Chiến Trận

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 24 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

Từ sáng sớm, ông đã chiếm giữ chiếc ghế bành sau một lúc đi dạo trên sườn đồi, giữa mùi thơm tinh tế, dịu mát yên tĩnh của bình minh trước khi lũ ve réo lên inh ỏi – cuộc dạo chỉ dài hơn đường vòng quanh nhà một chút có tính chất tìm hiểu nghiên cứu. Mỗi cây, mỗi con bướm đều có tên, ít ra là trong số những tên ông xác định được trong cuốn từ điển bách khoa toàn thu Larousse. Không những chú ý tới thực vật – vườn nhà ở Riancé là một mớ hỗn tạp lớn – ông còn tìm cách đi đường vòng để hướng dẫn lũ trẻ. Dắt một trong số các cháu đi dạo, ông chỉ đầu gậy vào một cây, bào là “sariette” rồi đắm chìm trong suy nghĩ. Với phong cách của nhà tự nhiên học, việc truyền thụ kiến thức hiểu ấy cho thấy ông đã hoàn thành vai trò của nhà giáo dục. Vậy, phỏng có ích gì khi yêu cầu ông dạy bả các cháu tốt hơn, nhất là lại càng không nên để ông dạy xướng âm cũng như những khái niệm cơ sở về đàn piano cho lũ trẻ mà Luice đã gợi ý.

Sau buổi dạo, trong chiếc áo trắng và cái quần vải, ông ngồi vào chiếc ghé. Suốt buổi sáng, ông ngồi đọc báo, bắt đầu trò chơi ô chữ mà Luice đã kết thúc từ tối trên giường, dùng mũi gậy vạch trên đất một hình tròn mà ông chính là tâm và vẫn từ chiếc gậy – một chiếc gậy tre mềm mại trong bộ sưu tập của chàng rể - với những chiếc lá khô, xếp thành hình những kim tự tháp nhỏ hoặc làm trệch hướng đi của đàn kiến. Chiếc mũ panama sụp xuống tận mắt nhằm làm tăng độ sáng, ông nhìn ra phía trước, bỏ mũ đáp lại lời chào từ xa của một người trong vùng. Không một ai đi qua con đường dẫn ra cánh đồng nho hay khu trồng sồi lại không có thái độ nhã nhặn, lịch sự với ông. Vẻ bề ngoài của ông già Trung hoa thản nhiên dưới bóng cây biểu lộ sự mẫu mực trước những con người đang vội vã. Ông là cái trục cho cả gia đình xoay quanh. Một công nhân hỏi Djon vì máy kéo bị hỏng, ông chỉ ngay nơi Djon đang có mặt. Và nếu John ở trong nhà, ông làm người đưa tin, cao giọng gọi: “Jeannot, có người hỏi anh đấy, vẫn chuyện cái máy kéo”. Làn khói thuốc ông nhà ra nhởn nhơ một thoáng, bị vành mũ chặn lại, bao quanh ông vầng khói trắng tan dần. Giữa lúc ông đang mơ màng, một chút tàn thuốc rơi xuống chiếc quần vải. Ông thận trong nhón lên để lên bìa các tông cuốn nhật ký rút ra từ túi áo sơ mi (ông ghi trong đó, giữa muôn vàn thứ, những phát hiện về cây cỏ) rồi trút vào chiếc gạt tàn đặt bên cạnh, trên khúc gỗ tròn. Thấy ông không làm gì, bà mang đến một rổ hạt đâu tầm để bóc vỏ, dụng ý là ít ra cũng dùng được việc gì đó. Bà đan và bắt ông chìa hai cánh tay để cuộn sợi. Nhưng ông cũng chỉ tỏ ra ngoan ngoãn mẫu mực trong ít phút chẳng qua khỏi phải ngẩng lên để nghe cô con gái quát tháo ông đã quên không dụi tắt hẳn mẩu thuốc lá trước khi vứt xuống bãi cỏ. Dì Lucie vội vã đưa chân dập mạnh lên đầu mẩu thuốc lá tội lỗi chẳng khác gì thánh George đạp lên cổ rồng. Dường như như thế chưa đủ, dì còn chỉ cho ông những gốc cây cháy đen trên đồi, dấu vết khủng khiếp của thảm họa kinh hoàng đã xảy ra hồi hè năm trước khi bức tường bốc lửa ngùn ngụt cách nhà dì chừng 200 mét được dập tắt, nó gợi lại cái đêm rực sáng bởi hàng nghìn lò than đỏ rực thiêu đốt như một đạo quân tham gia chiến dịch đóng quân dã ngoại trên các ngọn đồi, tiếng cây đổ nghe dễ sợ và giờ đây, vào lúc sáng sớm, ở khu đồi bị tàn phá ấy, vẫn còn phảng phất mùi bánh cháy. Dì nói rất có thể thảm họa đó cũng chỉ do một mẩu thuốc lá vứt đi như của ông gây ra. Ông già ân hận như thể chính ông đã nổi lửa thiêu sống Jeanne d’Arc[1]. Đấy Luice đã nói rồi đó (bà ngoại tỏ ra đắc thắng), không cẩn thận ông sẽ nướng tất cả chúng tôi bằng những mẩu thuốc lá của ông, rồi bà rượt theo Lucas, cậu con út của Lucie. Thằng bé trần truồng đang chạy chơi trong vườn. Nó hét lên mỗi khi bà bắt nó phải xỏ chân vào chiếc quần tắm bé tí màu xanh bà cầm trên tay. Có lẽ hai bà cháu sẽ cứ tiếp tục đuổi nhau nếu như bà không túm được Lucas nhỏ bé, vàng từ đầu đến chân, cái chim nhỏ xíu gắn chắc như một cái chốt, miệng lúc nào cũng la hét. Định lánh nạn bên cạnh ông ngoại, cậu rút kẹp vòng chạy nhưng chợt nhớ ra tên các con bướm, các bông hoa làm cậu khiếp sợ. Điều có giá với cậu là từ chối sự hiểu biết, một thứ tai họa. Thực tế, ông ngoại không tham sự vào tấm thảm kịch tới mức làm đứa bé khóc ré lên, báo hiệu như một trong những nỗi bất công của con người. Tóm lại, ông sủng ái sự lãnh đạm rất đông phương, nếu như ai đó nghĩ về những tu sỹ đạo phật vặn cổ những con mèo nhằm đặt kỷ cương của họ trên con đường trống rỗng (thì con mèo nghĩ gì về điều đó?).

Ông ngoại thường rời “trạm gác” vào giờ ăn trưa và giờ ngủ trưa kéo dài tới tận giữa buổi chiều khi ngọn gió thốc cuồn cuộn như dưới họng súng phun lửa. Và ông trở lại “trạm” vào lúc tiệc trà, theo lối nhượng bộ của người Anh của bà mà bà chỉ vi phạm vào dịp uống cà phê sữa – điều này gộp phần vào việc thay đổi cái tên áp đặt cho người con rể. Sau đó, dưới bóng râm, trên sân quần được quét tước cẩn thận, họ tranh cãi về các hiệp đấu. Trong các cuộc tranh chấp, họ trịnh trọng mượn ông chiếc gậy, với tài phân xử ứng biến mà chỉ riêng sự hiện diện của nó đã khiến cho những người chơi có ý thức đúng đắn. Đêm đến, đàn muỗi bay ra xua đuổi Thánh Louis của những vận động viên quần vợt ra khỏi bóng cây của chúng.

Một buổi sáng, chiếc ghế bành bỗng bỏ trống không.

Càng về trưa, bà ngoại càng bồn chồn rộn rạo, đi đi lại lại quanh cây keo. Những người thức dậy đầu tiên nhận ra sự thiếu vắng như một khiếm khuyết hay hay của nghi lễ. Còn bà âm thầm lo lắng. “Alphonse đi dạo chưa về ư?” hoặc “Ông có thấy ông nhà tôi đâu không?” Thậm chí bà còn an ủi cậu bé Lucas đang chơi với bảng đồ chơi của con người sống hòa nhập tuyệt vời với thiên nhiên, cậu là nhân chứng luôn được ưu đãi ở mọi nơi, nhưng thằng bé nghĩ là bà nó đang giăng một cái bẫy, một âm mưu nên quàng chân lên cổ chạy biến mất. Bà đuổi theo định giải thích để nó khỏi hiểu lầm: “Bà chỉ muốn biết ông đang ở đâu thôi”, song thằng Lucas như con mèo bị nhúng nước sôi, không muốn nghe gì hết: nếu lần này không vì chuyện mặc áo may-ô thì cũng vì một bài lên lớp. Những câu trả lời của mọi người cũng không cho biết thêm được gì, tới trưa, cả khu ổ chuột ở trong tình trạng báo động.

John đã theo con đường thường ngày bố vợ vẫn qua. Vòng dạo buổi sáng của ông ngoại bắt đầu từ nhà ra phía sau quả đồi, giữa những cây sồi lá bần, dọc theo dòng suối cạn bên bờ có nhiều cây sậy, qua cánh đồng nho và bán quần hệ sồi – cây bụi ở miền Nam này, nơi ông trau dồi những kiến thức cơ bản về thực vật học. Vừa lần theo đường đi vừa để ý, nhưng John không thấy gì. Bà linh cảm có điều chẳng lành đã xảy ra, Bà mường tượng rằng ông bỗng nhiên bị bệnh, bất tỉnh ở một nơi ngoài con đường mà ông đã tránh vì những cái cây chết tiệt của ông, rằng ông, người chưa hề phân biệt nổi cây mùi tây với lá cà rốt, bị rắn cắn, sức quá yếu không thể kêu cứu hoặc ở quá xa, cẳng chân tím đen do một trong những con ong kỳ quái to bằng ngón tay ở đây thường gọi là những “trái bom” đốt và nọc của nó có thể gây tử vong hoặc ông bị bệnh đái đường mà không ai cho là thực và thuốc chữa chạy lại là một vài viên đường cho tách cà phê buổi sáng và vô số kẹo ăn rải rác trong ngày, dưới tác động của cái nóng, căn bệnh càng trầm trọng, đường tràn vào máu và nước tiểu, hoặc ông đang nửa mê nửa tỉnh, tháo bỏ cuốn phim cuộc đời, nằm giữa đám thảo mộc ngát hương, mắt hướng về bầu trời cao xanh như có tiếng gọi ông bay vào khoảng không thăm thẳm của vũ trụ - và trong giây phút cuối cùng, khoác tay người tình thời 1912 tìm hiểu những cây sim, cây mua, cây cúc gai trong tiếng đàn vĩ cầm du dương bay bổng và tiếng ve ngân.

Mọi công nhân trong vùng, đa số là cựu chiến binh địa phương, đã được huy động. Ai cũng nhiệt tình tìm kiếm ông Burgaud. Bà ngoại yêu cầu sục sạo mọi bụi cây, mò các bể nước, lần theo những con đường hoang vắng. Bà muốn hết thảy phải được nhìn cho thật kỹ và nếu thấy Alphonse bị rắn cắn thì tốt nhất không nên để ông ấy đi vì như thế máu sẽ chảy ra nhiều hơn, thật nguy hiểm. Mà nên kêu to lên để mọi người mang huyết thanh đến. Bà bảo mỗi người hãy mang theo còi, kèn, trống hoặc có thể cất vang điệu hát của thầy tu báo kinh hay tiếng kêu của người tiều phu như để báo tin, như vậy sẽ tiết kiệm được từng giây quý giáBà chia khu vực cần tìm thành bốn phần, phân mọi người thành bốn nhóm. Bà đích thân chỉ huy chiến dịch, thỉnh thoảng hỏi ý kiến John và John vui vẻ tán đồng. Tất cả đàn quân tiến lên theo chiến thuật đã định. Một vài thợ săn lợn rừng, một số thợ săn người Uy-rông[2] chính hiệu xứ Maures đã huênh hoang họ thạo vùng này như lòng bàn tay và trước mặt bà, họ bốc đồng: “Bà cứ yên trí, thưa bà Burgaud, chúng tôi sẽ đưa ông nhà về cho bà”.

Nhưng họ chẳng đưa về được gì cả. Lúc ba giờ chiều, nhóm cuối cũng trở về thất bại. Thật khó xử, thời tiết vào mùa này thường rất dễ gây ra hỏa hoạn. Mấy hôm trước tình hình yên ổn song nay những luồng gió mạnh, khô lại về nên phải gọi lính cứu hỏa.

Khi nhưng chiếc xe jeep đỏ và xe tải ứng cứu đầu tiên xếp thành hàng một trên đường thì một người đàn ông nhỏ bé đội mũ, mặc quần áo sáng màu đi kiểm tra việc dàn quân oai nghiêm ngày. Chiếc xe ca, vì chiếu cố đặc biệt với người cao tuổi, đã thả ông xuống trước lối đi có đánh dấu bằng những cây bách. Mãi nhìn quang cảnh, ông không kịp nghĩ tới việc dập tắt điếu thuốc lá mới hút được phân nữa đang ngậm trên môi. Đề phòng mọi bất trắc, ông giấu mẩu thuốc vào túi, rồi lấy cây gậy tre nâng một góc vải bạt che chiếc cáng bỏ không. Ông thấy hình như mọi người náo động cả lên ở trước ngôi nhà có kê cái bàn dài của người hái nho. Những chiếc cốc được rót đầy rượu hồng lấp hình dưới bóng nắng hoàng hôn. Cách đó một quãng, một toán lính tình nguyện xúm quanh ông đội trưởng. Tất cả đều nhìn về phía những ngọn đồi, theo ngón tay chỉ của con người bó chặt trong bộ quần áo da dày cộp. Vì thế không ai để ý tới người mới đến đang tiến về phía họ, nghe ngóng, và lợi dụng lúc yên lặng. đánh liều hỏi một câu: “Có cháy à ?”

Gần bảy giờ tối. Hàng chục phụ tá tình nguyện tìm thấy ông ngoại.

Khí hiểu ra mọi phiền toái này đều do mình gây nên, ông lẩn vào nhà, giam mình trong đóMột số người có lẻ muốn biết vì cớ gì họ phải mất cả buổi chiều, coi thái độ của ông như vậy là quá đáng. John cảm thấy đã tới lúc phải mở bình rượu hồng thứ hai, xin lỗi mọi người về sự loạn trí của ông ngoại. Thế rồi họ kể ra một lô xích xông những trường hợp đảng trí, loạn trí đi lang thang, đến tên mình cũng chẳng còn nhớ vì những cú sốc tinh thần, do sung huyết nhũn não. Và cả gia đình, ai cũng hấp tấp muốn đến thăm dò cái gọi là mất trí của ông cụ.

Dì Lucie làm ầm làm ĩ hồi lâu trước cửa phòng ông ngoại. Mãi sau ông mới quyết định mở cửa(bà ngoại phải phái cô con gái tới vì ngờ rằng chính bà cũng chẳng cạy răng ông được). Ông nói ông đã qua một ngày ở Hyères, mà phần lớn thời gian là ở vườn bách thảo bởi lẽ ông đã khai thác hết những nguồn cây trong rừng, thấy cần phải mở mang thêm tầm hiểu biết, và ông bắt đầu nghiên cứu các loài khác, tìm hiểu hệ thực vật nhiệt đới và với chuyên mục này, ông thấy ở đó rất nhiều điều kỳ thú. Ông mô tả cây đa với những chùm rễ khí sinh, cây cù tùng đồ sộ nguồn gốc California, tên của một thủ lĩnh da đỏ nổi tiếng, cây phượng vĩ với những tán lửa đỏ - như cái tên nó vậy. Ông liệt kê một danh sách dài những cây kỳ lạ của khu vườn, và rồi hình như cảm thấy có điều gì đó quá đáng nên ông bực mình, cáu giận. Nhưng mà sao nào, ông có bị cấm đi dạo đâu ? Về việc này thì mọi ông đều đồng ý, và đề nghị lần sau đi đâu ông nên cho biết trước. Hay là ông có điều gì giấu giếm ? Hay ông có quan hệ với một phụ nữ nào đó ?Người phụ nữ đó, bằng thứ ngôn ngữ được mã hóa trong suy nghĩ của chúng tôi, là một người mạnh khỏe, đầy sức quyến rũ, chắc chắn là vậy. Trong khi bà chỉ giống người đó rất ít: hiển nhiên, người đàn bà đó còn rất trẻ, rất gợi tình, bởi lẽ sự tươi mát bao giờ cũng sóng đôi với vẻ duyên dáng nhưng không thể là xinh dẹp, ngay cả với những sáo ngữ cũ kỷ nhất - và hiện tại, bà già khốt này, bước đi ngúng nguẩy, da mặt nhăn nheo, thân hình chẳng còn cân đối giấu trong chiếc áo váy rộng thùng thình in hình sặc sỡ. Phải có hàng mớ trí tưởng tượng mới dám đặt tình yêu ở đó - trong khi người đàn bà ỏ Hyères, chắc chắn là trẻ hơn hoặc có một cái gì đó tuyệt diệu, một gót chân mịn màng chẳng hạn mà thời gian thường không thể nào hủy hoại nó, sự trẻ trung này đôi khi vẫn nguyên vẹn dưới chân các bà già, cái xương giữ cẩn thận cho làm da căng phủ lên nó, nhờ công hiệu của phép đề dụ, chỉ cần tập trung toàn bộ ham muốn theo tôn giáo, và tự thôi miên, để có thể yêu người đàn bà đó suốt đời. Nhưng gót chân thô kệch của bà rơi thẳng vào trong giầy, lúc nào cũng quấn kín, ngay cả khi trời nóng nực, những đôi tất màu lông chuột pha chút sắc tím bởi vì bà nghi ngờ cái màu trắng của đùi mình, một màu trắng như sữa của tấm thân, như những con vật mù, tái nhợt sống trong những hang sâu nhất không khi nào có ánh mặt trời. Làm thế nào để chống lại người đàn bà bí ẩn ở Hyères với tấm thân được nước biển nuôi dưỡng từ mấy chục năm qua?

Câu trả lời còn chờ bà ngày hôm sau lục lọi các túi áo khoác của ông. Người hùng của ngày hôm trước lại an tọa dưới cây keo như không có gì xảy ra, nhờ sự kiện này, chứ nếu không, ông đã yêu cầu mọi người thu dọn mấy cái bàn thu hoạch nho làm vướng tầm nhìn của ông, nhưng ông cho rằng tốt hơn hết là quên nó đi và không nói gì cả, ông bằng lòng xê dịch chiếc ghế bành. Đối tượng chăm chút của ông là những cây nho và rừng sồi. Trên đường đi, ông khó chịu khi phải đáp lại lời chào của mọi người vì họ có vẻ cười trộm, lo lắng cho sức khỏe của ông. Phần đông trong số ấy đã tham gia tìm kiếm ông và hình như không thù oán ông. Ông Burgaud trở lại “trạm gác”, cuộc sống lại tiếp tục hành trình êm ả, làm rạng rỡ chuỗi mộng mơ dị thường của ông.

Bà không muốn để người ta nghĩ bà có thói quen lục soát túi chồng. Bà không phải loại người như vậy. Song cần phải xem xét những tình huống và đây, những cái gọi là lời thú tội kỳ quặc đã làm này sinh những mối ngờ vực. Vả lại, những nghi ngờ hoàn toàn được làm rõ: bà chỉ cho Lucie mỗi mẩu bìa các-tông màu hồng hình chữ nhật, một chiếc vé ghi ngày và nơi đến, một chiếc vé khứ hồi tới đảo Levant[3] thiên đường của những người yêu thiên nhiên, tấm vé đã tố cáo kẻ bỏ nhà ra đi.

Từ trên bờ, bà thường được ông chỉ cho hòn đảo huyền thoại, hòn đảo tai tiếng và hòn đảo thứ ba ở phía đông Porquerolles, và Port-Cros, âm thầm thèm muốn đến nổi bà không tự cho mình có quyền ném đá vào ông già. Vả lại, cái tin này lại làm ông thích thú. Chúng tôi thán phục lòng can đảm của ông. Về phần ông, chẳng có chi làm chúng tôi ngạc nhiên cả: Tinh thần tự do, những cuộc dạo chơi đơn độc, làm chán chường người thân trong những cuộc kiếm tìm. Có lẽ chỉ có một người đi tìm chỗ giải sầu kiểu ấy, người đó chỉ có thể là ông. Chúng tôi hình dung ông đang đi thị sát trên đảo, dáng điệu về kiểu cách, thái độ dửng dưng, miệng rít thuốc nhưng cặp mắt đầy nếp nhăn lại dán vào những thân hình đàn bà lõa thể, những cặp vú đủ kiểu dáng, da thịt đầy nhục cảm. Hít hà làn da rám nắng sực nức mùi kem chống nắng và trên con tàu trở về dần xa hòn đảo. Ông bịa ra những lòi tầm phào để đối phó với chúng tôi như; rễ khí sinh, vầng hoa lửa - đó, ông dám làm như vậy đó. Nhưng cuộc đi tìm chốn xả hơi này để lại mộng mơ. Như thể là ông già ngầm nhận một giấy ủy quyền để tận hưởng quãng đời còn lại. Cứ đà này, người ta cho rằng ông vì quá si tình mà sống lâu hơn bà. Ông sẽ cưới vợ lần nữa giống như người bạn của ông những năm học ở Paris, khi cả hai mới 20 tuổi, không một xu dính túi, nhận vỗ tay thuê ở rạp để được xem hòa nhạc. Người bạn ấy, khi vợ mất, vội lấy ngay bà vợ hai, làm đám cưới muộn màng với một phụ nữ đã tới tuổi 50. Nhưng chẳng lẽ điều đó đã gợi cho ông già hồi sinh niềm khích lệ thời 1912 của mình ?

Bà không muốn gây chuyện. Bà dặn tất cả đừng tiết lộ việc này, hãy ỉm đi những điều đã biết. Thế rồi, chưa đầy một năm sau, như để nhanh chóng thực hiện giấc mơ già nua ở đảo Cythère, ông qua đời, mang theo điều bí mật của riêng mình - một buổi tối, trong căn phòng nhỏ, bừa bộn đến nỗi mọi người phải chuyển chiếc đàn piano để đưa chiếc quan tài vào - nhưng tình yêu, tất nhiên còn tồn tại.

❀ ❀ ❀

[1] Jeanne d’Arc: nữ anh hùng Pháp được phong thánh, sinh ở Domrémy (1412-1431), bị thiêu sống trên giàn hỏa vào ngày 30 tháng 5 năm 1431 tại Rouen.

[2] Huron: Bộ lạc da đỏ sống trên bờ hồ Ontario (Canada) vàHuron. Bộ lạc có quan hệ với người Pháp.

[3] Đảo Levant: Nằm trong quần đảo Hyères ở Đại Trung Hải.

n Học Năm xuất bản: 1993 Số trang: 216 Khổ sách: 13 x 19 cm Đánh máy: Thùy An, Hoàng Kim, Kim Phượng, Thuận Thiên Kiểm tra: Thái Thanh Chế bản ebook: Thảo Đoàn Ngày thực hiện: 10/9/2011 Making Ebook Project #177 - www.BookaholicClub.com
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Jean Rouaud

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.