Khi viết những trang sau đây, hoặc phần lớn trong số đó, tôi sống một mình trong chốn rừng sâu, cách nhà người hàng xóm gần nhất một dặm, trong một ngôi nhà do chính tay tôi dựng lên bên bờ hồ Walden, tại Concord, bang Massachusetts, và kiếm sống hoàn toàn bằng sức lao động của đôi tay. Tôi đã sống ở đó hai năm hai tháng. Hiện tại, tôi lại đang là một kẻ tha hương chốn đời sống văn minh.
Tôi sẽ không bày tỏ chuyện riêng tư của mình cho độc giả nếu không có những người đồng hương dò hỏi rất tỉ mỉ về lối sống của tôi — điều mà một số người có thể gọi là bất lịch sự, dẫu với tôi thì chúng chẳng hề bất lịch sự chút nào, mà trái lại, xét theo hoàn cảnh lúc bấy giờ, lại rất đỗi tự nhiên và thích đáng. Có người hỏi tôi ăn món gì; có thấy cô đơn không; có sợ hãi không, và đại loại như thế. Lại có những người tò mò muốn biết tôi dành bao nhiêu phần trăm thu nhập cho việc từ thiện; và một số người đông con thì hỏi tôi nuôi dưỡng bao nhiêu đứa trẻ nghèo. Do đó, tôi xin những độc giả nào không có hứng thú đặc biệt với cá nhân tôi hãy rộng lượng tha thứ, nếu tôi mạo muội giải đáp một số thắc mắc ấy ngay trong cuốn sách này. Ở hầu hết các sách khác, đại từ "tôi" (ngôi thứ nhất) thường bị lược bỏ; nhưng ở cuốn sách này, nó sẽ được giữ lại; xét về khía cạnh tính tự cao, đó chính là điểm khác biệt cốt yếu. Thông thường, chúng ta hay quên rằng suy cho cùng, bao giờ cũng chính là ngôi thứ nhất đang lên tiếng. Tôi sẽ không nói về bản thân mình nhiều đến thế nếu có ai khác mà tôi hiểu rõ bằng. Đáng tiếc thay, sự hạn hẹp trong trải nghiệm đã trói buộc tôi vào đề tài này. Hơn nữa, về phần mình, sớm muộn gì tôi cũng đòi hỏi ở mỗi nhà văn một bản tường thuật chân thành và giản dị về chính cuộc đời họ, chứ không chỉ là những điều họ nghe được về cuộc đời của kẻ khác; một bản tường thuật tựa như những dòng thư họ gửi cho người thân từ một vùng đất xa xôi — bởi vì nếu anh ta đã sống một cách chân thành, thì đối với tôi, người đó ắt hẳn phải sống ở một phương trời xa cách. Có lẽ những trang viết này hướng nhiều hơn đến những học sinh nghèo khó. Còn với những độc giả khác, họ sẽ đón nhận những phần nào phù hợp với bản thân mình. Tôi tin rằng sẽ không ai phải cố rướn người để chui vào chiếc áo không vừa, bởi vì nó có thể phục vụ rất đắc lực cho những ai vừa vặn với nó.
Tôi rất muốn nói đôi điều, không phải về người Trung Hoa hay người dân đảo Sandwich, mà chính là về các bạn — những độc giả đang lướt qua những trang này, những người được cho là đang sinh sống tại New England; đôi điều về hoàn cảnh của các bạn, đặc biệt là hoàn cảnh bề ngoài hay điều kiện sống của các bạn ở thế giới này, tại thị trấn này: nó ra sao, liệu có nhất thiết phải tồi tệ đến thế không, và liệu có thể cải thiện được hay không. Tôi đã đi lại rất nhiều nơi trong vùng Concord; và ở bất cứ đâu, từ cửa hàng, văn phòng cho đến đồng áng, những người dân nơi đây đều hiện lên trong mắt tôi như thể đang chịu đựng hình phạt qua hàng ngàn cách thức kỳ lạ. Những gì tôi từng nghe về các tu sĩ Bà-la-môn ngồi phơi mình trước bốn ngọn lửa và ngẩng mặt nhìn mặt trời; hay treo lủng lẳng đầu chúc xuống dưới ngọn lửa; hay ngẩng nhìn bầu trời qua vai “cho đến khi cổ cứng đờ không thể trở về tư thế tự nhiên, trong khi sự vặn vẹo của chiếc cổ khiến chẳng thứ gì ngoài chất lỏng có thể trôi vào dạ dày”; hoặc sống xiềng xích suốt đời dưới gốc cây; hoặc dùng thân mình đo lường chiều rộng của những đế chế rộng lớn như sâu đo; hoặc đứng bằng một chân trên đỉnh những cây cột — thậm chí ngay cả những hình thức tự hành xác có ý thức ấy cũng chẳng mấy khó tin và kinh ngạc hơn những cảnh tượng mà tôi chứng kiến hàng ngày là mấy. Mười kỳ công của Hercules chỉ là chuyện vặt vãnh so với những gánh nặng mà những người hàng bởi láng giềng của tôi đã gánh vác; vì chúng chỉ có mười và đều có hồi kết, thế nhưng tôi chưa từng thấy những con người này tiêu diệt hay bắt giữ nổi một con quái vật nào, hoặc hoàn thành được một công việc cho đến nơi đến chốn. Họ chẳng có lấy một người bạn như Iolas để dùng sắt nung đốt cháy tận gốc chiếc đầu của con quái vật Hydra, mà hễ cái đầu này vừa bị nghiền nát thì ngay lập tức hai cái đầu khác lại mọc lên.
Tôi thấy những thanh niên, những người đồng hương của tôi, mang nỗi bất hạnh là được thừa kế ruộng đất, nhà cửa, chuồng trại, gia súc và nông cụ; bởi vì những thứ đó dễ vướng vào thân hơn là vứt bỏ đi. Sẽ tốt hơn biết mấy nếu họ được sinh ra ngoài đồng cỏ hoang và bú sữa sói, để họ có thể nhìn rõ hơn bằng đôi mắt tinh anh rằng mình được gọi đến để cày cuông trên mảnh ruộng nào. Ai đã biến họ thành những kẻ nông nô gắn liền với đất đai? Cớ sao họ phải nhọc nhằn gặm nhấm sáu mươi mẫu đất của mình, trong khi con người ta từ xưa đã bị kết án là chỉ phải ăn hết một vạ đất của đời mình? Sao họ lại phải bắt đầu đào mồ chôn mình ngay từ khi vừa lọt lòng? Họ phải sống một cuộc đời trượng phu, đẩy tất cả những gánh nặng ấy đi trước mặt và ráng xoay sở sao cho tốt nhất có thể. Biết bao linh hồn tội nghiệp khốn khổ mà tôi từng gặp suýt bị đè bẹp và ngộp thở dưới đống tải của chính mình, lê lết dọc theo con đường đời, đẩy lứa chuồng trại rộng bảy mươi lăm nhân bốn mươi thước trước mặt — với cái chuồng ngựa Augean chưa bao giờ được tẩy uế — cùng với một trăm mẫu đất gồm ruộng cày, đồng cỏ và rừng cây! Trong khi đó, những kẻ tay trắng chẳng phải vật lộn với những gánh nặng thừa kế vô ích ấy lại thấy việc chinh phục và cày xới vài thước khối thịt da của chính mình đã là đủ nhọc nhằn rồi.
Nhưng con người ta lao động trong một sự lầm lạc. Phần tốt đẹp nhất của con người chẳng mấy chốc sẽ bị cày vùi vào lòng đất để làm phân bón. Do một thứ định mệnh hiển nhiên mà người ta thường gọi là sự cần thiết, họ bị sai khiến — đúng như lời trong một cuốn sách cổ — để tích lũy những kho báu bị mối mọt đục khoét, gỉ sét tàn phá và kẻ gian phá tường vào trộm mất. Đó là cuộc đời của một kẻ ngốc, như họ sẽ nhận ra khi đi đến tận cùng của nó, nếu không muốn nói là sớm hơn. Người ta kể rằng Deucalion và Pyrrha đã tạo ra con người bằng cách ném những hòn đá qua đầu ra phía sau lưng họ:—
Inde genus durum sumus, experiensque laborum,
Et documenta damus quâ simus origine nati.
Hoặc, theo cách gieo vần vang dội của Raleigh,—
“Từ đó giống người ta cứng cỏi, chịu đựng muôn vàn nỗi đắng cay,
Chứng minh rằng thân xác chúng ta vốn mang bản chất của đá dày.”
Thế đấy, đó là kết cục của sự mù quáng tuân theo một lời sấm truyền ngớ ngẩn, ném những hòn đá qua đầu ra phía sau mà chẳng thèm nhìn xem chúng rơi vào đâu.
Hầu hết mọi người, ngay cả ở đất nước tương đối tự do này, vì sự dốt nát và lầm lạc đơn thuần, lại quá bận tâm đến những nỗi lo toan giả tạo và những công việc thô tục thừa thãi của cuộc đời, khiến họ chẳng thể hái được những trái ngọt thanh tao hơn. Ngón tay của họ, vì lao động quá mức, đã trở nên thô kệch và run rẩy quá đỗi để làm điều đó. Trên thực tế, người lao động chẳng có lấy chút thời gian rảnh rỗi để giữ gìn sự chính trực đích thực dẫu chỉ qua từng ngày; anh ta không đủ khả năng để duy trì mối quan hệ nam nhi cao cả nhất với mọi người; lao động của anh ta sẽ bị mất giá trên thương trường. Anh ta chẳng có thời gian để làm bất cứ thứ gì khác ngoài việc hóa thành một cỗ máy. Làm sao một kẻ phải dùng đến kiến thức quá thường xuyên lại có thể ghi nhớ thấu đáo sự vô minh của mình — thứ mà sự trưởng thành của anh ta đòi hỏi? Đôi khi, chúng ta nên cho họ ăn mặc miễn phí, và hồi sức cho họ bằng những loại rượu bổ, trước khi đưa ra phán xét về họ. Những phẩm chất tuyệt vời nhất trong bản tính chúng ta, tựa như lớp phấn hoa trên trái cây, chỉ có thể được gìn giữ bằng sự nâng niu tinh tế nhất. Thế nhưng chúng ta lại chẳng hề đối xử dịu dàng với chính mình cũng như với người khác như vậy.
Tất cả chúng ta đều biết, một số người trong các bạn rất nghèo, thấy khó bề sinh sống, đôi khi có cảm giác như đang hít thở không ra hơi. Tôi không hề nghi ngờ gì việc một số độc giả đang đọc cuốn sách này không có khả năng chi trả cho tất cả những bữa ăn mà họ đã thực sự nuốt vào bụng, hay cho những chiếc áo khoác và đôi giày đang rách tả tơi hoặc đã mòn vẹt, và đành phải lật đến trang sách này để tiêu xài quỹ thời gian đi mượn hoặc ăn cắp, cướp đi của các chủ nợ của mình một tiếng đồng hồ. Thật quá rõ ràng là biết bao người trong số các bạn đang sống những cuộc đời hèn m hạ và lén lút, bởi tầm nhìn của tôi đã được rèn giũa qua trải nghiệm; luôn sống bên bờ vực, chật vật tìm cách làm ăn và chật vật ngụp lặn khỏi đợt nợ nần — một vũng bùn lầy cổ xưa mà người La tinh gọi là *æs alienum*, tức món tiền của kẻ khác, bởi vì một số đồng tiền của họ từng được đúc bằng đồng thau; cứ thế sống, rồi chết, rồi được chôn cất bằng chính món tiền của kẻ khác ấy; luôn hứa hẹn sẽ trả, hứa hẹn sẽ trả vào ngày mai, để rồi chết đi trong ngày hôm nay khi đã khánh kiệt; tìm cách nịnh bợ, lấy lòng để mưu cầu khách hàng qua biết bao nhiêu cách thức, chỉ thiếu điều phạm tội trót lọt ở nhà tù tiểu bang; nói dối, nịnh hót, bỏ phiếu, thu mình lại trong vỏ ốc của sự lịch thiệp hoặc phình to ra trong bầu không khí của sự hào phóng phù phiếm và mỏng manh, cốt sao thuyết phục được người hàng xóm cho phép mình được may giày, may mũ, may áo khoác, may xe ngựa cho họ, hoặc nhập khẩu hàng tạp hóa giúp họ; tự hành hạ bản thân đến mức ngã bệnh để dành dụm chút ít phòng khi gió sương đau ốm, cất giấu trong một chiếc rương cũ, hoặc trong chiếc bít tất nhét sau vách trát tường, hay an toàn hơn là gửi vào ngân hàng gạch; chẳng cần biết ở đâu, chẳng cần biết nhiều hay ít.
Đôi khi tôi tự hỏi làm sao chúng ta lại có thể nông nổi — gần như có thể nói là hời hợt — đến mức đi quan tâm đến hình thức nô lệ thô thiển nhưng có phần xa lạ được gọi là Nô lệ da đen, trong khi có biết bao nhiêu tên chủ tàn nhẫn và xảo quyệt đang bắt cả miền Bắc lẫn miền Nam làm nô lệ cho chúng. Có một ông chủ đồn điền miền Nam đã khổ; có một ông chủ miền Bắc lại càng tồi tệ hơn; nhưng tồi tệ nhất trong tất cả là khi chính bạn lại là kẻ cầm roi quất ngựa bắt bản thân mình làm nô lệ. Lại còn bày đặt bàn về thần tính ở con người! Hãy nhìn người đánh xe trên xa lộ, lủi thủi đi về phía chợ búa ngày hay đêm xem: có chút thần tính nào cựa quậy trong lòng anh ta không? Nhiệm vụ tối cao của anh ta là cho ngựa ăn và cho chúng uống nước! Định mệnh của anh ta là gì so với ngành vận tải biển? Chẳng phải anh ta đang đánh xe cho Quý ông Làm-chuyện-ồn-ào đó sao? Anh ta mới thần thánh làm sao, bất tử làm sao! Hãy nhìn cách anh ta co ro và luồn cúi, cách anh ta nơm nớp sợ hãi suốt cả ngày — không phải vì bản thân bất tử hay thần thánh, mà vì là nô lệ và tù nhân cho chính quan niệm của anh ta về bản thân mình, một thứ danh tiếng do chính hành động của anh ta tạo ra. Công luận chỉ là một thứ bạo chúa yếu ớt so với quan điểm riêng tư của chính chúng ta. Suy nghĩ của một người về bản thân mình, chính điều đó mới quyết định, hay đúng hơn là chỉ ra số phận của anh ta. Sự tự giải phóng — ngay cả trong các tỉnh hạt Tây Ấn của sự tưởng tượng và hình dung — thì đâu là bậc Wilberforce có thể mang lại điều đó? Hãy nghĩ xem, cả những người phụ nữ trong xứ sở này đang miệt mài thêu thùa những chiếc gối trang điểm cho ngày tận thế, cốt để không làm lộ rõ một sự quan tâm quá ngây thơ đối với số phận của họ! Cứ như thể bạn có thể giết chết thời gian mà không làm tổn hại đến cõi vĩnh hằng.
Đông đảo quần chúng đang sống những cuộc đời tuyệt vọng trong lặng thỉu. Cái gọi là sự nhẫn nhục hóa ra lại là sự tuyệt vọng đã bén rễ sâu xa. Từ một thành phố ngập tràn tuyệt vọng, bạn bước ra vùng thôn dã cũng tuyệt vọng không kém, để rồi phải tự an ủi mình bằng sự can đảm của loài chồn vizon và chuột xạ hương. Một nỗi tuyệt vọng rập khuôn nhưng vô thức thậm chí còn được che giấu đằng sau những thứ gọi là trò chơi và tiêu khiển của nhân loại. Chẳng hề có chút sự vui đùa thực sự nào trong đó, bởi vì vui chơi chỉ đến sau lao động. Nhưng đặc trưng của sự khôn ngoan là không làm những chuyện tuyệt vọng.
Khi chúng ta suy ngẫm về việc — mượn lời của sách giáo lý — mục đích tối cao của con người là gì, đâu là những nhu yếu phẩm và phương tiện đích thực của cuộc sống, thì có vẻ như con người đã cố tình lựa chọn lối sống thông thường chỉ vì họ thích nó hơn bất kỳ lối sống nào khác. Thế nhưng họ vẫn thành tâm nghĩ rằng mình chẳng còn sự lựa chọn nào khác. Tuy nhiên, những bản tính lanh lẹ và khỏe mạnh vẫn nhớ rằng mặt trời từng mọc lên rực rỡ. Chẳng bao giờ là quá muộn để từ bỏ những thành kiến của chúng ta. Bất kỳ cách nghĩ hay cách làm nào, dù có cổ xưa đến đâu đi nữa, cũng không thể được tin tưởng nếu không có bằng chứng. Những gì mọi người cùng tung hô hoặc im lặng lướt qua như một chân lý ngày hôm nay, rất có thể ngày mai sẽ hóa thành lời dối trá, chỉ là làn khói của ý kiến mà một số người từng lầm tưởng là đám mây sẽ rưới những giọt mưa màu mỡ xuống cánh đồng của họ. Những điều mà người già bảo bạn không làm được, bạn hãy thử xem và sẽ thấy rằng mình làm được. Việc cũ dành cho người già, và việc mới dành cho người trẻ. Xưa kia người ta từng không đủ khôn ngoan, có lẽ thế, để mang củi tươi về nhóm lửa sưởi ấm; còn người trẻ thời nay thì đặt một chút củi khô dưới cái nồi, để rồi vút bay vòng quanh quả địa cầu với tốc độ của loài chim — theo cách nói khiến người già phải khiếp sợ. Tuổi tác chẳng có tư cách làm thầy tốt hơn tuổi trẻ, và hầu như chẳng bằng nổi, bởi vì nó mất mát nhiều hơn là thu vén được. Người ta thậm chí có thể hoài nghi không biết kẻ khôn ngoan nhất có học hỏi được điều gì có giá trị tuyệt đối qua cuộc đời này không. Trên thực tế, người già chẳng có lời khuyên nào thực sự quan trọng dành cho giới trẻ, bởi trải nghiệm của chính họ quá ư phiến diện, và cuộc đời họ, vì những lý do cá nhân nào đó, là những chuỗi thất bại thảm hại — điều mà họ buộc phải tin; và rất có thể họ vẫn còn sót lại chút niềm tin nào đó mâu thuẫn với chính trải nghiệm ấy, để rồi họ chỉ là bớt trẻ đi so với trước mà thôi. Tôi đã sống trên hành tinh này khoảng ba mươi năm, nhưng vẫn chưa được nghe dù chỉ một âm tiết khuyên răn có giá trị hay thậm chí là chân thành từ những bậc tiền bối của mình. Họ chẳng bảo tôi điều gì, và có lẽ cũng chẳng thể bảo tôi điều gì trúng mục đích cả. Đời người đây, một cuộc thử nghiệm mà phần lớn tôi chưa từng trải qua; nhưng việc họ đã từng trải qua nó chẳng giúp ích gì cho tôi cả. Nếu tôi có bất kỳ trải nghiệm nào mà mình cho là có giá trị, tôi chắc chắn sẽ nhận ra rằng các bậc thầy (Mentors) của tôi chưa từng đả động đến nó.
Một người nông dân bảo tôi rằng: “Anh không thể sống chỉ bằng thức ăn thực vật được, bởi vì nó chẳng cung cấp thứ gì để tạo nên xương cốt cả”; và thế là ông ta thành kính dành một phần thời gian trong ngày để cung cấp nguyên liệu thô tạo xương cho cơ thể mình; vừa đi vừa nói chuyện phía sau bầy bò — những con vật với bộ xương được tạo từ rau củ, đang lê lết kéo theo ông ta cùng cỗ cày nặng nhọc vượt qua mọi chướng ngại vật. Có những thứ thực sự là nhu yếu phẩm của cuộc sống trong một số giới tầng vô vọng và bệnh hoạn nhất, nhưng ở những giới tầng khác thì chúng chỉ là xa hoa phẩm, và ở những nơi khác nữa thì hoàn toàn xa lạ.
Toàn bộ bức tranh về đời người dường như đối với một số người đã được những kẻ tiền nhiệm đi qua hết, từ đỉnh cao cho đến thung lũng, và mọi thứ đều đã được lo liệu chu đáo. Theo Evelyn, “nhà thông thái Solomon đã đặt ra những quy định cho từng khoảng cách giữa các cây trồng; và các vị pháp quan La Mã đã định đoạt việc bạn được phép sang đất hàng xóm nhặt những quả sồi rụng trên đó bao nhiêu lần mà không bị coi là xâm phạm, và phần nào thuộc về người hàng xóm ấy”. Hippocrates thậm chí còn để lại hướng dẫn về cách cắt móng tay của chúng ta; nghĩa là cắt bằng với đầu ngón tay, không ngắn hơn cũng không dài hơn. Chẳng nghi ngờ gì nữa, chính sự tẻ nhạt và chán chường từng tự cho là đã vắt kiệt mọi sự phong phú và niềm vui của cuộc sống này vốn đã cổ xưa hệt như thời Adam. Nhưng năng lực của con người chưa bao giờ được đo lường; chúng ta cũng không thể phán xét những gì con người có thể làm dựa trên bất kỳ tiền lệ nào, bởi vì họ đã thử nghiệm quá ít. Dù những thất bại của anh cho đến nay là gì đi nữa, “chớ có buồn phiền, hỡi đứa con của ta, vì ai có thể định đoạt thay cho ngươi những gì ngươi chưa hoàn thành?”
Chúng ta có thể thử thách cuộc đời mình qua hàng ngàn bài trắc nghiệm đơn giản; chẳng hạn như việc cùng một vầng thái dương làm chín những hạt đậu của tôi cũng đồng thời chiếu sáng cả một hệ thống các trái đất giống như chúng ta. Nếu tôi nhớ được điều này, nó đã có thể ngăn chặn được một số sai lầm. Đó không phải là ánh sáng mà tôi dùng để vun xới chúng. Những vì sao là đỉnh của những tam giác kỳ diệu biết bao! Những sinh mệnh ở những cõi xa xôi và khác biệt trong các dinh thự khác nhau của vũ trụ đang ngắm nhìn cùng một vì sao ấy vào cùng một khoảnh khắc! Tự nhiên và đời người cũng đa dạng hệt như thể tạng của từng người chúng ta. Ai dám nói cuộc đời mở ra viễn cảnh gì cho người khác? Liệu có phép màu nào lớn lao hơn việc chúng ta được nhìn qua đôi mắt của nhau dẫu chỉ trong một khoảnh khắc? Chúng ta sẽ sống qua mọi thời đại của thế gian chỉ trong một giờ; vâng, qua mọi thế giới của muôn thuở. Lịch sử, Thi ca, Thần thoại! — tôi chẳng biết có việc đọc hiểu trải nghiệm của kẻ nào lại gây chấn động và mở mang tầm mắt đến thế.
Phần lớn những điều mà những người hàng xóm gọi là tốt đẹp thì trong thâm tâm tôi lại cho là xấu xa, và nếu tôi có hối hận về điều gì, thì rất có thể đó lại là sự cư xử đúng mực của mình. Con quỷ nào đã ám tôi để tôi lại cư xử ngoan ngoãn đến thế cơ chứ? Các ông có thể thốt ra những lời khôn ngoan nhất có thể, hỡi những cụ già — những người đã sống bảy mươi năm cuộc đời, không phải là không có chút danh dự — nhưng tôi vẫn nghe thấy một tiếng gọi không thể chối từ đang vẫy gọi tôi rời xa tất cả những thứ đó. Thế hệ này rồi sẽ bỏ lại những công cuộc của thế hệ khác y như những con tàu mắc cạn.
Tôi nghĩ rằng chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng nhiều hơn thế rất nhiều. Chúng ta có thể bớt đi một chút lo toan cho bản thân để thành tâm vun đắp cho những nơi khác. Tự nhiên thích ứng với sự yếu đuối của chúng ta cũng tốt hệt như với sự mạnh mẽ vậy. Sự lo lắng và căng thẳng không dứt của một số người là một thứ bệnh trạng gần như vô phương cứu chữa. Chúng ta bị tạo ra để phóng đại tầm quan trọng của công việc mình làm; thế nhưng có biết bao nhiêu việc lại không phải do chúng ta làm! Hoặc giả như chúng ta đổ bệnh thì sao? Chúng ta mới cảnh giác làm sao! Nhất quyết không chịu sống bằng đức tin nếu có thể tránh được; suốt cả ngày thì lanh lẹ cảnh giác, để rồi đến đêm lại miễn cưỡng đọc lời cầu nguyện và phó thác bản thân cho những điều bất định. Chúng ta bị buộc phải sống một cách triệt để và chân thành đến thế, tôn kính cuộc đời mình và phủ nhận khả năng thay đổi. Chúng ta bảo rằng đây là con đường duy nhất; nhưng thực ra có vô số con đường cũng như người ta có thể vẽ ra vô số bán kính từ một tâm điểm. Mọi sự thay đổi đều là một phép màu khi ta ngắm nhìn nó; nhưng đó là phép màu diễn ra trong từng khoảnh khắc. Khổng Tử từng nói: “Biết rằng mình biết những gì mình biết, và biết rằng mình không biết những gì mình không biết, đó mới là tri thức thực sự.” Khi một con người đã biến một sự kiện của tưởng tượng thành một sự kiện trong sự hiểu biết của mình, tôi đoán trước rằng cuối cùng mọi người rồi cũng sẽ đặt nền móng cuộc đời họ trên cơ sở đó.
Chúng ta hãy cùng suy ngẫm trong chốc lát xem phần lớn những phiền muộn và lo âu mà tôi vừa nhắc đến xoay quanh điều gì, và chúng ta cần phải phiền muộn hay ít nhất là lo lắng đến mức độ nào. Sẽ là một lợi thế khi được sống một cuộc đời nguyên thủy và hoang sơ, dẫu ở giữa một nền văn minh bề ngoài, chí ít là để học hỏi đâu là những nhu yếu phẩm thô sơ của cuộc đời và người ta đã dùng những phương pháp nào để đạt được chúng; hoặc thậm chí để lướt qua những cuốn sổ ghi chép cũ của các thương gia, xem xét điều gì là thứ mà người ta thường mua nhất ở các cửa hàng, những gì họ tích trữ, nghĩa là đâu là những mặt hàng tạp hóa thô sơ nhất. Bởi vì những cải tiến qua hàng thế kỷ hầu như chẳng có mấy ảnh hưởng đến các quy luật cốt lõi trong sự tồn tại của con người; cũng giống như bộ xương của chúng ta, có lẽ chẳng khác biệt là bao so với xương cốt của tổ tiên chúng ta.
Qua cụm từ “nhu yếu phẩm của cuộc sống”, ý tôi là bất cứ thứ gì, trong số tất cả những gì con người đạt được bằng nỗ lực của chính mình, từ lâu đời hoặc qua thời gian sử dụng lâu dài đã trở nên vô cùng quan trọng đối với đời sống con người đến mức hầu như ít ai — dù là vì bản tính hoang dã, sự nghèo khó hay triết lý — dám cả gan thiếu vắng nó. Đối với nhiều sinh vật, theo nghĩa này, chỉ có duy nhất một nhu yếu phẩm của cuộc sống: Thức ăn. Đối với loài bò rừng thảo nguyên, đó là vài tấc cỏ ngon lành kèm theo nước uống; trừ khi chúng tìm kiếm sự che chở trong rừng sâu hay bóng râm của núi non. Không một loài sinh vật vô tri nào đòi hỏi nhiều hơn Thức ăn và Nơi trú ẩn. Nhu yếu phẩm của cuộc sống đối với con người trong khí hậu này có thể được phân loại một cách khá chính xác dưới các mục: Thức ăn, Nơi trú ẩn, Quần áo và Nhiên liệu; bởi vì chỉ khi đã đảm bảo được những thứ này, chúng ta mới sẵn sàng đương đầu với những vấn đề thực sự của cuộc sống một cách tự do và có viễn cảnh thành công. Con người không chỉ phát minh ra nhà cửa, mà còn cả quần áo và thức ăn nấu chín; và có lẽ từ sự tình cờ phát hiện ra sự ấm áp của ngọn lửa cùng việc sử dụng nó — thoạt đầu là một thứ xa hoa — đã sinh ra nhu cầu hiện tại là phải ngồi quây quần bên nó. Chúng ta quan sát thấy mèo và chó cũng dần có được bản năng thứ hai ấy. Nhờ có Nơi trú ẩn và Quần áo thích hợp, chúng ta giữ lại được thân nhiệt bên trong một cách hợp pháp; nhưng với sự dư thừa của những thứ này, hoặc của Nhiên liệu — nghĩa là với một sức nóng bên ngoài lớn hơn thân nhiệt bên trong của chúng ta — thì chẳng phải việc nấu nướng có thể được xem là đã bắt đầu từ đó sao? Darwin, nhà tự nhiên học, đã kể về những cư dân ở Tierra del Fuego rằng, trong khi nhóm của chính ông, những kẻ ăn mặc ấm áp và ngồi sát bên đống lửa, vẫn còn cách xa sự ấm áp, thì những kẻ dã man ở trần này — những kẻ đứng ở xa hơn — lại được quan sát thấy “đang đầm đìa mồ hôi vì phải chịu đựng cảnh bị quay như quay thịt”, khiến ông vô cùng kinh ngạc. Thế đấy, người ta bảo rằng thổ dân New Holland đi ở trần mà chẳng hề hấn gì, trong khi người châu Âu lại run lẩy bẩy trong lớp quần áo. Liệu có bất khả thi khi kết hợp sự dẻo dai của những kẻ dã man ấy với tính trí tuệ của con người văn minh không? Theo Liebig, cơ thể con người là một cái bếp lò, và thức ăn là nhiên liệu duy trì quá trình đốt cháy bên trong buồng phổi. Vào mùa lạnh, chúng ta ăn nhiều hơn, mùa ấm ăn ít hơn. Thân nhiệt động vật là kết quả của một quá trình đốt cháy chậm, và bệnh tật cùng cái chết sẽ xảy ra khi quá trình này diễn ra quá nhanh; hoặc do thiếu nhiên liệu, hoặc do trục trặc đường ống gió khiến ngọn lửa bị tắt ngấm. Dĩ nhiên không được nhầm lẫn thân nhiệt sự sống với ngọn lửa thông thường; nhưng ví von như thế là đủ hiểu. Do đó, từ danh sách trên, ta thấy biểu thức “đời sống động vật” gần như đồng nghĩa với biểu thức “thân nhiệt động vật”; bởi vì trong khi Thức ăn có thể được coi là Nhiên liệu duy trì ngọn lửa bên trong chúng ta — còn Nhiên liệu chỉ phục vụ cho việc chuẩn bị thức ăn đó hoặc làm tăng thêm độ ấm cho cơ thể từ các yếu tố bên ngoài — thì Nơi trú ẩn và Quần áo cũng chỉ đóng vai trò giữ lại lượng nhiệt được sinh ra và hấp thụ ấy mà thôi.
Do đó, nhu cầu tối thượng cho cơ thể chúng ta là giữ ấm, là giữ lại thân nhiệt bên trong. Chúng ta đã tốn biết bao tâm huyết không chỉ cho Thức ăn, Quần áo và Nơi trú ẩn, mà còn cho cả những chiếc giường — chính là y phục ban đêm của chúng ta — cướp bóc cả tổ và bầu ngực của loài chim để tạo ra chiếc ổ ẩn náu trong một nơi ẩn náu này, giống như loài chuột chũi có chiếc giường bằng cỏ và lá ở tận cùng hang của nó! Kẻ nghèo thường hay phàn nàn rằng đây là một thế giới lạnh giá; và cái lạnh — cả về thể xác lẫn xã hội — chính là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến phần lớn những nỗi đau bệnh của chúng ta. Mùa hè, ở một số vùng khí hậu, mang đến cho con người một thứ đời sống tựa chốn thiên đường Elysium. Nhiên liệu, ngoại trừ để nấu chín thức ăn, lúc đó trở nên thừa thãi; mặt trời chính là lò sưởi của anh ta, và nhiều loại trái cây được nấu chín vừa đủ bởi những tia nắng của nó; trong khi thức ăn nói chung phong phú hơn, dễ kiếm hơn, còn quần áo và nơi trú ẩn thì hoàn toàn hoặc một nửa trở thành thừa thãi. Ngày nay, và ở đất nước này, theo trải nghiệm của chính tôi, một vài dụng cụ — một con dao, một cái rìu, một cái xẻng, một chiếc xe cút kít, v.v. — và đối với những người ham học hỏi là ánh đèn dầu, văn phòng phẩm cùng quyền tiếp cận một vài cuốn sách, xếp ngay sau các nhu yếu phẩm và đều có thể đạt được với một cái chi phí vô cùng cỏn con. Thế nhưng một số kẻ kém khôn ngoan lại sang tận bên kia địa cầu, đến những vùng đất hoang dã và đầy bệnh tật, cống hiến cả mười hoặc hai mươi năm cuộc đời cho việc buôn bán, cốt chỉ để được sống — nghĩa là được giữ ấm một cách thoải mái — và cuối cùng chết tại New England. Những kẻ giàu có xa hoa không chỉ được giữ ấm một cách thoải mái mà còn nóng một cách bất tự nhiên; như tôi đã ngầm ý trước đó, dĩ nhiên họ bị quay chín theo đúng kiểu thời thượng.
Hầu hết các xa hoa phẩm và nhiều thứ được gọi là tiện nghi của cuộc sống không chỉ không thể thiếu, mà còn là những vật cản tích cực đối với sự thăng hoa của nhân loại. Xét về mặt xa hoa và tiện nghi, những bậc khôn ngoan nhất từ trước đến nay luôn sống một cuộc đời giản dị và đạm bạc hơn kẻ nghèo. Các nhà triết học cổ đại — Trung Hoa, Ấn Độ, Ba Tư và Hy Lạp — là một tầng lớp mà chẳng có lớp người nào nghèo hơn về mặt của cải vật chất, nhưng lại giàu có đến thế về mặt nội tâm. Chúng ta không biết nhiều về họ. Thật kỳ lạ là chúng ta lại biết về họ nhiều đến vậy. Điều tương tự cũng đúng với những nhà cải cách và ân nhân hiện đại hơn của nhân loại. Không ai có thể là một người quan sát vô tư hoặc khôn ngoan về đời sống con người nếu không đứng từ cao điểm của thứ mà chúng ta gọi là sự nghèo khó tự nguyện. Hệ quả của một đời sống xa hoa chính là sự xa hoa, dù là trong nông nghiệp, thương mại, văn học hay nghệ thuật. Ngày nay có rất nhiều kẻ mạo danh giáo sư triết học, chứ chẳng có mấy triết học gia thực thụ. Thế nhưng việc mạo nhận ấy thật đáng ngưỡng mộ, bởi vì đã từng có thời việc sống theo triết lý mới là điều đáng kính. Trở thành một triết học gia không đơn thuần là sở hữu những tư tưởng tinh tế, hay thậm chí là sáng lập ra một trường phái, mà là yêu mến sự khôn ngoan đến mức sống theo đúng những gì nó sai bảo: một cuộc đời giản dị, độc lập, cao thượng và đầy lòng tin. Đó là giải quyết một số vấn đề của cuộc sống, không chỉ trên lý thuyết mà còn trong thực tiễn. Thành công của các học giả và tư tưởng gia lớn thường là thành công kiểu bợ đỡ triều đình, chứ không phải vương giả hay hào hiệp. Họ chỉ xoay sở để sống bằng sự thỏa hiệp, thực hiện y như cách mà cha ông họ đã làm, và hoàn toàn không phải là tổ tiên của một giống loài người cao quý hơn. Nhưng tại sao con người cứ mãi suy đồi? Điều gì khiến các dòng họ lụi tàn? Bản chất của sự xa hoa làm suy nhược và hủy diệt các quốc gia là gì? Chúng ta có chắc rằng không có chút xa hoa nào trong chính cuộc đời mình không? Nhà triết học luôn đi trước thời đại ngay cả trong hình thức bề ngoài của cuộc sống. Anh ta không được nuôi dưỡng, che chở, mặc quần áo hay sưởi ấm giống như những người đồng thời của mình. Làm sao một con người có thể là triết học gia mà lại không duy trì thân nhiệt của mình bằng những phương pháp tốt hơn những kẻ khác?
Khi một người được sưởi ấm bằng những phương pháp mà tôi đã mô tả, anh ta sẽ muốn gì tiếp theo? Chắc chắn không phải là nhiều sự ấm áp hơn theo cùng một kiểu, như là nhiều thức ăn ngon hơn, những ngôi nhà lớn hơn và lộng lẫy hơn, quần áo đẹp hơn và phong phú hơn, những ngọn lửa rực rỡ, liên hồi và nóng bỏng hơn, và đại loại thế. Khi đã có được những thứ cần thiết cho cuộc sống, anh ta đứng trước một lựa chọn khác thay vì cứ đâm đầu vào việc vơ vét những thứ thừa thãi; đó chính là dấn thân vào cuộc sống, lúc này kỳ nghỉ phép khỏi những lao động tầm thường đã bắt đầu. Đất đai, xem ra, rất phù hợp với hạt giống, bởi vì nó đã phóng rễ sâu xuống đất, và giờ đây nó cũng có thể tự tin vươn chồi lên cao. Cớ sao con người lại bám rễ sâu vào lòng đất như vậy, nếu không phải để vươn lên tương xứng vào bầu trời bao la bên trên? — bởi vì những loài cây cao quý được trân trọng vì thứ quả cuối cùng chúng mang lại trên bầu trời và ánh sáng, ở rất xa mặt đất, chứ không được đối xử giống như những loại rau củ thấp kém — dẫu chúng có là cây hai năm đi chăng nữa — chỉ được trồng trọt cho đến khi hoàn thiện bộ rễ, và phần lớn thường bị cắt đứt ngọn vì mục đích đó, khiến hầu hết mọi người chẳng thể nhận ra chúng vào mùa trổ bông.
Tôi không có ý định áp đặt quy tắc cho những bản tính mạnh mẽ và dũng cảm — những kẻ sẽ tự lo liệu việc của mình dù ở thiên đường hay địa ngục, và có lẽ còn xây dựng lộng lẫy hơn và tiêu xài hoang phí hơn cả những kẻ giàu có nhất mà chẳng bao giờ khiến bản thân nghèo đi, dẫu chẳng biết họ sống bằng cách nào — nếu quả thực có những con người như thế tồn tại như người ta vẫn hằng mơ tưởng; cũng như tôi không áp đặt cho những ai tìm thấy sự khích lệ và nguồn cảm hứng ngay trong chính tình trạng hiện tại của sự vật, và nâng niu nó bằng sự say mê và nhiệt huyết của những kẻ đang yêu — và ở một mức độ nào đó, tôi cũng tự xếp mình vào số này; tôi không nói với những ai đang làm việc hữu ích, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, và tự họ biết rõ mình có đang làm việc hữu ích hay không; — mà chủ yếu tôi nhắm tới đại đa số những người đang bất mãn, và chỉ biết buông tiếng thở dài lười biếng phàn nàn về số phận hẩm hiu hay thời buổi ngặt nghèo, trong khi chính họ có thể cải thiện chúng. Có những kẻ phàn nàn một cách quyết liệt và vô vọng nhất, bởi vì theo như họ nói, họ đang làm tròn bổn phận của mình. Tôi cũng đang nghĩ đến cái tầng lớp tưởng chừng giàu có nhưng lại nghèo túng thảm hại nhất trong tất cả: những kẻ đã tích lũy đầy đống rác rưởi vàng thau nhưng lại chẳng biết cách sử dụng hay vứt bỏ chúng, để rồi tự tay rèn nên những chiếc xiềng xích bằng vàng hoặc bằng bạc cho chính mình.
Nếu tôi mưu toan kể lại cách mà mình từng ao ước trải qua quãng đời đã qua, điều đó hẳn sẽ khiến những độc giả có phần quen thuộc với tiểu sử thực tế của tôi phải ngạc nhiên; và chắc chắn sẽ khiến những ai không biết gì về nó phải bàng hoàng. Tôi sẽ chỉ hé lộ đôi chút về những hoài bão mà tôi từng ấp ủ.
Bất kể thời tiết nào, vào bất kỳ giờ nào trong ngày hay đêm, tôi luôn khao khát chớp lấy khoảnh khắc đúng lúc và đánh dấu nó lên cây gậy của mình; được đứng ngay tại điểm giao nhau của hai cõi vĩnh hằng: quá khứ và tương lai — chính là khoảnh khắc hiện tại; được đặt ngón chân đúng ngay vạch kẻ ấy. Các bạn hãy lượng thứ cho một vài sự tối nghĩa, bởi vì nghề nghiệp của tôi có nhiều bí mật hơn nghề của hầu hết mọi người, dẫu chúng không hề được che giấu một cách cố ý, mà vốn là điều không thể tách rời khỏi bản chất của nó. Tôi rất sẵn lòng kể hết những gì mình biết về điều đó, và chẳng bao giờ treo tấm biển “Cấm vào” trên cánh cổng của mình.
Từ lâu lắm rồi, tôi đã thất lạc một con chó săn, một con ngựa tía và một con chim bồ câu rùa, và tôi vẫn đang lần theo dấu vết của chúng. Đã có rất nhiều lữ khách tôi từng trò chuyện về chúng, mô tả lại dấu chân của chúng và những tiếng kêu mà chúng đáp lại. Tôi đã gặp một hoặc hai người từng nghe tiếng chó săn, tiếng vó ngựa, thậm chí từng nhìn thấy con chim bồ câu khuất sau một đám mây, và họ tỏ ra sốt sắng muốn tìm lại chúng chẳng khác nào chính họ vừa làm mất vậy.
Đón đầu không chỉ ánh bình minh và buổi mai, mà nếu có thể, đón đầu cả Tự nhiên! Biết bao buổi sáng, dù là mùa hè hay mùa đông, khi chưa có người hàng xóm nào nhúc nhích bận rộn việc nhà, tôi đã bận rộn với công việc của mình! Chắc hẳn đã có không ít người đồng hương bắt gặp tôi khi đang trên đường trở về từ cuộc viễn du ấy: những người nông dân khởi hành đi Boston trong ánh chạng vạng, hay những tiều phu đang tiến về nơi làm việc. Sự thật là, tôi chưa từng góp sức đáng kể nào để giúp mặt trời mọc, nhưng tôi tin chắc rằng việc có mặt đúng lúc để chứng kiến điều đó mới là quan trọng bậc nhất.
Biết bao ngày mùa thu, vâng, và cả những ngày mùa đông, tôi đã lang thang bên ngoài thị trấn, cố gắng lắng nghe xem gió đang thổi hướng nào, để lắng nghe rồi mang tin tức về một cách cấp tốc! Tôi suýt đánh đổi toàn bộ vốn liếng của mình vào đó, thậm chí mất cả hơi thở của chính mình để bù vào, khi cứ cắm cổ chạy ngược chiều gió. Nếu đó là chuyện liên quan đến một trong hai đảng phái chính trị, các bạn cứ tin chắc rằng nó đã xuất hiện trên tờ *Gazette* cùng với những bản tin thời sự nóng hổi nhất rồi. Những lúc khác, tôi đứng canh gác từ đài quan sát của một mỏm đá hay ngọn cây nào đó, để phát tín hiệu về bất kỳ vị khách mới đến nào; hoặc chờ đợi lúc chiều tà trên những đỉnh đồi mong cho bầu trời sập xuống, để tôi có thể bắt được thứ gì đó — dẫu tôi chẳng bao giờ bắt được mấy, và nếu có thì nó cũng tan biến đi dưới ánh mặt trời tựa như bánh manna.
Trong một thời gian dài, tôi từng là phóng viên cho một tờ báo có độ phát hành chẳng mấy rộng rãi, mà chủ bút của nó cho đến nay vẫn chưa thấy hứng thú để in ấn phần lớn những đóng góp của tôi; và y như số phận chung của các nhà văn, tôi chỉ nhận lại công sức lao động của mình thay cho tiền công. Tuy nhiên, trong trường hợp này, công sức của tôi chính là phần thưởng cho chính nó.
Trong nhiều năm, tôi tự phong cho mình chức vụ thanh tra bão tuyết và bão mưa, và tôi đã làm tròn trách nhiệm một cách tận tụy; là kỹ sư trắc địa, nếu không phải của những xa lộ thì cũng là của những lối mòn trong rừng và mọi con đường tắt băng qua các khu vườn, giữ cho chúng luôn thông thoáng, các khe suối được bắc cầu và đi lại được trong mọi mùa, nơi mà gót chân của công chúng đã minh chứng cho sự hữu ích của chúng.
Tôi đã chăm sóc đàn gia súc hoang dã trong thị trấn — những kẻ thường gây phiền toái không nhỏ cho một người chăn gia súc tận tụy bằng cách nhảy qua hàng rào; và tôi cũng để mắt đến những xó xỉnh ít ai lui tới của nông trại; dẫu tôi chẳng phải lúc nào cũng biết liệu hôm nay Jonas hay Solomon làm việc ở mảnh ruộng nào — đó không phải là việc của tôi. Tôi đã tưới nước cho cây nam việt quất đỏ, cây anh đào cát và cây sếu, cây thông đỏ và cây tần bì đen, nho trắng và hoa violet vàng — những loài suýt héo khô trong những mùa hạn hán.
Tóm lại, cứ thế tôi tiếp tục công việc trong một thời gian dài, tôi có thể nói điều này mà không chút khoe khoang, là tận tụy lo chuyện của mình, cho đến khi ngày càng rõ ràng rằng dẫu sao thì những người đồng hương cũng không chịu kết nạp tôi vào danh sách các viên chức thị trấn, cũng chẳng biến vị trí của tôi thành một chân chức nhàn hạ với khoản trợ cấp vừa phải. Sổ sách của tôi, mà tôi dám thề là đã ghi chép một cách cẩn trọng, thực ra chưa từng được kiểm toán, lại càng chưa từng được thông qua, hay được thanh toán và quyết toán. Tuy nhiên, tôi chẳng bận lòng về điều đó.
Cách đây không lâu, một người da đỏ lang thang đến bán giỏ xách tại nhà của một vị luật sư nổi tiếng ở vùng tôi ở. “Ông có muốn mua giỏ không?” hắn hỏi. “Không, chúng tôi không cần,” câu trả lời là thế. “Cái gì!” người da đỏ kêu lên khi bước ra khỏi cổng, “ý các ông là muốn bỏ đói chúng tôi chắc?” Từng nhìn thấy những người hàng xóm da trắng chăm chỉ của mình sống sung túc — rằng vị luật sư chỉ cần dệt nên những lập luận, thế là bằng một thứ phép màu nào đó, của cải và địa vị liền kéo đến — hắn đã tự nhủ: Ta sẽ đi làm ăn; ta sẽ đan giỏ; đó là việc ta có thể làm. Nghĩ rằng khi đan xong những chiếc giỏ là hắn đã hoàn thành phần việc của mình, và phần việc còn lại là của người da trắng mua chúng. Hắn chưa hề phát hiện ra rằng mình cần phải khiến cho việc mua giỏ của hắn trở nên đáng giá đối với người kia, hoặc ít nhất phải khiến người ta nghĩ rằng nó đáng giá, hay chế tạo ra một thứ gì khác mà việc mua nó là đáng đồng tiền bát gạo đối với họ. Tôi cũng từng đan một thứ giỏ có kết cấu tinh tế như thế, nhưng lại chẳng làm cho việc mua chúng trở thành đáng giá đối với bất kỳ ai. Tuy nhiên, trong trường hợp của tôi, tôi vẫn thấy việc đan chúng là đáng giá đối với chính mình, và thay vì học cách làm sao để người ta thấy đáng mua những chiếc giỏ của mình, tôi lại ngẫm nghĩ làm thế nào để né tránh sự cần thiết phải bán chúng. Cuộc đời mà người ta ca tụng và coi là thành công thực ra chỉ là một loại. Cớ sao chúng ta phải phóng đại bất kỳ một loại nào đó để rồi phớt lờ các loại khác?
Nhận thấy các đồng bào của mình chẳng đời nào trao cho tôi một góc nào trong tòa án, hay một chức linh mục phó xứ hay sinh kế nào khác, mà tôi phải tự xoay sở lấy, tôi liền hướng mặt về phía rừng sâu một cách quyết liệt hơn bao giờ hết, nơi tôi được biết đến nhiều hơn. Tôi quyết định kinh doanh ngay lập tức, thay vì chờ đợi để tích lũy số vốn thông thường, bằng cách sử dụng những nguồn lực vô cùng ít ỏi mà mình đã có sẵn. Mục đích của tôi khi đến hồ Walden không phải là để sống rẻ hay sống đắt đỏ ở đó, mà là để giải quyết một số công việc riêng tư với ít chướng ngại vật nhất; việc bị cản trở không hoàn thành được những điều đó chỉ vì thiếu một chút ý chí thông thường, một chút tinh thần dấn thân và tài năng kinh doanh, xét ra chẳng buồn tẻ bằng ngớ ngẩn.
Tôi vẫn luôn nỗ lực trau dồi những thói quen kinh doanh nghiêm ngặt; chúng là thứ không thể thiếu đối với bất kỳ ai. Nếu nghề buôn của bạn là với Thiên triều, thì một phòng kế toán nhỏ xíu ven bờ biển, ở một vùng hải cảng Salem nào đó, cũng đã đủ làm cơ ngơi kiên cố rồi. Bạn sẽ xuất khẩu những mặt hàng mà đất nước có sẵn, những sản phẩm hoàn toàn thuần nội địa, rất nhiều nước đá và gỗ thông cùng một ít đá hoa cương, luôn đi bằng những con tàu bản xứ. Đó sẽ là những chuyến mạo hiểm tốt đẹp. Tự mình giám sát từng chi tiết một; vừa làm hoa tiêu vừa làm thuyền trưởng, vừa là chủ tàu lẫn người bảo hiểm; vừa mua vừa bán lại vừa giữ sổ sách; đọc mọi bức thư nhận được và viết hoặc đọc mọi bức thư gửi đi; giám sát việc dỡ hàng nhập khẩu ngày lẫn đêm; có mặt ở nhiều vùng ven biển gần như cùng một lúc — thường thì những kiện hàng quý giá nhất lại được dỡ xuống bờ biển Jersey; — tự làm trạm điện tín cho chính mình, không mệt mỏi quét mắt khắp chân trời, trao đổi với mọi tàu bè qua lại ven bờ; duy trì dòng chảy hàng hóa đều đặn để cung cấp cho một thị trường xa xôi và đắt đỏ như thế; giữ cho bản thân luôn nắm bắt được tình hình thị trường, triển vọng chiến tranh và hòa bình ở mọi nơi, đồng thời đón đầu xu hướng thương mại và văn minh — tận dụng thành quả của mọi chuyến thám hiểm, sử dụng các tuyến đường thủy mới và mọi cải tiến trong hàng hải; — bản đồ phải được nghiên cứu, vị trí của các bãi đá ngầm cùng đèn hiệu và phao tiêu mới phải được xác định rõ, và cứ thế, cứ thế, các bảng logarit phải được hiệu chỉnh liên tục, bởi vì chỉ cần sai sót của một nhà tính toán nào đó là con tàu có thể đâm vào tảng đá ngầm thay vì cập bến một cầu tàu thân thiện — đó là số phận không thể kể hết của La Perouse; — phải cập nhật từng bước với khoa học phổ quát, nghiên cứu cuộc đời của mọi nhà thám hiểm và hoa tiêu vĩ đại, những nhà thừ thách vĩ đại và các thương gia từ Hanno và người Phoenicia cho đến tận thời đại chúng ta; tóm lại, phải kiểm kê hàng hóa định kỳ để biết tài chính mình đang đứng ở đâu. Đó là công việc thách thức năng lực của một con người — những bài toán về lãi lỗ, về lợi tức, về trọng lượng bì và hao hụt, cùng đủ mọi loại đo lường trong đó, đòi hỏi một vốn hiểu biết toàn diện.
Tôi từng nghĩ rằng hồ Walden sẽ là một địa điểm tuyệt vời để làm ăn, không chỉ vì tuyến đường sắt và ngành buôn bán nước đá; nó còn mang lại những lợi thế mà có lẽ công bố ra thì không khôn ngoan cho lắm; đó là một hải cảng tốt và một nền móng vững chắc. Không có những đầm lầy Neva nào cần phải san lấp; dẫu bạn phải luôn xây dựng trên những chiếc cọc do chính mình đóng xuống. Người ta đồn rằng một trận triều cường kết hợp với gió tây và băng trên sông Neva có thể xóa sổ thành phố St. Petersburg khỏi mặt đất này.
Vì công việc này sắp được khởi sự mà không có số vốn thông thường, nên có lẽ không dễ gì đoán được những phương tiện — vốn vẫn sẽ là thứ không thể thiếu đối với mọi canh bạc như thế — sẽ được kiếm ở đâu. Về phần Quần áo, để đi thẳng vào khía cạnh thực tế của vấn đề, có lẽ chúng ta thường bị dẫn dắt bởi sự ưa chuộng cái mới và sự bận tâm đến ánh nhìn của người đời khi mua sắm nó, hơn là vì một giá trị sử dụng đích thực. Kẻ nào có việc phải làm hãy ghi nhớ rằng mục đích của quần áo trước hết là để giữ lại thân nhiệt, và thứ hai, trong tình trạng xã hội này, là để che đậy sự khỏa thân, từ đó anh ta có thể tự phán định xem bao nhiêu phần của bất kỳ công việc cần thiết hay quan trọng nào có thể được hoàn thành mà không cần phải sắm thêm quần áo mới. Các vị vua và hoàng hậu — những người chỉ mặc một bộ trang phục đúng một lần dẫu nó được may bởi những thợ may hay thợ may áo choàng hoàng gia — không bao giờ có thể thấu hiểu sự thoải mái khi mặc một bộ đồ vừa vặn. Họ chẳng khác nào những con ngựa gỗ dùng để treo quần áo sạch lên cả. Ngày qua ngày, y phục của chúng ta càng trở nên hòa quyện với chính mình, mang theo dấu ấn tính cách của người mặc, cho đến khi chúng ta ngần ngại không muốn cởi chúng ra, và việc cởi ấy đòi hỏi phải có sự chần chừ, các biện pháp y tế, thậm chí cả một sự trang trọng hệt như đối với cơ thể chúng ta vậy. Chưa từng có ai sụt giảm chút uy tín nào trong mắt tôi chỉ vì có một miếng vá trên quần áo; thế nhưng tôi chắc chắn rằng con người ta thường có xu hướng lo lắng nhiều hơn về việc phải mặc quần áo hợp thời trang, hoặc ít nhất là sạch sẽ và không vá víu, hơn là có một lương tâm trong sạch. Nhưng ngay cả khi vết rách không được vá lại, thì có lẽ thói hư tật xấu tồi tệ nhất bị phơi bày ở đây chỉ là sự vô tâm không lo xa. Đôi khi tôi đem những người quen ra thử thách bằng những bài trắc nghiệm như thế này: — liệu ai có thể mặc một bộ quần áo có vá, hoặc có thêm hai đường chỉ thừa ngay đầu gối? Hầu hết mọi người đều cư xử như thể họ tin rằng triển vọng sống cả đời của họ sẽ tiêu tan nếu dám làm thế. Thử thách họ đi tập tễnh vào thị trấn với một cái chân gãy có khi còn dễ hơn là với một chiếc quần bị rách. Thường thì nếu một tai nạn xảy ra với đôi chân của một quý ông, chúng có thể được chữa lành; nhưng nếu một tai nạn tương tự xảy ra với đôi chân chiếc quần của anh ta, thì vô phương cứu chữa; bởi vì anh ta chẳng màng đến việc thế nào mới thực sự đáng kính, mà chỉ quan tâm đến việc thế nào mới được người ta kính trọng. Chúng ta chỉ quen biết rất ít con người, nhưng lại quen biết rất nhiều chiếc áo khoác và quần dài. Hãy mặc cho con bù nhìn chiếc áo cuối cùng của anh, còn anh thì đứng trơ trọi cạnh đó không mảnh vải che thân, hỏi thử xem ai sẽ là kẻ đầu tiên cúi chào con bù nhìn kia? Hôm qua, khi đi ngang qua một cánh đồng ngô, sát cạnh một chiếc mũ và chiếc áo khoác dựng trên một cái cọc, tôi đã nhận ra chủ nhân của thửa ruộng ấy. Trông ông ta chỉ từng trải sương gió hơn một chút so với lần gần đây nhất tôi gặp ông ta. Tôi từng nghe kể về một con chó sủa tất cả những người lạ đến gần khuôn viên của chủ nhân nó khi họ mặc quần áo, nhưng lại dễ dàng bị thuần hóa bởi một tên trộm ở trần. Đó là một câu hỏi thú vị rằng liệu con người sẽ giữ lại được địa vị tương đối của họ đến mức nào nếu bị lột sạch quần áo. Trong trường hợp đó, liệu bạn có thể chắc chắn chỉ ra được trong bất kỳ đám đông văn minh nào, ai thuộc về tầng lớp đáng kính nhất không? Khi bà Pfeiffer, trong chuyến phiêu lưu vòng quanh thế giới từ đông sang tây, đã tiến về gần quê nhà đến mức nước Nga thuộc châu Á, bà nói rằng bản thân cảm thấy sự cần thiết phải mặc những bộ đồ khác ngoài đồ du lịch khi đi gặp giới chức trách, vì bà “đang ở trong một đất nước văn minh, nơi mà con người ta được đánh giá qua quần áo”. Ngay cả trong những thị trấn New England dân chủ của chúng ta, sự sở hữu ngẫu nhiên của của cải, và sự biểu hiện của nó chỉ qua y phục và xe cộ, cũng mang lại cho kẻ sở hữu sự tôn kính gần như tuyệt đối từ mọi người. Thế nhưng những kẻ trao đi sự tôn kính ấy, dẫu đông đảo đến đâu, cũng chỉ là những kẻ ngoại đạo và cần phải có một nhà truyền giáo được phái đến để cải hóa họ. Thêm vào đó, quần áo đã đẻ ra nghề may vá — một thứ công việc mà bạn có thể gọi là vô tận; y phục của phụ nữ, ít nhất là thế, chẳng bao giờ có ngày hoàn thành.
Một người cuối cùng đã tìm ra được việc gì đó để làm sẽ không cần phải sắm một bộ đồ mới để làm nó; đối với anh ta, bộ đồ cũ đã phủ đầy bụi trên gác mái trong một khoảng thời gian vô định là quá đủ rồi. Giày cũ sẽ phục vụ một người hùng lâu hơn là phục vụ tên hầu phòng của anh ta — nếu một người hùng thực sự có hầu phòng — còn đôi chân trần thì cổ xưa hơn cả giày dép, và anh ta hoàn toàn có thể xoay sở với chúng. Chỉ có những kẻ đến các buổi dạ tiệc và sảnh đường lập pháp mới cần áo khoác mới — những chiếc áo khoác phải thay đổi liên tục theo sự thay đổi của con người bên trong chúng. Nhưng nếu chiếc áo khoác và quần dài của tôi, chiếc mũ và đôi giày của tôi đủ tươm tất để thờ phượng Chúa, thì chúng dùng được; chẳng phải vậy sao? Đã có ai nhìn thấy bộ quần áo cũ của ai — chiếc áo khoác cũ thực sự bị mài mòn đến mức rã rời thành những nguyên tố nguyên thủy của nó, đến nỗi việc ban phát nó cho một cậu bé nghèo không còn là một việc làm từ thiện nữa, để rồi biết đâu cậu bé ấy lại trao nó cho một kẻ khác còn nghèo hơn, hoặc chúng ta nên nói là giàu có hơn, kẻ có thể sống với ít thứ hơn chưa? Tôi nói rằng, hãy cẩn thận với tất cả những dự án đòi hỏi phải có quần áo mới, chứ không phải đòi hỏi một người mặc quần áo mới. Nếu không có một con người mới, làm sao có thể khiến quần áo mới vừa vặn được? Nếu bạn có bất kỳ dự án nào trước mắt, hãy cứ thử nghiệm nó trong bộ quần áo cũ của mình. Tất cả những gì con người muốn không phải là một thứ gì đó để làm việc cùng, mà là một thứ gì đó để làm, hay đúng hơn là một thứ gì đó để trở thành. Có lẽ chúng ta sẽ chẳng bao giờ nên sắm một bộ đồ mới — dẫu cho bộ cũ có rách rưới hay bẩn thỉu đến đâu — cho đến khi chúng ta đã hành xử, đã dấn thân hoặc đã chèo lái theo một cách nào đó, để mà chúng ta cảm thấy mình như những con người mới trong lớp áo cũ ấy, và việc giữ lại nó chẳng khác nào chứa đựng rượu mới trong những bình da cũ. Mùa thay lông của chúng ta, cũng giống như loài chim, phải là một cột mốc khủng hoảng trong cuộc đời. Chim lặn thường rút lui về những hồ nước hoang vắng để trải qua điều đó. Loài rắn cũng vậy, lột bỏ lớp da cũ, và sâu bướm trút bỏ lớp áo sâu mọt bằng một nỗ lực bên trong và sự phát triển tự thân; bởi vì quần áo chẳng qua chỉ là lớp biểu bì ngoài cùng và lớp vỏ bọc tử sinh của chúng ta mà thôi. Bằng không, chúng ta sẽ bị phát hiện đang giương cờ giả, và cuối cùng chắc chắn sẽ bị chính quan điểm của bản thân cũng như của nhân loại sa thải.
Chúng ta cứ tròng hết lớp áo này đến lớp áo khác lên người, cứ như thể chúng ta sinh trưởng hệt như loài thực vật ngoại sinh bằng sự bồi đắp từ bên ngoài. Bộ quần áo bên ngoài, thường mỏng manh và lòe loẹt của chúng ta chính là lớp biểu bì hoặc lớp da giả, không hề chia sẻ sự sống của chúng ta và có thể bị lột ra ở chỗ này hay chỗ khác mà không gây thương tổn chí mạng; những bộ y phục dày dặn hơn được mặc liên tục chính là lớp mô màng tế bào hoặc lớp vỏ ngoài của chúng ta; nhưng những chiếc áo sơ mi mới chính là lớp vỏ liba hoặc lớp vỏ thật sự, thứ không thể bị lột bỏ mà không làm tổn thương vòng quanh và do đó hủy diệt luôn con người. Tôi tin rằng mọi chủng tộc vào những thời điểm nào đó đều mặc thứ gì đó tương đương với chiếc áo sơ mi. Thật đáng mong ước nếu một người ăn mặc giản dị đến mức có thể tự sờ thấy da thịt mình trong bóng tối, và sống một cách gọn gàng, sẵn sàng đến mức nếu kẻ thù chiếm lấy thị trấn, anh ta có thể — giống như nhà hiền triết cổ đại — bước ra khỏi cổng với hai bàn tay trắng mà chẳng chút bận tâm. Trong khi một bộ y phục dày dặn, xét cho hầu hết mọi mục đích, cũng tốt ngang ngửa ba bộ mỏng, và quần áo giá rẻ có thể mua được với mức giá thực sự vừa túi khách hàng; trong khi một chiếc áo khoác dày có thể mua được với giá năm đô la — đủ dùng trong ngần ấy năm, quần áo dài dày giá hai đô la, bốt da bò giá một đô la rưỡi một đôi, mũ mùa hè giá một phần tư đô la, và mũ mùa đông giá sáu mươi mươi lăm xu, hoặc thậm chí được may tốt hơn ở nhà với chi phí danh nghĩa — thì hỏi còn ai nghèo đến mức, khi khoác lên mình bộ đồ như thế do chính tay mình làm ra, lại không tìm được những bậc hiền triết ngả mũ kính trọng anh ta?
Khi tôi yêu cầu may một bộ y phục theo một kiểu dáng đặc biệt, nữ thợ may của tôi liền nghiêm nghị bảo rằng: “Bây giờ người ta không may kiểu đó nữa đâu,” hoàn toàn không nhấn mạnh chữ “Họ” chút nào, cứ như thể cô ta đang trích dẫn một cơ quan quyền lực có tính chất vô sắc vô hình hệt như các nữ thần Số Mệnh vậy; và tôi thấy khó mà đặt may được thứ mình muốn, đơn giản vì cô ta không thể tin rằng tôi thực sự có ý muốn như vậy, rằng tôi lại liều lĩnh đến thế. Khi nghe câu phán truyền đầy vẻ sấm truyền này, tôi chợt chìm vào suy tư trong chốc lát, tự mình nhấn mạnh từng từ một để có thể thấu triệt ý nghĩa của nó, để tìm xem “Họ” có quan hệ họ hàng huyết thống gì với tôi, và họ có quyền hạn gì trong một vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến tôi đến thế; và cuối cùng, tôi có xu hướng đáp lại cô ta với một vẻ bí ẩn tương đương, và chẳng thèm nhấn mạnh chữ “họ” thêm chút nào nữa: — “Đúng thế, gần đây họ không may kiểu đó, nhưng bây giờ thì có rồi đấy.” Việc đo đạc tôi này có ích gì nếu cô ta không đo đạc nhân cách của tôi, mà chỉ đo bề rộng của đôi vai tôi, hệt như thể tôi là một cái cọc để treo chiếc áo lên mà thôi? Chúng ta không thờ phụng các nữ thần ân huệ Graces hay các nữ thần định mệnh Parcæ, mà thờ phụng Nữ thần Thời trang. Nàng ta toàn quyền se chỉ, dệt lụa và cắt may. Con khỉ đầu đàn ở Paris đội chiếc mũ du lịch lên đầu, và tất cả lũ khỉ ở Mỹ cũng làm y hệt thế. Đôi khi tôi cảm thấy tuyệt vọng khi nghĩ đến việc liệu có thể hoàn thành được điều gì hoàn toàn giản dị và chân thành trên cõi đời này với sự trợ giúp của con người hay không. Trước tiên, họ sẽ phải được cho qua một cỗ máy ép thật mạnh để vắt kiệt những ý niệm cũ rích trong đầu ra, sao cho chúng không thể đứng vững trên đôi chân của mình được nữa, và rồi trong đám đông ấy thể nào cũng có kẻ bị sâu róm trong đầu cắn phá — một thứ trứng được đẻ vào đó từ bao giờ chẳng ai hay, vì đến lửa cũng chẳng thể tiêu diệt nổi những thứ đó — để rồi cuối cùng bạn sẽ chỉ nhận lại công toi mà thôi. Tuy nhiên, chúng ta sẽ không quên rằng từng có những hạt lúa mì Ai Cập được truyền lại cho chúng ta qua một xác ướp.
Nhìn chung, tôi nghĩ rằng không thể cho rằng việc ăn mặc ở đất nước này hay bất kỳ nơi nào khác đã vươn lên tầm cao của một nghệ thuật. Hiện tại, con người ta chỉ xoay sở để mặc bất cứ thứ gì họ có thể vớ lấy được. Giống như những thủy thủ bị đắm tàu, họ tròng lên người những gì nhặt được trên bãi biển, rồi chỉ cách một khoảng không gian hay thời gian ngắn, họ lại cười cợt màn hóa trang của nhau. Thế hệ nào cũng cười nhạo mốt cũ nhưng lại sùng bái mốt mới. Chúng ta buồn cười khi ngắm nhìn trang phục thời vua Henry VIII, hay Nữ hoàng Elizabeth, hệt như thể đó là trang phục của Vua và Hoàng hậu xứ Ăn Thịt Người vậy. Bất kỳ bộ trang phục nào tách rời khỏi con người đều trở nên thảm hại hoặc kỳ dị. Chỉ có ánh mắt nghiêm nghị nhìn ra từ bên trong và cuộc đời chân thành trải qua bên trong nó mới kìm hãm nụ cười và ban phép lành cho trang phục của bất kỳ dân tộc nào. Hãy để gã hề Harlequin lên cơn đau bụng xem, bộ trang phục lộng lẫy của hắn cũng sẽ phải phục vụ cho tâm trạng đó mà thôi. Khi người lính bị trúng đại bác, những mảnh giẻ rách trông cũng oai vệ chẳng kém gì tấm áo tía hoàng bào.
Sở thích ngây thơ và man rợ của cả nam lẫn nữ đối với các hoa văn mới đã khiến biết bao người phải run rẩy và nheo mắt qua kính vạn hoa cốt để khám phá ra cái hoa tiết cụ thể mà thế hệ ngày nay đang đòi hỏi. Các nhà sản xuất đã nhận ra rằng sở thích này hoàn toàn chỉ là thứ bốc đồng thất thường. Trong hai mẫu hoa văn chỉ khác nhau vài sợi chỉ của một màu sắc đặc biệt nào đó, mẫu này sẽ được bán sạch veo trong chớp mắt, trong khi mẫu kia nằm bám bụi trên kệ, dẫu rằng thường thì sau khi qua một mùa, mẫu thứ hai ấy lại trở thành mốt thời thượng nhất. Tương đối mà nói, tục xăm mình không phải là một tập tục gớm ghiếc như người ta vẫn gọi. Nó không hề man rợ chỉ vì mực xăm chỉ thấm sâu vào da và không thể xóa đổi.
Tôi không thể tin rằng hệ thống nhà máy của chúng ta là phương thức tốt nhất để con người có được y phục. Hoàn cảnh của những người công nhân ngày càng trở nên giống với người Anh hơn; và điều đó chẳng có gì là lạ, bởi vì theo những gì tôi nghe được hoặc quan sát thấy, mục đích chính không phải để nhân loại được mặc quần áo đẹp và đàng hoàng, mà không còn nghi ngờ gì nữa, là để các tập đoàn trở nên giàu có. Về lâu về dài, con người ta chỉ bắn trúng những gì họ nhắm tới. Do đó, dẫu có thất bại ngay lập tức, họ vẫn nên nhắm đến một cái gì đó cao cả hơn.
Còn về Nơi trú ẩn, tôi sẽ không phủ nhận rằng đây hiện là một nhu yếu phẩm của cuộc sống, dẫu có những trường hợp con người từng sống không cần đến nó trong những khoảng thời gian dài ở các xứ sở lạnh giá hơn nơi này. Samuel Laing kể rằng “người Lapland trong bộ đồ da của mình, cùng với chiếc túi da trùm qua đầu và vai, có thể ngủ đêm này qua đêm khác trên tuyết — trong một mức độ lạnh có thể dập tắt sự sống của bất kỳ ai phơi mình ra đó trong bất kỳ bộ quần áo len nào”. Ông đã từng chứng kiến họ ngủ như thế. Tuy nhiên, ông bổ sung thêm rằng: “Họ chẳng hề dẻo dai hơn những người khác.” Nhưng có lẽ, con người sống trên trái đất chưa lâu mà đã sớm phát hiện ra sự tiện lợi của một ngôi nhà, những tiện nghi gia đình — cụm từ mà nguyên thủy có lẽ mang ý nghĩa về sự thỏa mãn của ngôi nhà nhiều hơn là của gia đình; dẫu cho những điều này hẳn phải vô cùng phiến diện và thỉnh thoảng mới có ở những vùng khí hậu mà ngôi nhà trong suy nghĩ của chúng ta chủ yếu gắn liền với mùa đông hoặc mùa mưa, và trong hai phần ba thời gian của năm — ngoại trừ việc dùng làm ô che nắng — là hoàn toàn thừa thãi. Ở xứ sở chúng ta, vào mùa hè, trước kia nó gần như chỉ là một tấm che phủ vào ban đêm. Trong các bản tin của người da đỏ, một chiếc lều wigwam là biểu tượng của một ngày hành quân, và một hàng lều được khắc hoặc sơn trên vỏ cây biểu thị số lần họ đã cắm trại. Con người không được sinh ra với chân tay to lớn và vơ vả đến mức phải tìm cách thu hẹp thế giới của mình lại và xây tường khép kín một không gian vừa vặn với bản thân. Thoạt đầu, anh ta ở trần và sống ngoài trời; nhưng dẫu điều đó khá thú vị trong thời tiết quang đảng và ấm áp ban ngày, thì mùa mưa và mùa đông, chưa kể đến ánh mặt trời thiêu đốt, có lẽ đã bóp chết nòi giống của anh ta từ trong trứng nước nếu anh ta không vội vã khoác lên mình lớp bảo vệ của một ngôi nhà. Adam và Eve, theo truyền thuyết, đã mặc chiếc chòi lá trước khi mặc những thứ quần áo khác. Con người cần một mái ấm, một nơi ấm áp hoặc thoải mái — trước hết là sự ấm áp về thể xác, rồi sau đó là sự ấm áp của tình cảm.
Chúng ta có thể tưởng tượng về một thời kỳ, trong thuở hồng hoang của nhân loại, khi một kẻ phàm trần đầy táo bạo đã bò vào một hốc đá để ẩn nấp. Mỗi đứa trẻ sinh ra lại bắt đầu lại thế giới từ đầu, ở một mức độ nào đó, và thích ở ngoài trời, ngay cả trong thời tiết ẩm ướt và lạnh giá. Chúng chơi trò làm nhà cũng như trò chơi ngựa, vốn mang sẵn bản năng cho điều đó. Ai lại không nhớ sự hào hứng khi còn nhỏ mỗi khi nhìn thấy những mỏm đá nhô ra hay bất kỳ lối vào hang động nào? Đó là khát khao tự nhiên của phần bản ngã nguyên thủy nhất vẫn còn tồn tại trong chúng ta. Từ hang động, chúng ta đã tiến bước lên những mái nhà lợp lá cọ, bằng vỏ cây và cành lá, bằng vải dệt căng ra, bằng cỏ và rơm, bằng ván và ván lợp, bằng đá và ngói. Cuối cùng, chúng ta chẳng còn biết cảm giác sống giữa trời mông quạnh là gì nữa, và đời sống của chúng ta mang tính gia đình theo nhiều nghĩa hơn chúng ta tưởng. Từ đống lửa sưởi cho đến cánh đồng là một khoảng cách rất lớn. Có lẽ sẽ tốt hơn nếu chúng ta dành nhiều ngày và đêm hơn mà không có bất kỳ vật cản nào ngăn cách giữa chúng ta với các vì tinh tú trên cao, nếu nhà thơ không cất lên tiếng hát quá nhiều từ dưới một mái nhà, hay vị thánh không trú ngụ ở đó quá lâu. Loài chim không hót trong hang động, và loài bồ câu cũng chẳng nuôi dưỡng sự ngây thơ của chúng trong những chiếc chuồng bồ câu.
Tuy nhiên, nếu ai đó có ý định cất một ngôi nhà để ở, anh ta nên bày ra một chút sự khôn ngoan kiểu Yankee, kẻo cuối cùng lại thấy mình rơi vào một nhà tế thế, một cội mê cung không lối thoát, một viện bảo tàng, một nhà cứu tế, một nhà tù, hoặc một lăng mộ lộng lẫy thay vào đó. Trước hết hãy cân nhắc xem một nơi trú ẩn sơ sài đến mức nào là hoàn toàn cần thiết. Tôi từng thấy những người da đỏ Penobscot ở thị trấn này sống trong những chiếc lều bằng vải bông mỏng, trong khi tuyết dày gần một gang tay xung quanh họ, và tôi nghĩ rằng họ hẳn sẽ rất vui nếu tuyết dày hơn nữa để chắn gió. Trước kia, khi việc làm sao để kiếm sống một cách lương thiện mà vẫn giữ được sự tự do cho các theo đuổi chính đáng của mình là một vấn đề khiến tôi đau đầu hơn bây giờ rất nhiều — bởi vì không may là tôi đã trở nên có phần chai lì — tôi thường nhìn thấy một chiếc hộp lớn bên đường ray xe lửa, dài sáu thước rộng ba, nơi các công nhân khóa dụng cụ của họ vào ban đêm, và nó gợi cho tôi ý tưởng rằng bất kỳ người đàn ông nào bị dồn vào đường cùng cũng có thể kiếm một chiếc như thế với giá một đô la, rồi khoan vài lỗ nhỏ bằng mũi khoan để ít ra có thể lọt gió vào, chui vào đó khi trời mưa và ban đêm, rồi móc chốt nắp lại, và thế là có được sự tự do trong tình yêu, và tâm hồn được tự do. Điều này xem ra không phải là tệ nhất, và hoàn toàn không phải là một lựa chọn đáng khinh bỉ. Bạn có thể thức khuya tùy thích, và bất cứ khi nào thức dậy, bạn có thể bước ra ngoài mà không có bất kỳ gã chủ nhà hay chủ đất nào bám theo đòi tiền thuê nhà. Biết bao người bị hành hạ đến chết chỉ để trả tiền thuê cho một chiếc hộp lớn hơn và xa hoa hơn, trong khi họ sẽ không đến nỗi chết cóng trong một chiếc hộp như thế này. Tôi hoàn toàn không nói đùa. Kinh tế học là một chủ đề cho phép được đối xử bằng sự tiếu lâm, nhưng không thể bị gạt bỏ bằng cách đó. Một ngôi nhà thoải mái cho một giống loài thô kệch và dẻo dai, sống chủ yếu ở ngoài trời, từng có thời được dựng lên ở đây gần như hoàn toàn từ những vật liệu mà Tự nhiên ban sẵn trong tầm tay. Gookin — người giám sát các bộ lạc da đỏ thuộc địa phận Thuộc địa Massachusetts — khi viết vào năm 1674, đã nói rằng: “Những ngôi nhà tốt nhất của họ được lợp rất gọn gàng, kín gió và ấm áp bằng vỏ cây, được lột ra từ thân cây vào những mùa nhựa cây dâng cao, rồi ép thành những tấm lớn bằng sức nặng của những khúc gỗ khi chúng hãy còn xanh... Loại kém hơn thì được lợp bằng những tấm thảm do họ đan từ một loại cói bấc, cũng tương đối kín gió và ấm áp, nhưng không tốt bằng loại trên... Một số cái tôi từng thấy dài tới sáu mươi hoặc một trăm thước và rộng ba mươi thước... Tôi đã thường xuyên ngủ qua đêm trong những chiếc lều wigwam của họ và thấy chúng ấm áp hệt như những ngôi nhà tốt nhất của người Anh.” Ông bổ sung thêm rằng chúng thường được trải thảm và lót bên trong bằng những chiếc thảm thêu tinh xảo, đồng thời được trang bị đủ mọi loại dụng cụ. Người da đỏ thậm chí đã tiến bộ đến mức điều tiết sức gió bằng một tấm thảm treo qua lỗ thủng trên mái và được kéo bằng một sợi dây. Một căn lều như thế thoạt đầu chỉ được dựng lên trong một hoặc hai ngày là cùng, và có thể tháo ra dựng lại chỉ trong vài giờ; và mọi gia đình đều sở hữu một cái, hoặc một khoang của riêng mình trong đó.
Trong trạng thái hoang dã, mọi gia đình đều sở hữu một nơi trú ẩn tốt như những cái tốt nhất, và đủ cho những nhu cầu thô sơ và giản dị của họ; nhưng tôi nghĩ rằng mình đã nói trong giới hạn khi cho rằng, dẫu cho chim trời có tổ, cáo có hang, và người da đỏ có lều wigwam, thì trong xã hội văn minh hiện đại, không quá một nửa số gia đình sở hữu một nơi trú ẩn cho riêng mình. Ở các thị trấn lớn và thành phố, nơi nền văn minh ngự trị vượt trội, số lượng những người sở hữu một nơi trú ẩn chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng số. Số còn lại phải trả một khoản thuế hàng năm cho chiếc áo khoác ngoài cùng này của tất cả mọi thứ — thứ đã trở thành vật bất ly thân cả mùa hè lẫn mùa đông — mà số tiền ấy đáng lẽ đủ để mua cả một ngôi làng lều wigwam của người da đỏ, nhưng nay lại góp phần giữ cho họ nghèo túng suốt cả cuộc đời. Tôi không có ý nhấn mạnh ở đây về sự bất lợi của việc thuê nhà so với việc sở hữu, nhưng rõ ràng là người dã man sở hữu nơi trú ẩn của mình bởi vì nó tốn quá ít chi phí, trong khi người văn minh thường phải đi thuê vì không đủ khả năng sở hữu nó; và về lâu về dài, anh ta cũng chẳng kham nổi chi phí đi thuê. Nhưng có người sẽ đáp lại rằng, chỉ bằng cách trả khoản thuế này, người nghèo văn minh đã bảo đảm được một chốn dung thân tựa như cung điện so với lều của người da đỏ. Tiền thuê nhà hàng năm từ hai mươi lăm đến một trăm đô la — đó là mức giá ở vùng nông thôn — mang lại cho anh ta lợi ích từ những cải tiến qua nhiều thế kỷ, những căn phòng rộng rãi, sơn và giấy dán tường sạch sẽ, lò sưởi Rumford, lớp trát tường cách nhiệt, rèm cửa chớp kiểu Venice, máy bơm đồng, ổ khóa lò xo, một căn hầm tiện nghi và nhiều thứ khác nữa. Nhưng làm sao mà kẻ được cho là tận hưởng những thứ này lại thường là một người nghèo văn minh, trong khi người da đỏ — kẻ không có những thứ đó — lại giàu có như một kẻ dã man? Nếu người ta quả quyết rằng văn minh là một bước tiến thực sự trong điều kiện sống của con người — và tôi nghĩ là có, dẫu chỉ có những kẻ khôn ngoan mới tận dụng được lợi thế của mình — thì phải chứng minh được rằng nó đã tạo ra những ngôi nhà tốt hơn mà không làm cho chúng trở nên đắt đỏ hơn; và chi phí của một thứ chính là lượng thời gian của cái mà tôi gọi là cuộc sống phải bị đem ra đánh đổi lấy nó, ngay lập tức hoặc về lâu về dài. Một ngôi nhà bình thường ở vùng này có giá khoảng tám trăm đô la, và để dành dụm được số tiền này sẽ mất từ mười đến mười lăm năm lao động của một người thợ, ngay cả khi anh ta không vướng bận gia đình — tính theo giá trị tiền tệ lao động của mỗi người là một đô la một ngày, bởi vì nếu có người nhận được nhiều hơn thì cũng có kẻ nhận ít hơn — thế nên thông thường anh ta phải tiêu tốn hơn nửa cuộc đời mình mới kiếm đủ tiền mua nổi chiếc lều wigwam của anh ta. Nếu chúng ta giả định rằng anh ta đi thuê nhà thay thế, thì đây cũng chỉ là một sự lựa chọn đầy nghi vấn giữa các mối họa. Liệu người da đỏ có khôn ngoan khi đổi chiếc lều của mình lấy một cung điện theo những điều kiện này không?
Có thể đoán rằng tôi quy giản hầu như toàn bộ lợi thế của việc nắm giữ thứ tài sản thừa thãi này như một quỹ dự trữ cho tương lai — xét về mặt cá nhân — chủ yếu chỉ để chi trả cho các chi phí tang ma. Nhưng có lẽ con người ta không bắt buộc phải tự chôn cất chính mình. Dù sao đi nữa, điều này chỉ ra một sự khác biệt quan trọng giữa người văn minh và kẻ dã man; và chắc chắn họ có những mưu toan đối với chúng ta vì lợi ích của chúng ta, khi biến đời sống của một dân tộc văn minh thành một định chế, trong đó cuộc đời của cá nhân bị đồng hóa ở một mức độ lớn, cốt để bảo tồn và hoàn thiện đời sống của toàn giống loài. Nhưng tôi muốn chỉ ra rằng cái lợi thế này hiện đang được đánh đổi bằng một sự hy sinh lớn đến nhường nào, và muốn gợi ý rằng chúng ta hoàn toàn có thể sống sao cho thu nhận được mọi lợi thế mà không phải gánh chịu bất kỳ bất lợi nào. Các ngươi có nghĩa gì khi nói rằng kẻ nghèo luôn ở bên các ngươi, hay các cha đã ăn nho chua và răng con bị ê buốt?
“Ta sống mà khai rằng, Chúa là Thượng đế phán, các ngươi sẽ chẳng còn dịp nào để dùng câu tục ngữ này ở Israel nữa.”
“Này, muôn vàn linh hồn đều thuộc về Ta; linh hồn của người cha cũng như linh hồn của người con đều là của Ta: linh hồn nào phạm tội, linh hồn đó phải chết.”
Khi tôi ngắm nhìn những người hàng xóm của mình, những nông dân ở Concord — những người chí ít cũng có đời sống khấm khá tương đương với các tầng lớp khác — tôi nhận thấy rằng phần lớn họ đã phải quằn quại lao động suốt hai mươi, ba mươi hay bốn mươi năm để trở thành chủ nhân thực sự của những trang trại mà thông thường họ đã thừa kế kèm theo những khoản nợ nần, hoặc mua lại bằng tiền đi vay — và chúng ta có thể coi một phần ba nỗ lực lao động đó chính là chi phí cho những ngôi nhà của họ — thế nhưng thông thường họ vẫn chưa trả hết tiền mua chúng. Đúng là những khoản nợ đôi khi vượt quá giá trị của trang trại, khiến bản thân trang trại trở thành một gánh nặng khổng lồ, vậy mà vẫn có người tiếp tục thừa kế nó, với lý do là đã quá quen thuộc với nó rồi. Khi đến hỏi các thẩm định viên, tôi ngạc nhiên khi biết rằng họ không thể ngay lập tức nêu tên nổi một tá người trong thị trấn sở hữu trang trại của họ một cách hoàn toàn tự do và sạch nợ. Nếu bạn muốn biết lịch sử của những điền trang này, hãy đến ngân hàng nơi chúng đang bị thế chấp. Kẻ thực sự đã trả hết tiền mua trang trại bằng chính sức lao động của mình hiếm hoi đến mức mọi người hàng xóm đều có thể chỉ tay về phía anh ta. Tôi nghi ngờ liệu có nổi ba người như thế ở Concord hay không. Những gì được nói về giới thương gia — rằng phần lớn họ, thậm chí chín mươi bảy phần trăm chắc chắn sẽ phá sản — thì cũng đúng y như vậy đối với những người nông dân. Tuy nhiên, về phần giới thương gia, một trong số họ đã đưa ra nhận xét xác đáng rằng phần lớn những vụ phá sản của họ không phải là phá sản tài chính thực sự, mà chỉ là sự không thực hiện được các cam kết của mình vì cảm thấy bất tiện; nghĩa là đạo đức cá nhân đã sụp đổ. Nhưng điều này lại mang lại một bộ mặt tồi tệ hơn vô cùng cho vấn đề, và đồng thời gợi ý rằng có lẽ ngay cả ba người kia cũng không giữ nổi linh hồn của họ, mà biết đâu lại đang khánh kiệt theo một nghĩa tồi tệ hơn cả những kẻ phá sản một cách lương thiện. Phá sản và khước từ nợ nần chính là những tấm ván nhún để từ đó phần lớn nền văn minh của chúng ta tung người lộn nhào, nhưng kẻ dã man thì đứng trên tấm ván không có độ đàn hồi của nạn đói. Thế nhưng Triển lãm Gia súc Middlesex vẫn diễn ra ở đây hàng năm với đầy vẻ vang hoa, cứ như thể mọi khớp nối của cỗ máy nông nghiệp đều trơn tru mượt mà.
Người nông dân đang nỗ lực giải quyết bài toán mưu sinh bằng một công thức phức tạp hơn chính bài toán đó. Để kiếm được dải giày, anh ta đi đầu cơ các đàn gia súc. Với sự khéo léo tuyệt đỉnh, anh ta đã giăng cái bẫy có lẫy tóc để bắt lấy sự thoải mái và độc lập, để rồi khi quay lưng đi, chính anh ta lại vướng chân vào cái bẫy đó. Đây là lý do tại sao anh ta nghèo; và vì lý do tương tự, tất cả chúng ta đều nghèo xét về mặt hàng ngàn sự thoải mái kiểu dã man, dẫu cho đang được vây quanh bởi vô số xa hoa phẩm. Đúng như nhà thơ Chapman đã ca hát:—
“Xã hội giả dối của loài người—
—vì sự vĩ đại chốn trần gian
Đã cô đọng mọi niềm an ủi thiên đàng thành không khí loãng.”
Và khi người nông dân đã có được ngôi nhà của mình, anh ta có lẽ chẳng giàu lên mà lại còn nghèo đi vì nó, và chính ngôi nhà mới là kẻ đã tóm được anh ta. Theo tôi hiểu, đó là một phản đối xác đáng mà Momus từng đưa ra chống lại ngôi nhà mà nữ thần Minerva tạo ra, rằng bà “đã không làm cho nó có thể di chuyển được, nhờ đó mà người ta có thể tránh được một khu xóm tồi tệ”; và điều đó vẫn có thể được nêu ra, bởi vì những ngôi nhà của chúng ta là thứ tài sản cồng kềnh đến mức chúng ta thường bị giam cầm trong đó hơn là được che chở; và khu xóm tồi tệ cần phải tránh chính là bản tính đê tiện của chính chúng ta. Tôi biết ít nhất một hoặc hai gia đình trong thị trấn này, trong gần suốt một thế hệ, đã hằng mong mỏi bán ngôi nhà ở vùng ngoại ô để chuyển vào làng, nhưng lại không thể thực hiện được, và chỉ có cái chết mới giải thoát cho họ.
Cứ cho là phần lớn mọi người cuối cùng đều có thể sở hữu hoặc thuê được ngôi nhà hiện đại với tất cả các tiện ích của nó. Trong khi nền văn minh đã cải thiện những ngôi nhà của chúng ta, nó lại không cải thiện tương xứng những con người sẽ sống trong đó. Nó đã tạo ra những cung điện, nhưng việc tạo ra các nhà quý tộc và vua chúa thì không hề dễ dàng như vậy. Và nếu những theo đuổi của người văn minh chẳng đáng giá hơn của kẻ dã man, nếu anh ta dành phần lớn cuộc đời mình chỉ để đạt được những nhu yếu phẩm và tiện nghi thô sơ, tại sao anh ta phải có một nơi ở tốt hơn kẻ kia?
Nhưng còn thiểu số những người nghèo thì sao? Có lẽ người ta sẽ nhận ra rằng, đúng tỷ lệ mà một số người được đặt vào hoàn cảnh vật chất cao hơn kẻ dã man, thì những người khác lại bị hạ bệ xuống thấp hơn hắn. Sự xa hoa của tầng lớp này được bù đắp bằng sự khốn cùng của tầng lớp khác. Một bên là cung điện, bên kia là nhà tế thế và “những kẻ nghèo câm lặng”. Hàng vạn con người đã xây dựng các kim tự tháp làm lăng mộ cho các Pharaon chỉ được nuôi sống bằng tỏi, và bản thân họ rất có thể chẳng được chôn cất một cách đàng hoàng. Người thợ xây hoàn thành phần gờ mái cung điện có khi tối đến lại trở về một túp lều còn chẳng tốt bằng lều wigwam. Thật là một sai lầm khi cho rằng, ở một đất nước tồn tại những minh chứng thông thường của văn minh, tình trạng của một bộ phận rất lớn cư dân lại không thể bị tha hóa ngang bằng với những kẻ dã man. Tôi đang nhắc đến những kẻ nghèo khổ bị tha hóa, chứ không nói đến những kẻ giàu có bị tha hóa. Để biết điều này, tôi chẳng cần phải nhìn đâu xa ngoài những túp lều rách nát nằm dọc các tuyến đường sắt — thành tựu cải tiến mới nhất của nền văn minh; nơi trong những chuyến đi dạo hàng ngày, tôi nhìn thấy con người đang sống trong chuồng heo, và suốt cả mùa đông với cánh cửa mở toang vì ánh sáng, chẳng có lấy một đống củi nào có thể nhìn thấy, thậm chí có thể tưởng tượng ra, và hình dáng của cả người già lẫn trẻ đều bị biến dạng vĩnh viễn bởi thói quen co ro né tránh cái lạnh và sự khốn khổ, sự phát triển của mọi chân tay và năng lực đều bị kìm hãm. Chắc chắn là công bằng khi nhìn vào tầng lớp ấy — những kẻ bằng sức lao động của mình đã làm nên những công trình làm rạng danh thế hệ này. Đó cũng chính là tình trạng — ở mức độ này hay mức độ khác — của công nhân thuộc mọi thành phần ở nước Anh, nơi là nhà xưởng lớn của thế giới. Hoặc tôi có thể dẫn chứng đến Ireland, nơi được đánh dấu là một trong những đốm trắng hoặc sáng sủa trên bản đồ. Hãy đối chiếu tình trạng thể xác của người Ireland với thổ dân Bắc Mỹ, hoặc thổ dân Nam Hải, hay bất kỳ chủng tộc dã man nào trước khi bị tha hóa do tiếp xúc với người văn minh. Thế nhưng tôi không hề nghi ngờ gì rằng những nhà cai trị của dân tộc đó cũng khôn ngoan ngang mức độ trung bình của các nhà cai trị văn minh. Tình trạng của họ chỉ chứng minh cho thấy sự khốn cùng tột độ có thể tồn tại song hành cùng nền văn minh đến nhường nào. Tôi hầu như không cần phải nhắc đến những người lao động ở các tiểu bang miền Nam nước ta — những người sản xuất ra các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của đất nước này, và bản thân họ cũng là một sản phẩm chủ lực của miền Nam. Nhưng tôi xin giới hạn ở những người được cho là có hoàn cảnh trung lưu.
Hầu hết mọi người dường như chưa bao giờ suy ngẫm xem một ngôi nhà thực chất là gì, và thực tế là họ nghèo túng suốt đời một cách vô ích chỉ vì nghĩ rằng mình phải có một ngôi nhà giống như nhà của hàng xóm. Cứ như thể người ta phải mặc bất kỳ loại áo khoác nào mà thợ may cắt cho mình, hoặc dần từ bỏ chiếc mũ lá cọ hay mũ da chồn rồi phàn nàn về thời buổi khó khăn chỉ vì không đủ tiền mua vương miện vậy! Hoàn toàn có thể phát minh ra một ngôi nhà tiện nghi và xa hoa hơn những gì chúng ta đang có, mà ngay cả như vậy, tất cả mọi người cũng phải thừa nhận là con người không đủ khả năng chi trả. Liệu chúng ta sẽ mãi mãi miệt mài thu vén thêm những thứ này, mà không có lúc nào bằng lòng với ít đi sao? Liệu người công dân đáng kính sẽ cứ trang nghiêm giảng dạy bằng cả lời nói lẫn tấm gương về sự cần thiết của việc một thanh niên phải sắm sửa một số lượng dư thừa những đôi ủng cao su, ô che mưa, và phòng khách trống rỗng cho những vị khách trống rỗng trước khi chết hay sao? Tại sao đồ đạc trong nhà của chúng ta không thể giản dị như của người Ả Rập hay người da đỏ? Khi nghĩ đến những ân nhân của nhân loại — những kẻ được chúng ta tôn vinh như những sứ giả từ thiên đường, những người mang quà tặng thần thánh đến cho con người — tôi không hề thấy bóng dáng bất kỳ đoàn tùy tùng nào bám theo gót chân họ, hay bất kỳ xe chở đầy đồ đạc hợp mốt nào cả. Hoặc giả như tôi thừa nhận — chẳng phải đó sẽ là một sự thừa nhận kỳ lạ lắm sao? — rằng đồ đạc của chúng ta phải phức tạp hơn của người Ả Rập, tỷ lệ thuận với việc chúng ta vượt trội hơn họ về mặt đạo đức và trí tuệ! Hiện tại, những ngôi nhà của chúng ta đang bị chất đống và vấy bẩn bởi thứ đó, và một người nội trợ giỏi giang hẳn sẽ quét sạch phần lớn vào hố rác chứ không để dở dang công việc buổi sáng của mình. Công việc buổi sáng! Nhân ánh hồng rực rỡ của nữ thần rạng đông Aurora và âm thanh của tượng Memnon, công việc buổi sáng của con người trên thế giới này phải là gì cơ chứ? Tôi từng có ba viên đá vôi trên bàn làm việc của mình, nhưng rồi tôi hoảng hốt nhận ra rằng chúng đòi hỏi phải được phủi bụi hàng ngày, trong khi đồ đạc trong tâm trí tôi thì vẫn phủ đầy bụi bặm, và tôi đã quăng chúng qua cửa sổ trong sự ghê tởm. Làm sao tôi có thể sở hữu một ngôi nhà được trang hoàng đầy đủ cơ chứ? Tôi thà ngồi giữa trời quang mây tạnh còn hơn, vì chẳng có hạt bụi nào bám trên cỏ, ngoại trừ nơi con người đã đào xới đất đai.
Chính những kẻ xa hoa và trụy lạc là những kẻ tạo ra mốt thời trang mà bầy đàn đang chăm chỉ bước theo. Lữ khách dừng chân tại những ngôi nhà gọi là tốt nhất sẽ sớm phát hiện ra điều này, bởi vì những ông chủ quán đinh ninh rằng anh ta là một Sardanapalus, và nếu anh ta phó mặc bản thân cho sự chăm sóc dịu dàng của họ, anh ta sẽ sớm bị tước đi sinh lực hoàn toàn. Tôi nghĩ rằng khi ngồi trên toa tàu hỏa, chúng ta có xu hướng chi tiêu cho sự xa hoa nhiều hơn là cho sự an toàn và tiện lợi, và điều đó đang đe dọa — mà chẳng đạt được những điều đó — biến toa tàu chẳng khác nào một phòng khách hiện đại, với những chiếc ghế bành divan, ghế đôn ottoman, ô che nắng và hàng trăm thứ mang phong cách phương Đông khác mà chúng ta đang mang theo về miền Tây, vốn được phát minh cho các bà vợ trong hậu cung và những kẻ bản xứ yếm thế của Thiên triều — những thứ mà Jonathan đáng lẽ phải cảm thấy xấu hổ khi biết tên gọi của chúng. Tôi thà ngồi trên một trái bí ngô và tận hưởng nó một mình còn hơn là bị chen chúc trên một chiếc đệm nhung. Tôi thà ngồi trên xe bò đi trên mặt đất với bầu không khí lưu thông tự do, còn hơn là lên thiên đường trên toa tàu du lịch hào nhoáng để rồi hít thở bầu không khí ngập tràn mầm bệnh suốt cả chặng đường.
Sự giản dị và trần trụi của đời sống con người trong thời kỳ nguyên thủy ít ra cũng ngụ ý một lợi thế này: nó vẫn biến anh ta thành một kẻ lữ hành trên cõi đời này. Khi được hồi sức bởi thức ăn và giấc ngủ, anh ta lại tiếp tục chiêm nghiệm cuộc hành trình của mình. Anh ta sống trong thế giới này hệt như ở trong một chiếc lều, hoặc đang luồn lách qua các thung lũng, hoặc băng qua các đồng bằng, hoặc leo lên những đỉnh núi cao. Nhưng hỡi ôi! Con người đã trở thành công cụ của những công cụ do chính mình tạo ra. Kẻ từng tự tay hái trái cây khi đói nay đã trở thành một người nông dân; và kẻ từng đứng dưới gốc cây trú mưa nay đã trở thành một chủ nhà. Giờ đây chúng ta không còn cắm trại như thể chỉ qua một đêm, mà đã định cư vững chãi trên mặt đất và quên đi thiên đường. Chúng ta đã tiếp nhận Cơ Đốc giáo đơn thuần như một phương pháp cải tiến trong ngành nông nghiệp. Chúng ta đã xây dựng cho thế giới này một dinh thự gia đình, và cho thế giới bên kia một lăng mộ gia đình. Những tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời nhất chính là biểu hiện cho cuộc đấu tranh của con người nhằm giải phóng bản thân khỏi tình trạng này, nhưng hiệu ứng của nghệ thuật của chúng ta lại chỉ cốt làm cho trạng thái thấp kém này trở nên thoải mái và khiến trạng thái cao cả hơn bị lãng quên. Thực tế là chẳng có chỗ nào trong cái làng này cho một tác phẩm mỹ thuật — nếu có tác phẩm nào lưu truyền đến đời chúng ta — được đặt ngự trị, bởi vì cuộc sống, nhà cửa và đường phố của chúng ta chẳng cung cấp nổi một bệ phóng thích hợp nào cho nó cả. Chẳng có lấy một chiếc đinh để treo bức tranh, hay một chiếc kệ để đặt bức tượng bán thân của một anh hùng hay một vị thánh. Khi ngẫm nghĩ về cách mà những ngôi nhà của chúng ta được xây dựng và thanh toán — hoặc không thanh toán — cùng cách quản lý và duy trì nền kinh tế bên trong của chúng, tôi tự hỏi tại sao sàn nhà không sụp xuống dưới chân vị khách khi anh ta đang trầm trồ ngắm nghía những món đồ chơi vặt trên lò sưởi, để rơi thõng anh ta xuống tầng hầm, chạm đến một nền móng vững chắc và chân thành dẫu mang đậm mùi đất. Tôi không thể không nhận ra rằng cái gọi là cuộc đời giàu có và tao nhã này chỉ là một cú nhảy vọt bộc phát, và tôi chẳng thể tận hưởng nổi các loại hình mỹ thuật trang hoàng cho nó, khi mà sự chú ý của tôi hoàn toàn bị chiếm trọn bởi cú nhảy ấy; bởi vì tôi nhớ rằng cú nhảy vọt đích thực vĩ đại nhất, chỉ nhờ vào cơ bắp của con người được ghi chép lại, là của một số bộ tộc Ả Rập lang thang, những kẻ được cho là đã nhảy qua khoảng cách hai mươi lăm thước trên mặt đất bằng phẳng. Không có sự nâng đỡ giả tạo, con người chắc chắn sẽ rơi bịch xuống đất khi vượt qua khoảng cách đó. Câu hỏi đầu tiên mà tôi bị cám dỗ đặt ra cho chủ nhân của sự bất hợp lý vĩ đại đó là: Ai đang chống lưng cho anh vậy? Anh thuộc về nhóm chín mươi bảy kẻ phá sản hay nhóm ba kẻ thành công? Hãy trả lời tôi những câu hỏi đó, rồi có lẽ tôi mới ngắm nhìn những món đồ chơi trang sức của anh và thấy chúng có tính trang trí. Đặt xe trước con ngựa vừa không đẹp lại vừa chẳng hữu ích. Trước khi chúng ta có thể trang hoàng nhà cửa bằng những vật đẹp đẽ, những bức tường phải được lột sạch, cuộc sống của chúng ta phải được lột sạch, và việc quản gia đẹp đẽ cùng lối sống đẹp đẽ phải được đặt làm nền móng: giờ đây, niềm yêu thích cái đẹp được nuôi dưỡng mạnh mẽ nhất ở ngoài trời, nơi không có nhà cửa và không có người quản gia.
Cụ già Johnson trong tác phẩm “Wonder-Working Providence”, khi nói về những người định cư đầu tiên của thị trấn này — những người cùng thời với ông — kể cho chúng ta nghe rằng “họ tự đào hang dưới lòng đất làm nơi trú ẩn đầu tiên bên sườn đồi nào đó, và tung đất lên những khúc gỗ, họ nhóm một ngọn lửa đầy khói dựa vào vách đất ở phía cao nhất”. Họ không hề “sắm nhà cửa cho mình”, ông nói, “cho đến khi đất đai, nhờ ơn phước Chúa ban, sinh ra bánh mì để nuôi sống họ”, và vụ mùa năm đầu tiên quá nghèo nàn đến mức “họ buộc phải cắt bánh mì thật mỏng trong một thời gian dài”. Viên thư ký của Tỉnh New Netherland, viết bằng tiếng Hà Lan vào năm 1650 để cung cấp thông tin cho những ai muốn đến chiếm đất ở đó, đã mô tả chi tiết hơn rằng: “Những ai ở New Netherland, và đặc biệt là ở New England, không có phương tiện để xây dựng trang trại theo ý muốn ngay từ đầu, liền đào một cái hố vuông dưới đất theo kiểu hầm rượu, sâu sáu hoặc bảy thước, dài và rộng tùy ý, dựng ván ốp kín xung quanh tường đất bên trong, và lót lớp ván bằng vỏ cây hoặc thứ gì khác để ngăn đất sạt lở; lát sàn hầm bằng ván và đóng trần bên trên, dựng một khung mái kèo vút lên, rồi lợp kèo bằng vỏ cây hoặc cỏ xanh, sao cho họ có thể sống khô ráo và ấm áp trong những ngôi nhà đó cùng toàn bộ gia đình trong hai, ba, và bốn năm, với điều kiện là có dựng các bức vách ngăn bên trong những căn hầm đó sao cho phù hợp với kích thước gia đình. Những kẻ giàu có và quyền quý ở New England, vào thuở ban đầu của các thuộc địa, đã khởi sự những ngôi nhà đầu tiên của họ theo cách này vì hai lý do: thứ nhất, để không lãng phí thời gian xây dựng và không phải thiếu thốn lương thực trong vụ mùa tiếp theo; thứ hai, để không làm nản lòng những người lao động nghèo khổ mà họ đã đưa sang từng đoàn từ Quê Cha đất tổ. Trong vòng ba hoặc bốn năm, khi đất đai đã thích ứng với nông nghiệp, họ tự xây cho mình những ngôi nhà khang trang, chi phí lên tới vài ngàn.”
Trong cách làm mà tổ tiên chúng ta đã chọn, chí ít cũng có vẻ thận trọng, cứ như thể nguyên tắc của họ là thỏa mãn những nhu cầu cấp thiết trước đã. Nhưng liệu những nhu cầu cấp thiết hiện nay đã được thỏa mãn chưa? Khi nghĩ đến việc tậu cho mình một trong những ngôi nhà xa hoa ấy, tôi lại chần chừ, bởi vì nói một cách hình ảnh thì đất nước này vẫn chưa thích ứng với sự vun xới tinh thần của con người, và chúng ta vẫn buộc phải cắt chiếc bánh mì tâm linh của mình mỏng hơn nhiều so với cách tổ tiên chúng ta cắt bánh mì lúa mì. Không phải là mọi hoa văn kiến trúc đều phải bị bỏ bê ngay cả trong những thời kỳ thô sơ nhất; nhưng hãy để những ngôi nhà của chúng ta được lót đầy cái đẹp trước tiên — nơi chúng tiếp xúc với cuộc sống của chúng ta, giống như lớp vỏ của loài động vật có vỏ — chứ không phải bị phủ chồng lên bằng những thứ trang trí. Hỡi ôi, tôi đã từng đặt chân vào một hoặc hai ngôi nhà trong số đó và biết rõ bên trong chúng được lót bằng thứ gì.
Dẫu chúng ta không đến nỗi suy đồi đến mức có thể sống trong hang động hay lều wigwam hay mặc đồ da thú vào ngày nay, thì chắc chắn vẫn tốt hơn khi đón nhận những lợi thế — dẫu phải trả giá đắt đỏ đến đâu — mà sự phát minh và công nghiệp của nhân loại mang lại. Ở một vùng như thế này, ván và ván lợp, vôi và gạch rẻ hơn và dễ kiếm hơn so với những hang động thích hợp, hay những khúc gỗ nguyên vẹn, hoặc vỏ cây với số lượng đủ dùng, thậm chí cả đất sét được nhồi kỹ hay đá phiến phẳng. Tôi am hiểu tường tận về chủ đề này, bởi vì tôi đã tự mình tìm hiểu nó cả trên lý thuyết lẫn thực tiễn. Với chút ít sự khôn ngoan hơn, chúng ta có thể sử dụng những vật liệu này để trở nên giàu có hơn cả những kẻ giàu nhất hiện nay, và biến nền văn minh của mình thành một phước lành. Con người văn minh chỉ là một kẻ dã man có nhiều kinh nghiệm và khôn ngoan hơn mà thôi. Nhưng xin trở lại với cuộc thử nghiệm của chính mình.
Gần cuối tháng 3 năm 1845, tôi mượn một chiếc rìu và đi xuống khu rừng bên hồ Walden — nơi gần nhất với chỗ tôi định dựng nhà — và bắt đầu đốn hạ một số cây thông trắng cao vút, thẳng tắp hãy còn non trẻ để làm gỗ xẻ. Thật khó để khởi sự mà không phải mượn bất cứ thứ gì, nhưng có lẽ cho phép đồng loại của bạn có chung một phần hứng thú trong dự án của mình lại là cách ứng xử hào phóng nhất. Chủ nhân của chiếc rìu, khi trao nó lại cho tôi, đã nói rằng đó là con ngươi trong mắt anh ta; nhưng tôi đã trả lại nó sắc bén hơn lúc nhận về. Đó là một sườn đồi xinh xắn nơi tôi làm việc, được bao phủ bởi những rặng thông, qua đó tôi có thể nhìn ra hồ nước, cùng một khoảng đất trống nhỏ trong rừng nơi những cây thông và cây hồ đào đang đâm chồi nảy lộc. Băng trên hồ lúc ấy vẫn chưa tan hết, dẫu có một vài khoảng trống, và toàn bộ mặt nước đều có màu sẫm ngậm đầy nước. Có vài trận tuyết lất phất rơi trong những ngày tôi làm việc ở đó; nhưng phần lớn khi tôi bước ra tuyến đường sắt trên đường về nhà, đống cát vàng của nó trải dài lấp lánh trong bầu không khí mờ ảo, các thanh ray tỏa sáng dưới ánh nắng mùa xuân, và tôi nghe thấy tiếng chim chiền chiện, chim phoebe cùng những loài chim khác đã bay đến để bắt đầu một năm mới với chúng ta. Đó là những ngày mùa xuân dễ chịu, khi cái mùa đông bất mãn của con người đang tan giá cùng với đất đai, và sự sống vốn nằm mê mệt bắt đầu vươn vai trỗi dậy. Một ngày nọ, khi chiếc rìu của tôi bị tuột cán và tôi phải cắt một cành cây hồ đào tươi làm nêm, dùng một hòn đá để đóng nó vào, rồi ngâm toàn bộ vào một vũng nước trong hồ cho gỗ trương nở ra, tôi nhìn thấy một con sọc dưa bò xuống nước, và nó nằm lì dưới đáy, dường như chẳng hề thấy vướng víu gì, suốt thời gian tôi ở đó — hơn một phần tư giờ; có lẽ bởi vì nó vẫn chưa hoàn toàn tỉnh giấc sau trạng thái ngủ đông. Tôi chợt nghĩ rằng vì một lý do tương tự mà con người cứ mãi chìm đắm trong tình trạng thấp kém và nguyên thủy hiện tại; nhưng nếu họ cảm nhận được ảnh hưởng của mùa xuân chúa tể đang đánh thức họ, họ ắt sẽ vươn lên một đời sống cao cả và thanh tao hơn. Trước đó, vào những buổi sáng sương giá, tôi từng thấy những con rắn trên đường đi với một phần thân mình hãy còn tê cóng và cứng đờ, đang chờ ánh mặt trời làm chúng tan băng. Ngày 1 tháng 4 trời mưa và làm tan băng, và vào đầu ngày hôm đó, trời rất nhiều sương mù, tôi nghe thấy tiếng một con ngỗng lạc bầy đang mày mò quanh mặt hồ và kêu quác quác như thể bị lạc, hoặc giống như linh hồn của màn sương mù.
Thế là tôi tiếp tục công việc đốn và đẽo gỗ trong mấy ngày liền, cả các thanh trụ lẫn rường nhà, tất cả đều bằng chiếc rìu nhỏ của mình, trong khi tâm trí chẳng có mấy tư tưởng uyên bác hay mang tính học giả, chỉ lẩm bẩm hát một mình:—
Người ta bảo họ biết nhiều điều;
Nhưng kìa! chúng đã cất cánh bay cao,—
Nghệ thuật và khoa học,
Cùng hàng ngàn phương tiện ứng dụng;
Ngọn gió đang thổi
Là tất cả những gì bất kỳ ai biết.
Tôi đẽo những thanh cột chính vuông sáu tấc, hầu hết các thanh trụ chỉ đẽo hai mặt, còn các thanh rường và dầm sàn đẽo một mặt, để phần vỏ cây còn lại nguyên vẹn, nhờ đó chúng vừa thẳng tắp vừa chắc chắn hơn nhiều so với gỗ xẻ máy. Mỗi thanh gỗ được đục mộng cẩn thận ngay tại gốc cây của nó, bởi vì lúc này tôi đã mượn được những dụng cụ khác. Những ngày tháng trong rừng của tôi không quá dài; tuy nhiên, vào buổi trưa, tôi thường mang theo bữa trưa gồm bánh mì phết bơ, vừa đọc tờ báo dùng để bói gói nó vừa ngồi giữa những cành thông xanh mà tôi vừa chặt, và hương thơm của chúng phảng phất vào bánh mì của tôi, bởi vì đôi tay tôi lúc ấy được phủ một lớp nhựa thông dày đặc. Trước khi hoàn thành công việc, tôi đã trở thành bạn nhiều hơn là thù của cây thông, dẫu tôi vừa đốn ngã một số cây trong số chúng, bởi vì tôi đã trở nên am hiểu về chúng hơn. Thỉnh thoảng, một kẻ lang thang trong rừng bị thu hút bởi tiếng rìu của tôi, và chúng tôi trò chuyện rất vui vẻ bên đống dăm bào do chính tôi tạo ra.
Đến giữa tháng 4 — bởi vì tôi không hề vội vã trong công việc mà thay vào đó cố tận hưởng nó một cách trọn vẹn — ngôi nhà của tôi đã được dựng khung xong và sẵn sàng cho việc cất nóc. Tôi đã mua lại căn lều của James Collins — một người Ireland làm việc trên tuyến đường sắt Fitchburg — để lấy ván. Căn lều của James Collins được coi là đẹp hơn mức bình thường. Khi tôi ghé qua xem, anh ta không có nhà. Tôi đi dạo quanh bên ngoài, thoạt đầu không bị ai bên trong phát hiện, vì cửa sổ vừa sâu vừa cao. Nó có kích thước nhỏ, với phần mái nhà tranh nhọn chóp, và chẳng có gì khác để nhìn, vì đất được vun cao tận năm thước xung quanh cứ như thể một đống phân ủ vậy. Mái nhà là phần kiên cố nhất, dẫu đã bị cong vênh và giòn đi khá nhiều vì nắng. Bệ cửa thì không có, nhưng lại có một lối đi muôn thuở cho bầy gà luồn qua ngay dưới tấm ván cửa. Bà C. bước ra cửa và mời tôi vào xem bên phía trong. Bầy gà bị sự tiếp cận của tôi xua đuổi chạy vào trong. Bên trong tối tăm, nền nhà phần lớn bằng đất, ẩm ướt, nhớp nhúa và mang mầm bệnh sốt rét, chỉ có rải rác vài tấm ván không thể tháo dời. Bà ta thắp một ngọn đèn để cho tôi xem phần trong của mái nhà và các bức tường, đồng thời cho thấy sàn ván kéo dài tận dưới giường, cảnh báo tôi đừng bước chân xuống căn hầm — một thứ hố rác sâu hai thước. Theo lời bà ta kể, thì đó là “những tấm ván trần tốt, ván xung quanh tốt và một ô cửa sổ tốt” — vốn nguyên thủy có hai ô kính vuông, chỉ là con mèo vừa chui qua lối đó gần đây. Có một cái lò sưởi, một cái giường, một chỗ để ngồi, một đứa trẻ sơ sinh vừa chào đời trong nhà, một chiếc ô lụa che nắng, chiếc gương soi có viền mạ vàng và một chiếc máy xay cà phê kiểu mới đóng đinh vào một cây sồi non, tính ra chỉ có bấy nhiêu. Cuộc ngã giá nhanh chóng được kết luận, vì James đã về trong lúc đó. Tôi trả bốn đô la hai mươi lăm xu vào tối nay, anh ta phải dọn đi vào lúc năm giờ sáng mai, và không được bán cho bất cứ ai khác trong thời gian đó: tôi sẽ chính thức tiếp quản vào lúc sáu giờ. Anh ta bảo nên đến sớm để đề phòng những yêu sách mơ hồ nhưng hoàn toàn phi lý tính trên khoản tiền thuê đất và củi lửa. Anh ta đảm bảo với tôi đó là vướng mắc duy nhất. Đúng sáu giờ, tôi lướt qua anh ta và gia đình trên đường. Một bói đồ lớn chứa toàn bộ tài sản của họ — giường, máy xay cà phê, gương soi, gà — trừ con mèo, nó chạy trốn vào rừng và trở thành mèo hoang, để rồi như tôi được biết sau đó, nó đã vướng vào cái bẫy đặt bắt chuột chũi và cuối cùng thành một con mèo chết.
Tôi tháo dỡ ngôi nhà đó vào chính buổi sáng hôm đó, nhổ từng chiếc đinh ra, rồi chuyển nó đến bên bờ hồ bằng những chuyến xe cút kít nhỏ, trải các đám ván lên bãi cỏ ở đó để phơi nắng cho bạc màu và cong vênh trở lại như cũ. Một con chim hoét sớm mai cất lên vài tiếng hót khi tôi lái xe dọc theo lối mòn trong khu rừng. Tôi được một cậu nhóc Patrick tiết lộ trong sự phản bội rằng hàng xóm Seeley — một người Ireland — trong những khoảng nghỉ chuyển hàng, đã lén bỏ những chiếc đinh, ghim cài và đinh lớn còn thẳng và dùng được vào túi của mình, để rồi đứng đó khi tôi quay lại đi ngang qua chào hỏi, ngước đôi mắt tươi tỉnh, ngây thơ, đầy suy tư mùa xuân nhìn đống hoang tàn; vì theo lời cậu ta thì việc làm đang khan hiếm. Cậu ta có mặt ở đó để đại diện cho tầng lớp khán giả, và góp phần biến sự kiện tưởng chừng tầm thường này trở thành một thể thống nhất với cuộc di dời các vị thần thành Troy.
Tôi đào căn hầm của mình bên sườn một ngọn đồi thoai thoải về hướng nam, nơi trước kia một con chuột chũi từng đào hang, xuyên qua rễ cây sumach và mâm xôi, qua tận lớp trầm tích thực vật sâu nhất, kích thước sáu thước vuông sâu bảy thước, đến một tầng cát mịn nơi khoai tây sẽ không bị đông cứng trong bất kỳ mùa đông nào. Các bức tường được để xiên thoải chứ không kè đá; nhưng vì ánh mặt trời chưa từng chiếu rọi vào chúng nên lớp cát vẫn giữ nguyên vị trí. Đó chỉ là công việc của hai tiếng đồng hồ. Tôi vô cùng thích thú với việc đào xới đất đai này, bởi vì ở hầu hết mọi vĩ độ, con người đều đào sâu vào lòng đất để tìm kiếm một nền nhiệt độ ổn định. Dưới ngôi nhà lộng lẫy nhất trong thành phố vẫn luôn có căn hầm nơi họ cất trữ củ quả theo lối cũ, và lâu sau khi cấu trúc bên trên đã biến mất, hậu thế vẫn nhận ra dấu ấn lõm của nó trên mặt đất. Ngôi nhà suy cho cùng vẫn chỉ là một thứ hiên nhà ở lối vào của một cái hang.
Cuối cùng, vào đầu tháng 5, với sự giúp đỡ của một số người quen — chủ yếu để tận dụng cơ hội tốt đẹp cho tình làng nghĩa xóm chứ không phải vì bất kỳ sự cần thiết nào — tôi đã dựng khung ngôi nhà của mình lên. Chưa từng có ai được vinh danh trong tư cách những người cất nóc nhà hơn tôi. Tôi tin rằng họ được định sẵn để một ngày nào đó sẽ góp sức vào việc dựng lên những cấu trúc cao cả hơn. Tôi bắt đầu dọn vào ở trong nhà mình vào ngày 4 tháng 7, ngay khi nó được đóng ván và lợp mái, bởi vì những tấm ván đã được bào mép và gối chồng lên nhau một cách cẩn trọng, nhờ đó nó hoàn toàn chống thấm nước; nhưng trước khi đóng ván, tôi đã đặt nền móng cho một cái lò sưởi ở một đầu, tự tay khuân hai xe đá từ hồ lên đồi. Tôi xây lò sưởi sau vụ cuốc xới mùa thu, trước khi ngọn lửa trở nên cần thiết cho sự ấm áp, trong khi đó tôi nấu nướng ngoài trời trên mặt đất vào sáng sớm: một phương thức mà tôi vẫn nghĩ là ở một số khía cạnh tiện lợi và dễ chịu hơn cách thông thường. Khi trời đổ mưa trước khi bánh mì của tôi kịp chín, tôi dựng vài tấm ván lên che trên đống lửa và ngồi dưới đó canh ổ bánh của mình, và đã trải qua những giờ phút vô cùng dễ chịu theo cách ấy. Vào những ngày đó, khi đôi tay bận rộn với công việc, tôi đọc rất ít, nhưng dù chỉ là những mẩu giấy vụn nhỏ nhất nằm trên mặt đất, dùng làm khăn lót hay khăn trải bàn, cũng mang lại cho tôi sự giải trí dồi dào hệt như tác phẩm Iliad vậy.
Sẽ rất đáng để xây nhà một cách chậm rãi và cân nhắc hơn tôi rất nhiều, khi xem xét, chẳng hạn, nền móng của một cánh cửa, một ô cửa sổ, một căn hầm, một gác mái có cội nguồn sâu xa thế nào trong bản chất con người, và có lẽ không bao giờ dựng lên bất kỳ cấu trúc nào cho đến khi chúng ta tìm ra một lý do chính đáng hơn thế, vượt lên cả những nhu cầu thời gian của chúng ta. Có một sự tương hợp nhất định trong việc tự tay con người xây dựng nhà cho chính mình hệt như việc loài chim tự xây tổ. Ai mà biết được, nếu con người tự tay xây dựng nơi ở và tự kiếm thức ăn cho bản thân cùng gia đình một cách giản dị và lương thiện đủ đường, năng lực thi ca có lẽ sẽ được phát triển phổ quát, giống như loài chim luôn cất tiếng hót khi chúng bận rộn với công việc đó! Nhưng hỡi ôi! Chúng ta lại hành xử giống như chim tu hú và chim bồ câu vằn — đẻ trứng vào tổ do loài khác xây nên, và chẳng cất tiếng hót líu lo hay giai điệu phi âm nhạc nào để làm vui lòng lữ khách cả. Liệu chúng ta sẽ mãi mãi từ bỏ niềm vui xây dựng vào tay những người thợ mộc hay sao? Kiến trúc có ý nghĩa gì trong trải nghiệm của đại đa số mọi người? Trong suốt những chuyến đi dạo của mình, tôi chưa từng bắt gặp một con người nào bận rộn với một nghề nghiệp giản dị và tự nhiên đến thế là xây nhà. Chúng ta thuộc về cộng đồng. Không chỉ có thợ may mới là một phần chín của một con người; nhà thuyết giáo, thương gia và nông dân cũng đóng vai trò y hệt. Sự phân công lao động này sẽ chấm dứt ở đâu? Và cuối cùng nó phục vụ mục đích gì? Chắc chắn người khác cũng có thể suy nghĩ hộ tôi; nhưng điều đó không có nghĩa là điều đó là đáng mong ước đến mức loại trừ việc tôi tự suy nghĩ cho chính mình.
Đúng là có những kẻ được gọi là kiến trúc sư ở đất nước này, và tôi từng nghe về ít nhất một người mang tư tưởng làm cho các hoa văn trang trí kiến trúc có một cốt lõi chân thật, một sự cần thiết, và do đó mang lại vẻ đẹp, cứ như thể đó là một sự khải huyền dành cho anh ta. Tất cả điều đó có lẽ đều ổn từ quan điểm của anh ta, nhưng chỉ nhỉnh hơn một chút so với thứ chủ nghĩa tài tử thông thường. Là một nhà cải cách mang tính cảm xúc trong kiến trúc, anh ta bắt đầu từ gờ mái, chứ không phải từ nền móng. Vấn đề chỉ là làm sao nhét một lõi sự thật vào bên trong các vật trang trí, sao cho thực tế là mọi viên kẹo đường đều phải có một hạt hạnh nhân hoặc hạt mùi bên trong — dẫu tôi cho rằng hạnh nhân ăn không có đường mới là bổ dưỡng nhất — chứ không phải là làm sao để người cư ngụ, kẻ ở bên trong, có thể xây dựng một cách chân thật từ trong ra ngoài và mặc kệ mấy thứ trang trí tự lo lấy thân. Có kẻ có lý trí nào từng cho rằng trang trí là thứ gì đó nằm ở bên ngoài và chỉ thuộc về bề lớp da — rằng con rùa có được chiếc mai đốm, hay loài nhuyễn thể có được sắc xà cừ, là nhờ một bản hợp đồng giống như cư dân phố Broadway xây Nhà thờ Trinity hay sao? Nhưng con người chẳng liên quan gì đến phong cách kiến trúc ngôi nhà của mình hơn là con rùa đối với chiếc mai của nó cả; người lính cũng chẳng cần phải rảnh rỗi đến mức cố vẽ cho bằng được chính xác màu sắc của đức hạnh lên lá cờ của anh ta. Kẻ thù rồi sẽ tự khắc phát hiện ra nó. Anh ta có thể tái mặt khi thử thách ập đến. Kẻ này dường như cúi người qua gờ mái và thì thầm rụt rè nửa vời chân lý của mình với những cư dân thô kệch, những kẻ thực ra hiểu rõ điều đó hơn cả anh ta. Bất kỳ vẻ đẹp kiến trúc nào tôi nhìn thấy hiện nay, tôi đều biết nó đã dần mọc lên từ trong ra ngoài, xuất phát từ nhu cầu và tính cách của kẻ cư ngụ — người duy nhất thực sự là thợ xây — xuất phát từ một tính chân thật vô thức và sự cao thượng, mà chưa từng mảy may nghĩ đến vẻ ngoài; và bất kỳ vẻ đẹp bổ sung nào mang tính chất này được định sẵn ra đời cũng sẽ được đi sau một vẻ đẹp cuộc đời vô thức tương tự. Những chốn cư ngụ thú vị nhất ở đất nước này, như các họa sĩ đều biết, thường là những túp lều gỗ và nhà tranh khiêm nhường, không phô trương của người nghèo; chính cuộc sống của những cư dân mang lớp vỏ đó, chứ không phải bất kỳ sự đặc biệt nào trên bề mặt của chúng, mới làm cho chúng trở nên nên thơ; và tương tự cũng sẽ vô cùng thú vị đối với căn nhà ngoại ô của một công dân, khi cuộc sống của anh ta giản dị và dễ chịu đối với trí tưởng tượng, và chẳng có chút gượng gạo vì hiệu ứng nào trong phong cách ngôi nhà của anh ta. Phần lớn các hoa văn trang trí kiến trúc thực chất là rỗng tuếch, và một cơn cuồng phong tháng Chín sẽ lột sạch chúng đi tựa như những chiếc lông vũ đi mượn mà chẳng làm tổn hại gì đến phần cấu trúc cốt lõi. Người ta hoàn toàn có thể sống không cần kiến trúc nếu dưới hầm chẳng có lấy một hủ ô liu hay vại rượu vang nào. Sẽ ra sao nếu người ta làm rùm beng tương tự về các đồ trang trí văn phong trong văn học, và các kiến trúc sư của những cuốn kinh thánh dành nhiều thời gian cho phần gờ mái của họ hệt như các kiến trúc sư nhà thờ của chúng ta đang làm? Đó chính là cách mà văn chương bác học (belles-lettres), mỹ thuật (beaux-arts) và các giáo sư của chúng ra đời. Thật là quan hệ mật thiết làm sao đối với một con người khi vài thanh gỗ được đè nghiêng trên đầu hay dưới chân anh ta, và những màu sắc nào được trát lên cái hộp của anh ta. Mọi chuyện sẽ có ý nghĩa đôi chút, nếu theo một nghĩa chân thành nào đó, chính anh ta là kẻ đè nghiêng chúng và trát màu lên cái hộp ấy; nhưng khi linh hồn đã rời bỏ người thuê nhà, thì việc đó cũng chẳng khác gì việc tự tay đóng chiếc quan tài cho chính mình — kiến trúc của nấm mồ, và từ “thợ mộc” chẳng qua chỉ là một tên gọi khác của “thợ đóng quan tài”. Có kẻ trong cơn tuyệt vọng hoặc sự lãnh đạm với cuộc đời đã thốt lên rằng, hãy nhặt một nắm đất dưới chân anh và sơn ngôi nhà của anh bằng màu đó. Phải chăng anh ta đang nghĩ đến ngôi nhà chật hẹp cuối cùng của mình? Hay tung một đồng xu để quyết định khẩn trương cũng vậy thôi. Anh ta chắc hẳn phải có dư dả thời gian rảnh rỗi biết bao! Cớ sao lại nhặt một nắm đất bẩn? Tốt hơn là hãy sơn ngôi nhà bằng chính sắc diện của khuôn mặt anh; hãy để nó tái mặt hoặc đỏ mặt thay cho anh. Một dự án nhằm cải thiện phong cách kiến trúc nhà tranh! Khi nào các người chuẩn bị xong đồ trang trí cho tôi, khi đó tôi sẽ mặc chúng lên người.
Trước mùa đông, tôi đã xây một cái lò sưởi và lợp ván lợp các bức tường của ngôi nhà — vốn đã chống thấm nước từ trước — bằng những tấm ván lợp khiếm khuyết và nhiều nhựa được cắt ra từ thớ gỗ đầu tiên, mà các cạnh của chúng buộc phải được nắn thẳng bằng một chiếc bào.
Thế là tôi có được một ngôi nhà kín gió được lợp ván lợp và trát vữa cẩn thận, rộng mười thước, dài mười lăm thước, với các cột trụ cao tám thước, có một gác mái và một phòng chứa đồ, một cửa sổ lớn ở mỗi bên, hai cửa sập, một cửa ra vào ở đầu hồi và một lò sưởi bằng gạch ở phía đối diện. Chi phí chính xác của ngôi nhà tôi — trả theo giá thông thường cho những vật liệu tôi sử dụng, nhưng không tính công lao động vì toàn bộ đều do chính tôi tự tay làm — cụ thể như sau; và tôi đưa ra các chi tiết bởi vì rất ít người có thể nói chính xác ngôi nhà của họ tốn bao nhiêu tiền, và thậm chí còn ít hơn nữa — nếu có — biết rõ chi phí riêng biệt của từng loại vật liệu cấu thành nên chúng:—
Tất cả các vật liệu này đều ngoại trừ đá, cát và gỗ mà tôi tuyên bố quyền sở hữu của kẻ chiếm đất (squatter). Tôi cũng có một nhà kho chứa củi nhỏ ở sát bên, làm chủ yếu từ những vật liệu thừa sau khi xây nhà.
Tôi dự định sẽ tự xây một ngôi nhà vượt trội hơn bất kỳ ngôi nhà nào trên con phố chính ở Concord về độ láng lẫy và xa hoa, ngay khi nó làm tôi hài lòng nhiều hệt như ngôi nhà hiện tại và không tốn kém hơn.
Qua đó, tôi nhận ra rằng một học sinh khao khát có một nơi trú ẩn hoàn toàn có thể sở hữu nó suốt đời với một khoản chi phí không lớn hơn khoản tiền thuê nhà mà anh ta hiện phải trả hàng năm. Nếu tôi có vẻ khoe khoang hơn mức phải phép, lời bào chữa của tôi là tôi đang ca tụng nhân loại thay vì ca tụng bản thân; và những thiếu sót hay mâu thuẫn của tôi chẳng hề làm suy suyển tính chân thực trong tuyên bố của tôi. Bất chấp vô số những lời đạo đức giả và thói ngụy biện — những hạt trấu mà tôi thấy khó lòng tách khỏi lúa mì của mình, nhưng tôi cũng lấy làm tiếc hệt như bất kỳ ai — tôi vẫn sẽ hít thở một cách tự do và vươn vai sảng khoái về mặt này, bởi đó là một sự giải tỏa quá lớn lao cho cả hệ thống thể xác lẫn đạo đức; và tôi tự quyết tâm sẽ không vì sự khiêm nhường mà hóa thân thành luật sư của ác quỷ. Tôi sẽ nỗ lực cất lên một lời hay ý đẹp cho sự thật. Tại Đại học Cambridge, chỉ riêng tiền thuê phòng của một sinh viên — vốn chỉ lớn hơn phòng của tôi một chút — đã lên tới ba mươi đô la mỗi năm, mặc dù ban quản trị có lợi thế là xây dựng ba mươi hai phòng sát cạnh nhau dưới một mái nhà, và người ở phải chịu đựng sự bất tiện từ vô số những người hàng xóm ồn ào, có khi còn phải ở tận tầng bốn. Tôi không thể không nghĩ rằng nếu chúng ta có nhiều sự khôn ngoan chân thực hơn trong những vấn đề này, thì không chỉ cần ít giáo dục hơn — bởi vì, ừm, con người ta đã thu nhận được nhiều hơn từ trước — mà chi phí tài chính để có được một nền giáo dục cũng sẽ phần lớn tan biến. Những tiện nghi mà sinh viên yêu cầu tại Cambridge hoặc bất cứ đâu đều đòi hỏi chính cậu ta hoặc một ai đó phải hy sinh cuộc sống gấp mười lần so với khi có sự quản lý hợp lý từ cả hai phía. Những thứ đòi hỏi nhiều tiền bạc nhất không bao giờ là những thứ mà sinh viên khao khát nhất. Học phí, chẳng hạn, là một khoản mục quan trọng trong hóa đơn học kỳ, trong khi đối với nền giáo dục có giá trị hơn nhiều mà cậu ta thu nhận được qua việc giao thiệp với những người ưu tú nhất trong số những người cùng thời, người ta lại chẳng thu một khoản phí nào cả. Phương thức thành lập một trường đại học thông thường là quyên góp tiền bạc, rồi sau đó mù quáng tuân theo nguyên tắc phân công lao động đến cực đoan — một nguyên tắc không bao giờ nên tuân thủ mà không có sự thận trọng — để thuê một nhà thầu biến việc này thành một thương vụ trục lợi, và anh ta thuê những người Ireland hoặc công nhân khác thực tế đặt những viên móng đầu tiên, trong khi những sinh viên tương lai thì được cho là đang chuẩn bị tinh thần cho nó; và cho những sự buông lỏng quản lý này, các thế hệ nối tiếp nhau phải trả giá. Tôi nghĩ rằng việc để cho chính các sinh viên, hoặc những ai mong muốn thụ hưởng nó, tự tay đặt những viên móng đầu tiên còn tốt hơn thế nhiều. Sinh viên nào đảm bảo được thời gian rảnh rỗi và sự yên tĩnh ao ước của mình bằng cách né tránh một cách có hệ thống bất kỳ lao động nào cần thiết cho con người sẽ chỉ thu về một khoảng thời gian rảnh rỗi hèn hạ và vô ích, tự tước đi trải nghiệm vốn là thứ duy nhất có thể làm cho thời gian rảnh rỗi trở nên phong phú. “Nhưng,” có kẻ sẽ nói, “ý anh không phải là sinh viên nên lao động chân tay thay vì lao động trí óc đấy chứ?” Ý tôi không hẳn chính xác là thế, nhưng ý tôi là một điều gì đó mà cậu ta có thể nghĩ là rất giống với điều đó; ý tôi là họ không nên xem cuộc sống là một trò đùa, hay chỉ học tập nó một cách hời hợt, trong khi cộng đồng chống lưng cho họ trong trò chơi đắt đỏ này, mà phải thực sự sống nó một cách nghiêm túc từ đầu đến cuối. Còn cách nào tốt hơn để tuổi trẻ học cách sống ngoài việc dẫm chân ngay vào thử nghiệm của cuộc sống? Tưởng chừng điều này sẽ rèn luyện tâm trí họ nhiều hệt như môn toán học vậy. Nếu tôi muốn một cậu nhóc hiểu biết đôi chút về nghệ thuật và khoa học, chẳng hạn, tôi sẽ không theo đuổi con đường thông thường — vốn chỉ đơn thuần là đưa cậu ta đến gần một vị giáo sư nào đó, nơi bất cứ thứ gì cũng được giảng dạy và thực hành ngoại trừ nghệ thuật sống — để ngắm nhìn thế giới qua kính viễn vọng hay kính hiển vi mà không bao giờ bằng đôi mắt tự nhiên của mình; để học hóa học mà không biết bánh mì của mình được làm ra thế nào, hoặc học cơ khí mà không biết nó được kiếm ra bằng cách nào; để khám phá ra những vệ tinh mới của sao Hải Vương mà không phát hiện ra những hạt bụi trong mắt mình, hay bản thân mình là vệ tinh của gã lang thang nào; hoặc bị nuốt chửng bởi những con quái vật bủa vây xung quanh trong lúc đang trầm trồ ngắm nhìn những con quái vật trong một giọt giấm. Ai sẽ là kẻ tiến bộ nhiều nhất vào cuối tháng — cậu nhóc tự làm cho mình một con dao nhỏ từ quặng tự tay mình đào và luyện, đọc những gì cần thiết cho việc đó — hay cậu nhóc tham dự các bài giảng về luyện kim tại Viện trong thời gian đó và được bố mua cho một con dao xếp Rodgers? Ai sẽ là kẻ có nhiều khả năng tự cắt đứt ngón tay mình hơn?... Đến sự ngạc nhiên của tôi, khi rời khỏi đại học, tôi được thông báo rằng mình đã học môn hàng hải! — chao ôi, nếu tôi chỉ lướt một vòng ra cửa biển thôi, tôi đã hiểu biết nhiều hơn về nó rồi. Ngay cả sinh viên nghèo cũng chỉ học và được dạy về kinh tế học chính trị, trong khi thứ kinh tế học của cuộc sống vốn đồng nghĩa với triết lý lại chẳng hề được giảng dạy một cách chân thành trong các trường đại học của chúng ta. Hệ quả là, trong lúc đang đọc sách của Adam Smith, Ricardo và Say, cậu ta lại đẩy người cha của mình ngập vào những khoản nợ không tài nào trả nổi.
Cũng giống như các trường đại học của chúng ta, hàng trăm thứ “cải tiến hiện đại” khác cũng mang lại một ảo ảnh; chúng không phải lúc nào cũng là một bước tiến thực dương. Ác quỷ vẫn tiếp tục đòi lãi kép cho đến tận cùng đối với khoản đầu tư ban đầu và vô số khoản đầu tư kế tiếp của hắn vào chúng. Các phát minh của chúng ta thường chỉ là những món đồ chơi xinh xắn, làm phân tán sự chú ý của chúng ta khỏi những điều nghiêm túc. Chúng chỉ là những phương tiện được cải tiến cho một mục tiêu không được cải tiến — một mục tiêu mà việc đạt được nó vốn dĩ đã quá dễ dàng rồi; hệt như các tuyến đường sắt dẫn đến Boston hay New York vậy. Chúng ta đang vô cùng vội vã xây dựng một tuyến điện báo từ Maine đến Texas; nhưng Maine và Texas, rất có thể, chẳng có điều gì quan trọng để trao đổi với nhau cả. Cả hai đều rơi vào tình cảnh y hệt người đàn ông tha thiết muốn được giới thiệu với một nữ quý tộc bị điếc nổi tiếng, nhưng khi được giới thiệu, và một đầu chiếc loa trợ thính của bà được nhét vào tay ông ta, ông ta lại chẳng biết nói gì. Cứ như thể mục tiêu chính là phải nói thật nhanh chứ không phải nói năng có lý trí. Chúng ta háo hức đào đường hầm dưới Đại Tây Dương và kéo thế giới cũ lại gần thế giới mới hơn vài tuần; nhưng rất có thể tin tức đầu tiên lọt qua đôi tai rộng lớn, phất phơ của người Mỹ sẽ là việc Công chúa Adelaide bị ho gà. Suy cho cùng, kẻ có con ngựa phi một dặm trong một phút không hề mang theo những thông điệp quan trọng nhất; anh ta không phải là một sứ đồ, cũng chẳng đi quanh ăn châu chấu và mật ong rừng. Tôi nghi ngờ liệu chú ngựa chiến nổi tiếng Flying Childers có từng chở nổi một vạ ngô nào ra cối xay hay không.
Có người bảo tôi rằng: “Tôi ngạc nhiên là anh chẳng chịu tích lũy tiền bạc gì cả; anh thích du lịch mà; anh hoàn toàn có thể lên tàu và đi Fitchburg ngay hôm nay để ngắm cảnh sắc.” Nhưng tôi khôn ngoan hơn thế. Tôi đã học được rằng lữ khách nhanh nhất chính là kẻ đi bộ. Tôi bảo với bạn tôi rằng: Nào, chúng ta hãy thử xem ai sẽ đến đó trước nhé. Khoảng cách là ba mươi dặm; tiền vé là chín mươi xu. Số tiền đó gần bằng tiền công một ngày. Tôi còn nhớ khi tiền công là sáu mươi xu một ngày cho những công nhân làm việc trên chính tuyến đường sắt này. Vâng, tôi bắt đầu đi bộ ngay bây giờ, và sẽ đến đó trước khi trời tối; tôi đã đi lại với tốc độ đó hàng tuần liền. Trong khi đó, bạn sẽ phải làm việc để kiếm tiền vé, và đến đó vào lúc nào đó ngày mai, hoặc có lẽ tối nay, nếu bạn may mắn kiếm được một việc làm kịp thời. Thay vì đi Fitchburg, bạn sẽ phải làm việc ở đây phần lớn thời gian trong ngày. Và cứ thế, nếu đường sắt vắt ngang vòng quanh quả địa cầu, tôi nghĩ rằng mình vẫn sẽ đi trước bạn; còn về chuyện ngắm cảnh và thu thập trải nghiệm kiểu đó, tôi thà cắt đứt hoàn toàn quan hệ với bạn còn hơn.
Đó là quy luật phổ quát mà không một con người nào có thể khôn khéo vượt qua được, và đối với đường sắt, chúng ta thậm chí có thể nói rằng nó dài bằng rộng. Biến một tuyến đường sắt vòng quanh thế giới trở thành khả dụng cho toàn nhân loại cũng tương đương với việc san phẳng toàn bộ bề mặt hành tinh này. Con người mang một ý niệm mơ hồ rằng nếu họ duy trì sự cuồng nhiệt của cổ phần chung và những chiếc xẻng này đủ lâu, cuối cùng tất cả mọi người sẽ được đi đến đâu đó, trong chớp mắt, và miễn phí; nhưng dẫu đám đông có xô đẩy nhau chạy ra nhà ga, và người soát vé hét lên “Lên tàu nào!”, thì khi làn khói tan đi và hơi nước ngưng tụ, người ta sẽ nhận ra rằng chỉ có một vài kẻ được đi, còn số còn lại bị cán chết — và điều đó sẽ được gọi, và thực sự là, “Một tai nạn thương tâm”. Chắc chắn những kẻ đã kiếm đủ tiền vé cuối cùng rồi cũng sẽ được đi, nghĩa là nếu họ sống sót được đến lúc đó, nhưng có lẽ lúc đó họ đã đánh mất sự dẻo dai và niềm khao khát đi du lịch rồi. Việc tiêu xốn phần lớn cuộc đời để kiếm tiền cốt nhằm tận hưởng một thứ tự do đáng ngờ trong quãng thời gian ít giá trị nhất của nó, khiến tôi nhớ đến người Anh sang Ấn Độ trước tiên để kiếm một gia tài, rồi sau đó trở về Anh sống cuộc đời của một thi thể sĩ. Lẽ ra anh ta nên trèo thẳng lên gác mái từ đầu thì hơn. “Cái gì!” một triệu người Ireland vùng dậy từ mọi túp lều trên khắp đất nước kêu lên, “chẳng phải tuyến đường sắt mà chúng ta vừa xây dựng là một điều tốt đẹp hay sao?” Phải, tôi đáp, tương đối tốt, nghĩa là, các anh hoàn toàn có thể làm tệ hơn; nhưng tôi ước gì, vì các anh là anh em của tôi, các anh có thể dùng thời gian của mình vào việc khác thay vì đào bới trong đống bùn đất này.
Trước khi hoàn thành ngôi nhà của mình, vì muốn kiếm mười hoặc mười hai đô la bằng một phương thức lương thiện và dễ chịu nào đó nhằm trang trải những khoản chi phí bất thường, tôi đã trồng khoảng hai mẫu rưỡi đất cát pha nhẹ gần nhà, chủ yếu là đậu, nhưng cũng có một phần nhỏ khoai tây, ngô, đậu Hà Lan và củ cải. Toàn bộ mảnh đất rộng mười một mẫu, phần lớn mọc lên những cây thông và cây hồ đào, và từng được bán vào mùa trước với giá tám đô la tám xu một mẫu. Một người nông dân bảo rằng nó “chẳng có tích sự gì ngoài việc nuôi lũ sóc kêu éc éc”. Tôi không hề bón bất kỳ loại phân bón nào lên mảnh đất này, vì không phải là chủ sở hữu mà chỉ là kẻ chiếm đất, và không mong đợi sẽ canh tác lớn như vậy nữa, nên tôi cũng không cuốc sạch nó một lần. Tôi đã đào lên vài khóm gốc cây khi cày xốc, chúng cung cấp củi sưởi cho tôi trong một thời gian dài, và để lại những vòng đất màu mỡ nguyên sinh, dễ dàng nhận ra suốt mùa hè nhờ sự tươi tốt khác thường của những khóm đậu mọc ở đó. Phần gỗ mục — và phần lớn là không thể bán được — đằng sau nhà tôi, cùng với củi trôi dạt từ hồ, đã cung cấp phần nhiên liệu còn lại. Tôi buộc phải thuê một cỗ xe và một người để cày bừa, dẫu tôi tự tay cầm cày. Chi phí làm nông trại của tôi trong mùa đầu tiên cho dụng cụ, hạt giống, nhân công, v.v., là $14.72½. Hạt giống ngô được cho tôi. Thứ này chẳng bao giờ tốn kém gì đáng kể, trừ khi bạn trồng nhiều hơn mức cần thiết. Tôi thu được mười hai giạ đậu, mười tám giạ khoai tây, bên cạnh một ít đậu Hà Lan và ngô ngọt. Ngô vàng và củ cải đến muộn nên chẳng thu hoạch được gì.
Toàn bộ thu nhập của tôi từ nông trại là
bên cạnh lượng nông sản đã tiêu thụ và còn tồn đọng tại thời điểm ước tính này trị giá $4.50 — số lượng tồn đọng bù đắp vượt trội so với một ít cỏ mà tôi không hề trồng. Xét toàn diện mọi thứ — nghĩa là xét đến tầm quan trọng của linh hồn con người và của ngày hôm nay, bất chấp khoảng thời gian ngắn ngủi của cuộc thử nghiệm, vâng, thậm chí một phần vì tính chất tạm thời của nó — tôi tin rằng việc đó còn tốt hơn bất kỳ người nông dân nào ở Concord làm được trong năm ấy.
Năm tiếp theo tôi còn làm tốt hơn nữa, bởi vì tôi tự tay cuốc xới toàn bộ mảnh đất mình cần — khoảng một phần ba mẫu — và tôi học được từ trải nghiệm của cả hai năm, không hề bị khuất phục chút nào bởi những tác phẩm nông học nổi tiếng — trong đó có Arthur Young — rằng nếu một người muốn sống giản dị và chỉ ăn những nông sản do chính mình làm ra, và không trồng nhiều hơn mức mình ăn, không đổi chác chúng lấy một lượng nhỏ những thứ xa hoa và đắt đỏ kém chất lượng hơn, anh ta sẽ chỉ cần canh tác vài sào đất, và việc cuốc xới mảnh đất đó sẽ rẻ hơn là dùng bò để cày, và việc lựa chọn một mảnh đất mới theo định kỳ sẽ rẻ hơn là bón phân cho mảnh đất cũ, và anh ta có thể làm tất cả các công việc nông trại cần thiết bằng tay trái của mình vào những giờ rảnh rỗi trong mùa hè; và nhờ đó anh ta sẽ không bị trói buộc vào một con bò đực, ngựa, bò cái hay heo như hiện tại. Tôi muốn trình bày một cách vô tư về điểm này, như một kẻ không mưu cầu lợi ích gì trong sự thành công hay thất bại của các sắp xếp kinh tế và xã hội hiện tại. Tôi độc lập hơn bất kỳ người nông dân nào ở Concord, bởi vì tôi không bị neo đậu vào một ngôi nhà hay nông trại nào, mà có thể chạy theo xu hướng thiên tài của mình — vốn là một thứ rất quái dị — vào mọi khoảnh khắc. Ngoài việc có đời sống tốt hơn họ từ trước, nếu ngôi nhà của tôi bị cháy hoặc mùa màng thất bát, tôi vẫn sẽ có hoàn cảnh tốt gần như trước.
Tôi thường nghĩ rằng con người không phải là những kẻ giữ gia súc mà chính gia súc mới là những kẻ giữ con người, bởi vì loài vật có sự tự do hơn hẳn. Con người và bò đực trao đổi công việc cho nhau; nhưng nếu chúng ta chỉ tính đến công việc cần thiết, bò đực sẽ tỏ ra có lợi thế lớn hơn nhiều, vì nông trại của chúng lớn hơn nhiều. Con người thực hiện một phần công việc trao đổi trong sáu tuần gặt cỏ, và đó chẳng phải trò đùa trẻ con gì đâu. Chắc chắn không có quốc gia nào sống giản dị toàn diện — nghĩa là, không có quốc gia nào của các triết học gia — lại mắc phải sai lầm lớn đến mức sử dụng sức lao động của loài vật. Đúng là chưa từng có và có lẽ cũng chẳng sớm có một quốc gia của các triết học gia, tôi cũng không chắc điều đó là đáng mong ước. Tuy nhiên, tôi sẽ không bao giờ thuần hóa một con ngựa hay con bò đực rồi nuôi nó chỉ vì bất kỳ công việc nào nó có thể làm cho tôi, vì sợ rằng bản thân sẽ trở thành một kẻ cưỡi ngựa hoặc kẻ chăn gia súc thuần túy; và nếu xã hội dường như là kẻ thu lời từ việc đó, liệu chúng ta có chắc rằng điều là món lợi của người này lại không phải là tổn thất của kẻ khác, và cậu bé chăn nuôi có lý do ngang bằng với ông chủ của nó để cảm thấy mãn nguyện hay không? Cứ cho là một số công trình công cộng sẽ không thể được xây dựng nếu thiếu đi sự trợ giúp này, và hãy để con người chia sẻ vinh quang đó cùng con bò và con ngựa; nhưng liệu có suy ra được rằng trong trường hợp đó anh ta không thể hoàn thành những công trình thậm chí còn xứng đáng hơn với bản thân mình hay sao? Khi con người bắt đầu thực hiện — không chỉ những công việc phi nghệ thuật hay không cần thiết, mà cả những công việc xa hoa và rảnh rỗi — với sự trợ giúp của chúng, thì không thể tránh khỏi việc một vài kẻ làm toàn bộ công việc trao đổi cùng bầy bò, hay nói cách khác, trở thành nô lệ của kẻ mạnh nhất. Nhờ đó, con người không chỉ làm việc cho phần con bên trong mình, mà biểu tượng cho điều đó là anh ta còn làm việc cho phần con bên ngoài mình. Dẫu chúng ta có rất nhiều ngôi nhà kiên cố bằng gạch hoặc đá, sự thịnh vượng của người nông dân vẫn được đo lường bằng mức độ mà cái chuồng ngựa lấn át cả ngôi nhà. Thị trấn này được đồn là có những ngôi nhà lớn nhất dành cho bò, bò cái và ngựa ở vùng này, và nó cũng chẳng thua kém ai trong các công trình công cộng; nhưng có rất ít phòng họp dành cho sự tự do tôn giáo hay tự do ngôn luận ở quận này. Lẽ ra các quốc gia không nên tìm cách tưởng niệm bản thân bằng kiến trúc của họ, mà sao không phải bằng chính sức mạnh tư duy trừu tượng của họ? Tác phẩm Bhagvat-Geeta mới đáng ngưỡng mộ làm sao so với toàn bộ các phế tích của phương Đông! Những ngọn tháp và đền đài chỉ là sự xa hoa của các bậc vương tôn. Một tâm hồn giản dị và độc lập không bao giờ lao động theo lệnh của bất kỳ vị hoàng tử nào. Thiên tài không phải là kẻ ăn nhờ ở đậu của bất kỳ hoàng đế nào, nguyên liệu của nó cũng chẳng phải bạc, vàng hay đá cẩm thạch, ngoại trừ một phần không đáng kể. Hỡi ơi, người ta đẽo đá lắm thế để làm gì? Ở xứ Arcadia, khi tôi ở đó, tôi chẳng thấy ai đập đá cả. Các quốc gia bị ám ảnh bởi một tham vọng điên cuồng muốn bất tử hóa ký ức về bản thân qua khối lượng đá đẽo mà họ để lại. Sẽ ra sao nếu người ta dành nỗ lực tương đương để mài giũa và làm bóng bẩy cách ứng xử của họ? Một mẩu khôn ngoan sẽ đáng nhớ hơn cả một tượng đài cao chạm tới mặt trăng. Tôi thích ngắm những viên đá nằm đúng vị trí của chúng hơn. Sự vĩ đại của thành Thebes chỉ là một sự vĩ đại tầm thường. Thực tế hơn biết bao là một sào tường đá bao quanh cánh đồng của một người lương thiện, còn hơn là một thành Thebes trăm cổng đã đi lạc quá xa khỏi mục đích đích thực của cuộc sống. Tôn giáo và văn minh mang tính dã man và ngoại đạo mới xây dựng những ngôi đền lộng lẫy; nhưng thứ mà bạn có thể gọi là Cơ Đốc giáo thì không. Hầu hết những viên đá mà một quốc gia đẽo gọt đều hướng tới ngôi mộ của chính nó mà thôi. Nó tự chôn sống chính mình. Còn về các Kim tự塔, chẳng có gì để phải trầm trồ ở đó ngoài thực tế là người ta có thể tìm thấy quá nhiều kẻ bị tha hóa đến mức dành trọn cuộc đời để xây dựng lăng mộ cho một gã ngốc đầy tham vọng — kẻ mà nếu dìm hắn xuống sông Nile rồi cho chó ăn thịt thì sẽ khôn ngoan và trượng phu hơn biết mấy. Tôi có thể tìm cách ngụy biện phần nào cho họ và hắn, nhưng tôi không có thời gian cho việc đó. Còn về tôn giáo và tình yêu nghệ thuật của những kẻ xây dựng, thì ở đâu cũng rứa thôi, dù công trình là một ngôi đền Ai Cập hay Ngân hàng Hoa Kỳ. Cái giá phải trả đắt hơn nhiều so với giá trị thu về. Động lực chính là sự hư vinh, được tiếp tay bởi niềm yêu thích tỏi và bánh mì phết bơ. Ông Balcom, một kiến trúc sư trẻ đầy triển vọng, thiết kế nó ở mặt sau cuốn sách Vitruvius của mình bằng một cây bút chì cứng và cây thước kẻ, rồi công việc được khoác lại cho Dobson & Sons, những thợ cắt đá. Khi ba mươi thế kỷ bắt đầu ngước nhìn xuống nó, nhân loại cũng bắt đầu ngước nhìn lên nó. Còn về những ngọn tháp cao và tượng đài của các anh, từng có một gã điên ở thị trấn này ôm mộng đào xuyên qua tận Trung Quốc, và hắn tiến xa đến mức, theo lời hắn nói, hắn nghe thấy tiếng ấm nồi của người Trung Hoa lách cách; nhưng tôi nghĩ mình sẽ không đi đường vòng để ngắm cái hố mà hắn đã đào đâu. Nhiều kẻ bận tâm đến những tượng đài ở phương Tây và phương Đông — muốn biết ai là kẻ đã xây dựng chúng. Phần mình, tôi muốn biết vào những thời đó ai là kẻ không xây dựng chúng — những ai đứng cao hơn những trò vặt vãnh đó. Nhưng xin tiếp tục với các số liệu thống kê của tôi.
Trong thời gian đó, nhờ công việc trắc địa, mộc và lao động chân tay đủ loại trong làng — vì tôi có nhiều nghề trong tay như số ngón trên bàn tay — tôi đã kiếm được $13.34. Chi phí thức ăn trong tám tháng, cụ thể từ ngày 4 tháng 7 đến ngày 1 tháng 5 — thời điểm các ước tính này được thực hiện, dẫu tôi sống ở đó hơn hai năm — không tính khoai tây, một ít ngô xanh và đậu Hà Lan mà tôi tự trồng, cũng như không tính giá trị của số nông sản còn tồn đọng tại thời điểm cuối cùng, là
Vâng, tôi thực sự chỉ ăn hết $8.74, tính tổng cộng; nhưng tôi sẽ không vô liêm sỉ công bố tội lỗi của mình như vậy, nếu tôi không biết rằng phần lớn độc giả của tôi cũng có tội lỗi y hệt tôi, và những việc làm của họ khi in lên sách cũng chẳng đẹp đẽ gì hơn. Năm tiếp theo, đôi khi tôi bắt được một mẻ cá cho bữa trưa, và có lần tôi đi xa đến mức tiêu diệt một con chuột chũi tàn phá cánh đồng đậu của mình — thực hiện cuộc chuyển sinh cho nó, theo cách nói của người Tartar — và ăn thịt nó, một phần vì mục đích thử nghiệm; nhưng dẫu nó mang lại cho tôi sự tận hưởng nhất thời, bất chấp mùi xạ hương, tôi nhận ra rằng việc sử dụng lâu dài sẽ không biến điều đó thành một thói quen tốt đẹp, dẫu cho việc có sẵn chuột chũi được làm sạch bởi người đồ tể trong làng có vẻ hấp dẫn thế nào đi nữa.
Quần áo và một số chi phí phát sinh trong cùng khoảng thời gian đó, dẫu chẳng thể suy luận được nhiều từ khoản mục này, lên tới
Thế là tất cả các khoản chi tiêu tài chính, ngoại trừ tiền giặt giũ và vá víu — phần lớn được làm ngoài nhà và hóa đơn chưa được gửi tới — và đây là tất cả cũng như nhiều hơn tất cả các con đường mà tiền bạc nhất thiết phải chi ra ở vùng này của thế giới, là
Giờ đây tôi hướng tới những độc giả có sinh kế phải lo. Và để trang trải điều này, tôi thu được từ việc bán nông sản
trừ đi tổng số chi phí chi ra, để lại một khoản dư là $25.21¾ ở một bên — đây chính là số vốn gần như tương đương với lúc tôi khởi sự và là thước đo các chi phí sẽ phát sinh — và ở bên kia, bên cạnh thời gian rảnh rỗi, sự độc lập và sức khỏe được đảm bảo nhờ đó, tôi còn có một ngôi nhà thoải mái cho riêng mình chừng nào tôi còn muốn ngụ cư ở đó.
Tuy nhiên, những số liệu thống kê này, dẫu có vẻ ngẫu nhiên và do đó thiếu tính giáo dục, nhưng vì chúng mang một sự trọn vẹn nhất định, nên cũng sở hữu một giá trị nhất định. Không có món quà nào được trao cho tôi mà tôi không đưa ra bản giải trình tương ứng. Từ ước tính trên, rõ ràng là chỉ riêng tiền mua thức ăn của tôi đã tiêu tốn khoảng hai mươi bảy xu một tuần. Trong gần hai năm sau đó, nó gồm bột lúa mạch đen và ngô Ấn Độ không men, khoai tây, gạo, một chút thịt heo muối, mật mía và muối, còn thức uống là nước lã. Thật phù hợp khi tôi chủ yếu sống bằng gạo, một kẻ yêu mến triết học Ấn Độ đến thế. Để đối phó với sự phản đối của một số kẻ bắt bẻ ngoan cố, tôi cũng xin tuyên bố rằng nếu thỉnh thoảng tôi đi ăn chực bên ngoài, như tôi vẫn luôn làm và hy vọng sẽ có cơ hội làm lại, thì điều đó thường gây tổn hại cho các sắp xếp nội trợ của tôi. Nhưng việc ăn chực bên ngoài, như tôi đã nêu, là một yếu tố cố định, nên không hề ảnh hưởng chút nào đến một tuyên bố so sánh như thế này.
Tôi học được từ trải nghiệm hai năm của mình rằng việc kiếm được thức ăn cần thiết tốn cực kỳ ít rắc rối, ngay cả ở vĩ độ này; rằng một con người có thể sử dụng một chế độ ăn đơn giản hệt như loài vật mà vẫn duy trì được sức khỏe và sức mạnh. Tôi từng có một bữa trưa vô cùng mãn nguyện — mãn nguyện về nhiều mặt — chỉ với một đĩa rau sam (Portulaca oleracea) hái ngoài cánh đồng ngô, luộc chín và rắc muối. Tôi ghi tên tiếng Latinh cốt để nhấn mạnh sự thi vị của cái tên tầm thường ấy. Và thử hỏi một người có lý trí còn mong muốn gì hơn nữa vào những thời bình, vào những buổi trưa bình thường, ngoài một số bắp ngô ngọt luộc vừa đủ kèm theo một chút muối? Ngay cả chút ít sự đa dạng mà tôi sử dụng cũng chỉ là sự nhượng bộ trước những đòi hỏi của vị giác, chứ không phải vì sức khỏe. Thế nhưng con người ta đã rơi vào bước đường cùng đến mức họ thường xuyên chết đói, không phải vì thiếu nhu yếu phẩm, mà vì thiếu những thứ xa hoa; và tôi quen biết một người phụ nữ tốt bụng nghĩ rằng đứa con trai của mình đã mất mạng chỉ vì cậu ta chuyển sang uống thuần nước lã.
Độc giả sẽ nhận ra rằng tôi đang đối xử với chủ đề này từ góc độ kinh tế nhiều hơn là từ góc độ dinh dưỡng, và người đó sẽ không mạo hiểm mang sự kham khổ của tôi ra thử thách trừ khi có một cái kho chứa đầy ắp thực phẩm.
Thoạt đầu, bánh mì được làm hoàn toàn từ bột ngô thuần túy và muối, những chiếc bánh hoe-cake chính hiệu, được nướng trước đống lửa ngoài trời trên một tấm ván lợp hoặc một đoạn thân cây bị cưa đứt khi xây nhà; nhưng nó thường bị ám khói và mang hương vị mùi thông. Tôi cũng thử dùng bột mì; nhưng cuối cùng nhận ra hỗn hợp lúa mạch đen và bột ngô là tiện lợi và dễ chịu nhất. Vào những mùa lạnh, việc nướng lần lượt mấy ổ bánh mì nhỏ từ loại bột này mang lại niềm vui không nhỏ, chăm chút và lật trở chúng cẩn thận hệt như một người Ai Cập đang ấp trứng vậy. Chúng thực sự là một thứ quả ngũ cốc do chính tôi làm chín, và đối với các giác quan của tôi, chúng tỏa ra một hương thơm hệt như những loại quả cao quý khác, được tôi giữ lại càng lâu càng tốt bằng cách bọc chúng trong vải. Tôi đã nghiên cứu nghệ thuật làm bánh mì cổ xưa và không thể thiếu này, tham khảo những tài liệu có sẵn, quay ngược về thời nguyên thủy và phát minh đầu tiên về loại bánh không men, khi từ sự hoang dã của các loại hạt và thịt, con người lần đầu vươn tới sự dịu dàng và tinh tế của chế độ ăn này, rồi du hành dần qua những nghiên cứu của mình xuyên qua quá trình lên men chua tình cờ của bột nhào — thứ được cho là đã dạy cho con người quy trình làm bánh mì có men — và qua các quá trình lên men khác nhau sau đó, cho đến khi tôi chạm đến “chiếc bánh mì ngon, ngọt, lành mạnh”, chính là cây gậy chống của sự sống. Men nở — thứ mà một số người coi là linh hồn của bánh mì, là thứ linh khí (spiritus) lấp đầy các cấu trúc tế bào của nó, được bảo quản một cách thành kính hệt như ngọn lửa trinh nữ — một lọ đầy quý giá nào đó, tôi đoán vậy, lần đầu được mang sang trên con tàu Mayflower, đã làm nên chuyện cho nước Mỹ, và ảnh hưởng của nó vẫn đang dâng trào, phình lớn, lan rộng theo những con sóng ngũ cốc trên khắp xứ sở — thứ hạt giống này tôi đều đặn và trung thành kiếm từ trong làng, cho đến một buổi sáng nọ tôi quên mất các quy tắc và làm bỏng nước men của mình; qua tai nạn đó, tôi phát hiện ra rằng ngay cả thứ này cũng không phải là bất khả thiếu — bởi vì những phát hiện của tôi không đến từ quá trình tổng hợp mà từ quá trình phân tích — và từ đó tôi vui vẻ bỏ qua nó, dẫu cho hầu hết các bà nội trợ đều kiên quyết quả quyết rằng không thể có loại bánh mì an toàn và lành mạnh mà không có men, còn những người lớn tuổi thì tiên tri về sự suy tàn nhanh chóng của các lực lượng sinh tồn. Tuy nhiên, tôi thấy nó không phải là một thành phần thiết yếu, và sau một năm trời sống thiếu nó, tôi vẫn đang đứng trên cõi đời này; và tôi cảm thấy vui mừng vì thoát khỏi sự phiền toái của việc kè kè mang theo một lọ đầy men trong túi, thứ đôi khi sẽ phát nổ và phun nội dung ra làm tôi bẽ mặt. Bỏ qua nó vừa đơn giản lại vừa đáng kính hơn. Con người là loài sinh vật vượt trội hơn tất cả trong khả năng thích ứng với mọi khí hậu và hoàn cảnh. Tôi cũng chẳng hề cho thêm soda hay bất kỳ chất axit hay kiềm nào vào bánh mì của mình. Có vẻ như tôi đã làm nó theo đúng công thức mà Marcus Porcius Cato đưa ra khoảng hai thế kỷ trước Công nguyên. “Panem depsticium sic facito. Manus mortariumque bene lavato. Farinam in mortarium indito, aquæ paulatim addito, subigitoque pulchre. Ubi bene subegeris, defingito, coquitoque sub testu.” Mà tôi hiểu là — “Hãy làm bánh mì nhào thế này. Rửa sạch tay và cối của bạn. Cho bột vào cối, thêm nước từ từ và nhào thật kỹ. Khi đã nhào kỹ, hãy tạo hình cho nó và nướng dưới một lớp đậy,” nghĩa là trong một cái nồi nướng. Chẳng có một từ nào về men nở cả. Nhưng tôi không phải lúc nào cũng dùng cây gậy chống sự sống đó. Có thời điểm, vì cái túi tiền trống rỗng của mình, tôi đã không nhìn thấy bóng dáng nó trong hơn một tháng.
Mọi người dân New England đều có thể dễ dàng tự trồng toàn bộ lúa mì làm bánh mì cho mình trên vùng đất lúa mạch đen và ngô Ấn Độ này, chứ không phải phụ thuộc vào các thị trường xa xôi và bấp bênh. Thế nhưng chúng ta lại cách xa sự giản dị và độc lập đến mức ở Concord, bột tươi và ngọt hiếm khi được bày bán ở các cửa hàng, và món cháo bắp cùng ngô ở dạng thô hơn nữa thì hầu như chẳng được ai sử dụng. Phần lớn nông dân dùng ngũ cốc do chính họ sản xuất để nuôi gia súc và heo, rồi lại đi mua bột mì — vốn chẳng lành mạnh hơn chút nào — với chi phí cao hơn tại cửa hàng. Tôi thấy rằng mình có thể dễ dàng tự trồng một hoặc hai giạ lúa mạch đen và ngô Ấn Độ — vì loại trước có thể mọc trên những mảnh đất nghèo nhất, còn loại sau không đòi hỏi đất tốt nhất — rồi đem nghiền chúng trong một chiếc cối xay tay, nhờ đó không cần dùng đến gạo và thịt heo; và nếu tôi buộc phải có chút chất ngọt cô đặc, tôi phát hiện qua thử nghiệm rằng mình có thể làm ra một loại mật mía rất ngon từ bí ngô hoặc củ cải đường, và tôi biết rằng mình chỉ cần trồng thêm vài cây phong để lấy nó dễ dàng hơn nữa, và trong lúc chúng đang lớn, tôi có thể sử dụng nhiều loại thay thế khác bên cạnh những thứ tôi vừa kể tên. “Bởi vì,” như các bậc Tiền bối từng hát,—
“chúng ta có thể làm rượu ngọt môi mình
Từ bí ngô, củ cải và vỏ cây óc chó.”
Cuối cùng, về phần muối — thứ tạp hóa thô sơ nhất ấy — việc đi kiếm nó có thể là cơ hội thích hợp để ghé thăm bờ biển, hoặc nếu tôi sống hoàn toàn không có nó, có lẽ tôi sẽ uống ít nước hơn. Tôi chưa từng nghe nói người da đỏ nào lại bận tâm lặn lội đi kiếm thứ đó cả.
Nhờ thế, tôi có thể tránh xa mọi hoạt động buôn bán và đổi chác, xét về mặt thức ăn của mình, và vì đã có sẵn nơi trú ẩn, việc còn lại chỉ là kiếm quần áo và củi sưởi. Chiếc quần dài tôi đang mặc được dệt trong gia đình một người nông dân — tạ ơn Chúa, vẫn còn rất nhiều đức tính tồn tại trong con người; bởi vì tôi cho rằng sự suy đồi từ người nông dân xuống công nhân cũng vĩ đại và đáng nhớ hệt như sự suy đồi từ con người xuống người nông dân vậy — và ở một vùng đất mới, củi sưởi chỉ là một thứ gánh nặng vướng víu. Còn về nơi sinh sống, nếu tôi không được phép tiếp tục chiếm đất, tôi hoàn toàn có thể mua một mẫu đất với đúng mức giá mà mảnh đất tôi đang canh tác từng được bán — cụ thể là tám đô la tám xu. Nhưng thực tế là, tôi cho rằng mình đã nâng cao giá trị của mảnh đất bằng cách chiếm lấy nó.
Có một tầng lớp những kẻ hoài nghi đôi khi đặt ra cho tôi những câu hỏi như liệu tôi có nghĩ rằng mình có thể sống chỉ bằng thức ăn thực vật hay không; và để đi thẳng vào gốc rễ của vấn đề — bởi vì gốc rễ chính là niềm tin — tôi thường đáp lại những kẻ đó rằng tôi có thể sống bằng đinh tán. Nếu họ không hiểu nổi điều đó, họ sẽ chẳng hiểu được bao nhiêu trong số những gì tôi muốn nói. Phần mình, tôi rất vui khi nghe về những thử nghiệm kiểu này được tiến hành; chẳng hạn như việc một thanh niên thử nghiệm trong hai tuần sống bằng bắp ngô hạt khô nguyên cõi, dùng chính hàm răng của mình thay cho mọi loại cối. Loài sóc cũng từng làm y hệt thế và đã thành công. Nhân loại rất quan tâm đến những thử nghiệm này, dẫu cho một vài mụ già không còn đủ khả năng làm những việc đó hoặc sở hữu phần chia trong các cối xay có thể cảm thấy hoảng hốt.
Đồ đạc trong nhà tôi — một phần do tôi tự tay làm, phần còn lại không tốn kém gì mà tôi chưa giải trình — gồm một chiếc giường, một cái bàn, một bàn viết, ba cái ghế, một chiếc gương soi đường kính ba tấc, một bộ kẹp và kiềng lò sưởi, một cái ấm, một cái chảo rán nhỏ, một cái chảo chiên, một cái gáo múc nước, một cái chậu rửa mặt, hai con dao và nĩa, ba cái đĩa, một cái tách, một cái muỗng, một bình đựng dầu, một bình đựng mật mía và một ngọn đèn sắt tráng men. Chẳng ai nghèo đến mức phải ngồi trên trái bí ngô cả. Đó là sự lười biếng vô tích sự. Có rất nhiều loại ghế mà tôi thích nhất nằm sẵn trong các gác mái ở làng, ai muốn thì cứ đến lấy về dùng. Đồ đạc! Tạ ơn Chúa, tôi có thể ngồi và đứng mà chẳng cần đến sự trợ giúp của một cửa hàng nội thất nào. Kẻ nào không phải là triết học gia mà lại không cảm thấy xấu hổ khi nhìn thấy đồ đạc của mình bị nhét vào một chiếc xe bò chở lên vùng thượng du, phơi mình dưới ánh mặt trời và ánh mắt của thiên hạ, một đống thùng rỗng thảm hại cơ chứ? Đó chính là đồ đạc của Spaulding. Tôi chưa bao giờ có thể phân biệt nổi qua việc quan sát một đống đồ như thế xem nó thuộc về một kẻ được gọi là giàu có hay người nghèo; chủ nhân của chúng lúc nào cũng trông có vẻ bần cùng tột độ. Thật vậy, bạn càng sở hữu nhiều thứ đồ đạc như thế, bạn càng trở nên nghèo túng. Mỗi chuyến xe đều trông như thể chứa đựng toàn bộ gia sản của một tá túp lều; và nếu một túp lều đã nghèo, thì đống này còn nghèo hơn gấp mười hai lần. Hỡi ơi, chúng ta dọn nhà rốt cuộc là vì điều gì ngoài việc tống khứ đồ đạc của mình đi, những lớp vỏ xác ve cũ kỹ; để cuối cùng rời bỏ thế giới này sang một thế giới khác được trang hoàng lại từ đầu, và bỏ lại đống này cho lửa thiêu rụi? Nó chẳng khác nào việc tất cả những thứ bẫy rập đó được siết chặt vào thắt lưng của một con người, khiến anh ta không thể di chuyển qua những vùng địa hình gồ ghề nơi số phận chúng ta đã đặt vào mà không phải lê lết chúng — lê lết cái bẫy của chính mình. Con cáo nào bỏ lại cái đuôi trong bẫy mới là con cáo may mắn. Loài chuột xạ hương sẵn sàng cắn đứt một phần ba cái chân của nó để được tự do. Chẳng trách gì con người đã đánh mất sự dẻo dai của mình. Biết bao lần anh ta rơi vào tình trạng bế tắc hoàn toàn! “Thưa ngài, nếu tôi mạn phép hỏi, ý ngài thế nào là bế tắc hoàn toàn?” Nếu bạn là một nhà tiên tri, bất cứ khi nào gặp một con người, bạn sẽ nhìn thấy tất cả những gì anh ta sở hữu, vâng, và cả rất nhiều thứ anh ta phờ phạc chối bỏ, lỉnh kỉnh ở phía sau, kéo dài tận đến đồ dùng nhà bếp và toàn bộ mớ trân trân vô tích sự mà anh ta tích góp nhất định không chịu thiêu hủy, để rồi anh ta trông có vẻ như đang bị tròng ách vào đó và chật vật tiến về phía trước bằng bất cứ sức lực nào có thể. Tôi cho rằng một kẻ rơi vào bế tắc hoàn toàn là kẻ đã luồn qua được một lỗ kim hay cánh cổng mà xe đồ đạc nặng trĩu của hắn không tài nào chui theo nổi. Tôi không khỏi cảm thấy trắc ẩn khi nghe một gã chỉnh tề, gọn gàng nào đó, thoạt trông có vẻ tự do, đã được trang bị đầy đủ sẵn sàng, nói về “đồ đạc” của hắn, chẳng hạn như nó đã được mua bảo hiểm hay chưa. “Nhưng tôi phải làm gì với đồ đạc của mình đây?” Con bướm rực rỡ của tôi lúc đó đã vướng vào mạng nhện rồi. Ngay cả những kẻ thoạt trông có vẻ như suốt một thời gian dài chẳng có chút đồ đạc nào, nếu bạn gặng hỏi kỹ hơn, cũng sẽ phát hiện ra là họ đang gửi gắm đâu đó trong chuồng ngựa của ai đó một ít. Tôi nhìn nhận nước Anh ngày nay giống như một ông lão đang đi du lịch mang theo quá nhiều hành lý — đống r trân tích tụ từ lâu năm làm chủ gia đình mà ông ta không đủ can đảm để thiêu hủy; nào rương lớn, rương nhỏ, hộp đựng mũ và túi bọc. Hãy vứt bỏ ít nhất ba cái đầu tiên đi. Sẽ vượt quá sức của một người khỏe mạnh thời nay nếu muốn tự vác giường mình mà đi, và tôi chắc chắn sẽ khuyên một kẻ ốm yếu nên vặt giường xuống rồi cắm cổ chạy. Khi bắt gặp một người nhập cư đang lảo đảo dưới một bói đồ chứa toàn bộ tài sản của mình — trông giống như một khối u khổng lồ mọc ra từ sau gáy — tôi đã cảm thấy thương hại anh ta, không phải vì đó là toàn bộ tài sản của anh ta, mà vì anh ta có ngần ấy thứ phải gánh trên vai. Nếu tôi buộc phải lê lết cái bẫy của mình, tôi sẽ cẩn thận chọn một cái thật nhẹ và không để nó cắn vào những phần sinh tử của cơ thể. Nhưng có lẽ khôn ngoan nhất là đừng bao giờ thò chân vào cái bẫy đó.
Nhân tiện, tôi cũng xin lưu ý rằng tôi chẳng tốn một xu nào cho rèm cửa, bởi vì tôi chẳng có kẻ tò mò nào cần phải che chắn ngoại trừ mặt trời và mặt trăng, và tôi hoàn toàn sẵn lòng để họ nhìn ngó vào trong. Mặt trăng sẽ không làm chua sữa hay làm hỏng thịt của tôi, mặt trời cũng chẳng làm hư hại đồ đạc hay phai màu thảm nhà của tôi, và nếu đôi khi ông ấy là một người bạn quá mức nồng nhiệt, tôi vẫn thấy việc rút lui ra sau một chiếc rèm do tự nhiên cung cấp còn kinh tế hơn nhiều so với việc thêm dù chỉ một khoản chi tiết nhỏ vào công việc nội trợ. Có lần một phụ nữ ngỏ ý tặng tôi một chiếc thảm chùi chân, nhưng vì tôi không có khoảng trống nào thừa thãi trong nhà, cũng như không có thời gian rảnh rỗi bên trong hay bên ngoài để giũ sạch nó, tôi đã từ chối, và thà chọn cách chùi chân lên thảm cỏ ngay trước cửa nhà còn hơn. Tốt nhất là nên tránh xa từ trong trứng nước mọi mầm mống của sự dữ.
Cách đây không lâu, tôi có mặt tại một buổi bán đấu giá tài sản của một vị phó tế, vì cuộc đời của ông ta không phải là không có những đóng góp:—
“Cái ác mà con người làm ra vẫn tồn tại sau khi họ chết.”
Như thường lệ, phần lớn đống tài sản đó chỉ là thứ trân trân vô tích sự bắt đầu tích tụ từ thời cha ông ông ta. Trong số đó có một con sán dây đã phơi khô. Và giờ đây, sau khi nằm rệu rã suốt nửa thế kỷ trên gác mái và những xó xỉnh bám bụi của ông ta, những thứ này không hề bị thiêu hủy; thay vì một đám lửa mừng, hay sự tiêu hủy mang tính thanh tẩy chúng, lại là một phiên đấu giá, hay sự nhân rộng chúng lên. Những người hàng xóm hân hoan tề tựu đến ngắm nhìn, mua sạch chúng, rồi cẩn trọng vận chuyển về gác mái và xó xỉnh bám bụi của riêng họ, để rồi nằm đó cho đến khi di sản của họ được phân định, lúc ấy mọi chuyện lại bắt đầu vòng lặp mới. Khi một người chết đi, anh ta chỉ tung bụi mịt mù mà thôi.
Tập tục của một số bộ tộc dã man có lẽ là những điều chúng ta có thể học hỏi một cách có lợi, bởi vì chí ít họ cũng trải qua hình thức lột bỏ lớp da cũ hàng năm; họ sở hữu ý tưởng về điều đó, dù thực tế có đạt được hay không. Sẽ không tốt hơn sao nếu chúng ta cử hành một nghi lễ “busk”, hay “lễ hội hoa trái đầu mùa” hệt như cách mà Bartram mô tả là tập tục của người da đỏ Mucclasse? “Khi một thị trấn cử hành lễ busk,” ông viết, “sau khi đã chuẩn bị sẵn sàng cho mình quần áo mới, nồi niêu chảo và các dụng cụ, đồ đạc gia đình mới, họ thu gom toàn bộ quần áo cũ rách cùng những thứ đáng khinh bỉ khác, quét dọn và làm sạch nhà cửa, quảng trường và toàn bộ thị trấn khỏi rác rưởi, rồi đem tất cả đống đó cùng với lượng ngũ cốc còn sót lại và các thực phẩm cũ khác chất thành một đống chung và thiêu rụi chúng bằng lửa. Sau khi uống thuốc thanh tẩy và nhịn ăn trong ba ngày, toàn bộ ngọn lửa trong thị trấn đều bị dập tắt. Trong suốt thời gian nhịn ăn này, họ kiềm chế mọi sự thỏa mãn của mọi cảm giác và đam mê dưới bất kỳ hình thức nào. Một lệnh ân xá chung được ban bố; mọi kẻ phạm tội đều được phép trở về thị trấn của mình.—”
“Vào buổi sáng thứ tư, vị tư tế tối cao, bằng cách chà xát các thanh gỗ khô vào nhau, tạo ra ngọn lửa mới ngay giữa quảng trường công cộng, từ đó mọi ngôi nhà trong thị trấn đều được châm ngòi từ ngọn lửa mới mẻ và tinh khiết này.”
Sau đó, họ mở tiệc ăn mừng ngô non cùng các loại trái cây, ca múa suốt ba ngày, “và bốn ngày tiếp theo họ tiếp nhận các chuyến viếng thăm và vui mừng cùng bạn bè từ các thị trấn lân cận — những kẻ cũng đã tự thanh tẩy và chuẩn bị tinh thần theo cách tương tự.”
Người Mexico cũng thực hành một nghi thức thanh tẩy tương tự vào cuối mỗi chu kỳ năm mươi hai năm, với niềm tin rằng đó là thời điểm thế giới đi đến hồi kết.
Tôi hầu như chưa từng nghe về một bí tích nào chân chính hơn thế — nghĩa là, theo định nghĩa của từ điển là “dấu hiệu bề ngoài và hữu hình của một ơn huệ bên trong và thiêng liêng” — và tôi không nghi ngờ gì rằng thoạt đầu họ được truyền cảm hứng trực tiếp từ Thiên đường để hành động như vậy, dẫu họ không có bất kỳ ghi chép Kinh thánh nào về sự khải huyền đó.
Trong hơn năm năm, tôi tự duy trì cuộc sống của mình hoàn toàn bằng sức lao động của đôi tay, và tôi nhận ra rằng chỉ bằng cách làm việc khoảng sáu tuần trong một năm, tôi có thể trang trải mọi chi phí sinh hoạt. Toàn bộ mùa đông cũng như phần lớn mùa hè, tôi hoàn toàn có thời gian rảnh rỗi và trong trẻo để học tập. Tôi đã thử sức triệt để với nghề dạy học, và nhận ra rằng chi phí của tôi tỷ lệ thuận, hay đúng hơn là vượt quá tỷ lệ so với thu nhập, bởi vì tôi buộc phải ăn mặc và trau chuốt, chưa muốn nói là phải suy nghĩ và tin tưởng cho phù hợp với hoàn cảnh đó, và rốt cuộc tôi mất luôn cả thời gian rảnh rỗi. Vì tôi không dạy học vì lợi ích của đồng loại mà đơn thuần để mưu sinh, nên đây là một thất bại. Tôi đã thử làm thương mại; nhưng tôi phát triển ra rằng sẽ mất tới mươi năm để khởi động trong lĩnh vực đó, và khi ấy rất có thể tôi đang trên đường xuống địa ngục rồi. Thực tình tôi sợ rằng vào lúc đó mình sẽ làm cái gọi là công việc kinh doanh phát đạt mất. Khi trước đây tôi đang tìm kiếm xem mình có thể làm gì để kiếm sống — với một vài trải nghiệm đớn đau trong việc chiều lòng mong muốn của bạn bè hãy còn tươi mới trong tâm trí để hành hạ sự sáng tạo của mình — tôi đã thường xuyên và nghiêm túc nghĩ đến việc đi hái quả nam việt quất; việc đó chắc chắn mình có thể làm, và lợi nhuận cỏn con của nó có lẽ cũng đủ — bởi vì kỹ năng lớn nhất của tôi là muốn ít đi — nó đòi hỏi quá ít vốn liếng, quá ít sự phân tán khỏi những tâm trạng quen thuộc của tôi, tôi đã ngây thơ nghĩ thế. Trong lúc những người quen của tôi lao đầu không chút do dự vào thương mại hoặc các ngành nghề chuyên môn, tôi lại xem xét nghề nghiệp này là giống với của họ nhất; lang thang trên các ngọn đồi suốt mùa hè để hái những loại quả mọc dọc đường, rồi thản nhiên mang đi bán; cứ thế, chăn dắt bầy cừu của Admetus. Tôi cũng mơ mộng rằng mình có thể thu hái các loại thảo dược hoang dã, hoặc chở cây xanh quanh năm đến những người dân làng thích được nhắc nhở về rừng sâu, thậm chí chở thẳng vào thành phố bằng những xe chất đầy cỏ khô. Nhưng từ đó tôi đã học được rằng thương mại làm vấy bẩn mọi thứ nó chạm tay vào; và dẫu bạn có buôn bán cả những thông điệp từ thiên đường đi chăng nữa, toàn bộ lời nguyền của thương mại vẫn bám dính vào công việc đó.
Vì tôi thích thứ này hơn thứ kia và đặc biệt trân trọng sự tự do của mình, vì tôi có thể chịu đựng gian khổ mà vẫn thành công tốt đẹp, nên tôi không muốn dành thời gian của mình để kiếm những tấm thảm đắt tiền hay đồ đạc sang trọng khác, hay những món ăn tinh tế, hay một ngôi nhà mang phong cách Hy Lạp hay Gothic vào lúc này. Nếu có ai đó cảm thấy việc thu nhận những thứ này không hề là một sự ngắt quãng, và biết cách sử dụng chúng khi đã đạt được, tôi xin nhường lại sự theo đuổi ấy cho họ. Có những kẻ “siêng năng”, dường như yêu thích lao động vì chính bản thân nó, hoặc có lẽ bởi vì nó giúp họ tránh xa những trò nghịch ngợm tồi tệ hơn; với những kẻ đó, hiện tại tôi không có gì để nói cả. Những ai không biết phải làm gì với thời gian rảnh rỗi nhiều hơn mức họ đang tận hưởng hiện tại, tôi có thể khuyên họ làm việc gấp đôi — làm việc cho đến khi họ tự trả hết tiền chuộc cho bản thân, và nhận được giấy chứng nhận tự do. Phần mình, tôi nhận thấy rằng nghề làm thuê lao động phổ thông là nghề độc lập nhất trong tất cả, đặc biệt vì nó chỉ đòi hỏi ba mươi hoặc bốn mươi ngày làm việc trong năm là đủ nuôi sống một người. Ngày làm việc của người lao động kết thúc khi mặt trời lặn, và anh ta hoàn toàn tự do để dâng hiến bản thân cho theo đuổi đã chọn, độc lập khỏi công việc lao động của mình; nhưng người chủ của anh ta — kẻ đầu cơ từ tháng này qua tháng khác — lại chẳng có lấy một phút nghỉ ngơi từ đầu năm đến cuối năm.
Tóm lại, tôi bị thuyết phục, cả bởi đức tin lẫn trải nghiệm, rằng việc tự duy trì sự sống trên trái đất này không phải là một sự đày ải khổ sai mà là một trò tiêu khiển, nếu chúng ta biết sống một cách giản dị và khôn ngoan; hệt như những theo đuổi của các dân tộc giản dị vẫn luôn là trò chơi tiêu khiển của những nền văn hóa nhân tạo hơn. Con người không bắt buộc phải kiếm sống bằng giọt mồ hôi trên trán, trừ khi anh ta đổ mồ hôi dễ dàng hơn tôi.
Một thanh niên quen biết tôi — người được thừa kế vài mẫu đất — bảo với tôi rằng anh ta nghĩ mình sẽ sống giống như tôi nếu có đủ phương tiện. Tôi không muốn bất kỳ ai áp dụng lối sống của tôi bằng bất cứ giá nào; bởi vì ngoài việc trước khi anh ta kịp học thuần thục nó, tôi có thể đã tìm ra một lối đi khác cho riêng mình, tôi còn mong muốn có càng nhiều con người khác biệt trên thế giới này càng tốt; nhưng tôi muốn mỗi người hãy vô cùng cẩn trọng để tự mình tìm kiếm và theo đuổi con đường riêng của mình, thay vì đi theo con đường của cha, của mẹ hay của hàng xóm. Người trẻ tuổi có thể xây dựng, trồng trọt hoặc chèo thuyền, chỉ cần không bị cản trở khỏi việc làm điều mà cậu ta bảo với tôi rằng cậu ta thích làm. Chúng ta chỉ khôn ngoan ở một điểm toán học duy nhất, hệt như người thủy thủ hay người nô lệ trốn chạy luôn giữ con sao Bắc Đẩu trong tầm mắt; nhưng chừng đó thôi cũng đủ làm la bàn dẫn đường cho toàn bộ cuộc đời chúng ta. Chúng ta có thể không cập bến đúng thời hạn có thể tính toán được, nhưng chúng ta sẽ giữ vững lộ trình chân chính.
Chắc chắn trong trường hợp này, điều đúng đắn cho một người còn đúng hơn gấp bội cho hàng ngàn người, giống như một ngôi nhà lớn không tốn kém hơn theo tỷ lệ so với một ngôi nhà nhỏ, bởi vì một mái nhà có thể che chở, một tầng hầm có thể làm nền móng, và một bức tường có thể ngăn cách nhiều phòng khác nhau. Nhưng phần mình, tôi thích một chốn dung thân đơn độc hơn. Hơn nữa, việc tự mình xây dựng toàn bộ thường sẽ rẻ hơn so với việc đi thuyết phục kẻ khác về lợi ích của một bức tường chung; và khi bạn đã làm được điều đó, vách ngăn chung muốn rẻ hơn nhiều thì phải là một vách ngăn thật mỏng, và kẻ kia rất có thể sẽ là một người hàng xóm tồi tệ, đồng thời không chịu tu sửa phần tường phía bên hắn. Sự hợp tác duy nhất thường khả thi là vô cùng phiến diện và bề ngoài; và dẫu có chút ít sự hợp tác chân thành nào đi nữa thì nó cũng chẳng khác nào không có, bởi vì đó là một thứ hòa âm không thể nghe thấy đối với con người. Nếu một con người có đức tin, anh ta sẽ hợp tác với đức tin tương đương ở bất cứ đâu; nếu anh ta không có đức tin, anh ta sẽ tiếp tục sống hệt như phần còn lại của thế giới, bất kể anh ta gia nhập hội nhóm nào. Hợp tác, theo nghĩa cao cả nhất cũng như thấp kém nhất, có nghĩa là cùng nhau mưu sinh. Gần đây tôi nghe có người đề xuất rằng hai thanh niên nên cùng nhau du lịch vòng quanh thế giới, một người không có tiền, tự kiếm phương tiện khi đi, trước cột buồm và sau lưỡi cày, người kia mang theo hối phiếu trong túi. Thật dễ dàng nhận ra rằng họ không thể đồng hành lâu dài hay hợp tác với nhau, bởi vì một người sẽ chẳng vận hành gì sạt. Họ sẽ đường ai nấy đi ngay tại biến cố thú vị đầu tiên trong cuộc phiêu lưu của họ. Trên hết, như tôi đã ngầm ý, kẻ đi một mình có thể khởi hành ngay hôm nay; nhưng kẻ đi cùng người khác sẽ phải chờ đợi cho đến khi người kia sẵn sàng, và có thể sẽ mất rất nhiều thời gian trước khi họ thực sự lên đường.
Nhưng tất cả những điều này thật quá ích kỷ, tôi từng nghe một số người đồng hương của mình nói vậy. Tôi thú nhận rằng cho đến nay tôi rất ít khi đắm mình trong các dự án từ thiện nhân đạo. Tôi đã hy sinh một số thứ vì ý thức về bổn phận, và trong số đó có cả niềm vui này nữa. Có những kẻ đã dùng mọi thủ múa để thuyết phục tôi đứng ra nuôi dưỡng một gia đình nghèo nào đó trong thị trấn; và nếu tôi chẳng có việc gì làm — bởi vì ác quỷ luôn tìm ra việc cho kẻ nhàn rỗi — có lẽ tôi đã thử tay nghề của mình ở một trò tiêu khiển kiểu đó rồi. Tuy nhiên, khi tôi định đắm mình vào việc này, và muốn buộc Thiên đàng của họ phải mang ơn bằng cách nuôi dưỡng một số người nghèo thoải mái y hệt như tôi tự nuôi dưỡng bản thân, thậm chí mạo muội tiến đến mức đưa ra lời đề nghị đó với họ, thì hết người này đến người khác đều không chút do dự thà tiếp tục nghèo khó. Trong khi những người đồng hương nam nữ của tôi tận tụy bằng đủ mọi cách vì lợi ích của đồng loại, tôi tin rằng chí ít cũng có một người được buông tha để theo đuổi những hướng đi khác ít tính nhân đạo hơn. Bạn phải có thiên hướng về lòng bác cảm cũng như về bất kỳ thứ gì khác. Còn về việc Làm-điều-thiện, đó là một trong những ngành nghề đã chật kín người. Hơn nữa, tôi đã thử nghiệm nó một cách sòng phẳng, và kỳ lạ thay, tôi thỏa mãn nhận ra rằng nó không hợp với thể trạng của mình. Có lẽ tôi sẽ không có ý thức và cố tình từ bỏ ơn gọi riêng của mình để làm điều thiện mà xã hội đòi hỏi ở tôi, nhằm cứu vũ trụ khỏi sự hủy diệt; và tôi tin rằng một sự kiên định tương tự nhưng ở mức độ vô hạn lần ở nơi khác chính là thứ duy nhất đang gìn giữ nó lúc này. Nhưng tôi sẽ không đứng chắn giữa bất kỳ ai và thiên hướng của họ; và đối với những ai thực hiện công việc này — thứ mà tôi từ chối — bằng toàn bộ trái tim, tâm hồn và cuộc đời của họ, tôi muốn nói rằng: Hãy kiên trì, ngay cả khi thế giới gọi đó là làm điều ác, vì rất có thể họ sẽ làm thế.
Tôi còn lâu mới cho rằng trường hợp của mình là một trường hợp kỳ lạ; chắc chắn nhiều độc giả của tôi cũng sẽ đưa ra một lời biện hộ tương tự. Về việc làm một điều gì đó — tôi sẽ không cam đoan là những người hàng xóm của tôi sẽ gọi nó là tốt đẹp — tôi không ngần ngại nói rằng tôi sẽ là một anh chàng tuyệt vời để thuê mướn; nhưng đó là việc gì, thì tùy thuộc vào người chủ của tôi phải tìm ra. Điều thiện mà tôi làm, theo nghĩa thông thường của từ đó, phải nằm bên ngoài con đường chính của tôi và phần lớn là hoàn toàn vô tình. Con người ta thực tế nói rằng: Hãy bắt đầu từ nơi anh đang đứng và với con người hiện tại của anh, không cần nhắm mục tiêu chủ yếu là trở thành một kẻ có giá trị hơn, và với lòng tử tế được trù tính trước, hãy bắt đầu làm việc thiện. Nếu tôi có giảng dạy theo cái giọng điệu này, tôi thưa rằng thay vào đó, hãy bắt đầu bằng việc trở thành một con người tốt. Cứ như thể mặt trời dừng lại khi ngọn lửa của nó bùng cháy đến độ lộng lẫy của một vầng trăng hoặc một ngôi sao bậc sáu, rồi đi vòng quanh giống như một gã tiên ranh mãnh Robin Goodfellow, lén nhìn qua từng khung cửa sổ nhà tranh, truyền cảm hứng cho những kẻ tâm thần, làm vấy bẩn thịt thà và làm cho bóng tối hiển hiện rõ ràng, thay vì đều đặn gia tăng sức nóng và lòng nhân ái của mình cho đến khi nó rực rỡ đến mức không phàm nhân nào có thể nhìn thẳng vào mặt nó, và rồi, ngay trong lúc đó, đi vòng quanh thế giới trong quỹ đạo của chính mình, làm điều thiện cho nó — hay đúng hơn, như một triết học gia chân chính hơn đã phát hiện ra, thế giới đi vòng quanh nó để thu nhận điều thiện. Khi Phaeton, muốn chứng minh dòng dõi thiên đàng của mình qua lòng bác ái, đã cướp lấy cỗ xe của mặt trời chỉ trong một ngày và lái chệch khỏi con đường quen thuộc, anh ta đã thiêu rụi vài dãy nhà ở những con phố thấp của thiên đường, làm xém bề mặt trái đất, làm khô cạn mọi con suối và tạo ra sa mạc Sahara vĩ đại, cho đến khi cuối cùng thần Jupiter dùng tia chớp quăng anh ta cắm đầu xuống đất, và mặt trời, vì đau thương trước cái chết của anh ta, đã không chiếu sáng suốt một năm trời.
Chẳng có mùi hương nào tồi tệ bằng mùi phát ra từ lòng tốt bị vấy bẩn. Nó vừa là con người, vừa là thần thánh, một thứ xác thối. Nếu tôi biết chắc chắn rằng một người đang đến nhà mình với ý thức trù tính làm điều thiện cho tôi, tôi sẽ cắm cổ chạy trúng mạng sống, hệt như khi chạy trốn cơn gió khô khốc và héo úa của các sa mạc châu Phi được gọi là simoom — thứ lấp đầy miệng, mũi, tai và mắt bằng bụi bặm cho đến khi bạn ngạt thở — vì sợ rằng mình sẽ nhận được chút lòng tốt của hắn — chút virus của nó ngấm vào máu tôi. Không — trong trường hợp này tôi thà chịu đựng cái ác theo con đường tự nhiên còn hơn. Một con người không phải là một người tốt đối với tôi chỉ vì anh ta sẽ cho tôi ăn nếu tôi chết đói, hay sưởi ấm nếu tôi chết cóng, hoặc kéo tôi lên khỏi mương nếu tôi lỡ ngã xuống đó. Tôi có thể tìm cho bạn một con chó Newfoundland làm được ngần ấy việc. Lòng bác ái không phải là tình yêu dành cho đồng loại theo nghĩa rộng nhất. Howard không nghi ngờ gì là một người vô cùng tử tế và đáng kính theo cách của ông ta, và có phần thưởng của mình; nhưng so sánh mà nói, hàng trăm người Howard thì có nghĩa lý gì với chúng ta, nếu lòng bác ái của họ không giúp ích gì cho chúng ta trong trạng thái tốt đẹp nhất của mình, khi chúng ta xứng đáng được giúp đỡ nhất? Tôi chưa từng nghe về một buổi họp từ thiện nào mà ở đó người ta thành tâm đề xuất làm điều gì đó tốt cho tôi, hoặc những kẻ giống như tôi.
Dòng Tên (Jesuits) đã hoàn toàn bị bối rối trước những người da đỏ — những kẻ bị thiêu trên giàn hỏa tề nhưng lại gợi ý những hình thức tra tấn mới cho những kẻ hành hạ họ. Vượt trội hơn những nỗi đau thể xác, đôi khi họ cũng vượt trội hơn bất kỳ sự an ủi nào mà các nhà truyền giáo có thể mang lại; và quy luật đối xử với người khác như cách bạn muốn người khác đối xử với mình đã rơi rớt sức thuyết phục hơn trong tai của những kẻ, về phần mình, chẳng màng đến việc người ta đối xử với họ thế nào, những kẻ yêu thương kẻ thù của mình theo một cách thức hoàn toàn mới, và suýt chút nữa thì tha thứ một cách tự do cho mọi việc chúng làm.
Hãy chắc chắn rằng bạn trao cho người nghèo sự giúp đỡ mà họ cần nhất, dẫu cho đó là tấm gương của bạn khiến họ bị bỏ lại phía sau xa lắc. Nếu bạn trao tiền, hãy cống hiến cả bản thân mình cùng với nó, chứ đừng chỉ vứt bỏ nó cho họ. Đôi khi chúng ta phạm phải những sai lầm kỳ lạ. Thường thì người nghèo không hẳn đói khát và lạnh lẽo cho bằng bẩn thỉu, rách rưới và thô lỗ. Đó một phần là sở thích của họ, chứ không chỉ là bất hạnh. Nếu bạn cho tiền, có lẽ họ sẽ dùng nó để mua thêm giẻ rách. Tôi từng có thói quen thương hại những người thợ lao động Ireland vụng về đập băng trên hồ trong những bộ quần áo rách rưới thảm hại như thế, trong khi tôi run lẩy bẩy trong bộ đồ tươm tất và có phần thời trang hơn của mình, cho đến một ngày trời lạnh buốt, một kẻ trượt chân ngã xuống nước đã đến nhà tôi để sưởi ấm, và tôi nhìn thấy hắn cởi ra tới ba lớp quần và hai lớp vớ trước khi chạm được đến da thịt, dẫu cho chúng thực sự vô cùng bẩn thỉu và rách rưới, và hóa ra hắn hoàn toàn có thể từ chối những món quần áo thừa mà tôi đề nghị, vì hắn mặc bên trong quá nhiều lớp. Cú ngã nước đó chính là thứ hắn cần nhất. Lúc đó tôi bắt đầu thương hại chính bản thân mình, và nhận ra rằng việc ban tặng cho tôi một chiếc áo sơ mi flannel còn mang tính từ thiện lớn hơn là tặng cả một cửa hàng quần áo cũ cho hắn. Có hàng ngàn kẻ đang chặt chém cành lá của sự điều ác trong khi chỉ có một kẻ đập thẳng vào gốc rễ, và rất có thể kẻ dành phần lớn thời gian và tiền bạc cho những người túng thiếu lại đang góp phần nhiều nhất qua lối sống của chính mình để tạo ra cái sự khốn khổ mà hắn đang vô vọng tìm cách cứu rỗi. Đó chính là gã chủ nô đạo đức dùng lợi nhuận từ mỗi mười tên nô lệ để mua lấy một ngày Chủ nhật tự do cho những kẻ còn lại. Một số người thể hiện lòng tốt của mình với người nghèo bằng cách thuê họ làm việc trong nhà bếp của mình. Chẳng phải họ sẽ tử tế hơn nếu tự mình làm những công việc đó hay sao? Các anh khoe khoang về việc chi một phần mười thu nhập cho từ thiện; có lẽ các anh nên chi chín phần mười cho việc đó rồi dẹp luôn đi. Lúc đó xã hội chỉ thu hồi lại được một phần mười tài sản mà thôi. Điều này là do sự hào phóng của kẻ đang nắm giữ nó, hay do sự lơ đễnh của các viên chức công lý?
Lòng bác ái gần như là đức hạnh duy nhất được nhân loại đánh giá cao đúng mức. Thậm chí, nó còn bị đánh giá quá cao; và chính sự ích kỷ của chúng ta đã làm cho nó bị đánh giá quá cao. Một người nghèo tráng kiện, vào một ngày nắng đẹp ở Concord, đã ca ngợi một người đồng hương với tôi, bởi vì theo lời anh ta, hắn tử tế với người nghèo; ý anh ta là ca ngợi chính mình. Những ông chú và bà cô tử tế của nhân loại được kính trọng hơn cả những người cha và người mẹ tinh thần đích thực của họ. Tôi từng nghe một giảng sư đáng kính về nước Anh — một người uyên bác và thông thái — sau khi liệt kê những bậc vĩ nhân về khoa học, văn học và chính trị của nước này như Shakespeare, Bacon, Cromwell, Milton, Newton và những người khác, lại tiếp tục nhắc đến các anh hùng Cơ Đốc giáo của nước này — những người, cứ như thể nghề nghiệp của ông ta đòi hỏi điều đó, được ông ta nâng lên một vị trí vượt xa tất cả những người còn lại như là vĩ nhân của những vĩ nhân. Đó là Penn, Howard và bà Fry. Bất kỳ ai cũng có thể cảm nhận được sự giả dối và ngụy biện trong điều này. Những cái tên sau không phải là những người đàn ông và phụ nữ xuất sắc nhất nước Anh; có lẽ họ chỉ là những nhà bác ái xuất sắc nhất mà thôi.
Tôi không muốn bớt xén bất kỳ phần nào trong lời ca tụng dành cho lòng bác ái, mà chỉ đòi hỏi sự công bằng cho tất cả những ai qua đời sống và tác phẩm của mình là một phước lành cho nhân loại. Tôi không đánh giá cao chủ yếu sự đoan chính và lòng nhân hậu của một con người — vốn chỉ là thân cây và lá của anh ta mà thôi. Những loài cây có tán lá xanh tươi héo rũ được dùng làm trà thảo dược cho người bệnh chỉ phục vụ một mục đích khiêm nhường, và được sử dụng nhiều nhất bởi những kẻ lang băm. Tôi muốn phần hoa và quả của một con người; muốn một chút hương thơm phảng phất từ anh ta sang tôi, và một chút độ chín muồi làm cho sự giao tiếp của chúng ta đậm đà hương vị. Lòng tốt của anh ta không phải là một hành động phiến diện và nhất thời, mà là một sự dư dả thường trực, không tốn của anh ta chút chi phí nào và hoàn toàn vô thức đối với anh ta. Đây mới là lòng bác ái che đậy vô số tội lỗi. Nhà bác ái quá thường xuyên vây quanh nhân loại bằng ký ức về những nỗi đau khổ đã vứt bỏ của chính mình như một bầu khí quyển, rồi gọi đó là sự đồng cảm. Chúng ta nên truyền ngọn lửa can đảm chứ không phải sự tuyệt vọng, sự khỏe mạnh và thảnh thơi chứ không phải bệnh tật của mình, và cẩn trọng để thứ đó không lan truyền qua đường lây nhiễm. Từ những đồng bằng phương Nam nào cất lên tiếng khóc than? Dưới vĩ độ nào cư trú những kẻ ngoại đạo mà chúng ta muốn gửi ánh sáng tới? Ai là kẻ túng quẫn và bạo tàn mà chúng ta muốn cứu chuộc? Nếu con người mắc bệnh gì đó khiến các cơ quan không hoạt động bình thường, ngay cả khi cậu ta bị đau bụng — bởi đó là trung tâm của sự đồng cảm — cậu ta liền lập tức bắt tay vào việc cải cách — thế giới. Bản thân là một tiểu vũ trụ, cậu ta khám phá ra — và đó là một khám phá chân thực, và cậu ta chính là kẻ thực hiện nó — rằng thế giới đã ăn táo xanh; trong mắt cậu ta, quả địa cầu tựa như một quả táo xanh khổng lồ mà nguy cơ kinh hoàng khi nghĩ đến là lũ trẻ loài nhân loại sẽ cắn nhắm nó trước khi chín muồi; và ngay lập tức lòng bác ái cuồng nhiệt của cậu ta lùng sục người Esquimaux và người Patagonian, ôm ấp những ngôi làng đông đúc của người Ấn Độ và Trung Hoa; và cứ thế, qua vài năm hoạt động bác ái — trong khi các thế lực chắc chắn đang lợi dụng cậu ta cho các mục đích riêng của chúng — cậu ta tự chữa khỏi bệnh khó tiêu của mình, quả địa cầu phớt lên một chút sắc hồng trên một hoặc cả hai má cứ như thể nó bắt đầu chín, và cuộc đời mất đi vẻ xanh non để một lần nữa trở nên ngọt ngào, lành mạnh để sống. Tôi chưa từng mơ về bất kỳ sự tồi tệ nào lớn lao hơn những gì tôi từng phạm phải. Tôi chưa từng biết, và sẽ không bao giờ biết, một kẻ nào tồi tệ hơn chính bản thân mình.
Tôi tin rằng điều khiến nhà cải cách đau buồn không phải là sự đồng cảm của anh ta với những đồng loại đang hoạn nạn, mà là — dẫu anh ta có là người con thánh thiện nhất của Chúa đi nữa — nỗi đau khổ riêng tư của anh ta. Hãy để điều đó được sửa chữa, hãy để mùa xuân đến với anh ta, buổi sáng bừng lên trên chiếc giường của anh ta, và anh ta sẽ bỏ rơi những người bạn hào phóng của mình mà chẳng cần lời xin lỗi nào. Lời bào chữa của tôi cho việc không đi diễn thuyết chống lại việc sử dụng thuốc lá là tôi chưa từng nhai nó; đó là cái giá mà những kẻ từng nghiện thuốc lá phải trả; mặc dù có đủ thứ tôi từng nhai mà tôi hoàn toàn có thể lên tiếng diễn thuyết phản đối. Nếu bạn có lỡ sa chân vào bất kỳ hoạt động bác ái nào trong số này, đừng để tay trái biết tay phải đang làm gì, bởi vì nó chẳng đáng để biết đâu. Hãy cứu vớt kẻ sắp chết đuối và tự buộc dây giày của mình đi. Hãy thong thả, và bắt tay vào một số công việc lao động tự do.
Lối cư xử của chúng ta đã bị vấy bẩn bởi sự giao du với các vị thánh. Những cuốn thánh thi của chúng ta vang dội những lời nguyền rủa Chúa một cách du dương và nhẫn nhục chịu đựng Ngài đến muôn đời. Người ta có thể nói rằng ngay cả các nhà tiên tri và cứu thế cũng thà xoa dịu những nỗi sợ hãi hơn là củng cố những niềm hy vọng của con người. Chẳng có nơi nào ghi lại một sự mãn nguyện giản dị và không thể kìm nén trước món quà của sự sống, hay bất kỳ lời ca tụng Chúa đáng nhớ nào. Mọi sự khỏe mạnh và thành công đều mang lại điều tốt cho tôi, dẫu cho nó có vẻ xa xôi và cách biệt đến đâu; mọi bệnh tật và thất bại đều góp phần làm tôi buồn bã và gây hại cho tôi, dẫu cho nó có sự đồng cảm lớn đến đâu với tôi hoặc tôi với nó. Do đó, nếu chúng ta thực sự muốn phục hồi nhân loại bằng các phương pháp thuần túy kiểu Ấn Độ, thực vật, từ tính hay tự nhiên, trước hết hãy sống giản dị và khỏe mạnh hệt như Tự nhiên, xua tan những đám mây đang lơ lửng trên trán mình, và hít thở một chút sự sống vào các lỗ chân lông. Đừng chần chừ để làm một kẻ giám sát người nghèo, mà hãy nỗ lực trở thành một trong những bậc vĩ nhân của thế giới.
Tôi đọc được trong tác phẩm Gulistan, hay Vườn hoa, của Sheik Sadi xứ Shiraz rằng: “Người ta hỏi một nhà thông thái rằng: Trong số rất nhiều loài cây cao lớn và tỏa bóng râm mà Thượng đế tối cao đã tạo ra, họ chẳng gọi cây nào là azad, hay tự do, ngoại trừ cây bách, loài không sinh ra quả; điều bí ẩn nằm ở đâu? Ông đáp: Mỗi loài đều có sản vật thích hợp và mùa vụ riêng, trong thời gian đó chúng tươi tốt và nở hoa, còn trong thời gian vắng bóng thì khô cằn và héo úa; cây bách không hề rơi vào cả hai trạng thái đó, mà luôn tươi tốt; và bản chất của những kẻ azad, hay những nhà độc lập tôn giáo, chính là như thế. — Đừng vướng bận trái tim vào những thứ phù du; bởi vì dòng sông Dijlah, hay Tigris, sẽ vẫn tiếp tục chảy qua Baghdad sau khi triều đại các vị caliph đã diệt vong: nếu tay anh có của cải dư dả, hãy hào phóng như cây chà là; nhưng nếu nó chẳng có gì để ban phát, hãy là một azad, hay một người tự do, giống như cây bách.”
CÁC VẦN THƠ BỔ SUNG
Sự kiêu ngạo của sự nghèo khó
“Ngươi tự cao quá mức rồi, hỡi kẻ nghèo hèn túng quẫn,
Đòi chiếm một chỗ đứng trên bầu trời vòm lộng
Chỉ vì túp lều khiêm nhường hoặc cái thùng gỗ của ngươi
Nuôi dưỡng chút đức hạnh lười biếng hoặc mang tính học giả
Dưới ánh nắng rẻ tiền hoặc bên những con suối râm mát,
Cùng rễ cây và rau củ; nơi bàn tay phải của ngươi,
Xé toạc những đam mê nhân văn ấy ra khỏi tâm trí,
Nơi những chồi non đức hạnh nở hoa khoe sắc,
Đã làm hạ thấp tự nhiên và làm tê liệt các giác quan,
Rồi hóa đá những con người năng động hệt như nữ thần Gorgon.
Chúng ta chẳng cần đến xã hội tẻ nhạt
Của sự điều độ bắt buộc từ ngươi,
Hay cái sự đần độn phi tự nhiên ấy
Chẳng biết đến niềm vui hay nỗi buồn; cũng chẳng cần sự nhẫn nhục bị ép buộc
Được tôn vinh một cách sai lầm trên cả tính hành động.
Dù lũ hạ cấp thảm hại này, những kẻ gieo mình vào sự tầm thường,
Hợp với tâm trí nô lệ của các ngươi; nhưng chúng ta chỉ đề cao
Những đức hạnh cho phép sự vượt quá giới hạn,
Những hành động hào hiệp, cao cả, sự lộng lẫy vương giả,
Sự thận trọng thấu suốt muôn nơi, sự cao thượng
Không biết đến giới hạn, và đức hạnh anh hùng ấy
Mà thời cổ đại không để lại tên gọi,
Chỉ để lại những khuôn mẫu, như Hercules,
Achilles, Theseus. Hãy quay về cái hang gớm ghiếc của ngươi;
Và khi ngươi nhìn thấy bầu trời mới được chiếu sáng,
Hãy học cách nhận biết những bậc vĩ nhân ấy thực chất là ai.”
T. CAREW