Chính Ngọ Cố Sự 2: Nơi Này Không Nên Ở Lâu

Lượt đọc: 179 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 15

❊ ❊ ❊

Không nhớ là năm nào nữa, hình như tôi hãy còn nhỏ, tôi nghỉ hè ở nhà ngoại. Có một hôm trong nhà chỉ có hai người là tôi và ngoại. Hai bà cháu ngủ chung một chiếc giường, không phải căn phòng không có cửa sổ của ông bà ngoại, mà là một căn phòng có cửa sổ cất thêm ở phía sau.

Đêm hôm ấy, trăng sáng vô cùng, tôi có thể nhìn thấy ánh trăng sáng tỏ bên ngoài qua cửa sổ. Tôi giơ tay đặt trước mắt, thế nhưng lại tối đen như mực. Bỗng nhiên tôi cảm thấy sợ hãi. Ngoại đang ngủ say bên cạnh. Thế mà tôi cách nào cũng không sao ngủ được, bắt đầu miên man suy nghĩ lung tung. Những nấm mồ cứ lảng vảng trước mắt tôi. Tôi nghĩ đến chuyện, khi còn ở nhà ngoại, có một lần đi theo người lớn đưa tang. Không biết là ai chết, có lẽ là có họ hàng với nhau. Trước khi nhập quan, trẻ con phải lần lượt chui qua huyệt mộ trước. Tôi sợ lắm, sợ chui vào rồi họ sẽ lấp cửa lại...

Nỗi sợ hãi cái chết của tôi đã lên đến cực điểm vào đêm hôm đó. Tôi vô cớ sợ hãi cái chết của ngoại, mặc dù lúc ấy bà vẫn còn tráng kiện.

Trong tâm trí tôi vẫn còn lưu lại một khung cảnh tĩnh lặng khác. Đó là mấy ngày trước khi cố — mẹ của ngoại qua đời, bà có ở lại nhà ngoại ít ngày. Một hôm ngoại dắt tôi đứng trước giường của cố — tôi hoàn toàn không có ấn tượng gì về diện mạo của cố, có lẽ tôi không dám nhìn, không dám đối mặt với cái chết; tôi chỉ rụt rè đứng đó, nắm chặt tay ngoại, nép sát vào người bà. Tôi tưởng cố nằm ở đó rồi đi, nhưng không phải. Mẹ tôi sau đó đã đính chính lại ký ức của tôi rằng, cố đã về nhà của chính mình rồi ra đi.

Đêm quyết định ngủ cùng ngoại, tôi nhớ lại cái đêm thôn quê khiến tôi sợ hãi đến mức gần như nghẹt thở từ nhiều năm trước, ngoài cửa sổ ánh trăng như nước, trong nhà lại tối đen như mực. Ánh trăng trong thành phố không sáng đến thế, đèn đường và đủ loại ánh đèn nhân tạo trong nhà hắt lên đường nét của đồ đạc. Thân hình đã khô đét của ngoại nằm bên cạnh tôi, không còn sự ấm áp tỏa ra vượng khí của những năm tháng ấy nữa. Không ngoài dự đoán, vốn dĩ chất lượng giấc ngủ đã không tốt, tôi gần như thức trắng đêm, ngoại tuy không nói chuyện với tôi, nhưng chốc chốc bà lại trở mình sờ vào chân tôi, hình như sợ tôi nuốt lời mà chạy mất vậy. Thỉnh thoảng bà cũng phát ra những âm thanh không rõ ràng, không biết trong mơ là cảnh tượng thế nào.

Tôi vẫn luôn lo ngoại nói nhảm hoặc gặp ác mộng, may là không có. Nỗi sợ hãi cái chết của tôi — nỗi sợ hãi giống như đêm hôm đó, sau này không bao giờ tái diễn nữa. Có lẽ là sự thay đổi của chính sinh mệnh. Có lẽ là sự cách ly với thế giới trước kia. Cả đời ngoại, chẳng qua chỉ là cuộc đời của một người phụ nữ nông thôn bình thường. Thậm chí tôi chưa từng trò chuyện đàng hoàng với bà về quá khứ của bà. Cuộc sống và thế giới của chúng tôi đã cách nhau rất xa, xa đến mức gần như không có chung ngôn ngữ, thế nhưng lại được kết nối với nhau bằng cách hồi ức — đó là liên kết giữa tôi và quê hương gần như đã biến mất ấy, cũng là liên kết giữa tôi và quá khứ của tôi.

Người thành huyện

Văn_Vương Sâm

Một

Mỗi lần trở về thành huyện, tôi đều có thể gặp Đại Dũng. Cuối năm nay, lần chạm mặt đầu tiên là trước đêm giao thừa, tôi đi chúc Tết họ hàng về, thấy cậu ấy đứng ở đầu ngõ, hai tay chống nạnh. Đây là thói quen của cậu ấy, vóc dáng cậu ấy mập hơn trước rất nhiều, nhưng tư thế đứng vẫn như xưa, lưng thẳng tắp, nếu không phải hai tay chống nạnh, thì trông giống như một người lính trong quân đội đang đứng ở tư thế "nghỉ".

Đại Dũng cầm tinh con hổ, lớn hơn tôi hai tuổi, chúng tôi là hàng xóm trước sau nhà, cách nhau một con hẻm, từ lúc biết nhận thức đã là bạn chơi cùng, từ chuyện bắt ếch trước tuổi đi học, cho đến đá bóng ở cấp ba.

Trong con hẻm, cuộc trò chuyện của chúng tôi cũng giống như mọi lần gặp nhau mấy năm nay, vừa cười vừa nói, cậu ấy luôn hỏi tôi về khi nào thì trở về, tôi đáp là mới về được mấy ngày. Cậu ấy cười mở lời, nói về mọi thứ xung quanh mà không có ý kiến gì, lời lẽ truyền tải ý nghĩa "không tốt không xấu, vốn dĩ nên thế". Khi nói chuyện, động tác cậu ấy thích làm nhất là nhún nhẹ hai vai, đồng thời buông thõng hai tay. Ngôn ngữ cơ thể này rõ ràng không thuộc về chỗ chúng tôi, chắc là học được từ trên TV, cậu ấy biết từ rất sớm, tôi nhìn vào cứ thấy không quen lắm, hình như có vẻ quá thời thượng.

Cuộc trò chuyện của chúng tôi luôn phảng phất nhẹ nhàng, dường như đang né tránh một bí mật lớn lao nào đó. Không biết từ lúc nào, ảnh đại diện QQ của Đại Dũng đã đổi thành một cô gái trang điểm đậm kỳ lạ, thông tin thật ban đầu cũng bị sửa lại, hoàn toàn râu ông nọ cắm cằm bà kia. Tôi từng tưởng tài khoản của cậu ấy bị hack, nhưng tài khoản này lại từng để lại lời nhắn với tôi. Tài khoản WeChat của cậu ấy cũng thế, giới tính điền là nữ, thông tin cũng sai. Có một lần, Đại Dũng từng gọi điện cho tôi, tôi gọi lại, thì tiếng tổng đài báo là số thuê bao không có thực. Sau đó cậu ấy giải thích rằng đó không phải số không có thực, mà là cài đặt chuyên dụng của cậu ấy. Cậu ấy có vẻ rất sợ người khác tìm thấy mình.

Tôi không tiện hỏi cậu ấy, chỉ có thể đoán rằng cậu ấy vẫn đang trốn nợ — tên của Đại Dũng xuất hiện trong bài viết trên diễn đàn địa phương, người đăng bài công khai thông tin thật của cậu ấy, cáo buộc cậu ấy lừa đảo, đồng thời tuyên bố sẽ không bỏ qua.

"Mấy khoản nợ bên ngoài trả hết chưa?" Tôi hỏi cậu ấy.

"Gần hết rồi." Cậu ấy đáp rất nhanh, nói xong liền trầm mặc một lúc, mở lời sang chủ đề khác. Tôi thấy cậu ấy không muốn nói, nên cũng không hỏi nữa.

Hai

Hơn chục năm trước, ở trường trung học, sở thích chung của tôi và Đại Dũng là đá bóng. Năm 2002, đội tuyển nam Trung Quốc gặp may mắn đá vào World Cup, thị trường bóng đá vô cùng sôi động. Giống như những người trẻ tuổi thích mộng mơ khác, chúng tôi tưởng rằng bản thân nếu đá khá hơn một chút, thì cũng có hy vọng trở thành cầu thủ chuyên nghiệp.

Trong mắt cha mẹ, đá bóng là chuyện lãng phí thời gian ảnh hưởng đến việc học. Chúng tôi hết sức kháng cự. Có đôi khi chúng tôi hẹn trước thời gian, rồi mỗi người lẻn ra ngoài, đến trường mới tập trung. Nếu chúng tôi cùng ra ngoài, nhất định sẽ bị cha mẹ ngăn lại, vì biết là đi đá bóng. Có dạo cha mẹ không mua giày đá bóng cho tôi nữa, Đại Dũng liền cho tôi mượn đi, giày của cậu ấy rộng hơn một cỡ, tôi đành phải buộc chặt dây giày.

Đại Dũng thể lực khỏe, chạy lại nhanh, sút bóng mạnh, kỹ thuật lại khéo léo, cộng thêm phong cách kiên cường chưa bao giờ chịu thua, nên rất được nể trọng trên sân bóng. Sau khi ghi bàn cậu ấy không ăn mừng gì mấy, phần lớn chỉ cười trừ, gặp phải những pha phạm lỗi thô bạo, cũng không dễ dàng nổi nóng với người ta. Hầu hết các trận bóng chúng tôi đều thắng, có vẻ như chúng tôi rất đáng để nỗ lực theo hướng cầu thủ chuyên nghiệp.

Nhưng chuyện thi đại học dần đến gần. Tôi kém cậu ấy hai khóa, thành tích miễn cưỡng vẫn có thể đối phó, Đại Dũng vào cấp ba, thành tích lại tệ hại vô cùng. Kỳ thi đại học giống như một hòn đá tảng lăn tới, đè nặng lên ngực cậu ấy trước. Cuối cùng chúng tôi phát hiện ra, cho dù không đá vào đội tuyển quốc gia, cuộc sống vẫn có thể tiếp diễn, nhưng nếu thi đại học không đậu, thì dường như mọi thứ đều tiêu đời.

Năm 2007, sau khi trải qua hai lần thi đại học thất bại liên tiếp, Đại Dũng rút khỏi lần ôn thi lại thứ ba, buông xuôi. Cha cậu ấy cảm thấy mất mặt, nhưng lại đành bất lực, lúc trò chuyện phiếm đành ngượng ngùng nói, không đậu cũng tốt, Đại Dũng vốn sinh ra không phải là vật liệu để đi học.

Cậu ấy đến làm việc tại một cửa hàng áo cưới, ở con đường náo nhiệt nhất trung tâm thành huyện. Thành huyện không lớn, con đường trung tâm cách hai con đường nhà chúng tôi, đi bộ khoảng năm trăm mét, chỉ mất mười mấy phút. Công việc này do một người họ hàng giới thiệu cho cậu ấy, vì cậu ấy chẳng biết gì cả, nên học từ việc đối diện máy tính biên tập ảnh trước, làm mấy công việc trợ lý đơn giản. Tiệm ảnh mỗi tháng phát cho cậu ấy vài trăm tệ tiền lương.

Lúc đó tôi rời khỏi thành huyện, vào đại học. Nhưng phần lớn thời gian ở đại học của tôi đều chôn vùi trong ký túc xá và sân bóng đá. Tôi và Đại Dũng thỉnh thoảng trò chuyện vài câu trên QQ, cậu ấy trông có vẻ phong phú hơn tôi rất nhiều. Cậu ấy học được một ít kỹ thuật máy tính, đăng những tác phẩm chụp được lên mạng. Kỳ nghỉ về nhà, chúng tôi vẫn hẹn nhau đi đá vài trận bóng, cậu ấy có phần thụt lùi rồi, kỹ thuật vẫn còn, nhưng thể lực kém hơn chút ít. Cậu ấy bảo với tôi, vì phải đi làm, nên đá ít quá.

Đại Dũng ở tiệm áo cưới khoảng một năm. Có lần cậu ấy nói với tôi, đi làm thuê cho người ta chẳng có ý nghĩa gì, bị người ta kìm kẹp, lại chẳng kiếm được tiền, cậu ấy dự định ra ngoài tự làm. Tôi không biết nên nói gì. Tôi suốt ngày ở trường học, đối với những chuyện bên ngoài, tôi hoàn toàn mù tịt. Tôi đại khái hùa theo cậu ấy, đã không thoải mái, chi bằng tự mình thử xem.

Cậu ấy nhanh chóng nghỉ việc, gom vốn cùng mấy người bạn, loay hoay mấy tháng trời, tự lập một nhánh riêng, mở tiệm ở con đường xa hơn một chút, vẫn kinh doanh chụp ảnh cưới, nhưng lần này cậu ấy đã trở thành ông chủ. Cửa hàng áo cưới khai trương vào dịp Tết Dương lịch mùa đông năm đó.

Chẳng bao lâu sau tôi được nghỉ đông, Đại Dũng dẫn tôi đến tiệm. Vừa mới lao vào sự nghiệp mới, cậu ấy tỏ ra vô cùng phấn khích, kéo tôi ra mắt mấy người hợp tác làm ăn với cậu ấy. Tiệm được đặt cho một cái tên thời thượng kiểu như "Kỳ nghỉ Roma", thuê trọn hai tầng lầu, trang trí tươm tất, mang đậm phong cách châu Âu, nhìn từ xa phía bên ngoài, trông hạc lập bầy gà giữa một nùi tiệm kim khí và tiệm sửa xe xung quanh.

Đại Dũng dẫn tôi đi tham quan từng ngóc ngách của tiệm ảnh, giới thiệu chi phí của các loại thiết bị, đèn chùm pha lê tốn kém không ít, tổng giá trị chiếc ghế sô-pha ở đại sảnh là bao nhiêu, nhân viên bán hàng được tuyển dụng từ đâu, phát lương cho họ bao nhiêu một tháng. Trong lời nói, cậu ấy tràn đầy tự tin, bộc lộ khí thế muốn làm một vốc lớn. Tôi cũng bị đồ đạc đầy nhà và những nhân viên bán hàng lịch sự làm cho dao động, lật xem thực đơn dịch vụ trên bàn trà, nhìn những con số nối dài sau bức hình, cứ như tiền tài cuồn cuộn đổ về. Kỳ nghỉ đó tôi thường xuyên đến tiệm của bọn họ ngồi chơi, tôi rất mừng cho người bạn thuở nhỏ, cậu ấy có vẻ đã bước ra khỏi đáy vực của kỳ thi đại học, nhanh chóng có được sự nghiệp của riêng mình.

Nhưng chuyện làm ăn rốt cuộc không dễ dàng thế này, không phải cứ trang trí lồng lộn là được. Ngoài những ưu đãi thu hút được vài đơn hàng lúc mới khai trương ra, từ đó về sau vẫn cảnh tiêu điều quạnh hiu, thu không đủ chi. Nguyên nhân thì những người hàng xóm nhìn rất rõ, vị trí hẻo lánh, chẳng có ai tự tìm đến tận cửa, chụp ảnh không có điểm đặc sắc, tiếng tăm bình thường, tóm lại là một sự tồn tại có cũng được mà không có cũng chẳng sao giữa đống tiệm áo cưới trong toàn huyện.

Đến mùa đông năm thứ hai, tiền thuê nhà một năm đã hết hạn, không ai muốn tiếp tục bỏ vốn nữa, tiệm không trụ nổi nữa, chỉ còn lại đầy lầu tài sản cố định bán tháo giá rẻ. Đại Dũng cho rằng nguyên nhân kinh doanh kém là vì người hợp tác quá nhiều, không thể buông tay thể hiện suy nghĩ của mình. Cậu ấy có vẻ không cam lòng, vẫn tràn trề nhựa sống muốn thử sức.

Hai năm tiếp theo Đại Dũng ở nhà, nhận mấy việc vặt biên tập ảnh, ảnh đại diện QQ của cậu ấy luôn sáng đèn, thường xuyên đăng mấy bài truyền cảm hứng kiểu học thuyết thành công này nọ. Kỳ nghỉ gặp lại, cậu ấy mập hơn những năm trước một chút, đang gom tiền, chuẩn bị mở lại một tiệm áo cưới, ngành nghề này cậu ấy rất quen thuộc.

Lúc đó tôi cũng phải đưa ra vài quyết định. Năm cuối đại học, cha mẹ muốn tôi về nhà thi công chức, nhưng tôi do dự, không muốn về cho lắm. Tôi không chắc cuộc sống thành huyện giống như Đại Dũng ấy, có còn phù hợp với mình hay không.

Ba

Nhiều năm qua, mỗi lần trở về quê nhà ở thành huyện, tôi thích đi dạo trên phố, không có mục đích đi vài vòng. Tôi xuất phát từ con hẻm ngay cửa nhà, thong thả đi qua từng ngã tư này đến ngã tư khác, mấy cây số, là đi hết tiểu học, cấp hai và cấp ba.

So với Đại Dũng, chúng tôi — những người học đại học lấy được văn bằng, cách tốt nhất khi trở về thành huyện là thi đậu một chân biên chế, bước vào cơ quan chính phủ hoặc trường học, vừa an toàn vừa thoải mái. Mặc dù trong thâm tâm chúng tôi đều mong chờ có thể rời khỏi cái thành huyện nhỏ bé đó hoàn toàn, nhưng áp lực việc làm, sự bất định của tương lai, luôn khiến một bộ phận người ta chùn bước. So với điều đó, sự ổn định của thành huyện lại tỏ ra có sức hấp dẫn đến thế.

Nhưng những sự bất định ấy cũng từng khiến chúng tôi phấn khích. Ở đại học, chúng tôi đều thích hoạt động sôi nổi trên mạng xã hội, ví dụ như Xiaonei và nhóm QQ. Có người vùi mình vào cát ở bãi biển, chỉ lộ ra một khuôn mặt tươi cười, đồng thời lại có người đứng trên đường phố Bắc Kinh, chụp lại bức ảnh bão cát (kèm theo dòng chữ nói rằng, vàng thật đấy). Có người rớt môn, nhưng hình như thực ra khá vui vẻ, có người khoe ảnh chụp chung với bạn gái, ngay lập tức có người bình luận đáp rằng, đúng là tướng phu phụ thật. Trông có vẻ như, tất cả mọi người đều đang ôm lấy cuộc sống mới, tập luyện cách nói năng mới.

Năm 2007 tôi bước vào đại học, cách thể hiện cuộc sống mới chính là viết blog. Trước khi ký túc xá cắt điện, một tối tôi có thể viết mấy nghìn chữ, làm mới trang, chờ đợi những lời bình luận từ khắp bốn phương. Lúc đó tôi hình như có tinh thần và thời gian vô tận, sẵn sàng mang bất cứ chuyện gì lên máy tính, tôi sẵn sàng dùng tám mươi chữ để kể nỗi buồn quên mang thẻ cơm ở nhà ăn, dùng hai nghìn chữ để viết về cảnh tuyết phủ kín đường, kỳ nghỉ về nhà thì bị kẹt trên đường cao tốc ngoài thành huyện.

Kỳ nghỉ đại học trở về thành huyện, thế nào cũng có người tổ chức liên hoan họp lớp. Lớp cấp ba của tôi có sáu bảy mươi người, lần tụ tập đông nhất là gần một nửa. Chủ nhiệm lớp cũng đến, ông uống một chén bia mang ý nghĩa "đào lý đầy thiên hạ", cười tủm tỉm nhận xét sự thay đổi của từng người. Sự áp bức ngày xưa cứ như được xóa sạch một bút, không còn ai hứa hẹn muốn xé đề thi rồi cho nổ tung trường học nữa. Mọi người đột nhiên vô cùng yêu mến trường cũ, đứng dưới tòa nhà dạy học, vui vẻ xếp thành hai hàng, hướng về ống kính máy ảnh, giơ ngón tay chữ V.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.