Walden Và Nghĩa Vụ Bất Tuân Dân Sự

Lượt đọc: 250 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Sưởi Ấm Nhà

❊ ❊ ❊

Vào tháng Mười, tôi đi hái nho ở những đồng cỏ ven sông, và mang về những chùm quả quý giá bởi vẻ đẹp và hương thơm hơn là vì giá trị thực phẩm. Ở đó, dẫu chẳng hái, tôi vẫn ngắm nhìn những quả nam việt quất—những viên ngọc sáp nhỏ bé, những chiếc khuyên tai đỏ mọng ngọc ngà trên thảm cỏ đồng cỏ—thứ mà người nông dân dùng chiếc cào xù xì giật phăng lên, để lại đám cỏ bờm xờm rách tơi, vô tình đong đếm chúng chỉ bằng giạ và bằng đô-la, rồi bán chiến lợi phẩm của đồng cỏ cho Boston và New York để làm mứt, thỏa mãn khẩu vị của những kẻ yêu thiên nhiên chốn thị thành.

Cũng như vậy, những kẻ mổ thịt trâu rừng cào lưỡi chúng khỏi đám cỏ thảo nguyên, chẳng màng đến thân cây rách bươi, rũ rượi. Quả chùm gai rực rỡ cũng chỉ để tôi ngắm cho thỏa mắt; bù lại, tôi thu lượm được một ít táo dại để nấu chè, những quả mà chủ đất và khách qua đường đã bỏ sót. Khi hạt dẻ chín, tôi dành dụm nửa giạ cho mùa đông. Thật vô cùng hào hứng vào mùa ấy khi được lang thang trong những cánh rừng hạt dẻ bạt ngàn của Lincoln thuở đó—nay chúng đang chìm vào giấc ngủ ngàn thu dưới tuyến đường ray xe lửa—với chiếc túi trên vai và cây gậy trên tay để cạy vỏ chông, bởi tôi không phải lúc nào cũng đợi đến lúc có sương giá. Giữa tiếng lá xào xạc và tiếng la mắng inh oét của lũ sóc đỏ cùng chim giẻ cùi, đôi khi tôi ăn trộm những hạt bị chúng gặm dở, bởi chắc chắn những chiếc vỏ chông mà chúng đã chọn sẽ giấu những hạt chắc khỏe. Thỉnh thoảng, tôi trèo lên và rung cây. Chúng cũng mọc ngay sau nhà tôi, và có một cây lớn gần như che rợp cả căn nhà, khi mùa hoa đến là một bó hoa lớn tỏa hương thơm ngát cả một vùng. Nhưng lũ sóc và chim giẻ cùi đã hầu như cuỗm sạch quả của nó; lũ chim thường kéo đến từng đàn vào sáng sớm, nhặt những hạt dẻ ra khỏi vỏ chông trước khi chúng rụng xuống. Tôi nhường lại những cây ấy cho chúng và ghé thăm những khu rừng xa hơn toàn là hạt dẻ. Những hạt dẻ ấy, dẫu có bao nhiêu, cũng là sự thay thế tốt cho bánh mì. Và có lẽ người ta còn có thể tìm thấy nhiều thứ thay thế khác nữa.

Một hôm đi đào giun, tôi phát hiện ra củ lạc đất (Apios tuberosa) bám vào những sợi rễ, thứ khoai tây của thổ dân, một loại quả tựa huyền thoại mà tôi từng bắt đầu nghi ngờ không biết mình có thực sự từng đào và ăn nó hồi nhỏ như đã kể, hay đó chỉ là giấc mơ. Từ dạo đó, tôi vẫn thường nhìn thấy chùm hoa đỏ nhung quăn queo của nó dựa vào thân các loài thực vật khác mà chẳng hề hay biết đó chính là nó. Việc canh tác đã gần như xóa sổ loài cây này. Nó có vị ngọt nhẹ, rất giống khoai tây bị sương muối, và tôi thấy luộc ngon hơn nướng. Củ cây này tựa như một lời hứa hẹn mơ hồ của Thiên Nhiên rằng mai sau Người sẽ nuôi dưỡng những đứa con của mình một cách giản dị ngay tại chốn này. Giữa thời đại của những bầy gia súc béo tốt và những cánh đồng lúa mì lượn sóng, củ cây khiêm nhường từng là vật tổ của một bộ lạc da đỏ này nay đã hoàn toàn chìm vào quên lãng, hoặc chỉ được biết đến qua dây hoa của nó; nhưng hãy để thiên nhiên hoang dã ngự trị nơi đây một lần nữa, những hạt lúa mì mỏng manh và xa hoa của xứ Inglê-xơ có lẽ sẽ biến mất trước muôn vàn kẻ thù, và không cần bàn tay con người chăm sóc, con quạ thậm chí có thể mang cả hạt ngô cuối cùng trở về cánh đồng ngô vĩ đại của vị Thần da đỏ ở phương Tây Nam—nơi người ta đồn rằng ngài đã mang nó tới; thế nhưng củ lạc đất nay đã gần như tuyệt chủng kia có lẽ sẽ hồi sinh và đâm chồi nảy lộc bất chấp sương giá và hoang dã, chứng minh nó vốn là loài bản địa, rồi khôi phục lại tầm quan trọng và phẩm giá xưa cũ như món ăn của bộ lạc thợ săn. Chắc hẳn một vị thần Nông hay nữ thần Trí tuệ nào đó của người Da đỏ đã phát minh và ban tặng nó; và khi triều đại của thi ca bắt đầu nơi đây, những chiếc lá cùng chuỗi củ của nó sẽ được khắc họa trên các tác phẩm nghệ thuật của chúng ta.

Ngay từ ngày đầu tiên của tháng Chín, tôi đã thấy hai hoặc ba cây phong nhỏ chuyển sang màu đỏ sẫm ở phía bên kia ao, ngay bên dưới nơi ba thân cây dương trắng rẽ nhánh, tại mỏm bán đảo giáp mặt nước. Ồ, màu sắc của chúng kể biết bao câu chuyện! Và cứ thế, tuần này qua tuần khác, đặc tính của từng cây dần lộ diện, tự ngắm mình phản chiếu trong tấm gương phẳng lặng của mặt hồ. Mỗi buổi sáng, người quản trò của phòng tranh này lại thay thế bức tranh cũ trên những bức tường bằng một tác phẩm mới, nổi bật hơn bởi sắc màu rực rỡ hay hài hòa hơn.

Lũ ong bắp cày kéo đến căn lều của tôi hàng vạn con vào tháng Mười, tựa như tìm về nơi trú đông, và đậu kín trên các ô cửa sổ bên trong lẫn trên những bức tường phía trên, đôi khi khiến khách khứa chùn bước chẳng dám vào. Mỗi buổi sáng, khi chúng đã cứng đờ vì lạnh, tôi quét bớt một ít ra ngoài, nhưng tôi chẳng mùng mẩy gì cho nhọc công để tống cổ chúng đi; tôi thậm chí còn thấy hãnh diện khi chúng xem ngôi nhà của mình là một chốn dung thân lý tưởng. Chúng chưa bao giờ gây phiền toái trầm trọng cho tôi, dẫu chúng có ngủ chung phòng với tôi đi nữa; rồi chúng cứ thế biến dần vào những kẽ hở nào đó mà tôi chẳng rõ, tránh xa mùa đông và cái lạnh căm căm khôn tả.

Cũng như loài ong bắp cày, trước khi chính thức dọn vào trú đông vào tháng Mườiêng, tôi thường lui tới mờm đông bắc của hồ Walden—nơi ánh nắng phản chiếu từ những cánh rừng thông nhựa và bờ đá đã biến thành lò sưởi của mặt hồ; sưởi ấm bằng ánh nắng chừng nào còn có thể bao giờ cũng dễ chịu và lành mạnh hơn là dùng lửa nhân tạo. Cứ thế, tôi sưởi ấm mình bên những tàn lửa vẫn còn đang âm ỉ mà mùa hè, tựa như một người thợ săn đã khuất núi, để lại.

Khi tiến hành xây ống khói, tôi bắt đầu mày mò học kỹ thuật xây dựng. Do là gạch cũ, những viên gạch của tôi cần phải được cạo sạch vữa bằng một chiếc bay, nhờ thế mà tôi am hiểu tường tận hơn mức bình thường về phẩm chất của gạch và bay. Lớp vữa trên những viên gạch ấy đã có tuổi đời năm mươi năm, và người ta đồn rằng chúng vẫn đang ngày càng cứng hơn; nhưng đó lại là một trong những câu nói mà người ta thích truyền tai nhau dẫu chẳng biết đúng sai thế nào. Bản thân những câu nói ấy theo thời gian cũng trở nên đanh lại và bám chặt hơn, và phải cần đến nhát bay giáng thật nặng mới mong cạo sạch được một ông cụ non uyên bác nào đó ra khỏi chúng. Rất nhiều ngôi làng ở Lưỡng Hà được xây dựng bằng gạch cũ có chất lượng rất tốt, lấy từ những di tích của thành Babylon, và lớp xi măng trên đó còn cổ xưa hơn và có lẽ còn cứng hơn nữa. Dù thế nào đi nữa, tôi cũng phải kinh ngạc trước độ dẻo dai kỳ lạ của thanh thép đã chịu đựng bao nhiêu cú nện bạo lực mà không hề mòn vẻn. Vì gạch của tôi từng nằm trong một ống khói trước đó—dù tôi chẳng đọc được tên vua Nebuchadnezzar nào khắc trên ấy—nên tôi đã nhặt nhạnh tối đa những viên gạch chịu lửa có thể tìm thấy nhằm đỡ tốn công sức và hao phí, đồng thời chèn những khoảng trống giữa các viên gạch quanh lò sưởi bằng những hòn đá nhặt ở bờ ao, lại còn dùng thứ cát trắng từ chính nơi đó để trộn vữa. Tôi nán lại lâu nhất ở khu vực lò sưởi, bởi đó là phần cốt lõi nhất của ngôi nhà. Thật vậy, tôi làm việc thong thả đến mức dẫu khởi công từ sáng sớm dưới mặt đất, thì chỉ với một hàng gạch nhô lên cách sàn nhà vài inch cũng đủ làm gối đầu cho tôi vào ban đêm; thế nhưng tôi chẳng hề bị cứng cổ như mình nhớ; chứng cứng cổ của tôi vốn có thâm niên lâu năm hơn thế. Vào khoảng thời gian ấy, tôi nhận nuôi ăn ở một nhà thơ trong nửa tháng, điều đó khiến tôi phải xoay xở chật vật vì thiếu chỗ. Anh ta tự mang theo dao của mình, dù tôi đã có sẵn hai con, và chúng tôi thường cọ rửa chúng bằng cách cắm ngập xuống đất. Anh ta cùng tôi san sẻ công việc bếp núc. Tôi vô cùng mãn nguyện khi thấy công trình của mình dần mọc lên vuông vức và vững chãi, rồi tự nhủ rằng, dẫu tiến độ có chậm chạp, nó chắc chắn sẽ trường tồn cùng năm tháng. Ống khói xét cho cùng là một cấu trúc độc lập, đứng vững trên mặt đất và đâm xuyên qua ngôi nhà vươn lên bầu trời; thậm chí ngay cả sau khi ngôi nhà bị thiêu rụi, nó đôi khi vẫn đứng sừng sững, và tầm quan trọng cùng tính độc lập của nó lúc ấy càng trở nên rành rành. Đó là vào thời điểm cuối mùa hè. Giờ thì đã là tháng Mười một.

Gió bắc đã bắt đầu làm mặt ao se lạnh, dẫu phải mất nhiều tuần thổi liên tục mới làm nổi điều đó, bởi ao vốn rất sâu. Khi tôi bắt đầu nhóm lửa vào buổi chiều, trước khi trát vách ngôi nhà, ống khói thoát khói cực kỳ tốt nhờ vô số kẽ hở giữa các tấm ván. Thế nhưng tôi vẫn trải qua những buổi tối đầy phấn chấn trong căn phòng mát mẻ và lộng gió ấy, bao quanh là những tấm ván gỗ mộc màu nâu sần sùi đầy mắt gỗ, cùng những thanh xà gồ còn nguyên vỏ cây vắt vẻo trên cao. Chưa bao giờ ngôi nhà lại làm tôi vừa mắt đến thế sau khi đã trát vách xong, dẫu tôi buộc phải thừa nhận rằng ở đó ấm cúng hơn. Chẳng lẽ mọi căn phòng mà con người sinh sống lại không nên đủ cao để tạo ra một khoảng mờ ảo phía trên đầu, nơi những chiếc bóng chập chờn vui đùa bên các xà nhà vào mỗi buổi tối hay sao? Những hình thù ấy hợp với trí tưởng tượng và thị hiếu hơn là bích họa hay bất kỳ món đồ nội thất đắt tiền nào khác. Có thể nói, giờ đây tôi mới thực sự bắt đầu dọn vào ở trong ngôi nhà của mình, khi tôi bắt đầu dùng nó để sưởi ấm cũng như che mưa che nắng. Tôi kiếm được một cặp củi tì cũ để giữ cho khúc củi không lăn khỏi lò sưởi, và thật dễ chịu biết bao khi thấy muội than bám đầy mặt sau của cái ống khói do chính tay mình xây nên, và tôi khều lửa với một sự đường đường chính chính cùng niềm thỏa mãn lớn hơn ngày thường. Tổ ấm của tôi rất nhỏ, và tôi hầu như chẳng thể cất lên một tiếng vang vọng trong đó; nhưng chính vì chỉ là một gian phòng đơn độc và cách xa hàng xóm nên nó có vẻ rộng rãi hơn. Mọi sức hấp dẫn của một ngôi nhà đều được cô gọn trong một căn phòng; nó vừa là nhà bếp, phòng ngủ, phòng khách, vừa là phòng sinh hoạt chung; và bất cứ sự thỏa mãn nào mà cha mẹ hay con cái, chủ nhân hay tôi tớ có được khi sống trong một ngôi nhà, tôi đều tận hưởng trọn vẹn. Cato nói rằng, người gia trưởng (patremfamilias) trong biệt thự đồng quê của mình phải có “cellam oleariam, vinariam, dolia multa, uti lubeat caritatem expectare, et rei, et virtuti, et gloriæ erit,” nghĩa là “một hầm rượu vang và dầu, nhiều thùng chứa, để người ta có thể vui vẻ đón chờ thời buổi khó khăn; điều đó sẽ mang lại lợi ích, đức hạnh và vinh quang cho ông ta.” Trong hầm nhà, tôi có một hạm khoai tây, chừng hai vạt đậu bị mọt ăn, và trên kệ là một ít gạo, một vò mật mía, cùng mỗi thứ mộth đấu bột lúa mạch đen và bột ngô.

Thỉnh thoảng tôi vẫn mơ về một ngôi nhà lớn hơn và đông đúc hơn, tọa lạc trong một thời đại hoàng kim, làm bằng những vật liệu bền vững và không có những thứ trang trí phù phiếm, vẫn chỉ gồm một gian phòng duy nhất, một đại sảnh thô mộc, khổng lồ, vững chãi và nguyên sơ, không trần không trát, với những thanh xà và rườn trần tr trụi nâng đỡ một thứ thiên đường hạ giới ngay trên đầu người ta—có tác dụng che mưa chắn tuyết; nơi những cột vua và cột hậu đứng sừng sững đón nhận sự kính cẩn của bạn, khi bạn đã bày tỏ lòng thành kính với bức tượng Saturn đang nằm rạp của một triều đại cũ bước qua ngưỡng cửa; một ngôi nhà hang động, nơi bạn phải giơ cao ngọn đuốc trên cây sào mới thấy được mái nhà; nơi người ta có thể sống trong lò sưởi, người trong hốc cửa sổ, kẻ trên ghế bành dài, người ở đầu này đại sảnh, kẻ ở đầu kia, và có người vắt vẻo trên xà nhà cùng bầy nhện nếu họ thích; một ngôi nhà mà bạn vừa bước qua cánh cửa ngoài là đã vào trong, và nghi thức coi như chấm dứt; nơi người lữ hành mệt mỏi có thể tắm rửa, ăn uống, trò chuyện và ngủ nghỉ mà chẳng cần phải đi đâu xa thêm nữa; một chốn dung thân mà bạn sẽ khôn xiết vui mừng khi đặt chân tới trong một đêm giông bão, chứa đựng mọi yếu tố thiết yếu của một ngôi nhà và chẳng có lấy một thứ phục vụ cho việc dọn dẹp giữ nhà; nơi bạn có thể thu gọn trong tầm mắt mọi kho báu của ngôi nhà, và mọi thứ mà con người cần dùng đều được treo lên móc của nó; vừa là nhà bếp, phòng đựng thức ăn, phòng khách, phòng ngủ, nhà kho lẫn gác mái; nơi bạn có thể nhìn thấy một vật cần thiết như cái thùng hay cái thang, một vật tiện lợi như cái chạn bếp, và nghe tiếng nồi nước sôi, rồi bày tỏ lòng kính trọng với ngọn lửa nấu bữa tối cùng lò nướng bánh mì, và những đồ đạc vật dụng thiết yếu chính là những vật trang trí chính; nơi quần áo giặt không phải đem đi thuê giặt ngoài, ngọn lửa không tắt, người đàn bà chủ nhà không vắng mặt, và đôi khi bạn còn được yêu cầu tránh ra khỏi tấm cửa sập khi người nấu bếp muốn bước xuống hầm, nhờ đó mà biết được mặt đất bên dưới chân mình là đặc hay rỗng mà chẳng cần phải dậm chân. Một ngôi nhà có nội thất cởi mở và rõ mồn một như tổ chim, và bạn không thể bước vào cửa trước ra cửa sau mà không chạm mặt một vài cư dân của nó; nơi việc trở thành khách khứa đồng nghĩa với việc được ban quyền tự do đi lại trong nhà, chứ không phải bị cẩn thận cách ly khỏi bảy phần tám diện tích, bị nhốt trong một xà lim biệt lập và được bảo hãy tự nhiên như ở nhà trong cảnh giam cầm đơn độc. Ngày nay, kẻ chủ nhà không cho bạn bén mảng đến lò sưởi của hắn, mà lại thuê thợ xây riêng cho bạn một cái xó xỉnh nào đó trong hẻm nhỏ của hắn, và lòng hiếu khách lúc bấy giờ chính là nghệ thuật giữ chân bạn ở khoảng cách xa nhất. Chuyện bếp núc được giữ bí mật cứ như thể hắn có ý định đầu độc bạn vậy. Tôi thừa nhận mình từng đặt chân đến cơ ngơi của bao người, và hoàn toàn có thể bị tống cổ ra ngoài một cách hợp pháp, nhưng tôi chẳng nhớ mình từng thực sự bước vào ngôi nhà của ai. Tôi có thể mặc bộ quần áo cũ ghé thăm một vị vua và hoàng hậu sống giản dị trong một ngôi nhà như tôi vừa miêu tả, nếu tôi đi ngang qua đường của họ; nhưng việc lùi bước cúi đầu trong một cung điện hiện đại sẽ là tất cả những gì tôi muốn học, nếu có ngày tôi lỡ bị tóm vào đó.

Dường như ngôn từ trong phòng khách của chúng ta sẽ đánh mất hết sinh khí và thoái hóa thành một thứ lời lẽ vô nghĩa hoàn toàn, khi cuộc sống của chúng ta trôi qua ở một khoảng cách xa vời vợi như thế khỏi những biểu tượng của nó, và các ẩn dụ cùng phép tu từ ắt phải bị lôi kéo từ đâu đẩu đâu về, qua những khe hở và thang nâng thức ăn tự động chẳng hạn; nói cách khác, phòng khách nằm quá xa nhà bếp và xưởng thợ. Ngay cả bữa tối thông thường cũng chỉ là ngụ ngôn về một bữa tối. Cứ như thể chỉ có kẻ hoang dã là sống đủ gần với Thiên Nhiên và Chân Lý để vay mượn một phép ẩn dụ từ họ. Làm sao một học giả sống xa xôi tít tắp ở Lãnh thổ Tây Bắc hay Đảo Man lại có thể biết được thế nào là phép tắc nghị viện trong nhà bếp chứ?

Tuy vậy, chỉ có một hoặc hai vị khách của tôi là từng đủ táo bạo để ở lại ăn một bát cháo bắp vội vã cùng tôi; nhưng khi thấy thời khắc quyết định ấy đến gần, họ thà cắm cổ rút lui một cách vội vã còn hơn, cứ như thể nó sẽ làm rung chuyển ngôi nhà đến tận móng. Mặc dù vậy, nó vẫn hiên ngang đứng vững qua rất nhiều bữa cháo bắp.

Tôi không trát vách cho đến khi thời tiết chuyển sang giá rét. Tôi dùng thuyền chở một ít cát trắng và sạch hơn từ bờ bên kia ao về để làm việc này, một loại phương tiện hẳn sẽ dụ dỗ tôi đi xa hơn nhiều nếu cần thiết. Trong lúc đó, ngôi nhà của tôi đã được lợp ván mộc kín mít xuống tận mặt đất ở mọi phía. Khi đóng nẹp, tôi vô cùng hài lòng vì có thể đóng ngập mỗi chiếc điều chỉ bằng một nhát búa duy nhất, và tham vọng của tôi là trát lớp vữa từ tấm ván lên tường một cách gọn gàng và nhanh chóng. Tôi nhớ lại câu chuyện về một kẻ tự đắc nọ, từng diện trang phục hào hoa lang thang quanh làng để cho thợ thầy lời khuyên. Mạo muội biến lời nói thành hành động vào một ngày nọ, hắn xắn tay áo, chộp lấy chiếc bàn trát vữa, và sau khi chất đầy bay không chút sự cố, với ánh mắt kiêu ngạo hướng về giàn nẹp trên đầu, hắn vung tay một cách táo bạo; để rồi ngay lập tức, trong nỗi bẽ bàng tột độ, hắn nhận trọn toàn bộ đống vữa vào tà áo nhún bèo của mình. Tôi lại một lần nữa trầm trồ trước sự tiết kiệm và tiện lợi của công đoạn trát vách—thứ vừa ngăn chặn cái lạnh vô cùng hiệu quả vừa mang lại lớp hoàn thiện đẹp đẽ—đồng thời tôi cũng học được những rủi ro bất ngờ mà người thợ trát vách có thể gặp phải. Tôi ngạc nhiên khi thấy những viên gạch lại khát nước đến thế, chúng nuốt chửng toàn bộ độ ẩm trong lớp vữa của tôi trước khi tôi kịp miết phẳng nó, và phải tốn đến bao nhiêu gàu nước để làm lễ rửa tội cho một chiếc lò sưởi mới. Mùa đông trước đó, tôi đã làm một ít vôi bằng cách nung vỏ loài trai sông (Unio fluviatilis) mà dòng sông của chúng tôi có sẵn, chỉ để làm thí nghiệm; nhờ thế mà tôi biết rõ nguyên liệu của mình xuất phát từ đâu. Tôi hoàn toàn có thể kiếm được đá vôi loại tốt trong vòng một hoặc hai dặm rồi tự nung nếu tôi bận tâm đến chuyện đó.

Trong khi đó, mặt ao đã đóng một lớp băng mỏng ở những vũng khuất râm và nông nhất, từ vài ngày hoặc thậm chí vài tuần trước khi hiện tượng đóng băng diện rộng xảy ra. Lớp băng đầu tiên đặc biệt thú vị và hoàn hảo, vừa cứng, tối màu vừa trong suốt, mang lại cơ hội tuyệt vời nhất từ trước đến nay để quan sát phần đáy ở những vùng nước nông; bởi bạn có thể nằm duỗi dài trên lớp băng dày chỉ một inch, tựa như một con bọ trượt nước trên mặt ao, và thong thả nghiên cứu đáy nước cách mình chỉ vỏn vẹn hai hoặc ba inch, hệt như một bức tranh nằm sau tấm kính, và khi ấy mặt nước dĩ nhiên lúc nào cũng phẳng lặng. Có rất nhiều rãnh hằn trong cát nơi sinh vật nào đó từng bò đi rồi quay đầu bám theo vết cũ; còn về phần các mảnh vụn, nó rải rác những lớp vỏ sâu cọ được làm từ những hạt thạch anh trắng ti ti. Có lẽ chính chúng đã tạo ra những đường rằn ấy, vì bạn có thể tìm thấy một số lớp vỏ của chúng nằm trong các rãnh, dù các rãnh ấy sâu và rộng hơn kích thước của chúng. Thế nhưng bản thân lớp băng mới là đối tượng thu hút nhiều sự quan tâm nhất, dù bạn phải tận dụng thời điểm sớm nhất để nghiên cứu nó. Nếu quan sát kỹ vào buổi sáng sau khi trời đóng băng, bạn sẽ thấy phần lớn các bọt khí thoạt đầu trông có vẻ nằm bên trong lớp băng thực ra lại nằm ở bề mặt phía dưới của nó, và ngày càng có nhiều bọt khí liên tục nổi lên từ đáy; trong khi lớp băng vẫn còn tương đối đặc và tối màu, nghĩa là bạn có thể nhìn xuyên qua nó để thấy nước. Những bọt khí này có đường kính từ một phần tám mươi đến một phần tám inch, rất trong và đẹp, và bạn có thể thấy gương mặt mình phản chiếu qua lớp băng ấy. Có thể có tới ba bốn mươi bọt khí như thế trên mỗi inch vuông. Bên trong lớp băng lúc bấy giờ cũng đã xuất hiện những bọt khí thuôn dài, thẳng đứng, dài chừng nửa inch, là những hình nón sắc nhọn với phần đỉnh hướng lên trên; hoặc thường xuyên hơn, nếu lớp băng hoàn toàn tinh khiết, là những bọt khí hình cầu ti ti xếp chồng lên nhau ngay ngắn hệt như một chuỗi hạt cườm. Nhưng những bọt khí nằm bên trong ấy không nhiều và rõ bằng những bọt khí nằm phía bên dưới. Thỉnh thoảng tôi vẫn ném đá lên để thử độ dày của băng, và những viên đá làm thủng lớp băng đã kéo theo không khí đi xuống, tạo ra những bọt khí màu trắng rất lớn và dễ thấy bên dưới. Một hôm, khi tôi quay lại đúng chỗ đó sau bốn mươi tám inch giờ, tôi nhận thấy những bọt khí lớn ấy vẫn còn nguyên vẹn, dẫu lớp băng đã dày thêm một inch, điều mà tôi có thể nhìn thấy rõ qua đường nối ở mép của một phiến băng. Nhưng vì hai ngày qua trời rất ấm, tựa như tiết trời thu ấm áp giữa mùa đông, nên băng lúc bấy giờ không còn trong suốt để lộ màu nước xanh thẳm và phần đáy nữa, mà trở nên đục ngầu, trắng bệch hoặc ngả xám; và dù dày gấp đôi, nó cũng chẳng cứng hơn trước là bao, bởi các bọt khí đã nở to ra đáng kể dưới sức nóng này, nhập lại với nhau và mất đi vẻ đều đặn vốn có; chúng không còn nằm thẳng hàng trên dưới nữa, mà thường trông giống như những đồng tiền bạc được đổ ra từ một chiếc túi, đồng này chồng lên đồng kia, hoặc như những lớp vảy mỏng, tựa như đang chiếm lấy những khe nứt nhỏ. Vẻ đẹp của lớp băng đã biến mất, và đã quá muộn để nghiên cứu tầng đáy. Tò mò muốn biết vị trí của những bọt khí lớn của mình so với lớp băng mới ra sao, tôi đập lấy một phiến băng chứa một bọt khí cỡ trung bình rồi lật ngược mặt dưới lên. Lớp băng mới đã hình thành xung quanh và bên dưới bọt khí, khiến nó bị kẹp chặt giữa hai lớp băng. Nó hoàn toàn nằm ở lớp băng phía dưới, nhưng áp sát vào lớp băng phía trên, có hình dẹt hoặc có lẽ hơi thấu kính với phần rìa được bo tròn, sâu một phần tư inch và đường kính bốn inch; và tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy ngay bên dưới bọt khí, băng đã tan chảy với độ chính xác cao theo hình dạng của một chiếc đĩa lật ngược, vươn cao đến năm phần tám inch ở chính giữa, để lại một vách ngăn mỏng manh giữa nước và bọt khí ở đó, dày chưa tới một phần tám inch; và ở nhiều nơi, những bọt khí nhỏ trong vách ngăn này đã vỡ tung hướng xuống dưới, và có lẽ chẳng còn chút băng nào bên dưới những bọt khí lớn nhất có đường kính lên tới một foot. Tôi suy luận rằng vô số bọt khí li ti mà tôi từng nhìn thấy ở mặt dưới lớp băng lúc ban đầu giờ đây cũng đã bị đóng băng vào trong, và mỗi bọt khí, tùy theo mức độ của mình, đã hoạt động như một chiếc kính lúp tác động lên lớp băng bên dưới để làm nó tan chảy và mục rữa. Đó chính là những khẩu pháo không khí nhỏ góp phần khiến lớp băng nứt toác và vang lên những âm thanh rền rĩ.

Cuối cùng thì mùa đông cũng thực sự bắt đầu, ngay khi tôi vừa trát xong vách nhà, và những cơn gió bắt đầu gào thét quanh ngôi nhà cứ như thể mãi tới lúc này nó mới được cho phép làm điều đó. Đêm này qua đêm khác, từng đàn ngỗng trời lại ì ạch bay đến trong bóng tối với tiếng kêu vang lảnh lót và tiếng vỗ cánh phần phật, ngay cả khi mặt đất đã phủ đầy tuyết, con thì hạ cánh xuống hồ Walden, con thì bay sà là là qua những cánh rừng hướng về phía Fair Haven để đến Mexico. Vài lần, khi đang trên đường từ làng trở về lúc mười hoặc mười một giờ đêm, tôi nghe thấy tiếng bước chân của một đàn ngỗng, hoặc có lẽ là vịt, đang đạp trên lớp lá khô trong khu rừng cạnh một vũng nước phía sau nhà, nơi chúng mò lên kiếm ăn, cùng tiếng kêu cạp cạp yếu ớt của con đầu đàn khi chúng vội vã chuồn đi. Vào năm 1845, hồ Walden đóng băng hoàn toàn lần đầu tiên vào đêm 22 tháng Mười hai, trong khi ao Flint, các ao nông hơn và dòng sông đã đóng băng từ mười ngày hoặc hơn thế; vào năm ’46 là ngày 16; năm ’49 vào khoảng ngày 31; năm ’50 vào khoảng ngày 27 tháng Mười hai; năm ’52 vào ngày 5 tháng Giêng; và năm ’53 vào ngày 31 tháng Mười hai. Tuyết đã phủ kín mặt đất từ ngày 25 tháng Mười một, đột ngột bao bọc lấy tôi trong khung cảnh mùa đông. Tôi càng thu mình sâu hơn vào chiếc vỏ ốc và nỗ lực giữ cho ngọn lửa luôn bùng cháy rực rỡ cả trong nhà lẫn trong lồng ngực. Công việc ngoài trời của tôi lúc bấy giờ là nhặt củi khô trong rừng, xách tay, vác vai, hoặc đôi khi kéo lê mỗi bên nách một thân cây thông khô về lán. Một hàng rào rừng cũ đã qua thời hoàng kim là một món hời lớn đối với tôi. Tôi đem nó tế thần Vulcan, bởi nó đã không còn phục vụ nổi vị thần ranh giới Terminus nữa. Thật là một sự kiện thú vị biết bao khi nghĩ đến bữa tối của kẻ vừa xông pha ngoài tuyết để săn lùng, hay thậm chí có thể nói là ăn cắp, củi lửa để nấu nướng nó! Bánh mì và thịt của hắn chắc chắn sẽ ngọt lịm. Có đủ loại củi mục và gỗ vụn thừa thãi trong các khu rừng ở phần lớn thị trấn của chúng ta để duy trì vô số ngọn lửa, thế nhưng hiện tại chúng chẳng sưởi ấm cho ai, và theo một số người, còn cản trở sự phát triển của cây non. Ngoài ra còn có củi trôi dạt ở mặt ao. Trong suốt mùa hè, tôi đã phát hiện ra một bè các khúc gỗ thông nhựa còn nguyên vỏ, được người Ireland dùng ghim lại khi tuyến đường ray được xây dựng. Tôi đã kéo phần lớn số này lên bờ. Sau khi ngâm nước hai năm và phơi khô trên cạn nửa năm, chúng hoàn toàn chắc khỏe, dù đã ngấm nước đến mức chẳng thể khô nổi. Tôi tự khuây khỏa vào một ngày mùa đông bằng cách kéo từng phần đám gỗ này trượt qua mặt ao dài gần nửa dặm, vừa trượt băng vừa vác một đầu khúc gỗ dài mười lăm thước trên vai, đầu kia lê trên mặt băng; hoặc tôi cột vài khúc gỗ lại với nhau bằng một dây dẻ gai, rồi dùng một nhánh cây dẻ gai hoặc cây tổng quán cát dài hơn có gắn móc ở đầu để kéo chúng đi. Dù đã ngấm đẫm nước và nặng gần như chì, chúng không chỉ cháy lâu mà còn tạo ra ngọn lửa rất bén; thậm chí tôi còn nghĩ rằng chúng cháy tốt hơn nhờ việc ngâm nước, cứ như thể nhựa thông bị nước giữ lại nên cháy lâu hơn, hệt như trong một cây đèn.

Gilpin, trong bài miêu tả về những cư dân vùng biên giới rừng ở Anh, đã viết rằng “những hành vi lấn chiếm của kẻ xâm phạm, cùng những ngôi nhà và hàng rào được dựng lên ở bìa rừng” từng “được xem là những mối phiền toái lớn theo luật rừng cổ xưa, và bị trừng phạt nghiêm khắc dưới danh nghĩa là hành vi chiếm dụng đất công (purprestures), bởi chúng có xu hướng gây sợ hãi cho thú rừng và tàn phá khu rừng, v.v. (ad terrorem ferarum—ad nocumentum forestæ).” Thế nhưng tôi lại quan tâm đến việc bảo tồn thú rừng và cây cối hơn là những kẻ săn bắn hay tiều phu, và mức độ quan tâm ấy chẳng khác nào thể chính tôi là vị Tổng quản hạt rừng vậy; và nếu bất kỳ phần nào bị thiêu rụi—dù là do chính tôi vô ý gây ra—tôi cũng đau xót với nỗi buồn kéo dài dằng dặc và khôn nguôi hơn cả chủ nhân của chúng; thậm chí tôi còn đau buồn khi chúng bị chính những người chủ đốn hạ. Ước gì nông dân của chúng ta khi đốn hạ một khu rừng cũng cảm nhận được phần nào sự kính sợ mà người La Mã cổ đại từng có khi họ đến để tỉa thưa hoặc khơi ánh sáng cho một khu rừng thiêng (lucum conlucare), nghĩa là tin rằng nơi đó thuộc về một vị thần nào đó. Người La Mã từng dâng lễ tạ tội và cầu nguyện rằng: Bất cứ vị thần nam hay nữ nào mà khu rừng này tôn thờ, xin hãy phù hộ cho ta, gia đình và con cái ta, v.v.

Thật đáng kinh ngạc khi củi lửa vẫn giữ được giá trị lớn lao đến nhường nào ngay cả trong thời đại này và ở vùng đất mới này, một giá trị bền vững và phổ quát hơn cả vàng. Sau tất cả những phát minh và khám phá của chúng ta, chẳng ai có thể dửng dưng bước qua một đống củi. Nó quý giá đối với chúng ta hệt như đối với tổ tiên người Saxon và Norman của chúng ta vậy. Nếu họ làm cung từ gỗ, thì chúng ta làm báng súng từ gỗ. Michaux, hơn ba mươi năm trước, từng nói rằng giá củi đốt ở New York và Philadelphia “suýt soát, và đôi khi còn vượt qua cả giá của loại củi tốt nhất ở Paris, dẫu thủ đô vĩ đại này hằng năm tiêu thụ hơn ba trăm nghìn ster củi và được bao bọc trong bán kính ba trăm dặm bởi những đồng bằng canh tác.” Ở thị trấn này, giá củi tăng lên hầu như đều đặn, và vấn đề duy nhất là năm nay nó sẽ đắt hơn năm ngoái bao nhiêu. Thợ thủ công và thương nhân, những người đích thân vào rừng chẳng vì mục đích nào khác, chắc chắn sẽ tham dự buổi đấu giá củi, thậm chí chấp nhận trả giá cao chỉ để có đặc quyền lượm lặt những gì còn sót lại sau khi tiều phu đốn hạ. Đã nhiều năm trôi qua, con người vẫn luôn tìm đến rừng để kiếm củi và nguyên liệu cho nghệ thuật; người New England và người New Holland, người Paris và người Celt, người nông dân và Robin Hood, Goody Blake và Harry Gill, ở hầu hết mọi nơi trên thế giới, từ vương tôn công tử đến kẻ bần cùng, từ học giả đến kẻ hoang dã, tất cả đều đồng loạt cần đến vài thanh củi từ khu rừng để sưởi ấm và nấu nướng thức ăn. Và tôi cũng chẳng thể sống thiếu chúng.

Ai nấy đều nhìn đống củi của mình với một thứ tình cảm trìu mến. Tôi thích để đống củi trước cửa sổ, và càng nhiều dăm bào thì càng tốt, bởi chúng gợi nhắc tôi về công việc đầy thú vị của mình. Tôi có một chiếc rìu cũ chẳng ai nhận là chủ, vào những ngày mùa đông rảnh rỗi ở góc sân đầy nắng cạnh nhà, tôi dùng nó để đập phá mấy cái gốc cây mà tôi đã bứng lên khỏi thửa ruộng trồng đậu của mình. Đúng như người đánh xe từng tiên tri khi tôi đang cày bừa, chúng sưởi ấm tôi đến hai lần: một lần khi tôi bổ chúng ra, và lần thứ hai khi chúng nằm trong lò sưởi, nhờ thế mà chẳng có loại nhiên liệu nào có thể tỏa ra nhiều nhiệt lượng hơn thế. Còn về chiếc rìu, tôi được khuyên nên mang ra thợ rèn trong làng để “tôi” lại; nhưng tôi đã tự “tôi” nó bằng cách kiếm một cán cây mại châu trong rừng lắp vào, và thế là nó dùng tốt. Dù nó có cùn, thì ít ra lưỡi rìu cũng được giáp rất chuẩn xác.

Vài khúc thông mỡ thực sự là một kho báu lớn. Thật thú vị khi nhớ lại rằng phần lớn nguồn thức ăn cho ngọn lửa ấy vẫn đang ẩn giấu trong lòng đất. Những năm trước, tôi từng nhiều lần đi “thăm dò” trên những sườn đồi trọc, nơi từng có một cánh rừng thông mỡ mọc, để đào lấy những phần rễ thông béo ngậy ấy. Chúng gần như là thứ không thể hủy hoại. Những gốc cây đã ba bốn mươi năm tuổi, chí ít thì phần lõi bên trong vẫn còn chắc khỏe, dẫu lớp dừa bên ngoài đã mục rữa thành mùn thực vật, điều đó được minh chứng qua các lớp vỏ dày tạo thành một vòng tròn ngang bằng với mặt đất cách phần tim gỗ chừng bốn hoặc năm inch. Bằng rìu và xẻng, bạn khai quật mỏ vàng này, lần theo phần tủy béo ngậy vàng óng tựa mỡ bò, hoặc cứ như thể bạn vừa chạm trúng một mạch vàng cắm sâu vào lòng đất. Nhưng thông thường, tôi vẫn nhóm lửa bằng những chiếc lá khô trong rừng mà tôi đã tích trữ sẵn trong lán trước khi tuyết rơi. Gỗ dẻ gai tươi được chẻ nhỏ chính là thứ củi mồi chuẩn xác của tiều phu khi họ dựng lán trong rừng. Thỉnh thoảng tôi cũng kiếm được một ít như thế. Khi dân làng đang thắp lên những ngọn lửa bên kia đường chân trời, tôi cũng phát tín hiệu cho các cư dân hoang dã muôn hình vạn trạng của thung lũng Walden bằng một dải khói bay lên từ ống khói, báo rằng tôi vẫn thức—

Khói nhẹ cánh tung, cánh chim Icarus,

Tan chảy đôi wing trên đường bay vút lên cao,

Sơn ca không giọng hát, sứ giả của bình minh,

Lượn vòng trên những xóm làng như chiếc tổ quen;

Hay là giấc mộng phai tàn, là bóng hình mờ ảo

Của thị kiến nửa đêm, đang gom lại tà y;

Màn đêm che khuất các vì sao, và ban ngày

Làm tối sầm ánh sáng, xóa nhòa mặt trời;

Hãy bay lên hỡi hương thơm từ ngọn lửa này,

Và xin các vị thần tha thứ cho ngọn lửa trong ngần ấy.

Gỗ tươi cứng vừa mới đốn, dẫu tôi chỉ dùng rất ít loại đó, lại phục vụ mục đích của tôi tốt hơn bất kỳ thứ gì khác. Thỉnh thoảng tôi vẫn để lại một đống lửa cháy đượm khi đi dạo vào một buổi chiều mùa đông; và khi quay về, ba bốn tiếng đồng hồ sau, nó vẫn còn sống và tỏa hồng. Ngôi nhà của tôi không hề trống vắng dẫu tôi đã đi vắng. Cứ như thể tôi vừa để lại một người quản gia vui vẻ ở nhà vậy. Chỉ có tôi và Lửa sống ở đó; và thông thường, người quản gia của tôi tỏ ra vô cùng đáng tin cậy. Tuy nhiên, có một hôm, khi đang bổ củi, tôi bỗng nghĩ thầm rằng mình nên nghía qua cửa sổ xem nhà có bị cháy hay không; đó là lần duy nhất tôi nhớ là mình đã đặc biệt lo lắng về vấn đề này; thế là tôi nhìn vào và phát hiện một tia lửa đã bén vào giường mình, tôi liền chạy xông vào dập tắt nó khi nó vừa thiêu rụi một khoảng rộng bằng bàn tay. Thế nhưng ngôi nhà của tôi tọa lạc ở một vị trí vô cùng ấm áp và kín gió, lại thêm mái nhà thấp, nên tôi hoàn toàn có thể để ngọn lửa tắt lịm vào giữa bất kỳ buổi trưa mùa đông nào.

Lũ chuột chũi làm tổ ngay dưới hầm nhà tôi, gặm nhấm cứ ba củ khoai tây thì hết một củ, và thậm chí còn tự tạo cho mình một chiếc giường ấm cúng từ một ít tóc thừa sau khi trát vách cùng giấy gói nâu; bởi vì ngay cả những loài động vật hoang dã nhất cũng chuộng sự thoải mái và ấm áp hệt như con người, và chúng chỉ có thể sống sót qua mùa đông nhờ sự cẩn trọng tột bậc trong việc đảm bảo những điều đó. Một số bạn bè của tôi nói cứ như thể tôi mò vào rừng chỉ để tự cặn mình ra mà chết cóng vậy. Con thú chỉ đơn giản là làm một chiếc giường, sưởi ấm nó bằng chính cơ thể mình ở một nơi kín đáo; thế nhưng con người, sau khi phát hiện ra lửa, lại đóng hộp một khoảng không gian rộng rãi rồi sưởi ấm nó, thay vì tự tước đoạt thân mình, biến không gian đó thành chiếc giường nơi mình có thể di chuyển mà không vướng víu những lớp quần áo cồng kềnh, duy trì một kiểu mùa hè ngay giữa lòng mùa đông, và thậm chí thông qua những ô cửa sổ để đón ánh sáng, dùng ngọn đèn kéo dài ban ngày. Bằng cách đó, họ tiến thêm một hoặc hai bước vượt qua bản năng, và tiết kiệm chút thời gian cho nghệ thuật cao quý. Mặc dù vậy, khi phải phơi mình trước những trận cuồng phong buốt giá trong một thời gian dài, toàn thân tôi bắt đầu tê dại, nhưng khi chạm đến bầu không khí ấm áp dễ chịu trong ngôi nhà của mình, tôi nhanh chóng hồi phục các giác quan và kéo dài sự sống. Thế nhưng kẻ được ở trong những căn nhà xa hoa nhất cũng chẳng có mấy điều để tự hào về mặt này, và chúng ta cũng chẳng cần phải nhọc công suy đoán về cách mà nhân loại rốt cuộc có thể bị tiêu diệt. Người ta hoàn toàn có thể cắt đứt sợi chỉ đời họ bất cứ lúc nào chỉ với một cơn gió bắc buốt giá hơn một chút. Chúng ta cứ tiếp tục ghi nhớ thời gian từ những Ngày Sáu Chín Giá Rét và Những Trận Tuyết Vĩ Đại; thế nhưng chỉ cần một ngày thứ Sáu lạnh hơn một chút, hay một trận tuyết lớn hơn một chút, cũng đủ chấm dứt sự tồn tại của con người trên quả địa cầu này rồi.

Mùa đông tiếp theo, vì lý do kinh tế, tôi đã sử dụng một chiếc bếp nấu ăn nhỏ, bởi tôi đâu có sở hữu khu rừng; thế nhưng nó lại không giữ lửa tốt bằng lò sưởi lộ thiên. Công việc nấu nướng khi ấy phần lớn không còn là một quá trình thi vị, mà đơn thuần chỉ là một quy trình hóa học. Chẳng mấy chốc, trong những ngày ngập tràn bếp núc này, người ta sẽ quên mất rằng chúng ta từng nướng khoai tây trong tro tàn theo phong cách của người Da đỏ. Chiếc bếp không chỉ chiếm diện tích và làm căn nhà ám mùi, mà nó còn che khuất ngọn lửa, khiến tôi có cảm giác như mình vừa đánh mất một người bạn tri kỷ. Bạn luôn có thể nhìn thấy một gương mặt trong ngọn lửa. Người lao động, khi nhìn vào nó vào buổi chiều tà, gột rửa tâm trí mình khỏi những thứ cặn bã và phàm tục mà họ đã tích tụ suốt cả ngày. Thế nhưng tôi chẳng còn được ngồi ngắm nhìn ngọn lửa nữa, và những lời lẽ sâu sắc của một nhà thơ bỗng ùa về trong tâm trí tôi với một sức mạnh mới.—

“Hỡi ngọn lửa rực ngời, xin chớ bao giờ cự tuyệt tôi

Sự đồng cảm thiết tha, khắc họa bóng hình sự sống của Người.

Có cái gì ngoài niềm hy vọng của tôi từng vút bay rực rỡ đến thế?

Có cái gì ngoài vận mệnh của tôi từng chìm sâu vào bóng tối đến vậy?

Vì sao Người lại bị xua đuổi khỏi lò sưởi và đại sảnh của chúng ta,

Hỡi kẻ được tất cả mọi người chào đón và yêu thương?

Phải chăng sự tồn tại của Người quá đỗi ảo ảnh

Đối với ánh sáng bình thường của cuộc đời chúng ta, những kẻ quá đỗi u mê?

Phải chăng ánh hào quang rực rỡ của Người đã mang theo cuộc trò chuyện huyền bí

Cùng những tâm hồn đồng điệu? Những bí mật quá đỗi táo bạo?

Thôi nào, chúng ta thật an toàn và mạnh mẽ, bởi giờ đây chúng ta đang ngồi

Bên cạnh một lò sưởi nơi chẳng có chiếc bóng mờ ảo nào lướt qua,

Nơi chẳng có thứ gì vui buồn, chỉ có ngọn lửa

Sưởi ấm đôi chân và đôi tay—chẳng mưu cầu gì hơn thế;

Bên cái đống thực dụng gọn gàng ấy

Thực tại có thể ngồi xuống và chìm vào giấc ngủ,

Chẳng còn sợ hãi những hồn ma từng bước ra từ quá khứ mờ mịt,

Và trò chuyện cùng chúng ta dưới ánh sáng chập chờn của đống củi gỗ ngày xưa.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Henry David Thoreau

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.