cách gọi ưa thích của một số người — cất tiếng hót suốt cả buổi sáng, vui vì có sự hiện diện của bạn, kẻ chắc chắn sẽ tìm đến cánh đồng của người nông dân khác nếu nơi đây không có ruộng của bạn. Khi bạn đang gieo hạt, nó kêu lên: “Thả xuống đi, thả xuống đi — phủ đất lên, phủ đất lên — nhổ lên đi, nhổ lên đi, nhổ lên đi.” Nhưng đây không phải là ngô, thế nên loài cây này được an toàn trước những kẻ thù như vậy. Bạn có thể tự hỏi rằng thứ âm thanh hỗn độn ấy, màn trình diễn kiểu Paganini nghiệp dư trên một dây đàn hoặc trên hai mươi dây đàn của nó, có liên quan gì đến việc gieo trồng của bạn, thế mà bạn vẫn thích nó hơn tro đã lọc hay thạch cao. Đó là một dạng bón thúc giá rẻ mà tôi hoàn toàn đặt trọn niềm tin.
Khi tôi kéo thêm lớp đất tươi mới quanh các luống đậu bằng chiếc cuốc, tôi vô tình làm xáo trộn tro cốt của những tộc người vô danh từng sống dưới bầu trời này từ thời nguyên thủy, và những công cụ chiến tranh cùng săn bắn nhỏ bé của họ đã được đưa ra ánh sáng của thời đại hiện đại này. Chúng nằm lẫn lộn với những viên đá tự nhiên khác, một số mang dấu tích từng bị đốt cháy bởi lửa của người da đỏ, số khác bởi ánh mặt trời, cùng những mảnh gốm và thủy tinh do những người khai hoang đất đai gần đây mang đến. Khi chiếc cuốc của tôi va vào những viên đá tạo nên tiếng đinh keng, âm thanh ấy vang vọng vào rừng sâu và bầu trời, trở thành khúc đệm cho lao động của tôi, mang lại một thứ mùa màng tức thì và vô hạn. Đó không còn là đậu mà tôi cuốc, cũng chẳng phải tôi đang cuốc đậu nữa; và tôi nhớ lại với niềm thương cảm cũng như sự kiêu hãnh — nếu như tôi còn nhớ — những người quen của mình đã vào thành phố để dự các buổi trình diễn thánh ca. Chim diều hâu đêm lượn vòng trên cao trong những buổi chiều lộng gió (vì đôi khi tôi làm việc suốt cả ngày) — trông như một hạt bụi trong mắt, hoặc trong con mắt của trời cao, thỉnh thoảng sà xuống với một tiếng động và cú chao lượn tựa hồ vòm trời đang bị xé rách, bị xé toạc ra thành từng mảnh giẻ rách tơi tả, thế mà một chiếc lọng liền mạch vẫn nguyên vẹn; những tiểu yêu nhỏ bé lấp đầy không gian và đẻ trứng trên mặt đất, trên bãi cát trơ trụi hoặc những mỏm đá trên đỉnh đồi, nơi ít ai tìm thấy chúng; duyên dáng và thanh mảnh như những gợn sóng vớt lên từ mặt ao, tựa như những chiếc lá được gió nâng lên để lơ lửng giữa bầu trời; sự đồng điệu trong Tự nhiên là thế đấy. Chim diều hâu là người anh em bầu trời của con sóng mà nó lướt qua và quan sát, đôi cánh hoàn hảo ngập tràn hơi gió của nó tương ứng với đôi cánh còn nguyên lớp lông tơ nguyên thủy của biển cả. Hoặc đôi khi tôi ngắm nhìn một cặp diều hâu gà lượn vòng trên đỉnh trời, lúc bay lên lúc sà xuống, khi đến gần lúc rời xa nhau, như thể chúng chính là hiện thân cho những suy nghĩ của chính tôi. Hoặc tôi bị thu hút bởi những đàn bồ câu hoang bay qua từ khu rừng này sang khu rừng khác với tiếng vỗ cánh run rẩy nhè nhẹ và vẻ vội vã của loài bồ câu đưa thư; hay từ dưới một gốc cây mục, chiếc cuốc của tôi bới lên một chú kỳ giông đốm lờ đờ, mang dáng vẻ kỳ dị và ngoại lai, một dấu vết gợi nhớ về Ai Cập và sông Nile, thế nhưng lại là người đương thời của chúng tôi. Khi tôi dừng lại tì người lên cán cuốc, những âm thanh và hình ảnh ấy đều được tôi nghe thấy và nhìn thấy ở bất cứ luống đậu nào, trở thành một phần trong nguồn giải trí bất tận mà vùng thôn quê mang lại.
Vào những ngày lễ hội, thị trấn bắn những khẩu đại bác lớn, vang dội trong những khu rừng này chẳng khác nào tiếng súng đồ chơi của trẻ con, và đôi khi những âm hưởng nhạc quân hành cũng lọt được đến tận chốn này. Đối với tôi, người đang ở tận ruộng đậu của mình ở đầu bên kia thị trấn, những tiếng súng lớn nghe như thể một quả nấm bụt vừa phát nổ; và khi có một cuộc duyệt binh quân sự mà tôi chẳng hay biết gì, đôi khi tôi vẫn có mơ hồ cảm giác suốt cả ngày rằng có một loại ngứa ngáy và bệnh tật nào đó ở phía chân trời, như thể một chứng phát ban nào đó sắp bùng phát ở đó, sốt tinh hồng nhiệt hay bệnh ban đỏ chăng, cho đến cuối cùng một luồng gió thuận lợi hơn thổi vội qua những cánh đồng và dọc theo con đường Wayland, mang đến cho tôi tin tức về mấy cuộc “tập trận”. Dựa vào tiếng vo ve từ xa, có vẻ như đàn ong của nhà nào đó đã bay đi, và những người hàng xóm, theo lời khuyên của Virgil, đang dùng một chiếc chuông nhỏ rung lên trên dụng cụ gia đình vang nhất của họ, cố gắng dụ chúng trở lại tổ. Và khi âm thanh ấy lịm dần, tiếng vo ve dứt hẳn, những ngọn gió thuận chiều nhất cũng không hé lộ điều gì, tôi biết rằng họ đã lùa được con ong thưa cuối cùng vào chiếc tổ ở Middlesex một cách an toàn, và giờ đây tâm trí họ đang hướng về lớp mật ngọt dính đầy bên trong.
Tôi cảm thấy tự hào khi biết rằng tự do của bang Massachusetts và của tổ tiên chúng ta đang được bảo vệ an toàn nhường ấy; và khi tôi quay lại với công việc cuốc đất, tôi tràn ngập một niềm tin không thể diễn tả bằng lời, vui vẻ tiếp tục công việc với sự tín nhiệm bình thản vào tương lai.
Khi có vài ban nhạc cùng tấu lên, âm thanh nghe như thể toàn bộ ngôi làng là một chiếc ống bễ khổng lồ, và tất cả các tòa nhà cứ phồng lên rồi xẹp xuống luân phiên trong một thứ âm thanh chói tai. Nhưng đôi khi, có một giai điệu thực sự cao quý và đầy cảm hứng vọng đến những khu rừng này, tiếng kèn ca ngợi vinh quang, và tôi có cảm giác như mình sẵn sàng đâm một tên người Mexico với tất cả sự khoái trá — bởi cớ sao chúng ta cứ phải bận tâm mãi đến những chuyện vụn vặt? — rồi đưa mắt tìm quanh một con marmot hay một con chồn hôi để trổ tài hiệp sĩ. Những giai điệu quân hành ấy nghe xa xôi như từ xứ Palestine, gợi cho tôi hình ảnh một cuộc hành quân của các hiệp sĩ thập tự chinh ở phía chân trời, cùng tiếng còi săn rộn rã và chuyển động run rẩy của những ngọn cây du rủ bóng xuống ngôi làng. Đây là một trong những ngày tuyệt vời; dẫu bầu trời nhìn từ khu đất quang của tôi vẫn mang một vẻ đẹp vĩ đại bất biến hằng ngày, và tôi chẳng thấy có sự khác biệt nào.
Đó là một trải nghiệm kỳ lạ, mối thâm giao lâu dài mà tôi vun đắp với loài đậu, nào là gieo trồng, làm cỏ, thu hoạch, đập hạt, lựa chọn rồi đem bán — công việc sau cùng là khó khăn nhất — tôi có thể kể thêm cả việc ăn chúng, vì tôi thực sự đã nếm thử. Tôi quyết tâm phải hiểu rõ về loài đậu. Khi chúng đang lớn, tôi thường cuốc đất từ năm giờ sáng cho đến tận trưa, và phần lớn thời gian còn lại trong ngày dành cho những việc khác. Hãy ngẫm về sự quen thuộc thân thiết và kỳ lạ mà người ta có được với đủ loại cỏ dại — điều này rất đáng để nhắc lại, bởi công việc ấy chứa đựng không ít sự lặp lại — khi ta nhẫn tâm phá vỡ cấu trúc tinh tế của chúng, rồi phân biệt đối xử đầy thiên vị bằng chiếc cuốc trong tay, san bằng cả hàng loài này và siêng năng vun xới loài khác. Kia là ngải cứu La Mã — kia là rau dền — kia là chua me — kia là cỏ lồng vực — xông vào nó, băm nát nó, lật ngược rễ của nó lên phơi nắng, đừng để một sợi rễ nào nằm trong bóng râm, nếu không chỉ hai ngày sau nó sẽ lật ngược lại và xanh mướt như một cọng tỏi tây cho mà xem. Một cuộc chiến trường kỳ, không phải với bầy sải cánh, mà với cỏ dại, những kẻ thuộc hạ của thành Troy có cả mặt trời, mưa và sương làm đồng minh. Ngày qua ngày, đám đậu thấy tôi đến giải cứu với chiếc cuốc trên tay, tỉa bớt hàng ngũ kẻ thù của chúng, lấp đầy những rãnh đất bằng thây ma cỏ dại. Không ít gã Hector cường tráng vẫy cao ngọn cờ, vươn cao hơn hẳn một thước so với những đồng bọn chen chúc xung quanh, đã ngã gục trước vũ khí của tôi và cuộn mình trong bụi đất.
Những ngày hè mà một số người cùng thời với tôi dành cho nghệ thuật tạo hình ở Boston hay Rome, số khác dành cho sự chiêm nghiệm ở Ấn Độ, và những người khác nữa dành cho thương mại ở London hay New York, thì tôi, cùng với những nông dân khác ở New England, đã cống hiến cho nghề nông. Không phải vì tôi thèm ăn đậu, bởi về bản chất tôi là một tín đồ của Pythagoras khi nói đến đậu, dù chúng có nghĩa là cháo hay việc bỏ phiếu, và tôi đã đổi chúng lấy gạo; nhưng có lẽ, vì một số người phải làm việc ngoài đồng chí vì mục đích của nghệ thuật tu từ và biểu đạt, để một ngày nào đó phục vụ cho một người sáng tạo ngụ ngôn. Nhìn chung, đó là một trò tiêu khiển hiếm có, nếu kéo dài quá mức có thể đã trở thành một sự sa đọa. Dẫu tôi không bón phân cho chúng, và cũng chẳng cuốc qua nổi một lượt, nhưng tôi đã làm cỏ kỹ một cách bất thường ở những chỗ tôi đi qua, và cuối cùng tôi đã được đền đáp xứng đáng, “bởi thực tế,” như Evelyn đã nói, “không có loại phân bón hay dưỡng chất nào có thể sánh được với sự chuyển động liên tục, việc xới xáo và lật đất bằng thuổng.” Ông nói thêm ở một đoạn khác: “Trái đất, đặc biệt là khi còn mới, có một thứ từ tính nhất định, nhờ đó nó thu hút muối, sức mạnh hoặc tinh chất (gọi là gì cũng được) mang lại sự sống cho nó, và đó chính là lý do của mọi công việc lao động và nhọc nhằn mà chúng ta duy trì xung quanh nó nhằm nuôi sống bản thân; mọi việc bón phân chuồng và các cách pha chế thô thiển khác chỉ đóng vai trò thay thế cho sự cải thiện này.” Hơn nữa, vì đây là một trong những “mảnh đất bỏ hoang đã kiệt quệ và đang tận hưởng ngày nghỉ sabát,” nên có lẽ, như Sir Kenelm Digby nghĩ là rất có khả năng, nó đã thu hút được “những linh hồn sinh lực” từ không khí. Tôi đã thu hoạch được mười hai giạ đậu.
Nhưng để nói cụ thể hơn, vì người ta phàn nàn rằng ông Coleman chủ yếu chỉ tường thuật những thí nghiệm tốn kém của các điền chủ giàu có, thì chi phí của tôi là —
Thu nhập của tôi là (patrem familias vendacem, non emacem esse oportet), từ —
Đó là kết quả từ kinh nghiệm trồng đậu của tôi. Hãy gieo loại đậu bụi nhỏ thông thường vào khoảng đầu tháng Sáu, theo các hàng cách nhau ba thước và mười tám inch, cẩn thận chọn những hạt giống tươi, tròn và thuần chủng. Trước tiên hãy đề phòng sâu bọ, và dặm lại những chỗ trống bằng cách gieo hạt mới. Sau đó hãy chú ý đến loài marmot, nếu đó là một nơi trống trải, vì chúng sẽ gặm sạch những chiếc lá non đầu tiên hầu như nhẵn thín trên đường chúng đi; và một lần nữa, khi những chiếc tua cuốn non xuất hiện, chúng sẽ đánh hơi thấy và cắt đứt cả nụ lẫn quả non, ngồi thẳng lưng như một con sóc. Nhưng trên hết, hãy thu hoạch càng sớm càng tốt để tránh sương giá và có được một vụ mùa đẹp, dễ bán; bạn có thể tránh được rất nhiều tổn thất bằng cách này.
Tôi cũng thu nhận thêm kinh nghiệm này. Tôi tự nhủ, mùa hè tới mình sẽ không trồng đậu và ngô với sự nhọc công nhường ấy nữa, mà sẽ trồng những loại hạt giống — nếu chúng không bị thất lạc — như sự chân thành, chân lý, sự giản dị, đức tin, sự vô tội và những điều tương tự, để xem chúng có mọc lên trên mảnh đất này hay không, dẫu với ít công sức và phân bón hơn, và nuôi sống tôi, vì chắc chắn đất đai chưa hề bị cạn kiệt vì những loại cây trồng này. Than ôi! Tôi tự nhủ thế; nhưng giờ đây mùa hè này đã qua, rồi mùa hè khác, và mùa hè nữa, và tôi buộc phải thưa với bạn, Hỡi Độc giả, rằng những hạt giống tôi gieo — nếu quả thực chúng là hạt giống của những đức tính ấy — đã bị sâu mọt đục khoét hoặc đã mất đi sức sống, nên chúng đã chẳng thể nảy mầm. Thông thường con người ta chỉ dũng cảm khi cha ông họ dũng cảm, hoặc rụt rè cũng vậy. Thế hệ này chắc chắn sẽ trồng ngô và đậu vào mỗi dịp năm mới y hệt như những người da đỏ đã làm từ nhiều thế kỷ trước và dạy cho những người định cư đầu tiên làm theo, như thể có một định mệnh trong đó. Hôm qua tôi nhìn thấy một ông cụ, đến ngạc nhiên, đang dùng cuốc chọc những cái lỗ đã là lần thứ bảy mươi ít nhất, và không phải để cho chính mình nằm xuống đó! Nhưng cớ sao người New England lại không thử những cuộc phiêu lưu mới, và đừng quá bận tâm đến ngũ cốc, khoai tây, cỏ dại hay những vườn cây ăn quả của mình — hãy trồng những loại cây khác ngoài những thứ này? Cớ sao chúng ta lại quá bận tâm đến hạt đậu để làm giống, mà lại chẳng mờ mịt chút nào về một thế hệ con người mới? Chúng ta thực sự sẽ được nuôi dưỡng và phấn khởi nếu khi gặp một người, chúng ta chắc chắn nhìn thấy một số phẩm chất mà tôi vừa kể, những thứ mà tất cả chúng ta trân trọng hơn những sản phẩm kia, nhưng phần lớn đang bay lơ lửng trong không trung, đã bén rễ và lớn lên trong con người ấy. Kìa một phẩm chất tinh tế và khôn tả xuất hiện, chẳng hạn như chân lý hoặc công lý, dẫu chỉ là một lượng nhỏ nhất hoặc một biến thể mới của nó, dọc theo con đường kia. Các sứ thần của chúng ta nên được chỉ thị mang về những hạt giống như thế này, và Quốc hội nên giúp phân phối chúng trên khắp đất nước. Chúng ta không bao giờ nên câu nệ nghi thức với lòng chân thành. Chúng ta sẽ không bao giờ lừa gạt, lăng mạ và xua đuổi lẫn nhau bằng sự đê tiện của mình, nếu ở đó hiện hữu hạt nhân của sự trân quý và lòng thân thiện. Chúng ta sẽ không gặp nhau vội vã thế này. Hầu hết mọi người tôi chẳng hề gặp mặt, bởi họ có vẻ như chẳng có thời gian; họ quá bận rộn với những hạt đậu của mình. Chúng ta sẽ không đối xử với một con người cứ mãi lom khom như thế, tì tay lên chiếc cuốc hoặc thuổng như cây gậy giữa buổi làm việc, không phải như một cây nấm, mà nhô lên một phần từ lòng đất, vượt hơn cả tư thế đứng thẳng, tựa như những chú én sà xuống và đang rảo bước trên mặt đất:
“Và khi người cất lời, đôi cánh đôi khi
Lại xòe ra, như chực bay lên, rồi khép lại,”
đến mức chúng ta có thể ngờ rằng mình đang trò chuyện với một vị thiên thần. Bánh mì có thể không phải lúc nào cũng nuôi sống chúng ta; nhưng nó luôn mang lại điều tốt lành, thậm chí còn gỡ bỏ sự cứng nhắc trong các khớp xương của ta, khiến ta trở nên mềm mại và sảng khoái khi ta chẳng biết mình đang mắc bệnh gì, đó là khi ta nhận ra bất kỳ sự hào hiệp nào ở con người hay Tự nhiên, khi ta được chia sẻ bất kỳ niềm vui thuần khiết và anh dũng nào.
Thơ ca và thần thoại cổ đại ít nhất cũng gợi ý rằng nghề nông từng là một nghệ thuật linh thiêng; nhưng nó lại bị chúng ta theo đuổi với sự vội vã và bất cẩn thiếu tôn kính, với mục đích duy nhất là có những nông trại lớn và mùa màng bội thu. Chúng ta không có lấy một lễ hội, một đám rước hay nghi lễ nào, ngoại trừ các cuộc triển lãm gia súc và những buổi Lễ Tạ ơn gọi là thế, qua đó người nông dân bày tỏ ý thức về sự thiêng liêng trong nghề nghiệp của mình, hoặc được nhắc nhở về nguồn gốc thiêng liêng của nó. Chính phần thưởng và tiệc tùng mới là thứ cám dỗ họ. Họ không tế lễ cho Ceres và Vị thần Đất Mẹ, mà tế cho Plutus — vị thần của chốn âm phủ thì đúng hơn. Bởi sự tham lam, ích kỷ và thói quen đê tiện — mà không ai trong chúng ta thoát khỏi — là xem đất đai là tài sản, hoặc chủ yếu là phương tiện để kiếm tài sản, phong cảnh trở nên biến dạng, nghề nông bị hạ thấp trong mắt chúng ta, và người nông dân dẫn dắt cuộc sống hèn mọn nhất. Hắn chỉ biết Tự nhiên như một kẻ cướp. Cato nói rằng lợi nhuận từ nông nghiệp là cực kỳ thanh bạch hoặc công chính (maximeque pius quæstus), và theo Varro, những người La Mã cổ đại “đã gọi cùng một mặt đất là Mẹ và Ceres, và nghĩ rằng những ai canh tác nó sẽ có một cuộc sống thanh bạch và hữu ích, và rằng họ là những kẻ duy nhất còn sót lại từ dòng dõi của Vua Saturn.”
Chúng ta thường quên rằng mặt trời ngắm nhìn những cánh đồng canh tác của chúng ta cũng như những đồng cỏ và khu rừng mà không hề phân biệt. Tất cả đều phản chiếu và hấp thụ những tia sáng của ngài như nhau, và những ruộng đồng kia chỉ chiếm một phần nhỏ trong bức tranh vinh hiển mà ngài chiêm ngưỡng trong hành trình hằng ngày của mình. Trong cái nhìn của ngài, trái đất đều được canh tác đồng đều như một khu vườn. Do đó, chúng ta nên đón nhận ơn huệ từ ánh sáng và hơi ấm của ngài với một niềm tin và sự hào phóng tương xứng. Xá gì việc tôi quý trọng hạt giống của những đám đậu này, và thu hoạch chúng vào dịp cuối năm? Cánh đồng rộng lớn mà tôi ngắm nhìn bấy lâu nay không coi tôi là người canh tác chính, mà hướng về những ảnh hưởng dung dưỡng hơn, những thứ tưới tắm và làm cho nó xanh tươi. Những hạt đậu này có những kết quả không được gặt hái bởi tôi. Chẳng phải chúng cũng lớn lên một phần vì loài marmot đó sao? Bông lúa mì (tiếng Latinh là spica, dạng cổ là speca, từ spe, hy vọng) không nên là niềm hy vọng duy nhất của người nông phu; hạt của nó (granum từ gerendo, sinh sản) không phải là tất cả những gì nó sinh ra. Thế thì, làm sao mùa màng của chúng ta lại có thể thất bát? Chẳng lẽ tôi lại không vui mừng trước sự phong phú của đám cỏ dại mà hạt của chúng là kho lứa của loài chim muông hay sao? So ra thì việc các đồng ruộng có làm đầy các nhà kho của người nông dân hay không chẳng mấy quan trọng. Người nông phu chân chính sẽ gạt bỏ lo âu, giống như loài sóc chẳng hề bận tâm liệu rừng cây năm nay có ra hạt dẻ hay không, và hoàn thành công việc của mình vào mỗi ngày, từ bỏ mọi quyền đòi hỏi sản phẩm từ cánh đồng của mình, và hy sinh trong tâm trí không chỉ những hoa trái đầu mùa mà cả những hoa trái cuối cùng nữa.