Đây là một buổi chiều tuyệt diệu, khi toàn thể cơ thể như biến thành một giác quan duy nhất, thấm đẫm niềm vui qua từng lỗ chân lông. Tôi ra vào với một sự tự do kỳ lạ giữa lòng Tự nhiên, như một phần của chính ngẫu vậy. Khi tôi rảo bước dọc theo bờ hồ rải đầy sỏi trong bộ áo sơ mi tay xắn, dẫu trời vừa lạnh, vừa u ám lại lồng lộng gió, và tôi chẳng thấy có gì đặc biệt lôi cuốn mình, thì mọi tạo vật đều tỏ ra vô cùng gần gũi với tôi. Những chú ếch xanh cất tiếng vang lừng để chào đón màn đêm, và tiếng chim ưng buồn vọng theo làn gió gợn sóng từ ngoài mặt nước thổi vào. Sự đồng cảm với những chiếc lá tổng quán và lá dương rung rẩt khiến tôi tưởng như nghẹt thở; thế nhưng, cũng như mặt hồ, sự tĩnh lặng trong tôi chỉ gợn sóng chứ không hề nổi bão. Những con sóng nhỏ lăn tăn do ngọn gió chiều thổi lên ấy vốn cách xa bão tố chẳng khác gì mặt nước phẳng lặng soi bóng. Dẫu trời đã tối sẫm, gió vẫn gầm rít trong khu rừng, sóng vẫn vỗ ì oạp, và muôn loài vẫn dùng tiếng kêu của mình để ru dưỡng sự nghỉ ngơi. Giấc ngủ bình yên ấy chẳng bao giờ trọn vẹn. Những loài dã thú hoang dã nhất nào có nghỉ ngơi, chúng đang sục sạo tìm mồi; chồn hương, chồn hôi và thỏ rừng lúc này đang lang thang khắp đồng nội và rừng sâu mà chẳng chút sợ hãi. Chúng chính là những người gác đêm của Tự nhiên, là nhịp cầu nối liền những ngày tháng của sự sống muôn loài.
Khi trở về ngôi nhà của mình, tôi nhận ra rằng đã có khách ghé qua và để lại danh thiếp, khi thì một nhành hoa, lúc lại vòng lá xanh tươi, hoặc một cái tên được viết bằng bút chì trên chiếc lá óc chó vàng hay một mẩu dăm gỗ. Những kẻ hiếm khi dạo bước chốn rừng sâu thường nhặt lấy một mảnh nhỏ của rừng xanh để cầm nắm nghịch ngợm dọc đường, rồi tiện tay để lại, dù là cố ý hay vô tình. Có kẻ đã tước vỏ một nhành liễu, đan thành chiếc nhẫn rồi thả lên bàn tôi. Tôi luôn có thể nhận biết liệu có khách đến thăm trong lúc mình vắng nhà hay không, qua những cành cây hay ngọn cỏ bị uốn gập, qua dấu giày để lại, và thường thì tôi còn đoán được cả giới tính, tuổi tác hay phẩm giá của họ qua một vài dấu vết nhỏ nhặt bị bỏ lại, chẳng hạn như một bông hoa rơi rụng, hay một nắm cỏ bị ngắt rồi vứt đi, thậm chí ở tận phía đường ray xe lửa cách đó nửa dặm, hoặc qua mùi hương thoang thoảng của một điếu xì-gà hay tẩu thuốc. Thậm chí, tôi thường xuyên nhận biết được sự qua lại của một lữ khách trên con đường cái quan cách đó sáu mươi sào qua mùi tẩu thuốc của anh ta.
Xung quanh chúng ta thường có dư dả không gian. Đường chân trời chưa bao giờ nằm sát bên khuỷu tay ta. Rừng rậm hay hồ nước chẳng hề nằm ngay trước ngưỡng cửa, mà đất đai luôn được khai hoang đôi chút, trở nên quen thuộc và hao mòn vì dấu chân ta, được chiếm hữu, rào giật theo cách nào đó và đòi lại từ tay Tự nhiên. Vì lý do gì mà tôi lại có được khoảng không gian rộng lớn và bao la nhường này, một vài dặm vuông rừng hoang ít kẻ lui tới để làm chốn riêng tư cho mình, được con người bỏ mặc cho tôi? Người hàng xóm gần nhất của tôi cách đây một dặm, và từ bất kỳ đâu, chẳng thể nhìn thấy ngôi nhà nào ngoại trừ trên những đỉnh đồi trong bán kính nửa dặm quanh tôi. Đường chân trời của tôi được bao bọc trọn vẹn bởi những cánh rừng chỉ thuộc về riêng tôi; một bên là tầm nhìn xa xa ra đoạn đường ray xe lửa chạm vào mặt hồ, bên kia là hàng rào ven con đường mòn trong rừng. Nhưng nhìn chung, nơi tôi sống cô độc chẳng khác gì giữa những đồng cỏ thảo nguyên mênh mông. Nơi đây chẳng khác nào châu Á hay châu Phi so với xứ New England. Tôi có cho mình mặt trời, mặt trăng và những vì sao riêng, cùng một thế giới nhỏ bé thuộc trọn về mình. Về đêm, chẳng bao giờ có một lữ khách nào qua lại trước nhà tôi, hay gõ cửa nhà tôi, ngỡ như tôi là con người đầu tiên hay cuối cùng trên cõi đời này; trừ những độ mùa xuân, thỉnh thoảng có vài người từ làng kéo đến câu cá trê — rõ ràng là họ câu cá trong chính cái Hồ Walden của tâm hồn họ nhiều hơn, và dùng bóng tối làm mồi nhợ — nhưng rồi họ cũng nhanh chóng rút lui, thường thì với những chiếc giỏ nhẹ tênh, để mặc “thế gian lại cho bóng tối và cho tôi,” và cốt lõi đen thẫm của màn đêm chưa bao giờ bị vấy bẩn bởi bất kỳ chốn đông người nào. Tôi tin rằng con người nhìn chung vẫn còn hơi sợ bóng tối, dẫu cho mọi mụ phù thủy đã bị treo cổ, và đạo Thiên Chúa cùng những ngọn nến đã được khai hóa.
Thế nhưng đôi khi tôi nghiệm ra rằng, bầu bản hội ngọt ngào và dịu dàng nhất, vô tội và khích lệ nhất lại có thể tìm thấy ở bất kỳ vật thể tự nhiên nào, ngay cả đối với một kẻ chán ghét loài người tội nghiệp và u sầu nhất. Sẽ chẳng thể có nỗi buồn thẳm sâu nào đối với kẻ sống giữa lòng Tự nhiên mà các giác quan vẫn còn tinh anh. Chưa từng có cơn bão nào dữ dội đến mức không trở thành khúc nhạc Ê-ô đối với một đôi tai khỏe mạnh và trong sáng. Không gì có thể ép buộc một con người giản dị và can đảm phải rơi vào nỗi buồn tầm thường. Chừng nào tôi còn tận hưởng tình bạn của bốn mùa, tôi tin rằng chẳng gì có thể biến cuộc đời thành gánh nặng cho mình. Cơn mưa phùn tưới tắm cho những luống đậu và giữ chân tôi trong nhà hôm nay không hề ảm đạm hay u sầu, mà cũng mang lại điều tốt lành cho tôi. Dẫu nó ngăn cản tôi làm cỏ, thì giá trị của nó còn lớn lao hơn nhiều so với việc cuốc đất. Nếu cơn mưa kéo dài đến mức làm thối rữa hạt giống dưới lòng đất và hủy hoại khoai tây ở những vùng trũng thấp, thì nó vẫn tốt cho thảm cỏ trên các triền cao, và vì tốt cho thảm cỏ, nên nó cũng tốt cho tôi. Có những lúc, khi so sánh bản thân với những người khác, tôi cảm thấy dường như mình được các vị thần sủng ái hơn họ, vượt quá mọi công đức mà tôi nhận thức được; cứ như thể tôi nắm giữ một thứ bảo đảm và tín ước từ chánh tay các ngài điều mà đồng loại tôi không có, và được dìu dắt cùng che chở một cách đặc biệt. Tôi không tự phụ đâu, nhưng nếu có thể thì chính các ngài đang tâng bốc tôi đấy chứ. Tôi chưa bao giờ cảm thấy cô quạnh, hay mảy may bị áp lực bởi cảm giác cô độc, ngoại trừ một lần, đó là vài tuần sau khi tôi chuyển vào rừng sinh sống, khi mà trong suốt một tiếng đồng hồ, tôi đã hoài nghi không biết sự gần gũi của con người có phải là điều cốt thiết cho một cuộc sống thanh thản và khỏe mạnh hay không. Cứ ở một mình hóa ra lại là điều gì đó khó chịu. Nhưng đồng thời tôi cũng nhận thức được một sự bất ổn nhẹ trong tâm trạng lúc bấy giờ, và dường như đã lường trước được ngày mình sẽ bình phục. Giữa lúc cơn mưa phùn đang rơi và những suy nghĩ ấy ngự trị, tôi bỗng nhiên cảm nhận được một bầu bản hội ngọt ngào và nhân hậu đến nhường nào từ nơi Tự nhiên, ngay trong tiếng mưa rơi lộp độp, trong từng âm thanh và hình ảnh quanh ngôi nhà tôi, một thứ tình thân ái vô biên và kỳ lạ bỗng chốc trùm lấy tôi như bầu không khí nâng đỡ tôi, khiến cho những lợi ích tưởng tượng của chốn đông người trở nên tầm thường vô nghĩa, và từ đó trở đi tôi chẳng hề nghĩ đến chúng nữa. Từng chiếc kim thông nhỏ bé đều căng phồng lên vì sự đồng cảm và kết thân với tôi. Tôi nhận thức rõ ràng đến mức cảm nhận được sự hiện diện của một điều gì đó thân thuộc với mình, ngay cả trong những khung cảnh mà ta vẫn quen gọi là hoang dã và ảm đạm, và rằng kẻ gắn bó ruột thịt nhất, nhân văn nhất với tôi không phải là một con người hay một kẻ nhà quê, khiến tôi nghĩ rằng sẽ chẳng có nơi nào có thể trở nên xa lạ đối với tôi thêm một lần nào nữa.—
“Niềm tiếc thương trái mùa thiêu đốt kẻ buồn đau;
Đất của người sống chẳng còn lại bao nhiêu ngày,
Hỡi người con gái kiều diễm của Toscar.”
Một trong những khoảng thời gian dễ chịu nhất của tôi là trong những trận mưa dầm kéo dài vào mùa xuân hoặc mùa thu, giam chân tôi trong nhà suốt cả buổi chiều lẫn buổi sáng, được vỗ về bởi tiếng gầm gào và rả rích không dứt của chúng; khi một buổi chớp nhoáng lúc hoàng hôn mở đầu cho một buổi tối dài đằng đẵng, nơi bao suy nghĩ có thời gian đâm chồi nảy lộc và tự khai mở. Trong những trận mưa đông bắc cuồn cuộn trút xuống thử thách những ngôi nhà trong làng đến khắc nghiệt, khi các cô hầu gái lăm lăm chổi lau và xô nước ở tiền sảnh để ngăn dòng nước lũ tràn vào, tôi ngồi sau cánh cửa trong ngôi nhà nhỏ của mình — vốn chẳng khác nào một chiếc tiền sảnh — và tận hưởng trọn vẹn sự che chở của nó. Trong một cơn giông sét dữ dội, tia chớp đã đánh trúng một cây thông ta lớn ở phía bên kia hồ, tạo ra một rãnh xoắn ốc vô cùng nổi bật và hoàn toàn đều đặn từ đỉnh xuống tận gốc, sâu chừng một inch hoặc hơn, rộng bốn năm inch, hệt như người ta đẽo rãnh trên một chiếc gậy ba-toong. Mấy hôm trước tôi lại đi ngang qua đó, và không khỏi bàng hoàng khi ngước nhìn lên và chiêm ngưỡng dấu vết ấy, nay lại càng hiện rõ hơn bao giờ hết, nơi một tia sét kinh hoàng và bất khả kháng đã giáng xuống từ bầu trời vô hại tám năm về trước. Mọi người thường bảo tôi rằng, “Tôi cứ nghĩ anh sẽ cảm thấy cô quạnh ở dưới đó, và muốn được ở gần mọi người hơn, nhất là trong những đêm ngày mưa gió hay tuyết rơi.” Tôi bị cám dỗ để đáp lại họ rằng, — Toàn bộ trái đất mà chúng ta đang sinh sống này chỉ là một điểm nhỏ trong không gian. Theo anh, hai cư dân ở xa nhau nhất trên ngôi sao kia, kẻ mà đường kính đĩa sao của nó các dụng cụ của chúng ta chẳng thể đo lường nổi, đang sống cách nhau bao xa? Cớ sao tôi phải cảm thấy cô đơn? Chẳng phải hành tinh của chúng ta nằm trong Ngân Hà hay sao? Điều anh đặt ra dường như không phải là vấn đề quan trọng nhất. Không gian nào mới là thứ chia cắt một con người khỏi đồng loại và khiến anh ta trở nên cô độc? Tôi nhận thấy rằng chẳng nỗ lực cẳng chân nào có thể kéo hai tâm hồn xích lại gần nhau hơn. Điều chúng ta khao khát nhất để được sống gần là gì? Chắc chắn không phải là đông đảo người, không phải là ga tàu, bưu điện, quán rượu, nhà thờ, trường học, tiệm tạp hóa, đồi Beacon, hay khu Five Points — nơi con người tụ tập đông đúc nhất — mà là cội nguồn vĩnh cửu của sự sống, nơi mà qua mọi trải nghiệm, ta thấy nó tuôn trào, tựa như cây liễu mọc gần nguồn nước và vươn rễ về hướng đó. Điều này sẽ khác nhau tùy theo bản tính mỗi người, nhưng đây chính là nơi mà một người khôn ngoan sẽ đào hầm rượu cho mình.... Có buổi tối nọ, tôi bắt kịp một người đồng hương trên con đường Walden — kẻ đã tích lũy được thứ gọi là “một gia tài kếch xù,” dẫu tôi chưa bao giờ thấy rõ mặt mũi nó ra sao — đang lùa một cặp bò ra chợ. Anh ta hỏi tôi làm sao tôi có thể nhẫn tâm từ bỏ biết bao tiện nghi của cuộc sống. Tôi đáp rằng tôi chắc chắn là mình thích nó ở mức độ chấp nhận được; tôi không hề nói đùa. Và rồi tôi lủi thủi về nhà lên giường đi ngủ, mặc cho anh ta tự dò dẫm bước đi trong bóng đêm và bùn lầy để đến Brighton — hay Bright-town — một nơi mà có lẽ phải đến tận sáng hôm sau anh ta mới tới nơi.
Bất kỳ viễn cảnh thức tỉnh hay hoàn sinh nào đối với một kẻ đã chết đều khiến mọi thời gian và không gian trở nên dửng dưng. Nơi chốn diễn ra điều đó luôn là một, và mang lại niềm vui khôn tả cho mọi giác quan của chúng ta. Phần lớn thời gian chúng ta chỉ để cho những hoàn cảnh bề ngoài và phù du tạo nên dịp may cho mình. Kỳ thực, chúng chính là nguyên nhân gây ra sự phân tâm của ta. Gần gũi nhất với vạn vật chính là quyền năng tạo nên bản thể của chúng. Sân sau của chúng ta là những định luật vĩ đại nhất vẫn đang không ngừng được thi hành. Sân sau của chúng ta không phải là người thợ mà ta đã thuê mướn, kẻ mà ta rất đỗi yêu thích chuyện trò, mà là người thợ đã tạo ra chính chúng ta.
“Thật bao la và sâu sắc làm sao ảnh hưởng của những linh lực huyền vi từ Trời và Đất!”
“Ta tìm cách cảm nhận chúng, nhưng chẳng thấy chúng; ta tìm cách lắng nghe chúng, nhưng chẳng nghe thấy chúng; hòa nhập vào bản chất của vạn vật, chúng chẳng thể bị tách rời khỏi vạn vật.”
“Chúng khiến cho khắp chốn vũ trụ, con người biết tịnh hóa và thánh hóa tâm hồn, khoác lên mình những bộ xiêm y lễ hội để dâng lên các bậc tổ tiên nhữngh lễ vật và vật hiến tế. Đó là một đại dương của những trí tuệ huyền vi. Chúng hiện diện ở khắp mọi nơi, ở trên ta, bên trái ta, bên phải ta; chúng bao vây ta từ mọi phía.”
Chúng ta đang là đối tượng của một cuộc thí nghiệm đầy lý thú đối với tôi. Liệu chúng ta có thể sống thiếu đi bầu bạn của những kẻ hay lê đôi gót trong chốc lát dưới những hoàn cảnh này hay không — để những suy nghĩ của riêng ta sưởi ấm chính mình? Khổng Tử đã nói rất đúng rằng, “Đức không bỏ mặc, tất phải có lân cận.”
Bằng suy ngẫm, ta có thể tự tách rời khỏi chính mình theo một nghĩa minh mẫn. Bằng một nỗ lực có ý thức của tâm trí, ta có thể đứng ngoài những hành động và hệ lụy của chúng; và vạn vật, dù tốt hay xấu, đều trôi qua trước mắt ta như một dòng thác. Ta không hoàn toàn bị cuốn vào Tự nhiên. Ta có thể là mẩu gỗ trôi dạt trên dòng sông, hoặc vị thần Indra trên cao nhìn xuống dòng nước ấy. Ta có thể bị tác động bởi một buổi biểu diễn kịch nghệ; mặt khác, ta có thể chẳng mảy bận tâm trước một sự kiện thực tế vốn dường như liên quan mật thiết đến mình hơn nhiều. Tôi chỉ biết bản thân mình như một thực thể con người; có thể gọi là sân khấu của tư tưởng và tình cảm; và cảm nhận được một sự phân thân nào đó nhờ đó tôi có thể đứng cách xa bản thân mình hệt như cách tôi đứng xa một người khác. Dù trải nghiệm của tôi có mãnh liệt đến đâu, tôi vẫn ý thức được sự hiện diện và soi xét của một phần trong tôi — thứ dường như không phải là một phần của tôi, mà là một khán giả, không chia sẻ trải nghiệm nào, nhưng lại ghi chép lại tất cả; và kẻ đó chẳng phải là tôi hơn là bạn. Khi vở kịch, có thể là một bi kịch của cuộc đời hạ màn, người khán giả sẽ cất bước ra đi. Đối với anh ta, đó chỉ là một dạng hư cấu, một tác phẩm của trí tưởng tượng mà thôi. Sự phân thân này đôi khi có thể dễ dàng khiến chúng ta trở thành những người hàng xóm tồi và những người bạn kém cỏi.
Tôi thấy việc ở một mình trong phần lớn thời gian là điều lành mạnh. Việc giao du, ngay cả với những người tuyệt vời nhất, cũng sớm trở nên mệt mỏi và tản mác. Tôi yêu sự cô độc. Tôi chưa từng tìm được người bạn đồng hành nào mang lại nhiều sự đồng hành bằng chính sự cô độc. Phần lớn thời gian, chúng ta cảm thấy cô đơn hơn khi bước ra chốn đông người so với lúc ngồi trong căn phòng nhỏ của mình. Một con người đang suy nghĩ hay làm việc luôn luôn ở một mình, mặc cho anh ta đang ở bất cứ đâu. Sự cô độc không được đo lường bằng những dặm không gian cách trở giữa một người và đồng loại của anh ta. Một học giả thực thụ miệt mài trong một trong những tòa nhà đông đúc của Đại học Cambridge cũng cô độc chẳng khác nào một tu sĩ đạo dòng xoay trong sa mạc. Người nông dân có thể làm việc một mình ngoài đồng hay trong rừng suốt cả ngày, cuốc đất hay chặt củi, mà không hề cảm thấy cô quạnh, bởi vì anh ta đang bận rộn; thế nhưng khi đêm về nhà, anh ta không thể ngồi một mình trong phòng, mặc cho dòng suy nghĩ đày ải, mà phải tìm đến nơi có thể “nhìn thấy mọi người,” để giải trí, và theo suy nghĩ của mình là để đền bù cho sự cô độc cả ngày; và do đó anh ta tự hỏi làm sao mà cậu học sinh có thể ngồi một mình trong nhà suốt cả đêm lẫn ngày mà không bị buồn chán và “trầm uất;” thế nhưng anh ta không nhận ra rằng cậu học sinh ấy, dẫu ngồi trong nhà, vẫn đang làm việc trên cánh đồng của mình, và chặt củi trong khu rừng của mình hệt như người nông dân, và rồi cũng tìm kiếm sự giải trí và bầu bạn giống như người nông dân kia, dẫu có thể dưới một hình thức cô đọng hơn.
Giao tế xã hội thường quá rẻ múng. Chúng ta gặp nhau sau những khoảng thời gian ngắn ngủi, chẳng có lấy thời gian để tích lũy thêm chút giá trị mới mẻ nào dành cho nhau. Chúng ta gặp nhau bên mâm cơm ba bận mỗi ngày, và nếm lại miếng phô mai mốc meo cũ kỹ mà chính chúng ta là kẻ đó. Chúng ta buộc phải thỏa thuận với nhau về một tập hợp các quy tắc gọi là phép xã giao và sự lịch thiệp, để việc gặp gỡ thường xuyên này trở nên có thể chịu đựng được và để chúng ta không phải lao vào một cuộc chiến tranh công khai. Chúng ta gặp nhau ở bưu điện, ở các buổi tiệc tùng, và quây quần bên lò sưởi mỗi đêm; chúng ta sống chen chúc và ngáng đường nhau, dẫm đạp lên nhau, và tôi nghĩ rằng nhờ thế mà chúng ta đánh mất đi phần nào sự kính trọng dành cho nhau. Chắc chắn là sự thưa vắng hơn thế sẽ là đủ cho mọi cuộc giao tiếp quan trọng và chân thành. Hãy ngẫm về những nữ công nhân trong nhà máy — chưa bao giờ được ở một mình, thậm chí hiếm khi được độc lập ngay cả trong giấc mơ. Sẽ tốt hơn biết mấy nếu mỗi dặm vuông chỉ có một cư dân sinh sống, giống như nơi tôi đang ở. Giá trị của một con người không nằm ở lớp da thịt để chúng ta phải chạm vào anh ta.
Tôi từng nghe về một kẻ lạc vào rừng sâu, chết vì đói khát và kiệt sức dưới gốc cây, sự cô độc của hắn đã được khuây khỏa bởi những ảo ảnh kỳ quái do thể trạng suy nhược tạo ra xung quanh trí tưởng tượng bệnh hoạn của hắn, và hắn đã đinh ninh đó là thật. Tương tự như vậy, nhờ có sức khỏe và thể lực lẫn tâm thần tráng kiện, chúng ta có thể không ngừng được cổ vũ bởi một bầu bạn tương tự nhưng bình thường và tự nhiên hơn, để rồi nhận ra rằng chúng ta không bao giờ cô độc.
Tôi có rất nhiều bầu bạn trong ngôi nhà của mình; nhất là vào buổi sáng, khi chẳng có ai ghé thăm. Cho phép tôi gợi ý một vài sự so sánh, để phần nào hình dung được hoàn cảnh của tôi. Tôi chẳng hề cô đơn hơn con chim lặn gavia trong hồ cất tiếng cười vang dội, hay hơn chính Hồ Walden ấy. Thưa ngài, cái hồ cô độc ấy thì có bạn bè nào cơ chứ? Thế nhưng nó chẳng hề mang trong mình nỗi buồn quạnh quẽ, mà chứa đựng những thiên thần xanh trong sắc nước xanh biếc của nó. Mặt trời đứng một mình, ngoại trừ những khi trời mây mù dày đặc, đôi khi xuất hiện đến hai mặt trời, nhưng một cái chỉ là mặt trời giả. Chúa Trời đứng một mình — nhưng ác quỷ thì khác xa với sự đơn độc; hắn ta giao du rất rộng; hắn là cả một quân đoàn. Tôi chẳng hề cô đơn hơn một nhành hoa kim tiền hay bồ công anh đơn độc nơi đồng cỏ, hay một chiếc lá đậu, hay chua me đất, hoặc một con ruồi ngựa, hay một con ong nghệ. Tôi chẳng hề cô đơn hơn dòng suối Mill Brook, hay chiếc chong chóng gió, hay ngôi sao bắc đẩu, hay ngọn gió nam, hay một trận mưa tháng Tư, hay một cơn ấm tháng Giêng, hoặc con nhện đầu tiên trong một ngôi nhà mới.
Thỉnh thoảng vào những đêm đông dài dằng dặc, khi tuyết rơi dày đặc và gió gào thét trong rừng, tôi nhận được những chuyến thăm từ một vị lão bối định cư đời đầu và là chủ nhân nguyên thủy của vùng đất — người mà theo lời đồn chính là kẻ đã đào Hồ Walden, xếp đá viền quanh nó, và phủ đầy bờ hồ bằng những cánh rừng thông; người kể cho tôi nghe những câu chuyện về thời cổ đại và cõi vĩnh hằng mới mẻ; và giữa chúng tôi, chúng tôi xoay sở để trải qua một buổi tối vui vẻ với niềm vui giao tế cùng những cái nhìn tốt đẹp về vạn vật, dẫu chẳng có táo hay rượu táo — một người bạn vô cùng thông thái và hài hước, kẻ mà tôi vô cùng yêu mến, người giữ kín tung tích của mình hơn bất kỳ ai từng làm như Goffe hay Whalley; và dẫu người ta cho rằng ông đã qua đời, chẳng ai có thể chỉ ra nơi ông được chôn cất. Một bà lão cao niên cũng sống trong khu xóm của tôi, vô hình đối với hầu hết mọi người, trong khu vườn thảo mộc ngào ngạt hương thơm của bà, tôi thích thỉnh thoảng dạo bước, thu lượm những vị thuốc đơn sơ và lắng nghe những câu chuyện ngụ ngôn của bà; bởi vì bà có một trí tuệ phong phú khôn sánh, và trí nhớ của bà kéo dài ngược về tận thời thần thoại, và bà có thể kể cho tôi nghe nguồn gốc của mọi câu chuyện ngụ ngôn, và câu chuyện ấy được xây dựng trên sự thật nào, bởi những biến cố đó đã xảy ra khi bà còn trẻ. Một bà cụ hồng hào và vạm vỡ, người luôn vui thú với mọi thời tiết và mùa màng, và có lẽ sẽ sống thọ hơn tất cả những đứa con của mình.
Sự ngây thơ và lòng nhân hậu không thể diễn tả bằng lời của Tự nhiên — của ánh mặt trời, gió và mưa, của mùa hè và mùa xuân — thứ sức khỏe, niềm vui sướng ấy, chúng ban tặng mãi mãi! và chúng có sự đồng cảm sâu sắc với giống loài chúng ta đến mức toàn bộ Tự nhiên sẽ phải rung động, ánh sáng mặt trời sẽ phai nhạt, những cơn gió sẽ thở dài đầy tính nhân văn, những đám mây sẽ tuôn rơi giọt lệ, và những cánh rừng sẽ trút lá khoác lên mình tang phục vào giữa mùa hè, nếu như có bất kỳ con người nào vì một lý do chính đáng mà đau buồn. Lẽ nào tôi lại không có sự giao cảm với trái đất? Lẽ nào chính tôi cũng một phần là lá và lớp mù thực vật hay sao?
Đâu là viên thuốc sẽ giữ cho chúng ta khỏe mạnh, thanh thản và mãn nguyện? Không phải của ông cố tôi hay ông cố của anh, mà là những dược thảo vạn năng, thực vật, thuộc về tự nhiên của bà cố chúng ta — thứ đã giúp bà luôn giữ được vẻ trẻ trung muôn thuở, sống thọ hơn bao nhiêu lão Parr trong thời đại của bà, và nuôi dưỡng sức khỏe bằng lớp mỡ đang hoai mục của họ. Để làm phương thuốc trị bách bệnh cho tôi, thay vì một trong những chiếc lọ lang băm đựng thứ hỗn hợp múc từ sông Acheron và Biển Chết, vốn xuất hiện từ những chiếc xe ngựa dài nông màu đen mà đôi khi ta thấy được dùng để chở chai lọ, hãy cho tôi một ngụm không khí ban mai nguyên chất. Không khí ban mai! Nếu con người không chịu uống thứ này tại nguồn cội của một ngày, chà, vậy thì chúng ta đành phải đóng chai một ít và bày bán trong các tiệm, để làm phúc cho những ai đã đánh mất chiếc vé thuê bao đến với thời gian ban mai trong thế giới này. Nhưng hãy nhớ rằng, nó sẽ không giữ được lâu cho đến tận giữa trưa dẫu trong căn hầm mát mẻ nhất, mà sẽ làm bật tung những nút bắp trước thời điểm ấy rất lâu và dõi theo những bước chân của nữ thần Rạng Đông về hướng tây. Tôi không phải là kẻ sùng bái Hygeia — vị nữ thần vốn là con gái của lão thầy thuốc cổ Asclepius, và được tạc tượng trên các đài kỷ niệm với một tay cầm con rắn, tay kia cầm chiếc chén mà đôi khi con rắn uống nước từ đó; mà tôi sùng bái Hebe hơn, người dâng rượu cho thần Jupiter, vốn là con gái của Juno và rau diếp dại, người có quyền năng phục hồi sức trẻ sung mãn cho các vị thần và loài người. Nàng có lẽ là thiếu nữ duy nhất có thể trạng hoàn toàn tráng kiện, khỏe mạnh và vạm vỡ từng bước đi trên quả địa cầu này, và bất cứ nơi nào nàng đặt chân đến, nơi đó liền hóa thành mùa xuân.