Việc phá băng thành những mảng lớn do những người cắt băng thường khiến ao tan sớm hơn; bởi vì làn nước, bị gió khuấy động, ngay cả trong thời tiết lạnh giá, cũng bào mòn lớp băng xung quanh. Nhưng hồ Walden năm ấy không diễn ra như vậy, bởi nó sớm khoác lên mình một tấm áo dày dặn mới để thay thế cho tấm áo cũ. Hồ này không bao giờ tan băng sớm như những hồ khác trong vùng, nguyên nhân là do nó sâu hơn và không có dòng suối nào chảy qua để làm tan hay bào mòn lớp băng. Tôi chưa từng thấy nó mở băng trong suốt mùa đông, không ngoại trừ cả mùa đông năm 52–53, thời điểm đặt các hồ nước trước một thử thách khắc nghiệt. Hồ thường tan băng vào khoảng đầu tháng Tư, muộn hơn một tuần hoặc mười ngày so với hồ Flint và hồ Fair-Haven, bắt đầu tan ở phía bắc và ở những vùng nước nông nơi nó bắt đầu đóng băng. Nó biểu thị sự tiến triển tuyệt đối của các mùa một cách chính xác hơn bất kỳ vùng nước nào quanh đây, vì ít bị ảnh hưởng bởi những thay đổi nhiệt độ nhất thời. Một đợt lạnh gay gắt kéo dài vài ngày trong tháng Ba có thể làm chậm đáng kể quá trình tan băng của các hồ trước, trong khi nhiệt độ của Walden lại tăng lên gần như liên tục không ngắt quãng.
Một cây nhiệt kế cắm xuống giữa hồ Walden vào ngày 6 tháng 3 năm 1847, chỉ 32 độ, hay điểm đóng băng; gần bờ chỉ 33 độ; ở giữa hồ Flint, cùng ngày hôm đó, ở mức 32 độ rưỡi; cách bờ chừng mười sào, ở vùng nước nông, dưới lớp băng dày một tấc, ở mức 36 độ. Sự chênh lệch ba độ rưỡi giữa nhiệt độ của vùng nước sâu và vùng nước nông ở hồ sau, cùng với thực tế là phần lớn diện tích hồ tương đối nông, cho thấy lý do tại sao nó lại tan băng sớm hơn Walden nhiều như vậy. Lớp băng ở phần nông nhất vào thời điểm này mỏng hơn vài inch so với ở giữa hồ. Vào giữa mùa đông, khu vực giữa hồ là nơi ấm nhất và băng mỏng nhất ở đó. Cứ như thế, bất kỳ ai từng lội quanh bờ hồ vào mùa hè chắc hẳn đều nhận thấy nước gần bờ ấm hơn biết bao, nơi chỉ sâu ba hoặc bốn inch, so với cách xa bờ một chút, và trên mặt nước ở chỗ sâu thì ấm hơn gần đáy. Vào mùa xuân, mặt trời không chỉ phát huy ảnh hưởng thông qua nhiệt độ không khí và đất tăng lên, mà sức nóng của nó còn xuyên qua lớp băng dày một tấc hoặc hơn thế, và được phản chiếu từ đáy ở vùng nước nông, và do đó cũng làm ấm nước cùng với làm tan mặt dưới của lớp băng, đồng thời làm tan nó trực tiếp hơn ở phía trên, khiến nó trở nên gồ ghề, và khiến các bọt khí bên trong mở rộng lên trên lẫn xuống dưới cho đến khi nó hoàn toàn xốp như tổ ong, rồi cuối cùng biến mất đột ngột chỉ trong một trận mưa xuân.
Băng cũng có thớ của nó giống như gỗ, và khi một khối băng bắt đầu mục rữa hoặc “lược hóa”, nghĩa là mang hình dạng của tổ ong, bất kể vị trí của nó ra sao, các tế bào không khí đều nằm vuông góc với bề mặt nước trước kia. Nơi nào có một tảng đá hoặc khúc gỗ nhô lên gần mặt nước, lớp băng phía trên đó sẽ mỏng hơn nhiều, và thường bị hòa tan hoàn toàn bởi sức nóng phản chiếu này; và tôi từng được kể rằng trong thí nghiệm tại Cambridge nhằm làm đông nước trong một ao gỗ nông, dù không khí lạnh lưu thông bên dưới và do đó tiếp cận được cả hai mặt, nhưng sự phản chiếu của mặt trời từ đáy hồ còn vượt trội hơn cả lợi thế này. Khi một trận mưa ấm vào giữa mùa đông làm tan lớp băng tuyết trên hồ Walden, và để lại một lớp băng cứng tối màu hoặc trong suốt ở giữa, sẽ có một dải băng trắng xốp nhưng dày hơn, rộng chừng một sào hoặc hơn, nằm xung quanh bờ, được tạo ra bởi sức nóng phản chiếu này. Hơn nữa, như tôi đã nói, chính các bọt khí bên trong lớp băng hoạt động như những chiếc thấu kính hội tụ để làm tan lớp băng bên dưới.
Các hiện tượng của cả năm diễn ra mỗi ngày trong một cái ao theo một quy mô nhỏ. Nói chung, mỗi buổi sáng, vùng nước nông được làm ấm nhanh hơn vùng nước sâu, dù cuối cùng nó có thể không đạt được độ ấm bằng, và mỗi buổi chiều nó lại bị làm lạnh nhanh hơn cho đến sáng hôm sau. Một ngày là hình ảnh thu nhỏ của một năm. Đêm là mùa đông, buổi sáng và buổi chiều là mùa xuân và mùa thu, còn buổi trưa là mùa hè. Tiếng băng nứt và ù ù báo hiệu sự thay đổi của nhiệt độ. Vào một buổi sáng dễ chịu sau một đêm lạnh giá, ngày 24 tháng 2 năm 1850, khi đến hồ Flint để trải qua một ngày ở đó, tôi ngạc nhiên nhận thấy rằng khi tôi đập đầu chiếc rìu vào băng, nó vang lên như một chiếc chiêng ở vùng cách xa nhiều sào, hoặc như thể tôi vừa gõ vào một mặt trống căng cứng. Ao bắt đầu phát ra tiếng ù ù khoảng một giờ sau khi mặt trời mọc, khi nó cảm nhận được sức ảnh hưởng từ những tia nắng chiếu xiên qua các ngọn đồi; nó vươn mình và ngáp dài như một người vừa thức giấc với tiếng động ầm ĩ tăng dần, kéo dài suốt ba hoặc bốn tiếng đồng hồ. Nó chợp mắt nghỉ trưa một lát, rồi lại phát ra tiếng ù ù một lần nữa về chiều, khi mặt trời đang thu hồi ánh nắng của mình. Ở trạng thái thời tiết thuận lợi, một cái ao bắn "phát đại bác buổi chiều" với độ đều đặn đáng kinh ngạc. Nhưng vào giữa ngày, vì đầy rẫy những vết nứt, và không khí cũng kém đàn hồi hơn, nó đã hoàn toàn mất đi sự cộng hưởng, và có lẽ cá cùng chuột xạ hương khi ấy không thể bị làm cho choáng váng bởi một cú đánh lên mặt băng. Những người đánh cá nói rằng tiếng "gầm rú của ao" làm cá sợ hãi và ngăn chúng cắn câu. Ao không gầm lên vào mọi buổi chiều, và tôi không thể chắc chắn khi nào nên mong đợi tiếng gầm của nó; nhưng dù tôi có thể không nhận thấy sự khác biệt nào trong thời tiết, nó vẫn cứ gầm lên. Ai mà ngờ được một vật thể lớn, lạnh giá và dày dạn như vậy lại nhạy cảm đến thế? Thế nhưng nó có quy luật riêng mà nó tuân theo bằng tiếng gầm khi đến thời điểm, chắc chắn như cách những chồi cây bung nở vào mùa xuân. Trái đất tràn đầy sự sống và được bao phủ bởi những nhú gai. Chiếc ao lớn nhất cũng nhạy cảm với các biến đổi khí quyển chẳng khác nào giọt thủy ngân trong ống đo của nó.
Một sự thu hút khi đến sống trong rừng là tôi sẽ có thời gian rảnh rỗi và cơ hội để ngắm mùa xuân đến. Lớp băng trong ao cuối cùng cũng bắt đầu xốp ra, và tôi có thể ấn gót giày xuống khi đi dạo. Sương mù, những trận mưa và cái nắng ấm áp hơn đang dần làm tan lớp tuyết; ngày đã dài ra trông thấy; và tôi thấy mình sẽ vượt qua mùa đông ra sao mà không cần chất thêm củi, bởi những đống lửa lớn không còn cần thiết nữa. Tôi luôn cảnh giác trước những dấu hiệu đầu tiên của mùa xuân, để nghe tiếng hót tình cờ của một chú chim nào đó mới đến, hoặc tiếng kêu lạch cạch của con sóc chuột, vì kho dự trữ của nó lúc này chắc đã cạn kiệt, hay để nhìn chú lợn đất mạo hiểm bước ra khỏi chốn ẩn náu mùa đông. Ngày 13 tháng 3, sau khi tôi nghe tiếng chim xanh, chim sẻ hót và chim cánh đỏ, lớp băng vẫn dày gần một tấc. Khi thời tiết ấm dần lên, nó không bị nước bào mòn rõ rệt, cũng không bị phá vỡ rồi trôi đi như ở các sông ngòi, mà dù đã tan hoàn toàn với bề rộng nửa sào tính từ bờ, phần giữa chỉ hoàn toàn xốp và ngấm đầy nước, đến nỗi bạn có thể thọc chân xuyên qua khi nó dày sáu inch; nhưng đến chiều hôm sau, có lẽ sau một trận mưa ấm tiếp theo là sương mù, nó sẽ biến mất hoàn toàn, tan biến theo sương mù, bay bổng đi mất. Có năm tôi đi qua giữa hồ chỉ năm ngày trước khi nó biến mất hoàn toàn. Năm 1845, Walden lần đầu tiên hoàn toàn mở băng vào ngày 1 tháng 4; năm 46, vào ngày 25 tháng 3; năm 47, ngày 8 tháng 4; năm 51, ngày 28 tháng 3; năm 52, ngày 18 tháng 4; năm 53, ngày 23 tháng 3; năm 54, khoảng ngày 7 tháng 4.
Mọi sự kiện liên quan đến việc tan băng ở các sông ngòi, ao hồ và sự ổn định của thời tiết đều vô cùng thú vị đối với chúng ta, những kẻ sống trong một khí hậu có biên độ nhiệt quá lớn. Khi những ngày ấm áp đến, những ai sống gần sông đều nghe thấy tiếng băng nứt vào ban đêm với tiếng thét giật mình vang dội như đại bác, cứ như thể những xiềng xích băng giá của nó bị xé toạc từ đầu này đến đầu kia, và chỉ trong vài ngày, họ thấy nó nhanh chóng trôi đi. Cứ thế, con cá sấu bò ra khỏi bùn m đất đá rung chuyển. Một ông cụ nọ, người đã quan sát thiên nhiên một cách tỉ mỉ và tỏ ra uyên bác thấu đáo về mọi hoạt động của tự nhiên như thể chính thiên nhiên đã được dựng lên từ khi ông còn là một cậu bé, và ông đã giúp đặt sống thuyền cho nó — người đã trưởng thành trọn vẹn, và khó lòng thu nạp thêm kiến thức tự nhiên nào nữa kể cả khi ông sống đến tuổi của Methuselah — đã kể cho tôi nghe, và tôi rất đỗi ngạc nhiên khi thấy ông bày tỏ sự kinh ngạc trước bất kỳ hoạt động nào của tự nhiên, vì tôi cứ nghĩ giữa họ chẳng có bí mật nàonữa, rằng vào một ngày xuân nọ, ông xách súng và ghé thuyền ra đi với ý định tìm chút thú vui săn vịt. Vẫn còn băng trên các đồng cỏ, nhưng băng đã trôi sạch khỏi sông, và ông xuôi dòng không gặp trở ngại nào từ Sudbury, nơi ông sống, đến hồ Fair-Haven, và bất ngờ thay, ông thấy hồ này phần lớn đã bị phủ kín bởi một đồng băng vững chắc. Hôm đó trời ấm, và ông ngạc nhiên khi thấy một khối băng lớn như vậy vẫn còn sót lại. Không thấy con vịt nào, ông giấu thuyền ở phía bắc hoặc phía sau một hòn đảo trong hồ, rồi ẩn nấp trong những bụi cây ở phía nam để chờ đợi chúng. Băng đã tan được ba hoặc bốn sào tính từ bờ, và bên trong là một vùng nước phẳng lặng, ấm áp với lớp đáy bùn mà loài vịt rất ưa thích, và ông nghĩ rằng có lẽ chúng sẽ kéo đến khá nhanh nằm chờ ở đó khoảng một tiếng đồng hồ, ông nghe thấy một âm thanh trầm và thoạt nghe có vẻ rất xa xôi, nhưng vô cùng hùng vĩ và ấn tượng, không giống bất cứ thứ gì ông từng nghe trước đây, cứ lớn dần và dâng lên như thể nó sắp có một cái kết vạn vật và đáng nhớ, một tiếng gầm rú đục ngầu, thoạt nghe giống như tiếng của một bầy gia cầm đông đảo đang bay đến đậu xuống đó; nắm lấy khẩu súng, ông bật dậy trong sự vội vã và hào hứng; nhưng ngạc nhiên thay, ông nhận ra toàn bộ khối băng đã dịch chuyển khi ông đang nằm đó, và trôi dạt vào bờ, còn âm thanh ông nghe thấy là do rìa băng cạo vào bờ tạo ra — thoạt đầu chỉ nhẹ nhàng gặm nhấm và vụn vỡ, nhưng cuối cùng lại trúng lên và vung vãi những mảnh vỡ dọc theo hòn đảo lên một độ cao đáng kể trước khi dừng lại hẳn.
Cuối cùng, những tia nắng mặt trời đã đạt đến góc chiếu thích hợp, những cơn gió ấm thổi lên làn sương mù cùng mưa rào và làm tan những đống tuyết, rồi mặt trời xua tan sương mù, mỉm cười trên một phong cảnh đan xen giữa màu nâu đỏ và trắng xóa đang bốc hơi ngút ngát như làn khói hương, nơi người lữ hành dò dẫm bước đi từ hòn đảo nhỏ này sang hòn đảo nhỏ khác, được cổ vũ bởi âm thanh của hàng ngàn con suối nhỏ đang róc rách hòa nhịp, những mạch nước mang trong mình dòng máu mùa đông mà chúng đang cuốn đi.
Hiếm có hiện tượng nào mang lại cho tôi nhiều niềm vui hơn việc quan sát những hình thù mà cát và đất sét tan chảy tạo ra khi chúng trượt xuống sườn của một đoạn xẻ sâu trên tuyến đường sắt mà tôi đi qua trên đường vào làng — một hiện tượng không quá phổ biến trên quy mô lớn như vậy, dù số lượng các sườn dốc mới lộ ra với chất liệu phù hợp hẳn đã tăng lên gấp bội kể từ khi đường sắt được phát minh. Chất liệu đó là cát đủ mọi độ mịn và nhiều màu sắc phong phú khác nhau, thường trộn lẫn với một chút đất sét. Khi băng giá tan vào mùa xuân, và thậm chí vào một ngày tan băng giữa mùa đông, cát bắt đầu chảy tràn xuống các sườn dốc giống như dung nham, đôi khi bùng nổ xuyên qua lớp tuyết và tràn ngập lên trên nơi trước đó chẳng hề thấy bóng dáng hạt cát nào. Vô số dòng suối nhỏ đan xen chồng chéo lên nhau, trưng bày một thứ sản phẩm lai tạp, nửa tuân theo quy luật của dòng chảy, nửa tuân theo quy luật của thực vật. Khi chảy đi, nó mang hình dáng của những chiếc lá mọng nước hoặc dây leo, tạo thành những thảm cành lá mềm nhũn dày một tấc hoặc hơn, và nếu nhìn xuống, bạn sẽ thấy chúng giống như những tảng thể thallus xẻ thùy, có thùy và lợp ngói của một số loài địa y; hoặc bạn sẽ liên tưởng đến san hô, bàn chân báo hay chân chim, não bộ, phổi hay ruột, và đủ loại chất thải. Đó thực sự là một dạng thực vật kỳ dị, mà hình dáng và màu sắc của chúng ta thấy được mô phỏng trong đồ đồng, một dạng tán lá kiến trúc cổ xưa và mang tính biểu tượng hơn cả cây ô rô, rau diếp xoăn, cây thường xuân, dây leo, hay bất kỳ chiếc lá thực vật nào; có lẽ số phận của nó, trong một số hoàn cảnh nhất định, sẽ trở thành một bài toán hóc búa cho các nhà địa chất tương lai. Toàn bộ đoạn đường xẻ ấy gợi cho tôi ấn tượng như thể đó là một hang động với những thạch nhũ được phơi bày dưới ánh sáng. Các sắc độ khác nhau của cát vô cùng phong phú và dễ chịu, bao gồm các màu sắt khác nhau như nâu, xám, ngả vàng và ngả đỏ. Khi khối cát chảy đến cống thoát nước ở chân sườn dốc, nó trải rộng phẳng hơn thành các dải, các dòng riêng lẻ mất đi hình dạng bán trụ và dần trở nên phẳng và rộng hơn, hòa quyện vào nhau khi độ ẩm tăng lên, cho đến khi chúng tạo thành một lớp cát gần như phẳng, vẫn được tô điểm bằng các sắc độ đẹp đẽ và đa dạng, nhưng trong đó bạn vẫn có thể lần theo những hình dạng thực vật ban đầu; cho đến cuối cùng, ngay trong làn nước, chúng biến thành những dải bãi cát, giống như những bãi hình thành ngoài cửa sông, và hình dáng thực vật tan biến vào những gợn sóng lăn tăn dưới đáy.
Toàn bộ sườn dốc, vốn cao từ hai mươi đến bốn十 thước, đôi khi bị bao phủ bởi một khối tán lá hoặc vết nứt cát như thế trong suốt một phần tư dặm ở một hoặc cả hai bên, là sản phẩm của chỉ một ngày xuân. Điều khiến những tán lá cát này trở nên đáng chú ý là sự xuất hiện đột ngột của chúng vào cõi đời. Khi tôi nhìn sang một bên là sườn dốc vô tri — vì mặt trời tác động lên một bên trước — và sang bên kia là thảm lá xum xuê này, tạo phẩm chỉ trong một giờ đồng hồ, tôi có cảm giác như thể theo một nghĩa đặc biệt nào đó, mình đang đứng trong phòng thí nghiệm của Người Nghệ Sĩ đã tạo ra thế giới và tạo ra tôi — đã đến nơi Ngài vẫn đang miệt mài làm việc, đang đùa nghịch trên sườn dốc này, và với nguồn năng lượng dư thừa, đang rải rác những thiết kế mới mẻ của Ngài khắp mọi nơi. Tôi cảm thấy như mình đang đến gần hơn với những phần huyết mạch của trái đất, bởi lớp cát tràn ra này cũng là một khối lá tương tự như nội tạng trong cơ thể động vật. Nhờ vậy, bạn tìm thấy ngay trong cát sự phỏng theo chiếc lá thực vật. Chẳng có gì lạ khi trái đất biểu hiện ra bên ngoài bằng những chiếc lá, khi mà bên trong nó trăn trở biết bao với ý tưởng ấy. Các nguyên tử đã sớm học được quy luật này, và đang mang thai vì nó. Chiếc lá rủ xuống nhìn thấy ở đây nguyên mẫu của nó. Về mặt bên trong, dù là trong quả địa cầu hay cơ thể động vật, nó là một thùy dày ẩm ướt (một từ đặc biệt thích hợp áp dụng cho gan, phổi và các thùy mỡ — λείβω, labor, lapsus, có nghĩa là chảy hoặc trượt xuống, sự rơi rớt; λοβος, globus, thùy, quả địa cầu; ngoài ra còn có lap, flap, và nhiều từ khác nữa), còn bên trong là một chiếc lá mỏng khô ráo, giống như hai chữ f và v là chữ b bị ép và làm khô. Các căn tố của thùy là lb, khối mềm của chữ b (một thùy đơn, hoặc B, thùy đôi) với phụ âm l lỏng ở phía sau đẩy nó tiến lên. Trong từ globe, glb, phụ âm họng g bồi đắp thêm cho ý nghĩa dung tích của cổ họng. Lông vũ và đôi cánh của loài chim chính là những chiếc lá còn khô và mỏng hơn nữa. Cứ thế, bạn cũng bước qua từ con sâu bọ nặng nề trong lòng đất cho đến chú bướm bay lượn trên không trung. Bản thân quả địa cầu cũng liên tục vượt lên, tự chuyển hóa chính mình, và mọc thêm đôi cánh trên quỹ đạo của nó. Ngay cả băng giá cũng bắt đầu với những chiếc lá lê pha lê tinh tế, như thể nó đã chảy vào những chiếc khuôn mà các nhánh của thực vật thủy sinh đã hằn in lên tấm gương nước. Bản thân toàn bộ cái cây cũng chỉ là một chiếc lá, và các dòng sông thậm chí còn là những chiếc lá rộng lớn hơn với phần thịt lá là đất xen giữa, còn các thị trấn và thành phố chính là trứng côn trùng nằm trong nách lá của chúng.
Khi mặt trời rút đi, cát ngừng chảy, nhưng vào buổi sáng, các dòng chảy sẽ lại bắt đầu và phân nhánh rồi lại phân nhánh thành vô số dòng khác. Ở đây, bạn có lẽ sẽ thấy các mạch máu được hình thành như thế nào. Nếu quan sát kỹ, bạn sẽ nhận thấy đầu tiên nhô ra từ khối băng tan là một dòng cát mềm với phần đầu tròn như giọt nước, tựa như đầu ngón tay, đang dò dẫm tiến về phía trước một cách chậm chạp và mù quáng, cho đến cuối cùng với nhiều hơi ấm và độ ẩm hơn, khi mặt trời lên cao hơn, phần lỏng nhất, trong nỗ lực tuân theo quy luật mà cả phần ì ạch nhất cũng phải khuất phục, tách khỏi phần sau và tự tạo cho mình một lòng dẫn ngoằn ngoèo hoặc động mạch bên trong đó, nơi xuất hiện một dòng suối nhỏ ánh bạc lóe lên như chớp từ tầng lá hay cành múp míp này sang tầng khác, rồi thỉnh thoảng lại bị cát nuốt chửng. Thật kỳ diệu khi cát tự tổ chức lại một cách nhanh chóng nhưng hoàn hảo biết bao khi nó chảy đi, sử dụng chất liệu tốt nhất mà khối của nó có được để tạo nên những rìa sắc nhọn cho lòng dẫn. Đó chính là nguồn cội của các con sông. Trong chất silic mà nước lắng đọng có lẽ chính là hệ thống xương, và trong lớp đất mịn hơn cùng chất hữu cơ chính là sợi thịt hoặc mô tế bào. Con người là gì nếu không phải là một khối đất sét đang tan chảy? Đầu ngón tay con người chẳng qua chỉ là một giọt nước đông đặc. Các ngón tay và ngón chân vươn dài ra từ khối cơ thể đang tan chảy. Ai mà biết được cơ thể con người sẽ mở rộng và tuôn chảy đến đâu dưới một bầu trời ôn hòa hơn? Bàn tay chẳng phải là một chiếc lá cọ xòe rộng với các thùy và gân của nó sao? Chiếc tai có thể được xem xét một cách liên tưởng như một loài địa y, umbilicaria, bên mạn đầu, với thùy hoặc giọt của nó. Đôi môi — labium, bắt nguồn từ labor (?) — trượt hoặc tuột ra từ hai bên vòm miệng hang động. Chiếc mũi rõ ràng là một giọt nước đông đặc hoặc thạch nhũ. Chiếc cằm là một giọt nước lớn hơn nữa, là sự hợp lưu nhỏ giọt của khuôn mặt. Hai má là một vệt trượt từ vòm trán xuống thung lũng của khuôn mặt, bị cản lại và phân tán bởi xương gò má. Mỗi thùy tròn của chiếc lá thực vật cũng vậy, là một giọt nước dày và nay đang chậm chạp, lớn hay nhỏ; các thùy chính là những ngón tay của chiếc lá; và nó có bao nhiêu thùy, thì nó có xu hướng chảy theo bấy nhiêu hướng, và nhiều nhiệt lượng hơn hay những ảnh hưởng ôn hòa khác hẳn đã khiến nó chảy đi xa hơn nữa.
Vì vậy, có vẻ như sườn đồi đơn độc này minh họa cho nguyên lý của mọi hoạt động trong Tự nhiên. Kẻ Sáng Tạo ra trái đất này chỉ đơn thuần đăng ký bản quyền cho một chiếc lá. Nhà Champollion nào sẽ giải mã thứ chữ tượng hình này cho chúng ta, để cuối cùng chúng ta có thể sang trang mới của cuộc đời? Hiện tượng này mang lại cho tôi nhiều phấn khích hơn cả sự xum xuê và màu mỡ của các vườn nho. Quả thật, bản chất của nó có phần giống với chất thải, và chẳng có hồi kết cho những đống gan phổi và ruột thừa, cứ như thể quả địa cầu bị lộn trái ra ngoài; nhưng điều này ít nhất cũng gợi ý rằng Tự nhiên có ruột gan, và qua đó lại tiếp tục là người mẹ của nhân loại. Đây chính là băng giá đang tan ra khỏi lòng đất; đây chính là Mùa Xuân. Nó đi trước mùa xuân xanh tươi rực rỡ ngập tràn hoa lá, cũng như thần thoại đi trước thơ ca chính thống. Tôi không biết có thứ gì có thể thanh tẩy khói mù và chứng khó tiêu của mùa đông tốt hơn thế này. Nó thuyết phục tôi rằng Trái Đất vẫn đang trong tuổi tã lót, và dang rộng những ngón tay bụ bẫm của trẻ thơ về mọi hướng. Những lọn tóc tươi mới mọc lên từ chiếc trán hói nhất. Chẳng có gì là vô cơ cả. Những đống tán lá này nằm dọc theo bờ giống như xỉ của một lò luyện kim, cho thấy Tự nhiên đang "hoạt động hết công suất" bên trong. Trái đất không chỉ là một mảnh vỡ của lịch sử đã chết, tầng chồng lên tầng giống như những trang sách, để các nhà địa chất và khảo cổ học nghiên cứu là chính, mà là một nền thơ ca sống động giống như những chiếc lá của cây, mọc ra trước cả hoa và quả — không phải là một trái đất hóa thạch, mà là một trái đất sống động; so với sự sống trung tâm vĩ đại của nó, mọi sự sống động vật và thực vật chỉ đơn thuần mang tính ký sinh. Những cơn co thắt của nó sẽ hất tung hài cốt chúng ta khỏi mồ mả. Bạn có thể nung chảy kim loại của mình và đổ chúng vào những chiếc khuôn đẹp nhất có thể; chúng sẽ không bao giờ làm tôi phấn khích bằng những hình dáng mà trái đất nóng chảy này tuôn trào thành. Và không chỉ nó, mà cả các thể chế trên đó, cũng dẻo dai như đất sét trong tay người thợ gốm.
Chẳng bao lâu nữa, không chỉ trên những sườn dốc này, mà trên mọi ngọn đồi, đồng bằng và trong mọi thung lũng, băng giá sẽ tan ra khỏi lòng đất giống như một chú động vật bốn chân ngủ đông bò ra khỏi hang, tìm về biển cả cùng âm thanh rộn rã, hoặc di cư đến những xứ sở khác trong những đám mây. Sự tan băng với sự thuyết phục nhẹ nhàng của nó còn mạnh mẽ hơn cả vị thần Thor với cây búa của ngài. Một bên làm tan chảy, bên kia chỉ đập ra thành từng mảnh.
Khi mặt đất đã vơi bớt tuyết và một vài ngày ấm áp đã làm khô bề mặt của nó đôi chút, thật thú vị khi so sánh những dấu hiệu mong manh đầu tiên của năm non trẻ vừa hé lộ với vẻ đẹp uy nghi của lớp thực vật tàn lụi đã chống chọi qua mùa đông — cây trường sinh, cúc vàng, cỏ dại và các loài cỏ hoang duyên dáng, thường trở nên rõ rệt và thú vị hơn cả trong mùa hè, như thể vẻ đẹp của chúng mãi đến lúc đó mới chín muồi; thậm chí cả cỏ bông, bấc đèn, cây lá láng, nọc sởi, cỏ nhọ nồi, cỏ dại thân cứng và các loài thực vật thân gỗ vững chắc khác, những kho thóc chưa cạn kiệt tiếp đãi những chú chim đầu đàn — ít ra cũng là những loài cỏ dại đoan trang, thứ trang sức mà Tự nhiên góa bụa đang khoác lên mình. Tôi đặc biệt bị thu hút bởi phần ngọn cong cong và trông như bó lúa của loài cỏ len; nó mang mùa hè trở lại trong ký ức mùa đông của chúng ta, và nằm trong số những hình dáng mà nghệ thuật yêu thích phỏng theo, và trong vương quốc thực vật, chúng có mối quan hệ với các nguyên mẫu vốn đã tồn tại trong tâm trí con người tương tự như thiên văn học vậy. Đó là một phong cách cổ xưa còn có trước cả Hy Lạp hay Ai Cập. Nhiều hiện tượng của Mùa Đông gợi lên một sự dịu dàng không thể tả xiết và vẻ mỏng manh dễ vỡ. Chúng ta đã quen nghe mô tả vị vua này như một kẻ bạo chúa thô lỗ và ồn ào; nhưng với sự dịu dàng của một kẻ si tình, hắn trang hoàng cho những lọn tóc của Mùa Hè.
Vào dịp mùa xuân đến gần, những con sóc đỏ chui xuống dưới nhà tôi, mỗi lần hai con, ngay dưới chân tôi khi tôi đang ngồi đọc sách hay viết lách, và liên tục phát ra những âm thanh cục cục kỳ lạ nhất, tiếng ríu rít, tiếng uốn éo phát âm và tiếng róc rách từng được nghe thấy; và khi tôi dậm chân, chúng chỉ ríu rít to hơn, như thể đã vượt qua mọi nỗi sợ hãi và kính trọng trong những trò quậy phá điên cuồng của mình, thách thức loài người ngăn cản chúng. Không đời nào đâu — chickaree — chickaree. Chúng hoàn toàn điếc đặc trước các lập luận của tôi, hoặc không nhận thức được sức mạnh của chúng, và rơi vào một tràng những lời chì chiết có sức mạnh cưỡng ép không thể chối từ.
Chú chim sẻ đầu tiên của mùa xuân! Năm mới bắt đầu với niềm hy vọng trẻ trung hơn bao giờ hết! Những tiếng hót líu lo mờ ảo vang lên trên những cánh đồng ẩm ướt và lấp ló vài vạt đất trống từ chim xanh, chim sẻ hót và chim cánh đỏ, tựa như những bông tuyết cuối cùng của mùa đông reo lên lanh lảnh khi rơi xuống! Vào thời điểm như vậy, lịch sử, niên đại, truyền thống và mọi mặc khải được viết ra thì có nghĩa lý gì? Những con suối cất lên khúc ca hoan ca và khúc nhạc vui tươi chào đón mùa xuân. Chim ưng đầm lầy bay là đà là lượt trên đồng cỏ đang lùng sục sinh thể nhầy nhụa đầu tiên thức giấc. Âm thanh chìm dần của tuyết tan vang lên trong mọi thung lũng, và băng tan chảy nhanh chóng trong các ao hồ. Cỏ bốc cháy rực trên các sườn đồi như ngọn lửa mùa xuân — “et primitus oritur herba imbribus primoribus evocata,” — như thể trái đất tỏa ra một nguồn nhiệt bên trong để chào đón mặt trời trở lại; màu sắc ngọn lửa của nó không phải màu vàng mà là màu xanh lá; — biểu tượng của tuổi trẻ vĩnh cửu, ngọn cỏ, giống như một dải lụa xanh dài, vươn lên từ thảm cỏ xanh ngát vào mùa hè, quả thực bị chặn lại bởi sương giá, nhưng ngay sau đó lại vươn lên, nâng ngọn giáo cỏ khô năm ngoái cùng với sự sống tươi mới bên dưới. Nó lớn lên đều đặn như dòng suối rỉ ra từ lòng đất. Nó gần như đồng nhất với dòng suối ấy, bởi vào những ngày sinh trưởng của tháng Sáu, khi các con suối cạn nước, những ngọn cỏ chính là lòng dẫn của chúng, và từ năm này sang năm khác, các đàn gia súc uống nước từ dòng suối xanh tươi vĩnh cửu này, còn người thợ cắt cỏ sớm thu hoạch nguồn dự trữ cho mùa đông của chúng từ đó. Cứ thế, cuộc đời con người chúng ta chỉ lụi tàn xuống tận rễ, rồi lại đâm chồi chiếc lá xanh của mình đến cõi vĩnh hằng.
Hồ Walden đang tan chảy nhanh chóng. Có một con kênh rộng hai sào chạy dọc theo phía bắc và phía tây, và thậm chí còn rộng hơn ở đầu phía đông. Một mảng băng lớn đã nứt ra khỏi khối chính. Tôi nghe thấy tiếng chim sẻ hót cất lên từ những bụi cây ven bờ — olit, olit, olit — chip, chip, chip, che char — che wiss, wiss, wiss. Chú chim ấy cũng đang góp phần làm nứt lớp băng. Những đường cong quét rộng tuyệt vời ở rìa lớp băng trông thật đẹp làm sao, có phần tương ứng với các đường cong của bờ hồ, nhưng đều đặn hơn nhiều! Lớp băng bất thường ở độ cứng, do đợt lạnh gay gắt nhưng ngắn ngủi gần đây, và ngập nước hoặc gợn sóng như sàn của một cung điện. Nhưng ngọn gió trượt về phía đông qua bề mặt đục ngầu của nó một cách vô ích, cho đến khi nó chạm đến bề mặt sinh động phía bên kia. Thật vinh quang làm sao khi chiêm ngưỡng dải nước lấp lánh dưới ánh mặt trời, bề mặt trần trụi của cái ao tràn ngập niềm vui và tuổi trẻ, như thể nó bày tỏ niềm hân hoan của loài cá bên trong và những bạt cát trên bờ — một thứ ánh bạc óng ánh như từ vảy của một loài cá thiểu, tựa như tất cả đều là một sinh thể cá đang hoạt động. Đó là sự tương phản giữa mùa đông và mùa xuân. Walden đã chết nay lại sống lại. Nhưng mùa xuân này băng tan đều đặn hơn, như tôi đã nói.
Sự chuyển đổi từ bão tố và mùa đông sang thời tiết thanh bình và ôn hòa, từ những giờ phút u ám, ì ạch sang những khoảnh khắc tươi sáng và đầy sức sống là một bước ngoặt đáng nhớ mà vạn vật đều loan báo. Cuối cùng thì nó dường như diễn ra trong chớp mắt. Đột nhiên một luồng sáng tràn ngập ngôi nhà tôi, dù trời đã nhá nhem tối, và những đám mây mùa đông vẫn bao trùm lấy nó, và mái hiên đang nhỏ giọt nước mưa lẫn băng giá. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ, và kìa! Nơi mà ngày hôm qua chỉ là lớp băng xám ngắt lạnh giá giờ đây là mặt ao trong suốt, tĩnh lặng và tràn đầy hy vọng như trong một buổi tối mùa hè, phản chiếu bầu trời chạng vạng mùa hè trong lòng ngực nó, dẫu chẳng có bầu trời nào hiển hiện phía trên đầu, như thể nó đang thông tri với một chân trời xa xôi nào đó. Tôi nghe thấy tiếng chim cổ đỏ ở đằng xa, tiếng hót đầu tiên mà tôi được nghe sau bao nhiêu ngàn năm, tưởng chừng thế, một giai điệu mà tôi sẽ không bao giờ quên trong nhiều ngàn năm nữa — cùng một khúc ca ngọt ngào và mạnh mẽ như thuở nào. Ôi, tiếng chim cổ đỏ buổi chiều, vào thời điểm kết thúc một ngày hè ở New England! Ước gì tôi có thể tìm thấy cái cành cây mà nó đang đậu! Ý tôi là nó; ý tôi là cái cành cây ấy. Ít nhất thì đây không phải là loài Turdus migratorius. Những cây thông nhựa và sồi bụi quanh nhà tôi, vốn đã rũ xuống lâu nay, bỗng nhiên lấy lại dáng vẻ riêng của chúng, trông tươi tắn hơn, xanh hơn, thẳng thớm và tràn đầy sức sống hơn, như thể được gột rửa và phục hồi thực sự bởi trận mưa. Tôi biết rằng trời sẽ không mưa nữa. Bạn có thể nhận biết bằng cách nhìn vào bất kỳ cành cây nào trong rừng, phải, ngay cả đống củi của bạn, xem mùa đông của nó đã qua hay chưa. Khi trời tối dần, tôi giật mình bởi tiếng kêu cộc cộc của đàn ngỗng bay là là qua những ngọn rừng, giống như những người lữ hành mệt mỏi về muộn từ các hồ nước phía nam, cuối cùng buông thả trong những lời phàn nàn không kìm nén và sự an ủi lẫn nhau. Đứng ở cửa nhà, tôi có thể nghe thấy tiếng vỗ cánh ào ào của chúng; khi bay là về phía nhà tôi, chúng chợt phát hiện ra ánh đèn của tôi, và với tiếng kêu huyên náo bỗng chừng lặng đi, chúng lượn vòng rồi đáp xuống ao. Thế là tôi bước vào nhà, khép cửa lại, và trải qua đêm mùa xuân đầu tiên trong rừng.
Buổi sáng, tôi ngắm đàn ngỗng từ cửa nhà qua màn sương mù, đang bơi lội giữa hồ, cách đó năm mươi sào, to lớn và ồn ào đến mức Walden trông giống như một chiếc ao nhân tạo được tạo ra để chúng giải trí. Nhưng khi tôi đứng trên bờ, chúng lập tức bay vút lên với tiếng vỗ cánh rầm rộ theo hiệu lệnh của con chim đầu đàn, và khi đã vào đội hình, chúng bay lượn vòng trên đầu tôi, tổng cộng hai mươi chín con, rồi bay thẳng hướng Canada, với tiếng kêu đều đặn của con đầu đàn phát ra từng hồi, với niềm tin sẽ lấp đầy chiếc bụng đói ở những vùng đầm lầy lầy lội hơn. Một “đàn” vịt cũng bay lên cùng lúc đó và cất cánh theo con đường hướng về phía bắc nối gót những người họ hàng ồn ào của chúng.
Trong suốt một tuần, tôi nghe thấy tiếng kêu lượn lờ, dò dẫm của một chú ngỗng cô độc nào đó trong những buổi sáng sương mù, đang tìm kiếm bạn đồng hành, và tiếp tục làm cho khu rừng ngập tràn âm thanh của một sự sống lớn hơn khả năng mà nó có thể duy trì. Vào tháng Tư, người ta lại thấy những con bồ câu bay tốc hành thành từng đàn nhỏ, và đúng lúc, tôi lại nghe thấy tiếng chim én kêu ríu rít trên khoảng đất trống của tôi, dù trước đó dường như thị trấn này không chứa đựng nhiều chim én đến mức có thể nhường cho tôi một vài con, và tôi tưởng tượng rằng chúng thuộc về giống loài cổ xưa từng cư trú trong những thân cây rỗng trước khi người da trắng đến. Ở hầu hết các vùng khí hậu, loài rùa và ếch nằm trong số những kẻ tiên phong và sứ giả của mùa này, chim chóc bay lượn cùng tiếng hót và bộ lông óng ánh, thực vật đâm chồi nở hoa, và những cơn gió thổi qua, nhằm điều chỉnh sự dao động nhẹ của các cực và duy trì sự cân bằng của Tự nhiên.
Cứ như mỗi mùa đều tuyệt vời nhất đối với chúng ta theo cách riêng của nó, thì sự đến của mùa xuân cũng giống như sự kiến tạo Vũ trụ từ Hỗn mang và sự hiện thực hóa của Thời Đại Hoàng Kim.—
“Eurus ad Auroram Nabathæaque regna recessit,
Persidaque, et radiis juga subdita matutinis.”
“Gió Đông rút về phía Aurora và vương quốc Nabathæa,
Cùng xứ Ba Tư, và những dãy núi đặt dưới những tia nắng ban mai.
* * * *
Con người đã ra đời. Liệu rằng Vị Kiến Trúc Sư vạn vật ấy,
Nguồn cội của một thế giới tốt đẹp hơn, đã tạo ra ngài từ hạt giống thần thánh;
Hay trái đất, còn non trẻ và mới vừa tách khỏi tầng Ơ-te cao cả,
Vẫn lưu giữ một vài hạt giống của bầu trời đồng nguyên.”
Chỉ một cơn mưa phùn nhẹ cũng khiến thảm cỏ xanh hơn biết bao nhiêu sắc độ. Triển vọng của chúng ta cũng bừng sáng lên như vậy khi những tư thế tốt đẹp tràn vào. Chúng ta sẽ thật có phúc nếu lúc nào cũng sống trong hiện tại, và tận dụng mọi biến cố xảy ra với mình, giống như ngọn cỏ biết cúi mình trước ảnh hưởng của hạt sương nhỏ nhất rơi xuống nó; chứ không tiêu tốn thời gian để chuộc lại sự xao lãng của những cơ hội trong quá khứ, điều mà chúng ta gọi là làm tròn bổn phận. Chúng ta cứ lần lữa trong mùa đông trong khi mùa xuân đã đến rồi. Vào một buổi sáng mùa xuân dễ chịu, mọi tội lỗi của con người đều được tha thứ. Một ngày như thế là một sự tạm hưu đối với thói hư tật xấu. Chừng nào mặt trời ấy còn chiếu sáng và sưởi ấm, kẻ tội đồ đê hèn nhất cũng có thể quay đầu. Qua sự vô tội đã được khôi phục của chính mình, chúng ta nhận thức được sự vô tội của những người lợng giềng quanh ta. Bạn có thể từng biết người hàng xóm của mình hôm qua là một kẻ trộm, một tên bợm rượu, hay một kẻ sa đọa, và chỉ cảm thấy thương hại hoặc coi thường hắn, rồi tuyệt vọng về thế giới này; nhưng mặt trời đang chiếu sáng rực rỡ và ấm áp vào buổi sáng mùa xuân đầu tiên này, tái tạo lại thế giới, và bạn bắt gặp hắn đang làm một công việc thanh thản nào đó, và thấy những mạch máu kiệt quệ và truỵ lạc của hắn nở nang ra với niềm vui lặng lẽ và chúc phúc cho ngày mới, cảm nhận hơi thở mùa xuân với sự ngây thơ của tuổi thơ ấu, và mọi lầm lỗi của hắn đều bị lãng quên. Xung quanh hắn không chỉ có bầu không khí thiện chí, mà thậm chí còn có cả hương vị của sự thánh thiện đang dò dẫm tìm cách diễn đạt, có lẽ một cách mù quáng và vô ích, giống như một bản năng mới sinh, và trong một giờ ngắn ngủi, sườn đồi phía nam không còn vang lên những lời đùa cợt thô tục nào nữa. Bạn nhìn thấy những chồi non trong trắng, ngây thơ đang chuẩn bị bung ra từ lớp vỏ cây sần sùi của hắn và thử nghiệm một năm sống mới, mềm mại và tươi tắn như chồi cây non nhất. Ngay cả hắn cũng đã bước vào niềm vui của Chúa mình. Tại sao người cai ngục không mở toang cửa nhà lao — tại sao vị thẩm phán không bác bỏ vụ án — tại sao vị mục sư không cho giáo đoàn ra về! Đó là bởi vì họ không tuân theo lời gợi ý mà Chúa ban cho họ, cũng không chấp nhận sự ân sủng mà Ngài sẵn lòng ban phát cho tất cả mọi người.
“Sự trở về với lòng tốt được tạo ra mỗi ngày trong hơi thở thanh bình và nhân hậu của buổi sáng, khiến cho lòng yêu đức hạnh và lòng ghét thói hư tật xấu, người ta đến gần hơn một chút với bản tính nguyên thủy của con người, giống như những chồi non của khu rừng vừa bị chặt phá. Tương tự như vậy, những điều ác mà người ta làm trong khoảng thời gian của một ngày ngăn cản các mầm mống đức hạnh vừa chớm nở phát triển và tiêu diệt chúng.
“Sau khi các mầm mống đức hạnh đã nhiều lần bị ngăn cản không cho phát triển như thế, thì hơi thở nhân hậu của buổi chiều tối không còn đủ để bảo vệ chúng nữa. Ngay khi hơi thở buổi chiều không còn đủ để bảo vệ chúng nữa, thì bản tính con người không khác mấy so với loài cầm thú. Con người thấy bản tính của kẻ này giống như loài cầm thú, liền nghĩ rằng hắn chưa bao giờ sở hữu khả năng lý trí bẩm sinh. Đó có phải là tình cảm chân thực và tự nhiên của con người không?”
“Thời Đại Hoàng Kim được tạo dựng đầu tiên, không có bất kỳ kẻ báo thù nào,
Tự nguyện không cần luật pháp vẫn trân trọng lòng trung thành và sự chính trực.
Hình phạt và nỗi sợ hãi chưa hề có; những lời đe dọa cũng chẳng được khắc
Trên những tấm đồng treo lơ lửng; đám đông cầu xin cũng chẳng hề sợ hãi
Lời phán quyết của quan tòa; mà vẫn được bình an vô sự chẳng cần kẻ bảo vệ.
Cây thông bị đốn ngã trên những ngọn núi vẫn chưa xuôi dòng
Xuống những con sóng lỏng để rồi chứng kiến một thế giới xa lạ,
Và người phàm không biết đến bơ vơ nào ngoài bờ cõi của chính mình.
***
Muôn đời là mùa xuân, và những làn gió tây êm đềm với hơi ấm
Mơn man những đóa hoa sinh ra không từ hạt giống.”
Vào ngày 29 tháng 4, khi tôi đang câu cá từ bờ sông gần cây cầu Nine-Acre-Corner, đứng trên thảm cỏ xốp và những rễ liễu, nơi loài chuột xạ hương ẩn náu, tôi nghe thấy một âm thanh lách cách kỳ lạ, hơi giống tiếng những thanh gỗ mà bọn trẻ chơi đùa bằng ngón tay, khi ngước lên, tôi quan sát thấy một chú chim ưng vô cùng mảnh mai và duyên dáng, giống như chim ưng đêm, lúc thì bay lượn như một gợn sóng, lúc lại nhào lộn một hai sào hết vòng này đến vòng khác, khoe phần dưới đôi cánh tỏa sáng như dải lụa satin dưới ánh nắng mặt trời, hoặc như lớp xà cừ óng ánh bên trong một chiếc vỏ sò. Cảnh tượng này gợi cho tôi nhớ đến nghệ thuật chơi chim ưng và vẻ cao quý cùng chất thơ gắn liền với môn thể thao đó. Tôi thầm nghĩ có lẽ nó được gọi là chim cắt Merlin: nhưng tôi chẳng bận tâm đến tên gọi của nó. Đó là chuyến bay thanh tao nhất mà tôi từng chứng kiến. Nó không chỉ đơn thuần vỗ cánh như loài bướm, hay bay lượn trên cao như những loài chim ưng lớn hơn, mà nó đùa giỡn với sự tự tin đầy kiêu hãnh trên bầu trời; bay vút lên hết lần này đến lần khác với tiếng kêu cục cục kỳ lạ, nó lặp lại cú rơi tự do và đẹp mắt của mình, lật nhào hết vòng này đến vòng khác như một con diều giấy, rồi lấy lại thăng bằng từ cú nhào lộn trên cao, như thể nó chưa bao giờ đặt chân lên mặt đất vững chắc. Nó dường như không có bạn đồng hành nào trong vũ trụ — đùa giỡn ở đó một mình — và chẳng cần ai ngoài buổi sáng và tầng Ơ-te mà nó đang vui đùa cùng. Nó không cô đơn, mà khiến cho cả mặt đất bên dưới nó trở nên cô đơn. Đâu là con chim mẹ đã ấp ra nó, họ hàng của nó, và người cha trên thiên đàng của nó? Là cư dân của bầu trời, nó dường như chỉ gắn kết với mặt đất bằng một quả trứng được ấp đâu đó trong kẽ đá; — hay chiếc tổ bản địa của nó được làm nên từ góc của một đám mây, dệt bằng những dải diềm của cầu vồng và ánh hoàng hôn, rồi lót bằng làn sương mù giữa mùa hè dịu nhẹ nào được vớt lên từ mặt đất? Tổ của nó giờ đây là một đám mây ghềnh đá.
Bên cạnh đó, tôi còn bắt được một mẻ cá vàng, cá bạc và cá đồng óng ánh vô cùng quý hiếm, trông giống như một chuỗi ngọc trai. À! Tôi đã thâm nhập vào những vùng đồng cỏ ấy vào buổi sáng của biết bao ngày đầu xuân, nhảy từ gò đất này sang gò đất khác, từ rễ liễu này sang rễ liễu khác, khi thung lũng sông hoang dã và khu rừng được tắm mình trong thứ ánh sáng tinh khôi và rực rỡ đến mức có thể đánh thức cả người chết, nếu họ đang chìm trong giấc ngủ sâu nơi mồ mả, như một số người vẫn tưởng. Chẳng cần bằng chứng nào mạnh mẽ hơn về sự bất tử. Vạn vật phải sống trong thứ ánh sáng như thế. Hỡi Tử thần, ngọc cọc của ngươi ở đâu? Hỡi Nấm mồ, chiến thắng của ngươi khi ấy ở đâu?
Cuộc sống làng xã của chúng ta sẽ trở nên trì trệ nếu không có những khu rừng và đồng cỏ chưa được khám phá bao quanh nó. Chúng ta cần thứ thuốc bổ của sự hoang dã — đôi khi lội qua những đầm lầy nơi loài chim mòng két và gà nước ẩn náu, và nghe tiếng kêu vang vọng của loài dồn tơi; ngửi mùi hương của đám cói thì thầm nơi chỉ có những loài chim hoang dã và cô độc hơn làm tổ, và con chồn vizon bò với phần bụng sát tận mặt đất. Đồng thời với việc chúng ta tha thiết khám phá và tìm hiểu vạn vật, chúng ta cũng đòi hỏi vạn vật phải thật huyền bí và không thể dò thấu, rằng đất và biển phải hoang dã vô tận, không bị chúng ta khảo sát và dò đáy bởi vì chúng vốn không thể dò thấu. Chúng ta không bao giờ có thể có đủ Tự nhiên. Chúng ta cần được làm mới lại bởi tầm nhìn về sức sống vô tận, những nét đặc trưng to lớn và khổng lồ như người Titan, bờ biển với những xác tàu đắm, chốn hoang dã với những thân cây đang sống và đang mục rữa, đám mây giông, và cơn mưa kéo dài ba tuần gây ra lũ lụt. Chúng ta cần được chứng kiến những giới hạn của chính mình bị vượt qua, và một sự sống nào đó đang nhởn nhơ gặm cỏ tự do nơi chúng ta không bao giờ bước chân tới. Chúng ta cảm thấy phấn chấn khi quan sát loài kền kền đang ăn thịt thối, thứ khiến chúng ta ghê tởm và nản lòng, nhưng lại rút ra sức khỏe và sức mạnh từ bữa ăn đó. Có một con ngựa chết ở vùng lõm cạnh con đường dẫn đến nhà tôi, thứ đôi khi buộc tôi phải đi đường vòng, đặc biệt là vào ban đêm khi không khí nặng nề, nhưng sự bảo đảm mà nó mang lại cho tôi về sự thèm ăn mãnh liệt và sức khỏe bất khả xâm phạm của Tự nhiên chính là sự bù đắp cho điều đó. Tôi thích nhìn thấy Tự nhiên tràn trề sức sống đến mức hàng vạn sinh linh có thể sẵn sàng bị hy sinh và chịu cảnh con lớn nuốt con bé; rằng những cơ chế mỏng manh có thể bị nghiến nát ra khỏi cõi đời một cách thản nhiên như mứt nhão — những con nòng nọc bị diệc nuốt trọn, và rùa cùng cóC bị xe cán qua trên đường; và đôi khi trời đã mưa ra thịt và máu! Với nguy cơ tai nạn luôn rình rập, chúng ta phải thấy rằng điều đó chẳng đáng bận tâm là bao. Ấn tượng để lại trong tâm trí một người khôn ngoan là sự vô tội mang tính phổ quát. Suy cho cùng chất độc không hề độc hại, và cũng chẳng có vết thương nào là chí mạng. Lòng trắc ẩn là một lập trường rất khó đứng vững. Nó phải mang tính khẩn trương. Những lời biện hộ của nó không thể đem ra đóng khuôn dập khuôn mãi được.
Vào đầu tháng Năm, những cây sồi, cây hồ đào, cây phong và các loài cây khác, vừa nhú chồi giữa những khu rừng thông quanh ao, mang lại một vẻ rạng rỡ như ánh nắng cho phong cảnh, đặc biệt là vào những ngày nhiều mây, cứ như thể mặt trời đang xuyên qua sương mù và chiếu sáng mờ ảo trên các sườn đồi ở nơi này nơi khác. Vào mùng ba hoặc mùng bốn tháng Năm, tôi nhìn thấy một con chim lặn gavia trong ao, và trong tuần đầu tiên của tháng, tôi nghe thấy tiếng chim chiền chiện, chim đớp mồi nâu, chim hoét, chim pewee rừng, chim chewink và các loài chim khác. Tôi đã nghe thấy tiếng chim hoét rừng từ lâu trước đó. Chim phœbe đã quay trở lại một lần nữa và ghé mắt nhìn vào cửa ra vào và cửa sổ của tôi, để xem ngôi nhà của tôi có đủ giống hang động để làm chỗ cho nó không, tự đỡ lấy thân mình trên đôi cánh đang vỗ vo ve với đôi móng vuốt quắp chặt, như thể nó đang bám vào không khí trong lúc quan sát khuôn viên. Hạt phấn hoa vàng như lưu huỳnh của cây thông nhựa chẳng mấy chốc đã phủ kín ao, những hòn đá và khúc gỗ mục ven bờ, đến mức bạn có thể thu gom được cả một thùng phuy. Đó chính là những "cơn mưa lưu huỳnh" mà chúng ta vẫn nghe nói tới. Ngay trong vở kịch Sacontala của nhà thơ Calidas, chúng ta cũng đọc được về “những con suối nhuộm màu vàng bởi bụi vàng của hoa sen.” Và cứ thế, các mùa trôi qua lăn vào mùa hè, giống như lúc ta đi lang thang vào những thảm cỏ ngày càng cao hơn.
Thế là năm đầu tiên tôi sống trong rừng đã khép lại; và năm thứ hai cũng diễn ra tương tự. Cuối cùng tôi rời Walden vào ngày 6 tháng 9 năm 1847.