Walden Và Nghĩa Vụ Bất Tuân Dân Sự

Lượt đọc: 240 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Brute Neighbors

❊ ❊ ❊

Đôi khi tôi có bạn đồng hành trong lúc đi câu; người ấy đi xuyên qua làng đến nhà tôi từ phía bên kia thị trấn, và việc bắt bữa tối cũng mang tính giao tế xã hội chẳng kém gì việc thưởng thức nó.

Ẩn sĩ. Tự hỏi thế giới ngoài kia giờ đang làm gì nhỉ. Đã ba tiếng đồng hồ nay, tôi chẳng nghe lấy một tiếng ve sầu kêu trên thảm dương xỉ ngọt. Lũ bồ câu đều đang say ngủ trên giàn đậu—chẳng một tiếng vỗ cánh. Phải chăng vừa có tiếng tù và buổi trưa của người nông dân thổi vọng lại từ bên kia khu rừng? Mọi người đang tụ tập để ăn thịt bò muối luộc, uống rượu táo và bánh mì ngô. Sao con người ta cứ phải bận tâm lo lắng nhiều đến thế nhỉ? Kẻ nào không ăn thì chẳng cần phải làm việc. Tự hỏi họ đã gặt hái được bao nhiêu rồi. Ai lại muốn sống ở cái chốn mà người ta chẳng tài nào suy nghĩ nổi vì tiếng chó Bose sủa chứ? Và ôi chao, chuyện gia đình nhà cửa! phải kì cọ cho sáng bóng những cái tay nắm cửa của quỷ sứ, và cọ rửa thùng chậu của hắn vào cái ngày tươi đẹp này chứ! Thà rằng đừng có nhà cửa gì cả. Giả dụ như một cái hốc cây chẳng hạn; rồi thì những buổi thăm hỏi buổi sáng và tiệc tùng ăn uống! Chỉ có tiếng chim gõ kiến đục khoác lách mà thôi. Ôi, chúng lúc nhúc khắp nơi; ánh mặt trời ngoài ấy quá gay gắt; chúng sinh ra đã dấn thân quá sâu vào cõi đời này đối với tôi rồi. Tôi có nước từ mạch suối, và một ổ bánh mì nâu trên kệ.—Lắng nghe kìa! Tôi nghe thấy tiếng lá xào xạc. Có phải chú chó săn nào trong làng bị bỏ đói đang chiều theo bản năng săn mồi? hay là con heo bị lạc được đồn là đang ẩn náu trong khu rừng này, mà tôi từng thấy dấu chân sau trận mưa? Nó đang tiến đến rất nhanh; những khóm sơn thù du và tầm xuân của tôi đang run rẩy.—Này, anh Thi sĩ, có phải anh đó chứ? Anh thấy thế giới hôm nay thế nào?

Thi sĩ. Nhìn những đám mây kìa; chúng lững lờ trôi thật lạ mắt! Đó là cảnh tượng tuyệt vời nhất tôi thấy hôm nay. Chẳng có gì sánh được với nó trong những bức tranh cổ, chẳng có gì sánh được ở xứ người—trừ khi là lúc chúng ta ở ngoài khơi bờ biển Tây Ban Nha. Đó mới thực sự là bầu trời Địa Trung Hải. Tôi nghĩ, vì tôi còn phải kiếm sống và hôm nay chưa ăn gì, nên tôi có thể đi câu cá. Đó mới là nghề nghiệp chân chính của những nhà thơ. Đó là nghề duy nhất tôi từng học được. Nào, chúng ta cùng đi thôi.

Ẩn sĩ. Tôi không thể chối từ. Ổ bánh mì nâu của tôi sắp hết rồi. Tôi sẽ vui vẻ đi cùng anh ngay thôi, nhưng tôi đang chuẩn bị kết thúc một buổi chiêm nghiệm sâu sắc. Tôi nghĩ mình sắp đi đến hồi kết của nó rồi. Vậy hãy để tôi ở một mình một lúc. Nhưng để chúng ta không bị lỡ việc, trong lúc này anh hãy đi đào mồi đi. Giun đất rất hiếm khi tìm thấy ở những vùng đất này, nơi thổ nhưỡng chưa từng được bồi bổ bằng phân bón; loài này hầu như đã tuyệt chủng. Thú vui đào mồi cũng gần tương đương với việc câu được cá, khi mà sự thèm thuồng của một người không quá mức mãnh liệt; và hôm nay anh cứ việc thầu trọn phần việc này đi. Tôi khuyên anh hãy cắm xẻng xuống đằng kia giữa đám cỏ nấm, nơi anh thấy hoa ban kim đang rập rờn trước gió. Tôi nghĩ tôi có thể bảo đảm với anh cứ lật ba lớp đất lên là tìm được một con giun, nếu anh quan sát kỹ vào tận gốc cỏ giống như lúc đang làm cỏ vậy. Hoặc nếu anh chọn đi xa hơn thì cũng chẳng có gì là dại dột, bởi vì tôi nhận thấy lượng mồi ngon tìm được tăng lên gần như tỷ lệ thuận với bình phương khoảng cách.

Ẩn sĩ một mình. Để xem nào; ta đang nghĩ đến đâu rồi nhỉ? Dường như ta suýt đạt được trạng thái tâm hồn này; thế giới nằm xung quanh ở góc độ này đây. Ta nên lên thiên đường hay đi câu cá đây? Nếu ta sớm kết thúc buổi chiêm nghiệm này, liệu có còn cơ hội nào ngọt ngào nhường ấy xuất hiện nữa không? Ta đã suýt hòa làm một với bản chất của vạn vật hơn bất cứ khoảnh khắc nào trong đời. Ta sợ rằng những ý nghĩ của mình sẽ chẳng quay trở lại nữa. Nếu việc đó có ích, ta sẽ huýt sáo gọi chúng về. Khi người ta đưa ra cho ta một lời đề nghị, liệu có khôn ngoan khi nói rằng, Chúng tôi sẽ suy nghĩ về điều đó? Những suy nghĩ của ta chẳng để lại dấu vết nào, và ta không thể tìm lại được lối mòn ấy nữa. Rốt cuộc ta đang nghĩ về cái gì nhỉ? Hôm nay trời mờ mịt quá. Ta sẽ thử ba câu của Khổng Tử xem sao; may ra chúng có thể kéo trạng thái đó quay trở lại. Ta chẳng biết đó là nỗi buồn chán hay niềm phấn khích đang chớm nở. Ghi nhớ: Cơ hội loại này chỉ đến có một lần trong đời.

Thi sĩ. Sao rồi, Ẩn sĩ, có phải quá sớm không? Tôi vừa bắt được đúng mười ba con nguyên vẹn, ngoài ra còn mấy con bị đứt đoạn hoặc quá nhỏ; nhưng chúng dùng để câu cá nhỡ thì vừa đẹp; chúng không che kín lưỡi câu quá nhiều. Mấy con giun trong làng to quá mức; một con cá mớm có thể nuốt trọn một con mà chẳng hề vướng phải xiên.

Ẩn sĩ. Vậy thì, chúng ta lên đường thôi. Chúng ta sẽ ra sông Concord chứ? Ở đó câu cá rất thích nếu nước không quá lớn.

Tại sao chính xác những sự vật mà chúng ta đang chiêm ngưỡng lại tạo nên một thế giới? Tại sao con người lại có đúng những loài động vật này làm hàng xóm của mình; cứ như thể chẳng có sinh vật nào ngoài loài chuột có thể lấp đầy chiếc khe hở này? Tôi nghi ngờ rằng Pilpay và các cộng sự đã tận dụng động vật vào mục đích tối ưu nhất, bởi vì theo một nghĩa nào đó, tất cả chúng đều là những con vật mang vác, được tạo ra để gánh vác một phần tư duy của chúng ta.

Lũ chuột bén mảng trong ngôi nhà tôi không phải là loài chuột thông thường vốn được đồn đại là được đưa vào xứ này, mà là một loài chuột hoang dã bản địa không tìm thấy trong làng. Tôi đã gửi một con cho một nhà tự nhiên học nổi tiếng, và nó thu hút sự quan tâm lớn từ ông. Khi tôi đang xây nhà, một con trong số đó làm tổ ngay dưới sàn nhà, và trước khi tôi kịp lát lớp sàn thứ hai cũng như quét dọn sạch sẽ những mảnh bào gỗ, nó vẫn thường xuyên xuất hiện đúng giờ ăn trưa để nhặt những vụn bánh mì ngay dưới chân tôi. Chắc hẳn trước đó nó chưa từng nhìn thấy con người bao giờ; và chẳng mấy chốc nó trở nên rất dạn dĩ, thường chạy qua giày và leo lên quần áo tôi. Nó có thể dễ dàng leo lên vách phòng bằng những cú rướn người ngắn, giống như loài sóc, loài mà nó có dáng điệu rất tương đồng. Cuối cùng, khi tôi chống khuỷu tay lên chiếc ghế dài vào một ngày nọ, nó chạy tót lên quần áo tôi, bò dọc theo ống tay áo, rồi lượn đi lượn lại quanh gói giấy đựng bữa tối của tôi, trong khi tôi giữ chặt phần ăn, né tránh và chơi trò trốn tìm với nó; và khi cuối cùng tôi giữ yên một miếng phô mai giữa ngón cái và ngón trỏ, nó đã tiến lại gần nhấm nháp, ngồi ngay trên lòng bàn tay tôi, rồi sau đó tự chùi mặt và chân như loài ruồi, trước khi thong thả bỏ đi.

Một đôi chim phoebe chẳng mấy chốc đã làm tổ ở mái hiên nhà tôi, và một chú chim cổ đỏ làm tổ để tìm sự an toàn trên một cây thông mọc áp sát vào vách nhà. Vào tháng Sáu, gà gô (Tetrao umbellus,) một loài chim vốn vô cùng nhút nhát, đã dẫn bes đàn con đi ngang qua cửa sổ nhà tôi, từ khu rừng phía sau ra đến khoảng sân trước nhà, miệng cục tác và gọi chúng cứ như một con gà mái, và qua mọi hành xử, nó chứng tỏ mình chính là chúa sơn lâm của loài gà rừng. Đàn con đột ngột tản mác khi có người đến gần, theo tín hiệu từ gà mẹ, tựa như một cơn lốc xoáy vừa cuốn phăng chúng đi, và chúng trông giống hệt những chiếc lá khô cùng cành cây mục đến mức không ít du khách từng đặt chân giẫm phải giữa bầy gà con, nghe tiếng vỗ cánh phành phạch của chim mẹ bay vụt lên cùng những tiếng gọi lo âu và tiếng kêu meo meo, hoặc nhìn thấy nó lê la đôi cánh để đánh lạc hướng người ta, mà hoàn toàn không hề nghi ngờ sự hiện diện của chúng ở xung quanh. Chim mẹ đôi khi lăn lộn và quay mòng mòng trước mặt bạn trong một bộ dạng tả tơi đến mức trong vài khoảnh khắc, bạn không thể nhận ra đó là sinh vật gì. Lũ chim con ngồi nép mình bất động và dẹt sát mặt đất, thường rúc đầu dưới một chiếc lá, và chỉ tuân thủ theo những chỉ dẫn từ xa của mẹ chúng, sự tiếp cận của bạn cũng không khiến chúng chạy trốn để rồi tự lộ diện. Thậm chí bạn có thể dẫm lên chúng, hoặc dán mắt vào chúng suốt cả phút đồng hồ mà vẫn chẳng thể phát hiện ra. Đã có lúc tôi cầm chúng trong lòng bàn tay rộng mở của mình, thế nhưng mối quan tâm duy nhất của chúng, tuân theo mẹ và bản năng, vẫn là cuộn tròn bất động ở đó mà chẳng hề sợ hãi hay run rẩy. Bản năng này hoàn hảo đến mức, có lần khi tôi đặt chúng trở lại trên đám lá, và một con vô tình bị ngã nghiêng người, thì mười phút sau người ta vẫn thấy nó nằm y nguyên ở tư thế đó cùng với những con khác. Chúng không trụi lông như chim non của phần lớn các loài khác, mà phát triển hoàn thiện hơn và thậm chí còn sớm khôn khôn hơn cả gà con. Vẻ ngoài vừa già dặn vừa ngây thơ đáng chú ý ở đôi mắt trong veo và thanh thản của chúng là điều rất khó quên. Dường như mọi sự thông tuệ đều phản chiếu trong đó. Chúng gợi lên không chỉ sự tinh khôi của tuổi thơ, mà còn là sự minh triết được chắt lọc qua trải nghiệm. Một đôi mắt như thế không sinh ra cùng lúc với chú chim, mà cùng thời với bầu trời mà nó phản chiếu. Khu rừng chẳng thể tìm đâu ra một viên ngọc quý thứ hai nhường ấy. Người lữ hành hiếm khi được nhìn vào một giếng nước trong vắt đến thế. Kẻ thợ săn vô minh hoặc liều lĩnh thường bắn hạ chim mẹ vào thời điểm như vậy, để mặc những sinh vật vô tội này trở thành mồi ngon cho loài thú hay loài chim săn mồi nào đó, hoặc dần dần hòa lẫn vào lớp lá mục mà chúng trông giống đến kỳ lạ. Người ta kể rằng khi được gà mái ấp nở, chúng sẽ lập tức tản mác khi có tiếng động báo động, và thế là bị lạc mất, bởi vì chúng không bao giờ nghe thấy tiếng gọi tụ họp của chim mẹ nữa. Đó chính là những con gà mái và gà con của tôi.

Thật đáng kinh ngạc khi biết bao sinh vật sống hoang dã và tự do dẫu vô cùng kín đáo trong các khu rừng, mà vẫn duy trì được nòi giống ngay vùng cận kề các thị trấn, chỉ bị thợ săn lấp ló nghi ngờ. Con rái cá đã xoay sở để sống ẩn dật biết bao ở chốn này! Nó lớn đến bốn thước chiều dài, to bằng một đứa trẻ nhỏ, mà có lẽ chẳng một bóng người nào kịp thoáng thấy nó. Trước đây tôi từng nhìn thấy gấu mèo trong khu rừng phía sau ngôi nhà mình ở, và có lẽ vẫn nghe thấy tiếng kêu rên rỉ của chúng vào ban đêm. Thông thường, tôi thường nghỉ ngơi một hoặc hai tiếng dưới bóng râm vào buổi trưa sau khi trồng trọt, ăn bữa trưa của mình, và đọc vài trang sách bên một con suối vốn là nguồn của một vùng đầm lầy và một con lạch, rỉ ra từ chân đồi Brister, cách cánh đồng của tôi nửa dặm. Lối dẫn đến nơi này đi qua một chuỗi các thung lũng cỏ thoai thoải đi xuống, đầy rẫy những cây thông nhựa non, để rồi dẫn vào một khu rừng lớn hơn bao bọc quanh vùng đầm lầy. Ở đó, tại một góc khuất và râm mát tuyệt đối, dưới một tán thông trắng xòe rộng, vẫn có một thảm cỏ sạch sẽ và vững chãi để ngồi lên. Tôi đã nạo vét con suối và tạo thành một giếng nước trong ngả màu xám, nơi tôi có thể múc đầy một thùng nước mà không làm nó vẫn đục, và tôi lui tới nơi này gần như mỗi ngày vào giữa mùa hè, khi ao nước ấm áp nhất. Nơi đó cũng là chốn chim dẽ giun dẫn đàn con tới để dò dẫm lớp bùn tìm giun, bay sà cách chúng chỉ đúng một thước dọc theo bờ suối, trong khi đàn con chạy theo sau thành một hàng dài; nhưng rồi cuối cùng, khi phát hiện ra tôi, nó sẽ bỏ mặc bầy con và lượn vòng quanh tôi, ngày càng đến gần hơn cho đến khi chỉ cách khoảng bốn năm thước, làm bộ gãy cánh gãy chân để thu hút sự chú ý của tôi, và giúp bầy con tẩu thoát; lúc này chúng đã bắt đầu cuộc hành trình theo lệnh mẹ, với tiếng kêu rít khe khẽ thành một hàng đơn qua đầm lầy. Hoặc tôi nghe thấy tiếng kêu của chim non khi không thể nhìn thấy chim bố mẹ. Nơi đó cũng là chốn chim bồ câu hoang đậu trên bờ suối, hoặc chuyền từ cành này sang cành khác trên những tán thông trắng mềm mại ngay trên đầu tôi; hay chú sóc đỏ, lao vút xuống cành cây gần nhất, tỏ ra cực kỳ quen thuộc và tò mò. Bạn chỉ cần ngồi yên lặng đủ lâu tại một chốn hấp dẫn nào đó trong rừng là tất cả cư dân nơi đây sẽ lần lượt xuất hiện để trình diễn trước mắt bạn.

Tôi từng chứng kiến những sự kiện mang ít tính hòa bình hơn thế. Một ngày nọ khi tôi ra chỗ đống củi, hay đúng hơn là đống gốc cây của mình, tôi quan sát thấy hai con kiến lớn, một con màu đỏ, con kia lớn hơn nhiều, dài gần nửa inch và mang màu đen, đang dữ dội chiến đấu với nhau. Một khi đã bám chặt lấy nhau thì chúng chẳng bao giờ buông ra, mà cứ liên tục vật lộn, giằng co và lăn lộn trên những mảnh dăm gỗ. Nhìn kỹ hơn, tôi ngạc nhiên khi thấy các mảnh dăm gỗ đều đặc kín những chiến binh như thế, rằng đó không phải là một cuộc đấu tay đôi, mà là một trận chiến thực sự, một cuộc chiến tranh giữa hai giống loài kiến, trong đó kiến đỏ luôn đối đầu với kiến đen, và thường là hai con kiến đỏ đánh lại một con kiến đen. Các đạo quân của loài Myrmidon này bao phủ khắp các gò đống và thung lũng trong bãi củi nhà tôi, và mặt đất đã rải rác những xác chết lẫn kẻ hấp hối, cả đỏ lẫn đen. Đó là trận chiến duy nhất tôi từng chứng kiến, chiến trường duy nhất tôi từng đặt chân lên khi cuộc chiến đang hồi ác liệt; một cuộc chiến tranh tương tàn; một bên là những người cộng hòa đỏ, bên kia là những kẻ đế quốc đen. Khắp mọi nơi chúng đều lao vào cuộc chiến tử chiến, thế nhưng lại chẳng phát ra bất kỳ tiếng động nào mà tôi có thể nghe thấy, và những người lính là con người chưa từng chiến đấu nào quyết liệt nhường ấy. Tôi theo dõi một cặp đang siết chặt lấy nhau trong vòng tay của đối phương, tại một thung lũng nhỏ ngập nắng giữa những mảnh dăm gỗ, lúc này giữa ban trưa sẵn sàng chiến đấu cho đến khi mặt trời lặn hoặc cạn kiệt hơi thở. Kẻ vô địch nhỏ con hơn thuộc phe đỏ đã bám chặt như chiếc kìm sắt vào phần đầu của đối thủ, và qua mọi cú nhào lộn trên chiến trường đó, hắn không một giây phút nào ngừng gặm nhấm một trong những chiếc râu gần sát gốc của kẻ địch, sau khi đã khiến chiếc râu bên kia bị đánh gãy; trong khi con kiến đen khỏe hơn văng hắn từ bên này sang bên khác, và như tôi nhận thấy khi nhìn kỹ hơn, đã tước đoạt của hắn đi vài chiếc chân. Chúng chiến đấu với sự lỳ lợm còn hơn cả loài chó sục bò. Không bên nào biểu lộ chút ý định lùi bước nào. Rõ ràng là tiếng gọi trận mạc của chúng là Trận thắng hay cái chết. Giữa lúc đó xuất hiện một con kiến đỏ đơn độc trên sườn đồi của thung lũng này, rõ ràng đang vô cùng kích động, hoặc đã hạ sát được kẻ thù của mình, hoặc chưa hề tham gia trận chiến; có lẽ là trường hợp sau, bởi vì nó chẳng mất chút chân cẳng nào; kẻ mà có lẽ được mẹ dặn dò phải trở về cùng với chiếc khiên hoặc nằm trên đó. Hoặc phỏng chừng nó là một Achilles nào đó, kẻ đã nuôi dưỡng cơn thịnh nộ trong cô độc, và giờ đây đến để trả thù hoặc giải cứu cho Patroclus của mình. Nó nhìn thấy cuộc chiến không cân sức này từ đằng xa—bởi vì loài kiến đen lớn gấp gần hai lần loài kiến đỏ—nó tiến lại gần với tốc độ nhanh chóng cho đến khi đứng thủ thế cách các chiến binh nửa inch; rồi chớp lấy thời cơ, nó lao thẳng vào chiến binh đen, và bắt đầu công việc gần gốc chân trước bên phải của hắn, để mặc cho kẻ thù tự do chọn lựa giữa các chi của chính mình; và thế là có ba kẻ dính chặt vào nhau trọn đời, tựa như một loại lực hút mới vừa được phát minh khiến mọi thứ khóa cài và chất kết dính khác phải hổ thẹn. Đến lúc này tôi sẽ chẳng lấy làm ngạc nhiên nếu phát hiện ra chúng cũng có những ban nhạc riêng được bố trí trên một mảnh dăm gỗ nổi bật nào đó, vừa tấu lên những khúc quân ca vừa để kích thích những chiến binh chậm chạp và cổ vũ những kẻ đang hấp hối. Bản thân tôi cũng cảm thấy phấn khích phần nào cứ như thể chúng là con người vậy. Càng ngẫm nghĩ về điều đó, bạn càng thấy sự khác biệt trở nên mờ nhạt. Và chắc chắn rằng trong lịch sử Concord, ít nhất là trong lịch sử nước Mỹ, chẳng có trận chiến nào được ghi chép lại có thể mang ra so sánh dù chỉ một khoảnh khắc với trận chiến này, dù là về số lượng tham gia hay về lòng ái quốc và chủ nghĩa anh hùng được thể hiện. Về số lượng và sự tàn sát, đó chẳng khác nào một Austerlitz hay Dresden. Trận chiến Concord! Hai người thiệt mạng bên phía những người ái quốc, và Luther Blanchard bị thương! Ơ hay, ở đây mỗi con kiến đều là một Buttrick—"Bắn! Vì Chúa, hãy bắn đi!"—và hàng ngàn sinh vật chung số phận với Davis và Hosmer. Chẳng có một tên lính đánh thuê nào ở đó cả. Tôi không mảy may nghi ngờ rằng chúng chiến đấu vì một lý tưởng, giống hệt như tổ tiên chúng ta, chứ không phải để né tránh khoản thuế ba xu trên đống trà của họ; và kết quả của trận chiến này sẽ mang ý nghĩa và sự đáng nhớ quan trọng đối với những ai quan tâm chẳng kém gì kết quả của trận chiến Bunker Hill là ít nhất. Tôi nhặt mảnh dăm gỗ nơi ba con vật mà tôi vừa miêu tả chi tiết đang quần thảo, mang nó vào nhà, và đặt dưới một chiếc ly thủy tinh trên bệ cửa sổ, nhằm mục đích theo dõi kết quả. Đưa kính hiển vi lại gần con kiến đỏ được nhắc đến đầu tiên, tôi nhìn thấy rằng, dẫu hắn đang miệt mài gặm nhấm chân trước gần của kẻ thù, sau khi đã cắt đứt chiếc râu còn lại, thì phần ngực của chính hắn đã bị xé toạc hoàn toàn, phơi bày cả nội tạng trước hàm của chiến binh đen, kẻ mà lớp giáp ngực dường như quá dày để hắn có thể đâm thủng; và những hạt cườm đen láy trong đôi mắt kẻ khốn khổ ánh lên sự hung ác mà chỉ có chiến tranh mới khơi dậy được. Chúng tiếp tục vật lộn thêm nửa tiếng đồng hồ nữa dưới chiếc ly thủy tinh, và khi tôi nhìn lại lần nữa thì người lính đen đã cắt đứt đầu của kẻ thù khỏi thân thể chúng, và những chiếc đầu vẫn còn sống đang lủng lẳng ở hai bên sườn hắn tựa như những chiến lợi phẩm rợn ngợp bên yên ngựa, bề ngoài vẫn bám chặt như thuở nào, và hắn đang cố gắng bằng những nỗ lực yếu ớt, trong tình trạng không có râu và chỉ còn sót lại phần tàn tích của một chiếc chân cùng không biết bao nhiêu vết thương khác, để rứt chúng ra khỏi người; điều mà cuối cùng, sau nửa giờ đồng hồ nữa, hắn cũng làm được. Tôi nhấc chiếc ly lên, và hắn lết đi qua bệ cửa sổ trong tình trạng què quặt ấy. Liệu cuối cùng hắn có sống sót sau trận chiến đó, và dành phần đời còn lại trong một Viện Thương phế binh nào đó hay không, thì tôi không rõ; nhưng tôi nghĩ rằng sức lao động của hắn sau đó sẽ chẳng còn đáng giá là bao. Tôi chưa bao giờ biết được phe nào giành chiến thắng, cũng như nguyên nhân của cuộc chiến; nhưng suốt phần ngày hôm đó, tôi cứ có cảm giác như thể tâm can mình bị kích động và cào xé bởi việc tận mắt chứng kiến cuộc tranh đấu, sự hung tàn và tàn sát của một trận chiến loài người ngay trước hiên nhà.

Kirby và Spence bảo với chúng ta rằng các trận chiến của loài kiến từ lâu đã nổi tiếng và ngày tháng diễn ra chúng đã được ghi chép lại, dẫu họ nói rằng Huber là tác giả cận đại duy nhất dường như từng chứng kiến chúng. “Aeneas Sylvius,” họ viết, “sau khi thuật lại rất chi tiết về một trận chiến diễn ra hết sức ngoan cường giữa một loài lớn và một loài nhỏ trên thân cây lê,” đã bổ sung thêm rằng “‘Trận chiến này diễn ra dưới triều đại giáo hoàng Eugenius thứ Tư, trước sự chứng kiến của Nicholas Pistoriensis, một luật sư lỗi lạc, người đã thuật lại toàn bộ lịch sử trận chiến với độ trung thực cao nhất.’” Một cuộc đụng độ tương tự giữa loài kiến lớn và kiến nhỏ được ghi chép lại bởi Olaus Magnus, trong đó loài nhỏ hơn, sau khi giành chiến thắng, được cho là đã chôn cất thi thể của những người lính phe mình, nhưng lại để mặc xác của những kẻ thù khổng lồ làm mồi cho loài chim. Sự kiện này xảy ra trước thời điểm trục xuất bạo chúa Christiern thứ Hai khỏi Thụy Điển. Trận chiến mà tôi tận mắt chứng kiến diễn ra dưới thời Tổng thống Polk, năm năm trước khi đạo luật Nô lệ chạy trốn của Webster được thông qua.

Biết bao chú chó Bose trong làng, vốn chỉ thích hợp để rượt đuổi một con rùa đầm lầy trong tầng hầm quán ăn, lại đang tung hoành phần thân hình nặng nề của mình trong khu rừng, hoàn toàn qua mắt chủ nhân, và hít hà một cách vô ích vào những cái hang cáo già cùng tổ của loài chóc mào; đôi khi được dẫn dắt bởi một con chó nhỏ nào đó lanh lẹ luồn lách qua khu rừng, và vẫn có thể khơi gợi nỗi sợ hãi tự nhiên ở các cư dân nơi đây;—giờ thì tụt lại xa phía sau người dẫn đường, sủa vang lên như một chú bò tót hướng về phía một chú sóc nhỏ đã trèo vót lên cây để quan sát, rồi lại tung vó chạy lướt đi, uốn cong những tán cây bằng trọng lượng của mình, tưởng tượng rằng bản thân đang dò theo dấu vết của một thành viên đi lạc nào đó trong họ chuột nhảy. Có lần tôi ngạc nhiên khi thấy một con mèo đang đi dạo dọc theo bờ đá của hồ nước, bởi vì chúng hiếm khi đi lang thang quá xa nhà đến thế. Sự ngạc nhiên ấy mang tính hai chiều. Mặc dù vậy, con mèo thuần hóa nhất, kẻ từng nằm dài trên tấm thảm trải sàn suốt mọi ngày trong đời, lại tỏ ra vô cùng quen thuộc trong rừng, và qua hành tung lén lút vụng trộm của mình, chứng tỏ nó mang bản chất hoang dã nơi đây hơn cả những cư dân chính cống. Có lần, khi đi hái quả mọng, tôi bắt gặp một con mèo cùng bầy con nhỏ trong rừng, chúng hoàn toàn hoang dã, và tất cả chúng, giống như mẹ của mình, đều cong lưng và phì phì dữ dội nhắm vào tôi. Vài năm trước khi tôi đến sống trong rừng, từng có một con “mèo có cánh” ở một trong những ngôi nhà nông trang tại Lincoln nằm sát hồ nước, nhà ông Gilian Baker. Khi tôi ghé qua thăm nó vào tháng Sáu năm 1842, nó đã đi săn trong rừng như thói quen thường lệ của nó (tôi không chắc đó là con đực hay con cái, nên dùng đại từ phổ biến hơn), nhưng chủ nhân của nó kể với tôi rằng nó đã đến vùng này hơn một năm trước, vào khoảng tháng Tư, và cuối cùng được nhận nuôi vào nhà họ; rằng nó có màu nâu xám đậm, với một đốm trắng ở cổ và những bàn chân trắng, cùng một chiếc đuôi xù lớn giống như loài cáo; rằng vào mùa đông bộ lông mọc dày lên và ép bẹt sang hai bên sườn, tạo thành những dải lông dài mười hoặc mười hai inch và rộng chừng hai inch rưỡi, dưới cằm thì xù lên như chiếc múp sưởi ấm tay, mặt trên tơi xốp, mặt dưới bện chặt như nỉ, và đến mùa xuân những phần phụ này rụng đi. Họ đã tặng tôi một cặp “cánh” của nó, và tôi vẫn còn giữ cho đến ngày nay. Chẳng có dấu hiệu nào của lớp màng da nào trên đó cả. Một số người nghĩ đó là một phần của loài sóc bay hoặc một loài động vật hoang dã nào đó, điều này hoàn toàn không phải là không thể, bởi vì theo các nhà tự nhiên học, những giống lai có khả năng sinh sản đã từng ra đời do sự kết hợp giữa loài chồn mак và mèo nhà. Đây hẳn là loại mèo phù hợp để tôi nuôi, nếu như tôi có nuôi con vật gì; bởi vì tại sao một chú mèo của nhà thơ lại không thể có cánh giống như con ngựa của anh ta chứ?

Vào mùa thu, chim lặn gavia (Colymbus glacialis) lại đến, như thường lệ, để thay lông và tắm táp trong hồ, làm vang động cả khu rừng bằng tiếng cười hoang dại của nó trước cả khi tôi thức dậy. Nghe đồn về sự xuất hiện của nó, tất cả các tay thợ săn ở đập nước Mill-dam đều vào trạng thái cảnh giác, ngồi trên xe ngựa hoặc đi bộ, từng đôi một và từng nhóm ba người, mang theo những khẩu súng trường tân tiến cùng đạn nón và ống nhòm. Chúng sột soạt tiến qua khu rừng tựa như những chiếc lá mùa thu, tính ra cứ mười người đàn ông mới có nổi một con chim lặn. Một số bố trí ở bờ ao này, một số ở bờ ao kia, bởi vì chú chim tội nghiệp không thể hiện diện ở khắp mọi nơi; nếu nó lặn ở chỗ này thì buộc phải ngoi lên ở chỗ nọ. Nhưng giờ đây ngọn gió tháng Mười hiền hòa nổi lên, làm xào xạc những chiếc lá và gợn sóng mặt nước, khiến chẳng ai có thể nghe thấy hay nhìn thấy bóng dáng chim lặn đâu nữa, dẫu cho lũ kẻ thù của nó quét ngang mặt ao bằng ống nhòm và làm khu rừng vang rền những tiếng súng bắn. Những con sóng khoan dung dâng trào và vỗ mạnh đầy phẫn nộ, đứng về phía tất cả các loài thủy cầm, và những tay thợ săn của chúng ta buộc phải rút lui về thị trấn, tiệm tạp hóa và những công việc còn dang dở. Thế nhưng chúng lại quá thường xuyên thành công. Khi tôi ra múc một thùng nước vào sáng sớm, tôi thường xuyên nhìn thấy chú chim uy nghi này bơi lội lững lờ ngay cách vũng nước nhỏ của tôi chỉ vài sải tay. Nếu tôi cố gắng đuổi theo nó bằng thuyền, nhằm mục đích xem nó xoay sở ra sao, nó sẽ lặn xuống và biến mất hoàn toàn, đến nỗi đôi khi mãi cho đến tận cuối ngày tôi mới phát hiện lại được nó. Nhưng tôi còn gờm hơn cả nó khi ở trên mặt nước. Nó thường bỏ đi trong một trận mưa.

Khi tôi đang chèo thuyền dọc theo bờ phía bắc vào một buổi chiều tháng Mười vô cùng lặng gió, bởi vì những ngày như thế đặc biệt là lúc chúng đậu xuống các hồ nước, tựa như lớp tơ bông của cây bông tai, sau khi đã tìm kiếm hoài công khắp mặt ao mà chẳng thấy bóng dáng con chim lặn nào, thì đột nhiên một con bơi từ bờ ra giữa lòng hồ cách tôi vài sải tay phía trước, cất lên tiếng cười hoang dại và tự làm lộ diện bản thân. Tôi dùng mái chèo bơi theo và nó lặn xuống, nhưng khi nó ngoi lên thì tôi đã ở gần hơn trước đó. Nó lại lặn xuống, nhưng tôi đã tính toán sai hướng nó sẽ đi, và chúng tôi cách nhau tới năm mươi thước khi nó nhô lên mặt nước lần này, bởi vì tôi đã vô tình giúp nới rộng khoảng cách; và một lần nữa nó cười dài đầy vang dội, với lý do chính đáng hơn trước. Nó xoay sở khéo léo đến mức tôi chẳng tài nào tiến lại gần nó trong phạm vi nửa tá sải tay. Mỗi lần ngoi lên mặt nước, nó lại quay đầu sang trái sang phải, bình thản quan sát mặt nước cùng đất liền, và rõ ràng chọn hướng đi sao cho có thể trồi lên ở nơi có vùng nước rộng thênh thang nhất và ở khoảng cách xa chiếc thuyền nhất. Thật đáng kinh ngạc là nó đưa ra quyết định nhanh chóng và thực hiện ý định đó dứt khoát nhường nào. Nó dẫn dụ tôi thẳng tiến đến phần rộng nhất của hồ nước và nhất quyết không chịu rời khỏi đó. Trong lúc trong đầu nó đang suy tính điều này, thì tôi lại đang nỗ lực phỏng đoán suy nghĩ của nó trong tâm trí mình. Đó là một trò chơi thú vị, diễn ra trên mặt nước phẳng lặng của chiếc ao, một con người đấu với một con chim lặn. Đột nhiên quân cờ của đối thủ biến mất dưới bàn cờ, và bài toán đặt ra là làm sao đặt quân cờ của bạn vào vị trí gần nhất nơi quân của hắn sẽ xuất hiện trở lại. Thỉnh thoảng nó lại bất ngờ ngoi lên ở phía đối diện với tôi, có vẻ như đã bơi trực tiếp ngay dưới đáy thuyền. Nó có hơi sức bền bỉ và không biết mệt mỏi đến mức, khi đã bơi được quãng đường xa nhất, nó vẫn lập tức ngụp lặn trở xuống; và khi ấy chẳng có trí tuệ nào có thể đoán định nổi trong vùng nước sâu thẳm dưới lớp bề mặt phẳng lặng kia, nó đang lao đi như một chú cá ở hướng nào, bởi vì nó có đủ thời gian và khả năng để viếng thăm tận đáy hồ ở nơi sâu nhất. Người ta kể rằng từng có những con chim lặn bị bắt ở các hồ nước New York ở độ sâu tám mươi feet dưới mặt nước, vướng vào những chiếc lưỡi câu dùng để câu cá hồi—dẫu cho ao Walden còn sâu hơn thế. Lũ cá chắc hẳn phải ngạc nhiên biết bao khi chứng kiến vị khách vụng về đến từ một thế giới khác này đang vao vút rẽ nước giữa bầy đàn của chúng! Thế nhưng nó dường như nắm rõ lộ trình của mình dưới nước một cách chắc chắn chẳng kém gì trên mặt nước, và bơi nhanh hơn rất nhiều khi ở dưới đó. Một hoặc hai lần tôi nhìn thấy một gợn sóng khi nó áp sát mặt nước, chỉ thò đầu ra để do thám, rồi lập tức lặn xuống trở lại. Tôi nhận thấy rằng việc mình thả mái chèo ngồi chờ nó xuất hiện trở lại cũng chẳng khác gì việc cố gắng tính toán xem nó sẽ trồi lên ở đâu; bởi vì hết lần này đến lần khác, khi tôi đang căng mắt nhìn chăm chăm về một hướng trên mặt nước, tôi lại bất ngờ giật mình trước tiếng cười siêu thực của nó vang lên ngay sau lưng. Thế nhưng tại sao, sau khi bày tỏ sự ranh mãnh nhường ấy, nó lại luôn luôn tự làm lộ diện bản thân ngay khoảnh khắc ngoi lên bằng tiếng cười lớn đó chứ? Chẳng lẽ bộ ngực trắng phao của nó chưa đủ để tố cáo nó hay sao? Quả thực nó là một chú chim lặn ngốc nghếch, tôi thầm nghĩ. Tôi thường có thể nghe thấy tiếng nước rẽ sóng khi nó ngoi lên, và nhờ đó cũng phát hiện ra nó. Thế nhưng sau một tiếng đồng hồ, nó vẫn trông tươi tắn như thuở ban đầu, lặn ngụp đầy tự nguyện và bơi đi xa hơn cả lúc mới bắt đầu. Thật đáng kinh ngạc khi thấy nó thong thả bơi đi với bộ ngực phẳng lặng không một gợn sóng khi trồi lên mặt nước, trong khi thực hiện mọi thao tác bằng đôi chân có màng bơi ở phía dưới. Tiếng kêu quen thuộc của nó là tiếng cười mang sắc thái ma quái này, dẫu thế nào đi nữa vẫn có nét tương tự như tiếng của loài thủy cầm; thế nhưng đôi khi, khi đã đánh lừa tôi thành công nhất và ngoi lên ở một khoảng cách rất xa, nó lại cất lên một tiếng tru dài đậm vẻ ma quái, có lẽ giống tiếng sói tru hơn bất kỳ loài chim nào; tựa như khi một con thú áp mõm xuống đất và cất tiếng tru đầy chủ ý. Đó chính là tiếng kêu đặc trưng của loài chim lặn—có lẽ là âm thanh hoang dã nhất từng được nghe thấy ở chốn này, làm vang vọng cả khu rừng xa ngút ngàn. Tôi kết luận rằng nó cười để chế giễu những nỗ lực của tôi, vô cùng tự tin vào nguồn lực của chính mình. Dẫu cho bầu trời lúc này đã mây phủ âm u, mặt ao vẫn phẳng lặng đến mức tôi có thể nhìn thấy điểm nó rẽ nước trồi lên ngay cả khi không nghe thấy tiếng. Bộ ngực trắng, sự tĩnh lặng của bầu không khí và bề mặt phẳng lặng của làn nước đều chống lại nó. Cuối cùng, sau khi trồi lên cách đó năm mươi thước, nó cất lên một trong những tiếng tru kéo dài ấy, tựa như đang kêu cứu thần linh của loài chim lặn, và ngay lập tức một cơn gió từ hướng đông thổi đến làm gợn sóng mặt nước, lấp đầy bầu không khí bằng làn mưa mù sương, và tôi có cảm giác như đó là lời cầu nguyện của con chim lặn đã được đáp thỉnh, và vị thần của nó đang nổi giận với tôi; và thế là tôi để mặc nó khuất dạng đằng xa trên mặt nước đang cuồn cuộn sóng gió.

Suốt hàng giờ liền trong những ngày mùa thu, tôi ngắm nhìn bầy vịt khéo léo đổi hướng chèo lái và giữ vững lòng hồ, ở một khoảng cách an toàn với thợ săn; những mẹo mực mà chúng sẽ ít cần phải áp dụng hơn khi ở các vùng đầm lầy bang Louisiana. Khi bị buộc phải bay lên, đôi khi chúng sẽ lượn vòng tròn hết vòng này đến vòng khác và bay cao trên mặt ao ở một độ cao đáng kể, từ đó chúng có thể dễ dàng phóng tầm mắt sang các hồ nước khác và dòng sông, trông hệt như những hạt bụi đen nhỏ xíu trên bầu trời; và khi tôi cứ đinh ninh rằng chúng đã bay đi mất từ lâu, chúng sẽ sà xuống bằng một đường bay nghiêng dài một phần tư dặm để đáp xuống một góc khuất xa xôi bị bỏ trống; nhưng ngoài sự an toàn khi bơi lội giữa lòng ao Walden, tôi chẳng biết chúng còn nhận được điều gì khác nữa, trừ khi chúng yêu quý làn nước nơi đây vì cùng một lý do giống như tôi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Henry David Thoreau

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.