Walden Và Nghĩa Vụ Bất Tuân Dân Sự

Lượt đọc: 225 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Âm Thanh

❊ ❊ ❊

Nhưng chừng nào chúng ta còn quẩn quanh trong sách vở, dù là những trước tác tinh tuyển và kinh điển nhất, và chỉ đọc những ngôn ngữ viết cụ thể — bản thân vốn dĩ cũng chỉ là những thổ âm mang tính địa phương — chúng ta đang đứng trước nguy cơ lãng quên thứ ngôn ngữ mà vạn vật và sự kiện cất lên không cần đến ẩn dụ, thứ ngôn ngữ duy nhất phong phú và chuẩn mực. Người ta cho xuất bản rất nhiều, nhưng in ấn chẳng bao nhiêu. Những tia sáng lọt qua khe cửa chớp sẽ chẳng còn ai nhớ đến một khi tấm cửa chớp ấy được tháo gỡ hoàn toàn. Không có phương pháp hay kỷ luật nào có thể thay thế được sự cần thiết phải luôn luôn cảnh giác. Một khóa trình lịch sử, triết học hay thơ ca, dù được tuyển chọn kỹ lưỡng đến đâu, hay những mối giao xã ưu tú nhất, hoặc nề nếp sinh hoạt đáng ngưỡng mộ nhất, thì sá gì khi đem so sánh với kỷ luật của việc luôn ngắm nhìn những gì đang hiện hữu trước mắt? Bạn muốn làm một kẻ chỉ biết đọc sách, một học giả đơn thuần, hay một người thấu thị? Hãy đọc lấy vận mệnh của chính mình, nhìn cho rõ những gì đang bày ra trước mắt, và bước tiếp vào tương lai.

Mùa hè đầu tiên tôi chẳng đọc sách vở gì cả; tôi đi cuốc đậu. Thậm chí, tôi thường làm được những việc còn tốt hơn thế. Đã có những lúc tôi không sao nỡ hy sinh vẻ đẹp trinh nguyên của hiện tại cho bất kỳ công việc nào, dù là lao động trí óc hay chân tay. Tôi thích một lề lối sống thênh thang, phóng khoáng. Thỉnh thoảng, vào một buổi sáng mùa hè, sau khi đã tắm táp quen thuộc, tôi ngồi bên bậc cửa ngập tràn ánh nắng từ lúc mặt trời mọc cho đến tận trưa, chìm đắm trong một giấc mơ màng giữa ngút ngàn thông, hồ đào và sumac, trong sự cô tịch và tĩnh lặng tuyệt đối, mặc cho bầy chim hót quanh quẩn hoặc lướt đi không tiếng động qua căn nhà, cho đến khi ánh nắng rọi vào ô cửa sổ phía tây, hay tiếng xe ngựa của người lữ hành trên con đường cái quan xa xôi đánh thức tôi nhận ra thời gian đang trôi qua. Trong những quãng thời gian ấy, tôi lớn lên tựa như cây ngô trỗi dậy giữa đêm hè, và chúng vượt trội hơn hẳn bất kỳ công trình lao động chân tay nào có thể đạt được. Đó không phải là khoảng thời gian bị cắt xén khỏi cuộc đời tôi, mà là phần dồi dào thêm vào quỹ thời gian quen thuộc của tôi. Tôi đã thấu hiểu được điều mà người phương Đông muốn nói về sự chiêm nghiệm và việc từ bỏ thế sự. Phần lớn thời gian, tôi chẳng bận tâm giờ giấc trôi qua thế nào. Ngày trôi đi như thể để soi rọi cho một công việc nào đó của tôi; ấy là buổi sáng, và kìa, giờ đây đã là buổi tối, mà chẳng có thành tựu nào đáng nhớ được hoàn thành. Thay vì cất tiếng hót như loài chim, tôi mỉm cười thầm lặng trước vận may không dứt của mình. Hệt như chú chim sẻ cất tiếng trin trin khi đậu trên cây hồ đào trước cửa nhà tôi, tôi cũng có tiếng cười khúc khích hoặc tiếng hót líu lo kìm nén mà nó có thể nghe thấy từ tổ của mình. Những ngày tháng của tôi không phải là những ngày trong tuần mang dấu ấn của bất kỳ vị thần ngoại giáo nào, chúng cũng không bị băm nhỏ thành từng giờ và bị gặm nhấm bởi tiếng tích tắc của đồng hồ; bởi tôi sống giống như những người da đỏ Puri, tộc người mà người ta kể rằng “đối với ngày hôm qua, hôm nay và ngày mai, họ chỉ dùng chung một từ, và họ diễn tả sự khác biệt về ý nghĩa bằng cách chỉ tay về phía sau cho ngày hôm qua, về phía trước cho ngày mai, và chỉ lên đỉnh đầu cho ngày đang trôi qua.” Chắc chắn đối với những người đồng hương của tôi, đó là sự lười biếng thuần túy; nhưng nếu loài chim và các loài hoa đem tiêu chuẩn của chúng ra để phán xét tôi, thì tôi sẽ chẳng hề thua kém đâu. Quả thực, con người ta phải tìm thấy nguồn cảm hứng cho những dịp may của mình từ chính bên trong bản thân mình. Ban ngày vốn dĩ rất đỗi bình yên, và khó lòng mà quở trách sự lười nhác của con người.

Ít nhất thì trong lối sống của mình, tôi có một điểm ưu việt hơn hẳn những ai buộc phải tìm kiếm sự giải trí ở bên ngoài, nơi chốn xã giao hay sân khấu kịch, đó là bản thân cuộc đời tôi đã trở thành trò tiêu khiển của chính tôi và chưa bao giờ thôi mới mẻ. Nó là một vở kịch với muôn vàn cảnh diễn và chẳng có hồi kết. Nếu chúng ta thực sự luôn mải miết kiếm sống, và điều chỉnh cuộc sống của mình theo lối sống tân thời và ưu việt nhất mà chúng ta vừa học được, thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ phải bận tâm vì sự chán ngấy. Hãy theo đuổi thiên b hướng của bạn thật sát sao, nó sẽ không bao giờ phụ lòng mang đến cho bạn một viễn cảnh tươi mới trong từng giờ. Việc nhà vốn là một thú tiêu khiển dễ chịu. Khi sàn nhà bám đầy bụi bẩn, tôi thức dậy từ sớm, đem toàn bộ đồ đạc ra ngoài bãi cỏ, gộp chung giường và khung giường thành một bói, rồi hắt nước lên sàn, rắc cát trắng từ ngoài hồ lên đó, đoạn dùng chổi cọ rửa cho nó sạch sẽ và trắng phau; và đến lúc dân làng ăn điểm tâm xong thì ánh nắng ban mai đã làm khô ngôi nhà của tôi đủ để tôi có thể khuân đồ đạc vào lại, và những dòng suy ngẫm của tôi gần như chẳng bị ngắt quãng chút nào. Thật thú vị khi nhìn thấy toàn bộ vật dụng trong nhà được bày biện ngoài bãi cỏ, trông như một bọc hành lý nhỏ của người Digan, và chiếc bàn ba chân của tôi — trên đó tôi vẫn để nguyên sách vở, bút mực — đứng lọt thỏm giữa những rặng thông và hồ đào. Bản thân chúng có vẻ cũng vui mừng khi được ra ngoài, và trông như chẳng hề muốn bị khiêng vào nhà chút nào. Đã có lúc tôi bị cám dỗ muốn căng một tấm bạt che lên trên chúng và ngồi ngay tại đó. Thật bõ công khi được ngắm nhìn ánh nắng chiếu rọi lên những món đồ này, và lắng nghe cơn gió tự do thổi qua chúng; những đồ vật quen thuộc nhất khi ở ngoài trời mới mang lại cảm giác thú vị biết bao so với khi nằm trong nhà. Một chú chim đậu trên nhành cây bên cạnh, cây sống-đời mọc um tùm dưới chân bàn, và những dây mâm xôi bò quanh bốn chân bàn; những quả thông, vỏ hạt dẻ, và lá dâu tây vương vãi khắp nơi. Cảnh tượng ấy trông như thể đây chính là cách mà những hình hài này từng được đưa lên đồ đạc của chúng ta — lên bàn, ghế và giường tủ — bởi vì thuở ban đầu chúng từng đứng giữa chốn thiên nhiên hoang dã ấy.

Ngôi nhà của tôi nằm sườn đồi, ngay sát mép khu rừng lớn, giữa một cánh rừng non gồm cây thông nhựa và hồ đào, cách mặt hồ chừng nửa tá sào — nơi có một lối mòn nhỏ dẫn dốc xuống đồi. Trong mảnh sân trước nhà tôi mọc đầy dâu tây, mâm xôi, cây sống-đời, nương thảo và cúc vàng, sồi lùn và anh đào cát, việt quất cùng đậu đất. Vào khoảng cuối tháng Năm, cây anh đào cát (Cerasus pumila) tô điểm hai bên lối đi bằng những chùm hoa dịu dàng xếp thành tán bao quanh những cành ngắn của nó; để rồi đến mùa thu, trĩu nặng những quả anh đào cỡ lớn và đẹp mắt, chúng trĩu xuống thành từng vòng hoa như những tia sáng tỏa ra mọi hướng. Tôi nếm thử chúng cốt để tỏ lòng kính trọng với Thiên nhiên, dẫu cho chúng chẳng mấy ngon lành gì cho cam. Cây sumac (Rhus glabra) mọc tươi tốt quanh nhà, đâm chồi qua cả phần kè đất mà tôi đã đắp, vươn cao tới năm sáu sải tay ngay trong mùa đầu tiên. Chiếc lá hình lông chim rộng mang phong cách nhiệt đới của nó trông thật dễ chịu dẫu có phần lạ lẫm. Những búp lớn bất ngờ đâm chồi vào cuối mùa xuân từ những cành khô thoạt trông tưởng chừng đã chết, bỗng phát triển như phép màu thành những nhánh cây mềm mại, xanh mướt có đường kính đến một inch; và đôi khi, khi tôi ngồi bên cửa sổ, vì chúng lớn quá nhanh và thách thức những khớp cành yếu ớt của mình, tôi nghe thấy một nhánh non bỗng nhiên rơi phịch xuống đất nhẹ tựa chiếc quạt giấy dẫu chẳng có lấy một làn gió thoảng, bị gãy phựt bởi chính sức nặng của nó. Đến tháng Tám, những chùm quả lớn — thứ từng thu hút rất nhiều loài ong mật khi còn nở hoa — dần chuyển sang sắc đỏ thẫm rực rỡ như nhung, và sức nặng của chúng lại một lần nữa làm cong trĩu rồi bẻ gãy những cành non ấy.

Khi tôi ngồi bên khung cửa sổ vào buổi chiều hè này, những con diều hâu đang lượn vòng quanh bãi đất trống của tôi; tiếng vỗ cánh rộn rã của đàn bồ câu hoang bay từng đôi từng ba ngang qua tầm mắt, hay đậu bồn chồn trên những nhành thông trắng phía sau nhà, cất lên những thanh âm cho bầu không khí; một con chim ưng biển làm gợn lăn tăn mặt hồ phẳng lặng như gương rồi ngoạm lên một con cá; một con chồn mink rón rén bò ra từ đám cỏ lác trước cửa nhà tôi và chộp lấy một con chú ếch bên bờ; đám cỏ lác đang oằn mình dưới sức nặng của loài chim lách tách bay qua bay lại; và suốt nửa giờ qua, tôi đã nghe thấy tiếng lạch cạch của những đoàn tàu hỏa, lúc chìm lắng lúc bùng lên như tiếng pháo đài vỗ cánh, chở những vị khách du lịch từ Boston về vùng quê. Bởi vì tôi đâu có sống biệt lập với thế giới giống như cậu thiếu niên nọ, theo tôi nghe kể, được gửi đến làm việc cho một chủ trại ở mảng phía đông của thị trấn, nhưng chẳng bao lâu sau đã bỏ trốn và tìm đường về nhà trong cảnh túng quẫn và đầy nỗi nhớ quê hương. Cậu ta chưa từng thấy nơi nào tẻ nhạt và hẻo lánh đến thế; mọi người đều đã đi vắng hết cả; chà, đến cả tiếng còi tàu mà cũng chẳng tài nào nghe thấy nổi! Tôi nghi ngờ liệu bây giờ ở Massachusetts còn có chốn nào như thế nữa hay không:—

“Quả thật, làng chúng tôi nay đã thành bia cho một trong những mũi tên sắt phi nước đại ấy,

và vắt ngang qua vùng đồng bằng bình yên của chúng tôi,

âm thanh xoa dịu của nó chính là — Concord.”

Tuyến đường sắt Fitchburg chạy qua hồ ở điểm cách nơi tôi ở chừng một trăm sào về phía nam. Tôi thường đi vào làng theo con đường nền của nó, và qua mối liên kết này, tôi như thể gắn kết với xã hội. Những nhân viên trên các đoàn tàu hàng, những người chạy suốt chiều dài tuyến đường, ngả mũ chào tôi như một người quen cũ bởi họ gặp tôi quá thường xuyên, và bề ngoài họ tưởng tôi là một công nhân đường sắt; mà quả thực tôi cũng thế. Tôi cũng rất đỗi ước mong được làm một kẻ tu sửa đường ray đâu đó trong quỹ đạo của trái đất.

Tiếng còi đầu máy xe lửa len lỏi qua khu rừng của tôi suốt mùa hè lẫn mùa đông, vang lên tựa như tiếng thét của diều hâu lượn vòng trên bãi cỏ nhà nông dân nào đó, báo hiệu cho tôi biết rằng vô số thương gia thành thị bồn chồn đang kéo đến trong vòng bán kính của thị trấn, hoặc những tay buôn miền quê phiêu lưu từ bên kia tới. Khi họ lướt qua đường chân trời này, họ gào thét lời cảnh báo tránh ra khỏi đường ray với bên kia, âm thanh đôi khi vọng qua cả ranh giới của hai thị trấn. Kìa đồ tế nhuyễn của các ngươi đến đấy, hỡi những kẻ thôn quê; khẩu phần ăn của các ngươi đấy, hỡi những người đồng hương! Chẳng có người nông dân nào độc lập đến mức có thể nói lời từ chối họ. Và tiền công của các ngươi đây! tiếng còi của người nhà quê réo lên; những súc gỗ lớn tựa như những chiếc cọc phá thành lao đi với tốc độ hai mươi dặm một giờ hướng về những bức tường thành của thành phố, và đủ số ghế để xếp cho tất cả những kẻ nhọc nhằn gánh nặng đang trú ngụ trong đó. Với sự lịch thiệp cồng kềnh và thô kệch ấy, miền quê chìa một chiếc ghế cho thành phố. Toàn bộ những ngọn đồi huckleberry của người da đỏ bị vặt trụi, tất cả những đầm lầy nam việt quất bị cào sạch đem về thành phố. Bông được chở lên, vải dệt được chở xuống; lụa được chở lên, len được chở xuống; sách vở được chở lên, nhưng sự thông thái của kẻ viết ra chúng thì lại trôi tuột xuống dưới.

Khi tôi đối mặt với cỗ máy xe lửa cùng đoàn toa xe di chuyển với chuyển động tựa hành tinh — hay đúng hơn là giống một ngôi sao chổi, bởi kẻ quan sát chẳng thể biết được liệu với tốc độ ấy và hướng đi ấy nó có bao giờ quay lại thăm viếng hệ mặt trời này lần nữa hay không, vì quỹ đạo của nó trông chẳng giống một đường cong tuần hoàn — với đám mây hơi nước tựa dải băng bay phấp phới phía sau thành những vòng hoa vàng bạc, hệt như biết bao đám mây bông mịn mà tôi từng thấy trên tàn trời cao rộng đang mở rộng các khối của mình ra trước ánh sáng — tựa như vị á thần lữ hành này, kẻ khuấy động những tầng mây, chẳng mấy chốc sẽ lấy bầu trời hoàng hôn làm phẩm phục cho đoàn tàu của hắn; khi tôi nghe thấy con tuấn mã sắt làm những quả đồi vang dội tiếng khịt mũi tựa sấm truyền, làm rung chuyển mặt đất bằng những bước chân, và thở ra lửa cùng khói từ đôi lỗ mũi (tôi chẳng biết người ta sẽ đưa loại chiến mã có cánh hay con rồng lửa nào vào Thần thoại mới đây), tôi có cảm giác như trái đất giờ đây đã có được một giống loài xứng đáng để ngự trị trên đó. Giá như mọi thứ đều đúng như vẻ bề ngoài, và con người biến các nguyên tố thành tôi tớ cho những mục đích cao cả! Giá như đám mây lơ lửng trên đầu đầu máy xe lửa chính là mồ hôi của những chiến công anh dũng, hoặc mang ơn ích như làn mây lững lờ trôi trên những cánh đồng của người nông dân, thì khi ấy các nguyên tố và bản thân Thiên nhiên sẽ hân hoan đồng hành cùng con người trong sứ mệnh của họ và trở thành đoàn hộ tống của họ.

Tôi ngắm nhìn đoàn tàu buổi sáng lướt qua với cảm giác y hệt như lúc tôi ngắm mặt trời mọc — thứ cũng chẳng đều đặn hơn là bao. Đoàn mây của chúng kéo dài tít tắp phía sau và ngày một dâng cao hơn, vươn tới tận thiên đường trong khi đoàn tàu đang lao về Boston, che khuất mặt trời trong một phút và phủ bóng râm lên mảnh ruộng xa xôi của tôi, một đoàn tàu thiên giới mà bên cạnh nó, đoàn tàu tầm thường bám sát mặt đất kia chẳng khác nào ngọn giáo nhọn. Người chăm sóc con tuấn mã sắt ấy đã thức dậy từ sớm trong buổi sáng mùa đông này dưới ánh sao giữa chốn núi non để cho ngựa ăn và cắm sừng. Lửa cũng được đánh thức từ sớm như thế để truyền hơi ấm sự sống vào nó và khởi động nó lên. Giá mà cuộc hành trình ấy trong sáng biết bao nhiêu so với việc nó bắt đầu sớm chừng nào! Nếu tuyết ngập dày, họ buộc những chiếc giày đi tuyết vào chân nó, và với chiếc cày khổng lồ, họ cày một đường rạch từ vùng núi ra tới bờ biển, nơi mà đoàn tàu, giống như chiếc xe gieo hạt chạy theo sau, gieo vãi tất cả những con người bồn chồn và hàng hóa trôi nổi khắp đất nước làm hạt giống. Suốt cả ngày, con tuấn mã lửa bay lượn khắp xứ sở, chỉ dừng lại khi người chủ của nó cần nghỉ ngơi, và tôi bị đánh thức bởi tiếng bước chân cùng tiếng khịt mũi thách thức của nó vào lúc nửa đêm, khi ở một thung lũng hẻo lánh nào đó trong rừng, nó đối đầu với giá lạnh băng tuyết; và nó sẽ chỉ về tới chuồng vào lúc sao mai xuất hiện, để rồi lại bắt đầu một hành trình mới mà không có lấy một phút nghỉ ngơi hay chợp mắt. Hoặc đôi khi, vào buổi tối, tôi nghe thấy nó trong chuồng đang thở phì phò để xả bớt nguồn năng lượng thừa thãi trong ngày, cốt để làm dịu các dây thần kinh và hạ nhiệt gan óc sau vài giờ chợp mắt bằng sắt. Giá mà canh bạc ấy anh dũng và uy quyền biết bao nhiêu so với sự kéo dài và bền bỉ của nó!

Xuyên sâu qua những khu rừng vắng vẻ ở rìa các thị trấn, nơi thuở trước chỉ có thợ săn bén mảng ban ngày, vào đêm tối mịt mùng nhất, những toa khách sáng rực ấy phi qua mà chẳng để cho cư dân ở đó hay biết; khoảnh khắc này dừng lại ở một nhà ga rực rỡ nào đó trong thị trấn hay thành phố nơi một đám đông đang tụ tập sum vầy, khoảnh khắc tiếp theo đã ở tận Đầm lầy ảm đạm (Dismal Swamp), làm cú và chồn hoảng sợ. Những thời điểm khởi hành và cập bến của các đoàn tàu giờ đây đã trở thành những mốc son trong nhịp sống của làng quê. Chúng đi và đến với sự đều đặn và chuẩn xác đến độ, và tiếng còi của chúng có thể vang xa đến mức những người nông dân lấy chúng làm chuẩn để chỉnh đồng hồ, và nhờ thế một thể chế được điều hành tốt đã điều tiết cả một xứ sở. Chẳng phải con người đã cải thiện được chút ít về sự đúng giờ kể từ khi tàu hỏa được phát minh đó sao? Chẳng phải họ nói năng và suy nghĩ nhanh hơn trong phòng chờ so với thời ở văn phòng xe ngựa đó sao? Có một điều gì đó mang tính điện khí hóa trong không gian của nơi đầu tiên. Tôi đã vô cùng kinh ngạc trước những phép màu mà nó tạo ra; rằng một số người hàng xóm của tôi — những kẻ mà trước đây tôi từng cả quyết là sẽ chẳng bao giờ đến Boston bằng một phương tiện nhanh chóng đến thế — nay lại có mặt đúng lúc chuông reo. Làm việc theo “kiểu đường sắt” nay đã trở thành cửa miệng; và thật bõ công khi được cảnh báo thường xuyên và chân thành đến vậy bởi bất kỳ thế lực nào đòi tránh ra khỏi đường ray của nó. Chẳng có chuyện dừng lại để đọc đạo luật giải tán bạo loạn, chẳng có chuyện nổ súng trên đầu đám đông trong trường hợp này. Chúng ta đã tạo ra một thứ định mệnh, một nữ thần Atropos, không bao giờ chịu quay đầu. (Cứ gọi đầu máy của anh ta là thế đi). Người ta thông báo rằng vào một giờ phút nhất định những mũi tên này sẽ được bắn đi về những hướng cụ thể của la bàn; thế nhưng nó chẳng hề can thiệp vào công việc của ai, và lũ trẻ vẫn đến học trên con đường ray khác. Chúng ta sống vững vàng hơn nhờ điều đó. Tất cả chúng ta đều được giáo dục theo cách đó để trở thành những người con của Tell. Không gian ngập tràn những mũi tên vô hình. Mọi con đường ngoại trừ con đường của riêng bạn đều là con đường của định mệnh. Vậy thì hãy bám lấy đường ray của chính mình.

Điều khiến tôi đánh giá cao thương mại chính là tinh thần dấn thân và lòng dũng cảm của nó. Nó không hề khoanh tay đứng chắp chắp cầu nguyện thần Jupiter. Tôi nhìn thấy những con người ấy ngày ngày đi làm công việc của mình với ít nhiều sự can đảm và lòng bằng lòng, làm được nhiều hơn cả những gì họ tự ngờ tới, và biết đâu lại làm những việc có ích hơn cả những gì họ có thể chủ tâm vạch ra. Tôi ít bị dao động bởi lòng dũng cảm của những kẻ từng đứng suốt nửa phút ở hàng tiền tuyến tại Buena Vista, hơn là bởi sự dũng cảm bền bỉ và vui tươi của những con người coi chiếc xe cày tuyết là mái nhà mùa đông của họ; những kẻ không chỉ có lòng can đảm vào lúc ba giờ sáng mà Bonaparte cho là hiếm có nhất, mà lòng dũng cảm của họ chẳng chịu đi ngủ sớm đến thế, những kẻ chỉ chìm vào giấc ngủ khi cơn bão đã lặng im hoặc gân cốt của con tuấn mã sắt đã đóng băng. Vào buổi sáng của trận Đại Tuyết này, có lẽ — khi cơn bão vẫn đang hoành hành và làm đông cứng dòng máu con người — tôi nghe thấy tiếng chuông đầu máy của họ vang lên âm u từ vầng sương mù của hơi thở giá lạnh, báo hiệu rằng đoàn tàu đang tới mà không bị chậm trễ là bao, bất chấp lệnh củ quyết của trận bão tuyết đông bắc New England, và tôi nhìn thấy những người thợ cày phủ đầy tuyết và sương giá, đầu họ nhô lên trên tấm bản lật — nơi đang lật nhào những bông cúc và tổ chuột đồng chứ không gì khác — trông hệt như những khối đá tảng của dãy Sierra Nevada chiếm một góc bên lề của vũ trụ.

Thương mại mang một sự tự tin và tĩnh tại bất ngờ, lanh lẹ, ưa phiêu lưu và không biết mệt mỏi. Hơn thế nữa, các phương thức của nó rất đỗi tự nhiên, vượt xa nhiều dự án kỳ quái và thí nghiệm cảm tính, và chính vì thế nên nó đã gặt hái được thành công kỳ lạ. Tôi cảm thấy sảng khoái và rộng mở khi đoàn tàu hàng lộc cộc lướt qua tôi, và tôi ngửi thấy mùi hương của những kho hàng tỏa ngào ngạt suốt dọc đường từ Long Wharf đến hồ Champlain, gợi nhắc tôi về những vùng đất xa xôi, những rặng san hô, các đại dương Ấn Độ, những vùng khí hậu nhiệt đới, và sự bao la của địa cầu. Tôi cảm thấy mình giống một công dân của thế giới hơn khi nhìn thấy tấm lá cọ — thứ sẽ che chở cho biết bao mái tóc vàng hoe của xứ New England vào mùa hè tới, sợi gai dầu Manilla và vỏ dừa, đống dây thừng cũ, bao bố đay, sắt vụn và những chiếc đinh gỉ sét. Toàn bộ toa tàu chứa đầy những cánh buồm rách tươm này trông còn dễ đọc và thú vị hơn nhiều so với việc chúng được đem đi nghiền thành giấy và in thành sách. Ai có thể viết nên bức tranh sinh động bằng những vết rách này về những trận cuồng phong mà chúng từng chống chọi chứ? Chúng chính là những bản in thử chẳng cần phải sửa chữa gì thêm. Kìa là gỗ xẻ từ những khu rừng ở Maine — thứ đã không bị trôi ra biển trong cơn lũ lụt vừa qua, nay đã tăng thêm bốn đô la mỗi nghìn tấm vì lý do những tấm khác đã bị trôi đi hoặc bị bẻ vụn; thông, vân sam, tuyết tùng — loại một, loại hai, loại ba và loại bốn, những thứ mà chỉ mới đây thôi đều cùng một loại, từng che bóng trên đầu loài gấu, nai sừng tấm và tuần lộc. Tiếp theo là vôi Thomaston được cuộn đến, một mẻ thượng hạng, sẽ đi sâu vào tận chốn núi non trước khi kịp tôi vôi. Những cuộn giẻ rách đủ mọi màu sắc và phẩm chất này — trạng thái thấp kém nhất mà bông và vải lanh có thể rơi xuống, kết quả cuối cùng của y phục — của những hoa văn giờ đây chẳng còn ai hô hào ca tụng nữa, ngoại trừ ở Milwaukie, là những mặt hàng lộng lẫy như vải in Anh, Pháp hay Mỹ, vải gingham, vải muslin, v.v., được thu gom từ mọió nẻo đường của thời trang và nghèo đói, sắp sửa biến thành giấy chỉ có một màu hoặc vài sắc độ đơn thuần, trên đó quả thực sẽ viết nên những câu chuyện đời thực, từ cao sang đến bần hàn, và được xây dựng dựa trên sự thật! Toàn bộ toa xe đóng kín này sực mùi cá muối, thứ mùi đậm chất thương mại và đặc trưng của New England, gợi nhắc tôi về vùng Grand Banks và những ngư trường. Đã ai từng thấy một con cá muối được ướp kỹ càng đến mức cho thế giới này, để chẳng gì có thể làm nó hỏng nổi, và khiến sự kiên nhẫn của các thánh nhân cũng phải thẹn thùng chưa? Loại cá mà bạn có thể dùng để quét hoặc lát đường phố, bẻ ra làm củi nhóm bếp, và người đánh xe dùng nó để che chắn cho bản thân và hàng hóa trước nắng gió mưa — và người thương gia, giống như một thương gia ở Concord từng làm, treo nó ngay cửa làm biển hiệu khi bắt đầu khởi nghiệp, cho đến tận lúc vị khách hàng lâu năm nhất của ông ta cũng chẳng thể phân biệt chắc chắn nổi đó là động vật, thực vật hay khoáng sản, thế mà nó vẫn tinh khiết tựa bông tuyết, và nếu được bỏ vào nồi đem luộc, nó sẽ trở thành một món cá khô tuyệt hảo cho bữa tối ngày Thứ Bảy. Tiếp theo là da bò Tây Ban Nha, với phần đuôi vẫn giữ nguyên được độ xoắn và góc nghếch mà chúng có khi những chú bò mang chúng đang tung hoành trên những đồng cỏ pampas của vùng biển Tây Ban Nha — một biểu tượng của sự bướng bỉnh tột cùng, minh chứng cho thấy mọi thói hư tật xấu bẩm sinh đều gần như vô phương cứu chữa và không thể nào vãn hồi. Tôi thú nhận rằng, thực tế mà nói, một khi tôi đã nắm được bản chất thực sự của một con người, tôi hoàn hảo không còn hy vọng có thể thay đổi nó theo chiều hướng tốt hơn hay xấu đi trong cõi đời này. Giống như người phương Đông vẫn thường nói: “Đuôi chó dù có được sưởi ấm, ép chặt và quấn băng quanh bằng các dải vải, và sau mười hai năm lao tâm khổ tứ dồn vào nó, thì nó vẫn sẽ giữ nguyên hình dáng tự nhiên của mình.” Cách duy nhất để chữa trị triệt để những thói ngoan cố mà những chiếc đuôi này thể hiện chính là biến chúng thành keo dán, mà tôi tin đó cũng chính là điều người ta thường làm với chúng, và khi đó chúng sẽ nằm yên một chỗ và dính chặt lấy. Kìa là một thùng mật mía hoặc rượu mạnh gửi cho John Smith ở Cuttingsville, Vermont, một tay buôn nào đó giữa những ngọn núi Green Mountains, kẻ nhập khẩu hàng hóa cho những người nông dân quanh vùng đất hoang của hắn, và giờ đây có lẽ đang đứng chống tay trên cửa hầm hàng của mình để ngẫm nghĩ về những chuyến tàu mới cập bến dọc theo bờ biển, không biết chúng sẽ ảnh hưởng thế nào đến giá cả đối với hắn, đoạn ngay lúc này lại đang nói với khách hàng của mình, hệt như hắn đã nói hai mươi lần trước đó vào buổi sáng nay, rằng hắn đang trông chờ một lô hàng thượng hạng từ chuyến tàu tiếp theo. Thông tin ấy được quảng cáo trên tờ Cuttingsville Times.

Trong lúc những thứ này đi lên thì những thứ khác lại đi xuống. Được cảnh báo bởi âm thanh vù vù, tôi ngẩng đầu lên khỏi cuốn sách và nhìn thấy một cây thông cao vút, bị đốn hạ trên những ngọn đồi xa xôi phía bắc, thứ đã vỗ cánh bay qua dãy Green Mountains và sông Connecticut, lao đi như một mũi tên xuyên qua thị trấn trong vòng mười phút, và hiếm có ánh mắt thứ hai nào kịp chiêm ngưỡng nó; đang lao đi

“để làm cột buồm

cho một chiếc soái hạm vĩ đại nào đó.”

Và kìa! đoàn tàu chở gia súc đang tiến đến, mang theo gia súc từ ngàn ngọn đồi, chuồng cừu, chuồng ngựa và bãi quây bò lơ lửng giữa không trung, những kẻ lùa gia súc với gậy gộc trên tay và những mục đồng đứng giữa bầy đàn của mình, tất cả ngoại trừ những đồng cỏ trên núi, đều bị cuốn đi như những chiếc lá bị thổi bay khỏi dãy núi bởi những trận cuồng phong tháng Chín. Không gian ngập tràn tiếng kêu của bê cừu và tiếng chen chúc của đàn bò, tựa như cả một thung lũng mục đồng đang trôi qua ngang qua. Khi chú cừu đầu đàn già cỗi ở vị trí dẫn đầu lắc chiếc chuông của nó, những ngọn núi quả thực đã nhảy nhót như những chú cừu đực và những gò đồi nhỏ nhảy nhót như những chú cừu con. Một toa tàu chở đầy những tay lùa gia súc ở ngay chính giữa, giờ đây cũng đứng ngang hàng với bầy súc vật của họ, nghề nghiệp đã chấm dứt nhưng vẫn bám chặt lấy những cây gậy vô dụng như một thứ huy hiệu quyền lực. Nhưng những con chó của họ đâu rồi? Đối với chúng, đó là một cuộc tháo chạy hoảng loạn; chúng hoàn toàn bị hất văng ra ngoài; chúng đã mất tích hơi. Dường như tôi nghe thấy tiếng chúng đang sủa vang đằng sau những ngọn đồi Peterboro, hoặc đang hổ hển leo lên sườn phía tây của dãy Green Mountains. Chúng sẽ chẳng thể có mặt vào thời khắc kết thúc đâu. Nghề nghiệp của chúng cũng đã lụi tàn rồi. Sự trung thành và khôn ngoan của chúng giờ đây đã sụt giảm trầm trọng. Chúng sẽ lủi thủi bò về chuồng trong sự hổ thẹn, hoặc biết đâu sẽ trở nên hoang dã và kết thân với loài sói và chồn. Cứ thế, cuộc sống mục đồng của các ngươi bị cuốn phăng đi và biến mất. Nhưng chuông reo rồi, và tôi phải tránh khỏi đường ray để nhường đường cho đoàn tàu chạy qua;—

Tuyến đường sắt thì dính dáng gì đến tôi?

Tôi chẳng bao giờ đi xem

nó chấm dứt ở nơi nào.

Nó lấp đầy vài trũng sâu,

Và đắp những bờ cho loài nhạn biển,

Nó thổi cát bay tung tóe,

Và làm những dây mâm xôi đâm chồi,

thế nhưng tôi vẫn băng qua nó hệt như một con đường mòn chở củi trong rừng. Tôi sẽ không đời nào để đôi mắt mình bị che khuất và đôi tai bị tàn phá bởi khói, hơi nước và tiếng rít của nó đâu.

Giờ đây khi đoàn tàu đã lướt qua cùng với toàn bộ thế giới bồn chồn, và những chú cá dưới hồ không còn cảm nhận thấy tiếng rung chuyển của chúng nữa, tôi càng trở nên đơn độc hơn bao giờ hết. Trong phần thời gian còn lại của buổi chiều dài đằng đẵng, có lẽ những dòng suy ngẫm của tôi chỉ bị ngắt quãng bởi tiếng lạch cạch mờ nhạt của một cỗ xe ngựa hay xe chở hàng trên con đường cái quan ở đằng xa.

Thỉnh thoảng, vào những ngày Chủ nhật, tôi nghe thấy tiếng chuông nhà thờ — tiếng chuông của Lincoln, Acton, Bedford hoặc Concord — khi hướng gió thuận lợi, một giai điệu mờ nhạt, ngọt ngào và tựa như một âm thanh tự nhiên, rất đáng để mang vào chốn hoang vu này. Ở một khoảng cách đủ xa vượt qua những khu rừng, âm thanh ấy có được một âm vang rung động nhất định, tựa như những chiếc lá thông ở tận chân trời chính là dây của một cây đàn hạc mà nó lướt qua. Mọi âm thanh được nghe ở khoảng cách lớn nhất có thể đều tạo ra một hiệu ứng duy nhất, một sự rung động của cây đàn lia vạn vật, hệt như bầu không khí ở giữa đã làm cho một dãy đất xa xôi trở nên thú vị trong mắt chúng ta bởi sắc xanh lam mà nó phủ lên đó. Trong trường hợp này, một giai điệu đã được không khí thanh lọc vọng đến tai tôi, giai điệu đã trò chuyện với từng chiếc lá và từng cây kim của khu rừng, đó là phần âm thanh mà các nguyên tố đã hấp thụ, điều tiết và ngân vang từ thung lũng này sang thung lũng khác. Tiếng vang ấy, ở một mức độ nào đó, là một âm thanh nguyên thủy, và đó chính là nét ma thuật và sức quyến rũ của nó. Nó không đơn thuần là sự lặp lại của những gì đáng để lặp lại từ tiếng chuông, mà một phần là tiếng nói của khu rừng; chính những từ ngữ và nốt nhạc vụn vặt ấy được cất lên bởi một nữ thần rừng.

Vào buổi chiều tối, tiếng rống trầm đục xa xôi của một chú bò nào đó ở đường chân trời bên kia khu rừng vang lên thật ngọt ngào và du dương, và thoạt đầu tôi cứ nhầm tưởng đó là tiếng hát của một nhóm ca sĩ nào đó từng đôi khi đến đàn hát dưới cửa sổ của tôi, những kẻ có thể đang lang thang khắp đồi qua thung lũng; nhưng chẳng mấy chốc tôi lại cảm thấy thú vị chứ không hề thất vọng khi âm thanh ấy kéo dài thành thứ âm nhạc bình dị và tự nhiên của loài bò. Tôi không hề có ý mỉa mai, mà chỉ muốn bày tỏ sự trân trọng của mình đối với tiếng hát của những thanh niên kia, khi tôi nhận ra rõ ràng rằng nó có họ hàng với tiếng bò kêu, và rốt cuộc thì chúng cũng chỉ là một thứ âm thanh phát ra từ Bản nhiên.

Đều đặn vào lúc bảy giờ rưỡi, trong một khoảng thời gian mùa hè, sau khi chuyến tàu buổi chiều đã chạy qua, những con chim bắt cô trõng lại cất lên khúc kinh chiều trong suốt nửa giờ, đậu trên một gốc cây trước cửa nhà tôi, hoặc trên thanh đỉnh mái nhà. Chúng sẽ bắt đầu cất tiếng hót với độ chuẩn xác gần như một chiếc đồng hồ, lệch chưa tới năm phút vào một thời điểm cụ thể được tính theo lúc mặt trời lặn mỗi chiều tối. Tôi có cơ hội hiếm có để làm quen với tập tính của chúng. Thỉnh thoảng tôi nghe thấy bốn hoặc năm con cùng một lúc ở những góc rừng khác nhau, tình cờ có con đi trễ hơn con kia một nhịp, và chúng ở gần tôi đến mức tôi không chỉ phân biệt được tiếng cục cục sau mỗi nốt nhạc, mà thường xuyên còn nghe thấy cả thứ âm thanh vo ve kỳ lạ giống như một con ruồi sa vào mạng nhện, chỉ có điều là âm lượng lớn hơn tương xứng. Thỉnh thoảng có con bay lượn vòng quanh tôi trong khu rừng chỉ cách vài bước chân như thể bị buộc chặt bằng một sợi dây, khi mà có lẽ tôi đang đứng gần mấy quả trứng của nó. Chúng cất tiếng hót cách quãng suốt cả đêm, và lại hót vang lừng trở lại ngay trước và quanh thời điểm rạng đông.

Khi các loài chim khác đã im ắng thì cú mèo bắt đầu cất lên khúc ca, giống như những người phụ nữ khóc mướ thuê cất lên tiếng u-lu-lu cổ xưa của họ. Tiếng thét ảm đạm của chúng thực sự mang phong cách Ben Jonson. Hỡi những mụ phù thủy lúc nửa đêm khôn ngoan! Đó không phải là tiếng kêu tu-whit tu-who ngay thẳng và bộc trực của các thi sĩ, mà, nói không ngoa, là một khúc điệu nghĩa trang vô cùng trang nghiêm, là sự an ủi lẫn nhau của những đôi tình nhân tự sát đang nhớ lại nỗi thống khổ và niềm hân hoan của tình yêu siêu phàm chốn âm ty ngục tối. Thế nhưng tôi vẫn thích nghe tiếng than khóc của chúng, những tiếng đáp lời thê thảm vang lên dọc theo bìa rừng; đôi khi gợi nhắc tôi về âm nhạc và những loài chim ca hót; tựa như đó là mặt tối và đẫm lệ của âm nhạc, là những niềm tiếc nuối và tiếng thở dài khao khát được cất thành lời ca. Chúng là những linh hồn, là những tâm trạng u ám và điềm gở sầu muộn của những linh hồn sa ngã từng mang hình hài con người lang thang trên mặt đất vào ban đêm và làm những việc ám muội, nay đang chuộc lại tội lỗi của mình bằng những khúc thánh ca than vãn hoặc điếu văn trong khung cảnh của những tội ác mà họ từng gây ra. Chúng mang đến cho tôi một cảm nhận hoàn toàn mới về sự phong phú và dung lượng của thiên nhiên — ngôi nhà chung của chúng ta. Ô-ô-o-o-o ước gì ta chưa từng sinh ra-a-a-a-n! một kẻ thở dài bên này hồ, và bay lượn vòng với sự bồn chồn của tuyệt vọng đến một chạc cây sồi xám mới. Rồi — ước gì ta chưa từng sinh ra-a-a-a-n! một kẻ khác ở bờ bên kia vọng lại với sự chân thành run rẩy, và — sinh ra-a-a-a-n! vọng lại yếu ớt từ sâu thẳm những khu rừng Lincoln.

Tôi cũng từng được một chú cú kêu vang serenata bản tình ca. Ở cự ly gần, bạn có thể tưởng tượng đó là âm thanh ảm đạm nhất trong Thiên nhiên, tựa như qua đó nàng có ý định đóng khung và bất tử hóa trong dàn hợp xướng của mình những tiếng rên rỉ hấp hối của một sinh linh con người — một di tích yếu ớt nghèo nàn của cõi trần gian đã bỏ lại hy vọng phía sau, và hú lên như một con thú, thế nhưng lại mang theo những tiếng nức nở của con người khi bước vào thung lũng tối tăm, càng trở nên rợn ngợp hơn bởi một âm hưởng du dương róc rách nào đó — tôi nhận ra mình bắt đầu bằng những chữ cái gl khi cố gắng bắt chước nó — biểu hiện cho một tâm trí đã đạt đến giai đoạn nhầy nhụa mốc meo trong sự hoại tử của mọi tư duy lành mạnh và can đảm. Nó gợi cho tôi nhớ về loài quỷ ghoul, những kẻ đần độn và tiếng hú của người điên. Nhưng giờ đây, một con khác đáp lại từ những khu rừng xa xôi bằng một giai điệu thực sự trở nên du dương nhờ khoảng cách — Hoo hoo hoo, hoorer hoo; và quả thực phần lớn thời gian nó chỉ gợi lên những liên tưởng dễ chịu, dù được nghe vào ban ngày hay ban đêm, mùa hè hay mùa đông.

Tôi vui mừng vì vẫn còn có loài cú. Cứ để chúng cất lên tiếng hú dại dột và cuồng loạn thay cho con người. Đó là một âm thanh vô cùng thích hợp cho những đầm lầy và khu rừng chạng vạng chẳng có ánh ban ngày nào chiếu rọi, gợi lên một thiên nhiên bao la chưa được khai phá mà con người chưa từng thừa nhận. Chúng đại diện cho buổi chạng vạng lạnh lẽo và những tâm tư chưa thỏa mãn mà ai cũng mang trong mình. Suốt cả ngày, mặt trời đã chiếu rọi lên bề mặt của một đầm lầy hoang dã nào đó, nơi chỉ có một cây vân sam đứng cô độc được trang trí bởi những chùm địa y usnea, và những con diều hâu nhỏ lượn vòng bên trên, chú chim chickadee líu lo giữa đám cây thường xanh, cùng gà gô và thỏ rúc mình bên dưới; nhưng giờ đây một ngày u ám và thích hợp hơn đang ló dạng, và một giống loài sinh vật khác thức dậy để diễn tả ý nghĩa của Thiên nhiên nơi ấy.

Muộn trong đêm, tôi nghe thấy tiếng rầm rì xa xôi của những chiếc xe ngựa qua cầu — một âm thanh được nghe ở cự ly xa hơn hầu hết mọi âm thanh khác vào ban đêm — tiếng chó sủa, và thỉnh thoảng lại là tiếng rống của một chú bò bơ vơ nào đó trong một trang trại xa xôi. Trong khi đó, toàn bộ bờ hồ vang dội tiếng kêu của loài ếch xanh, những linh hồn kiên cường của những kẻ say sưa và chè chén thời cổ đại, vẫn chưa chịu hối cải, đang cố gắng cất lên một khúc ca trong hồ Stygian của chúng — nếu các nữ thần hồ Walden thứ lỗi cho sự so sánh này, bởi dẫu ở đây hầu như chẳng có cỏ dại, nhưng lại có loài ếch — những kẻ vẫn khao khát duy trì những quy tắc vui nhộn của những bàn tiệc thuở trước, dẫu cho giọng nói của chúng đã trở nên khàn đợt và trầm ngâm một cách nghiêm trang, chế nhạo niềm vui, và rượu đã mất đi hương vị để trở thành thứ chất lỏng làm căng phình cái bụng của chúng, và sự say sưa ngọt ngào chẳng bao giờ đến để xua đi ký ức về quá khứ, mà chỉ là sự ngấm nước tuyệt đối và sự trương phềnh, ngập úng. Kẻ béo phì quyền quý nhất, với chiếc cằm tựa lên một chiếc lá hình trái tim — thứ đóng vai trò như chiếc khăn ăn cho phần khóe miệng đang dãi dề của hắn, dưới bờ bắc này đang nốc một ngụm sâu dòng nước từng bị khinh miệt, và chuyền tay chiếc cốc với tiếng kêu tr-r-r-oonk, tr-r-r-oonk, tr-r-r-oonk! và ngay lập tức từ một góc khuất xa xôi nào đó bên kia mặt nước, mật khẩu tương tự được lặp lại, nơi kẻ có bậc vế và vòng bụng xếp ngay sau đã nốc cạn đến vạch quy định; và khi nghi thức này đã giáp một vòng quanh các bờ hồ, thì vị chủ tế mới thỏa mãn cất tiếng kêu tr-r-r-oonk!, và từng kẻ theo thứ tự lặp lại âm thanh ấy cho đến tận kẻ có chiếc bụng phệ kém nhất, rỗng tuếch và nhão nhoét nhất, để không có sự nhầm lẫn nào xảy ra; và rồi chiếc bát lại được chuyền đi chuyền lại, cho đến khi mặt trời xua tan lớp sương mù ban mai, và chỉ còn lại vị tộc trưởng là không chìm dưới mặt hồ, vẫn đang vô ích gào lên tiếng troonk hết lần này đến lần khác, và dừng lại để chờ đợi một lời đáp.

Tôi không chắc là mình đã từng nghe thấy tiếng gà gáy từ bãi đất trống của mình bao giờ chưa, và tôi từng nghĩ rằng có lẽ cũng đáng công khi nuôi một chú gà trống chỉ vì tiếng hót của nó, như một loài chim ca hát. Tiếng gáy của loài trĩ Ấn Độ hoang dã thuở nào này quả thực là âm thanh đáng kinh ngạc nhất của bất kỳ loài chim nào, và nếu chúng có thể được thuần hóa mà không cần làm vật nuôi trong nhà, nó sẽ nhanh chóng trở thành âm thanh nổi tiếng nhất trong những khu rừng của chúng tôi, vượt qua cả tiếng kêu của ngỗng trời và tiếng cú kêu; và thử tưởng tượng tiếng cục tác của lũ gà mái sẽ khỏa lấp những khoảng lặng khi kèn lệnh của các đức ông chồng nghỉ ngơi! Chẳng có gì lạ khi con người đưa loài chim này vào danh sách vật nuôi của mình — chưa kể đến trứng và đùi gà. Đi dạo vào một buổi sáng mùa đông trong một khu rừng nơi loài chim này sinh sôi nảy nở, những khu rừng nguyên thủy của chúng, và lắng nghe những chú gà trống hoang dã cất tiếng gáy trên cành cây, trong trẻo và lanh lảnh vang xa hàng dặm khắp mặt đất vọng âm, át đi những nốt nhạc yếu ớt hơn của các loài chim khác — hãy thử nghĩ mà xem! Nó sẽ khiến các quốc gia phải bừng tỉnh. Ai lại không muốn thức dậy sớm, rồi ngày càng thức dậy sớm hơn nữa qua từng ngày trong đời, cho đến khi trở nên khỏe mạnh, giàu có và khôn ngoan đến mức không thể diễn tả bằng lời? Tiếng kêu của loài chim ngoại lai này được ca tụng bởi các nhà thơ ở mọi quốc gia bên cạnh tiếng hót của các loài chim bản địa. Mọi vùng khí hậu đều phù hợp với dũng tướng Chanticleer. Hắn thậm chí còn mang tính bản địa hơn cả những kẻ bản xứ. Sức khỏe của hắn luôn tốt, phổi của hắn khỏe mạnh, tinh thần của hắn chẳng bao giờ suy sụp. Ngay cả người thủy thủ trên Đại Tây Dương và Thái Bình Dương cũng bị đánh thức bởi tiếng gọi của hắn; thế nhưng âm thanh lanh lảnh ấy lại chẳng bao giờ đánh thức tôi dậy khỏi giấc ngủ say. Tôi chẳng nuôi chó, mèo, bò, lợn hay gà mái nào cả, thế nên bạn có thể nói rằng nơi đây thiếu vắng những âm thanh gia đình; chẳng có tiếng bơ sữa, chẳng có tiếng khung cửi quay sợi, thậm chí chẳng có cả tiếng nước sôi reo trong ấm, tiếng xì xèo của bình trà, hay tiếng trẻ con khóc để an ủi lòng người. Một con người cổ hủ chắc đã mất trí hoặc chết vì chán nản trước cảnh này rồi. Thậm chí chẳng có cả chuột trong tường, bởi chúng đã chết đói, hay đúng hơn là chưa từng được nhử mồi vào — chỉ có sóc trên mái nhà và dưới sàn nhà, một chú chim bắt cô trõng trên thanh đỉnh mái, một con giẻ cùi đang kêu éc éc bên dưới cửa sổ, một chú thỏ rừng hoặc sóc đất ở dưới gầm nhà, một con cú mèo hoặc cú xám ở phía sau nhà, một đàn ngỗng trời hay một chú chim lặn cười trên mặt hồ, và một con chó sói xám sủa vào ban đêm. Thậm chí chẳng có lấy một con chim sơn ca hay chim hoàng yến, những loài chim đồn điền hiền lành ấy, từng ghé thăm bãi đất trống của tôi. Không có gà trống gáy cũng chẳng có gà mái cục tác trong sân. Làm gì có sân! Mà chỉ có Thiên nhiên hoang dã không rào chắn vươn đến tận bệ cửa nhà bạn. Một khu rừng non mọc lên ngay dưới những đồng cỏ của bạn, và những dây sumac hoang dã cùng mâm xôi đâm xuyên qua tận dưới tầng hầm của bạn; những cây thông nhựa cứng cáp cọ xát và kêu có kót vào những tấm ván lợp vì thiếu không gian, rễ của chúng vươn tận vào dưới gầm nhà. Thay vì một chiếc cửa thông gió hay tấm chớp bị thổi bay trong trận cuồng phong — là một cây thông bị quật gãy hoặc bật gốc ngay sau nhà bạn để làm củi đốt. Thay vì không có lối đi đến cổng sân trước trong trận Đại Tuyết — là không có cổng — không có sân trước — và không có lối đi dẫn về thế giới văn minh!

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Henry David Thoreau

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.